Tổng số lượt xem trang

Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 27

                (tiếp theo)                             

Khi những tia nắng mặt trời ban mai vừa mới ló dạng xua bớt đám sương mù la đà sát mặt nước biển, một chiếc canoe có gắn hàng chữ Pilot từ phia trong chạy ra và đến sát bên cá lớn chúng tôi. Ba người trên chiếc xuồng máy đó bằng Anh ngữ, cho biết họ sẽ chạy trước dẫn đường ghe chúng tôi lối vào cảng Kelang. Các Malaysian này nói họ đã biết cá lớn từ tối hôm qua và định chạy ra đón ngay vì sợ chúng tôi có thể đi vào vùng đá ngầm nguy hiểm nhưng thấy đã neo ghe lại nên họ để yên. Chiếc canoe dẫn chúng tôi đến một vùng cảng tấp nập các con tàu to đùng đang neo gần bên nhau. Tàu hóa chất Bắc Hàn nằm yên lặng khuất sau một bờ kè không xa lắm. Chúng tôi chạy băng ngang qua những cần cẩu khổng lồ gầm gừ, vươn các cánh tay dài vận chuyển hàng hóa lên hoặc xuống cạnh các con tàu lớn. Nhiều người trên ghe xuýt xoa khi lần đầu trong đời được tận mắt thấy một vùng đất của nước ngoài. Hải cảng Kelang này quá rộng, quá đẹp so với thương cảng Bạch Đằng ở Sài Gòn.

Xuồng máy Pilot đó dắt cá lớn chúng tôi đến một bãi vắng vẻ cách xa khu vực cảng và những toà nhà trên bờ. Lấy tay chỉ vào một bãi cát thoai thoải nằm khuất sau một bờ đá, một người Malaysia trên xuồng máy bảo chúng tôi lái ghe tắp vào đó và đậu yên chờ chính quyền họ sẽ đến tiếp xúc sau. Chờ cho tài công Thuận chạy cá lớn vào sát bờ và tắt hẳn động cơ, xuồng máy Pilot mới chịu quay mũi đi ngược trở ra. Đợi một lúc khá lâu để chắc chắn xuồng Pilot đi khuất xa hẳn, Tám Kiệt hối Thuận nhanh chóng nổ máy ghe trở lại, chạy lùi ra một quãng khá xa bờ. Từ nơi này, Thuận đã để máy nổ hết tốc lực rồi cho ghe lao thẳng như tên bắn lướt qua mặt nước, nằm phơi gần hết cái lườn trên bãi cát thoai thoải sát bờ.

Cá lớn đã làm xong nhiệm vụ của nó. Tám Kiệt bước sát bên lườn ghe, ngó xuống mặt nước rồi quay lại nói: " Thử cho ghe chạy lui xem coi Thuận ". Tiếng máy nổ vang vang, ghe nhúc nhích cố thụt lùi nhưng chỉ giần giật vài cơn. Thuận tăng tốc, máy nổ to hơn mà chiếc ghe vẫn đứng yên không thể chạy lùi ra được. Lườn nó đã bám sát dính vào mặt cát như có keo dán. Tám Kiệt mỉm cười, khoát tay ra dấu cho Thuận tắt máy ghe. Tiếng máy im bặt trả lại sự vắng vẻ, tĩnh mịch của khu vực. Kinh nghiệm từ những người vượt biên trước viết thư về kể lại, chúng tôi mong khi thấy cá lớn mắc cạn, chính quyền địa phương sẽ không đẩy ghe quay trở lại biển cả. Nhìn mớn nước sát với bờ cát mịn thoai thoải, hiện thời không ai biết con nước đang lên hay xuống. Thấy nước cạn, vài người cả nam lẫn nữ vội tuột xuống bước lội vào bờ, xuyên qua các hàng cây để làm việc vệ sinh cá nhân. Tôi nhìn bao quát chung quanh, xuồng Pilot dẫn cá lớn cập vào một vùng ở đây thật vắng vẻ không bóng người qua lại. Bờ biển rất nhỏ, khuất sau một khu rừng và các đụn cát thâm thấp trải dài rõ là chỗ tắm vắng người. Sau đêm dài ngon giấc, chúng tôi ai nấy đều tỉnh hẳn người kéo nhau bỏ khoang hầm, ngồi chật cứng trên mặt sàn ghe. Dầu vậy, khuôn mặt người nào trông cũng tiều tuỵ vì trải qua những ngày đi biển vất vả và trong bộ quần áo bẩn thỉu.

Chợt có tiếng máy xe nổ gần đâu đây và rồi một chiếc xe sơn mầu xanh lá cây vượt ra từ một bờ cát dọc theo bờ biển tiến thẳng lại chỗ chúng tôi. Một chiếc xe tải quân đội. Chiếc xe dừng hẳn lại, ba người đàn ông da ngâm đen dáng vạm vỡ cao to, mặc quân phục hoa dù, đầu đội mũ beret đỏ nâu, tay thủ súng trường M 16 lần lượt nhẩy xuống. Ba người lính đứng trên bờ dưới các hàng cây im lặng quan sát bọn chúng tôi. Quân phục họ mặc y chang lính nhẩy dù, biệt động quân miền Nam VNCH trước đây. Chiếc xe đánh vòng quay đầu và chạy biến mất sau một bờ cát. " Mấy cha lính này có nhiệm vụ canh giữ cá lớn phòng ngừa mình gặp dân địa phương đây ", chúng tôi nghĩ vậy. Ánh nắng ban mai chói lọi rực rỡ, trời đã sáng hẳn rồi, vài phụ nữ trên cá lớn giơ tay vẫy chào ba người lính gác. Họ nhìn chúng tôi, mỉm cười phô hàm răng trắng đều và vẫy tay chào đáp trả. Một dấu hiệu thân thiện.

Gần 2 giờ đồng hồ sau, lại có thêm ba chiếc xe nhà binh chạy đến. Một xe chở đầy lính, một xe đầy các bao bố loại 50 kg căng phồng cùng hai thùng phi sắt nằm trên sàn và chiếc xe thứ ba kéo theo một rờ moọc đằng sau. Đám lính nhanh chóng làm một hàng người sát bên nhau thẳng từ trên bờ xuống cạnh cá lớn rồi họ dùng tay chuyền từng bao bố lên cho chúng tôi. Người trên ghe phải dồn lại để có chỗ chất những bao bố. Chuyền xong các bao bố, đám lính chia ra hai toán chiết nước uống từ cái rờ moọc và dầu diesel ở hai thùng phi sắt sang các can nhựa loại 20 lít. Can nhựa đựng nước uống và dầu diesel cũng được chuyền lên trên cá lớn luôn. Nhìn việc đám lính vừa làm, Tám Kiệt làu bàu: 

- Chết mẹ rồi. Nó tiếp tế cho mấy thứ này là để tống cổ mình đi khỏi đây đó mấy cha.

Đúng vậy. Xong xuôi thì một gã lính trên bờ ra lệnh chúng tôi nổ máy và chạy lùi ghe trở ra. Thuận đành phải nổ máy, ai nấy trên ghe hồi hộp chờ chuyện sẽ xẩy đến. Sau chuyến hải hành, cặp được vào bờ an toàn thì người trên ghe rất sợ phải chạy tiếp trên biển. Có sợ cũng phải chấp nhận. Tiếng máy ghe nổ dòn, cá lớn nhúc nhích nhưng không lùi được dù đã gầm rú hết sức. Thật may cho chúng tôi, mớn nước đã lùi khỏi thân ghe vì biển bắt đầu cơn ròng. Đám lính trên bờ chụm đầu trò chuyện rồi khoát tay ra dấu bảo tắt máy ghe và họ tản ra chờ đợi. Không lâu sau, chiếc xuồng máy Pilot hồi lúc sáng và một tàu đánh cá Malaysia lớn hơn chạy đến ngay sau cá lớn chúng tôi. Một thủy thủ nhẩy xuống, lội sang và dùng dây buộc chặt vào hai cột của nóc buồng máy cá lớn. Hai đầu dây còn lại thì được nối thẳng vào mũi chiếc xuồng Pilot và tàu đánh cá. Thuận lại được lệnh của họ cho nổ máy ghe trở lại. Tiếng máy vang lên ròn rã, ai trên ghe đều hiểu chuyện bọn người Malaysia làm. Thế là xong, chúng tôi thật lo vì nghĩ chắc sẽ phải làm tiếp chuyến hải hành. 

Thuận cho máy nổ dòn chạy số lùi hợp với sức kéo từ hai con tàu Malaysia chực sẵn cố lôi ghe chúng tôi ra khỏi chỗ cạn. Tiếng động cơ của ba cỗ máy gầm rú từng chập nhưng cá lớn chỉ rung nhẹ và vẫn nằm yên tại chỗ. Nước biển đang ròng, cát dán chặt lườn ghe dính chắc luôn vào bãi. Gã chỉ huy trên bờ nói lớn hiệu lệnh cho cả đám lính chạy xuống biển đến sát dọc bên lườn cá lớn và khom người cố sức đẩy. Thấy cá lớn không nhúc nhích, đám lính xì xồ miệng, tay ra dấu lệnh chúng tôi phải nhẩy xuống nước cùng phụ đẩy với họ. Trên cá lớn hầu như chỉ còn phụ nữ và trẻ em. Quá đông người nhưng đứng chùm nhum trong một diện tích nhỏ nên dù loay hoay hợp sức đẩy với đám lính một hồi mà cá lớn vẫn chẳng hề xoay chuyển. Chúng tôi mừng thầm vì rõ ràng con nước đã ròng mạnh, ghe thực sự mắc cạn và lườn bị cát hít dính như keo dán. Thấy chuyện định làm nhưng không thành, đám lính kéo nhau bỏ hết lên bờ. Một gã đến gần ra lệnh cho chúng tôi rời ghe lên bờ nghỉ ngơi, xuồng máy Pilot và tàu đánh cá cũng đã tháo dây bỏ đi. Trước khi đoàn xe nhà binh chạy khỏi bãi biển, gã chỉ huy cho biết sẽ quay trở lại sau buổi trưa.

- Mẹ bà, tụi này nó nhất quyết đẩy bọn mình ra biển đây. Tám Kiệt nói.

Thấy đám lính đi khỏi, chúng tôi vội chuyền vài bao thực phẩm xuống và tản ra ngồi dưới các bóng cây. Mở miệng một bao ra xem thì thấy bên trong có mì gói ăn liền, bánh biscuit, gạo xấy, thuốc lá, diêm quẹt, trà, cà phê, đường và sữa bột. Bao nào cũng kèm theo cả các muỗng nhựa và khá nhiều lon sắt nhỏ mầu đen. Cầm một lon lắc thử nghe tiếng kêu óc ách. Món gì trong lon và sao nó lại sơn đen? Một người reo lên: " Úi cha! Có đồ khui nè, mình thử mở xem cái gì bên trong vậy ".

Nắp chiếc lon vừa mở kéo theo một mùi thơm bốc lên mũi. Cá mòi sốt với cà chua đỏ đặc sền sệt. Chúng tôi khui thêm các lon khác và cũng món cá mòi đóng hộp. Không có cơm trắng thì đành ăn cá mòi hộp với bánh bisquit mà cũng ngon. Vừa ăn, có người lại thắc mắc tại sao họ phải sơn đen cái lon? Bộ không muốn ai biết lon này chứa thứ gì và từ đâu ra! Có lẽ như vậy vì các gói thức ăn khô ở bao bố được đóng trong bao nylon cũng không một dòng chữ một tờ nhãn ghi bên ngoài. Đúng như lời Tám Kiệt nói, đám lính Malaysia cố tình đẩy ghe mình ra biển sau khi tiếp tế thực phẩm, nước uống và dầu diesel chạy máy. Khi ra biển trở lại, rủi chúng tôi gặp tai nạn thì sẽ không ai biết ghe đã ghé vào Malaysia nhưng không được chính quyền cho cập bến.

- Hồi xưa khi bọn CS Bắc Việt chở hàng tiếp tế cho bọn Việt Cộng miền Nam thì cũng có cái màn xoá hết dấu vết, xuất xứ từ vũ khí, thuốc men, thực phẩm và cả máy móc trên con tàu chúng. Ở nước nào cũng vậy, bọn gây chuyện ám muội thì bao giờ cũng dấu việc chúng làm. Người đàn ông nói giọng Bắc ngồi dưới một bóng cây mát gần đó cho biết.

Sẵn có thực phẩm có thuốc lá, chúng tôi bảo nhau phải ăn phải hút trước hết cho đã miệng, mọi chuyện để qua một bên tính sau. Người hút thuốc thả khói thơm lừng, người ngồi dựa lưng vào thân cây nhâm nhi từng cái bánh nhỏ. Có người ăn vã mấy hộp cá mòi liền mà không ngán miệng. Ăn uống xong xuôi, vài người đi vào khu rừng cây lục lọi sau đó quay ra báo tin có dòng suối nhỏ nước trong vắt ở gần đó. Tôi cùng vài người ngồi gần vội đến ngay và thật may là suối nước ngọt dù chỉ cách bãi biển không xa. Nhiều người thấy có suối nên quá mừng vội cởi ngay quần áo, vục nước lên người tắm kiểu dã chiến. Tôi cũng vậy, giặt sạch bộ đồ bộ đội cũ xong rồi vắt khô mặc trở lại người. Tuy còn ẩm ướt nhưng vẫn dễ chịu hơn cứ khoác mãi bộ đồ hôi hám, bẩn thỉu. Thêm nhiều người khác nghe tin báo về con suối nên cũng mò đến nữa, kể cả phái nữ. Cả mấy ngày liền trên ghe ai nấy quần áo đều dơ dáy, nhơ nhớp nay có dịp gặp nước ngọt nên vội tắm táp, giặt gịa liền. Sau khi tắm rửa sạch sẽ, có người vất bỏ quần áo bẩn tại chỗ mà không giặt. Thấy quần áo họ vất bỏ, nghĩ vì chỉ có duy nhất bộ đồ bộ đội đang mặc trên người nên tôi đến, lựa ra được hai áo thun và hai quần dài còn khá tốt rồi quay qua chung quanh, hỏi: " Mấy bộ đồ này của ai? Còn mặc nữa không? Nếu vất bỏ thì cho tôi xin nha ".

Không ai lên tiếng trả lời, tôi hỏi thêm lần nữa thì một thanh niên đứng gần bên nói: " Quần áo này dơ rồi, họ không giặt lại vất ở đây là bỏ đó. Anh muốn thì cứ lấy xài ".

Tôi định đem hai bộ quần áo bẩn xuống suối giặt thì tai nghe có tiếng xe hơi và sau đó giọng người gọi lớn: " Ê! Có mấy người Malaysia đến kìa " nên vội vàng quay trở ra bãi biển. Hai người đàn ông lớn tuổi, mặc thường phục theo kiểu đạo Hồi áo trắng cùng mũ nồi đen đội trên đầu khệ nệ bưng các thùng giấy nhỏ từ trong một xe van mầu trắng ra. Huy hiệu vầng trăng khuyết đỏ thêu trên ngực áo của hai người. Họ là nhân viên hội Hồng Nguyệt, một hội bác ái y như hội Hồng Thập Tự. Cả hai ông mang cho chúng tôi một số hộp nhỏ nước giải khát như trà hoa cúc, sữa đậu nành, rau má, nước mía ép... Tiếc cái họ không nói được Anh ngữ còn chúng tôi thì cũng chẳng biết tiếng Malaysia nên đành cố hiểu nhau qua các cử chỉ ra dấu. Cả hai người họ dường như không muốn chúng tôi quay ghe ra biển đi tiếp. Họ lập đi lập lại hai chữ Sungei Besi, Bidong với nhóm người chúng tôi đứng vây quanh. Trước khi bỏ đi, một trong hai ông kín đáo chỉ vào cá lớn và bằng hai bàn tay chụm lại làm bộ dạng như đang đào vật gì đó trên đất. Lập đi lập lại cử chỉ đó nhưng không ai trong chúng tôi hiểu ý định của ông ta. Thấy nhóm người chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau, ông ta mỉm cười hiền lành và quay trở về chiếc xe van. Malaysia là một quốc gia Hồi giáo trong vùng đông nam châu Á. Y phục trắng với mũ nồi đen trên đầu, hai người nhân viên hội Hồng Nguyệt trông như các tín đồ đạo Hồi ở vùng Hoà Hưng thuộc quận Tân Bình-Sài Gòn. Tại đó có một đền thờ đạo Hồi và khá đông tín đồ sống rải rác chung quanh. Nhóm dân đạo Hồi ở Hòa Hưng không biết chính xác thời điểm bắt đầu cư trú tại địa phương nhưng, nội việc có riêng một nghĩa địa trong vùng thì ắt hẳn họ đã có mặt từ rất lâu đời. Tuy cùng nói tiếng Việt nhưng khuôn mặt và vóc dáng họ vẫn khác hẳn với người Việt Nam vì mái tóc quăn, da ngâm đen, mắt có khoen và cơ thể họ cao to hơn. 

Cử chỉ của ông nhân viên hội Hồng Nguyệt khi chụm hai tay đưa lên đưa xuống như đào đất vẫn chưa ai hiểu ý. Đám chúng tôi bàn bạc hay ông ta bảo mình bới cát và đào rãnh dưới lườn cá lớn để nó dễ dàng tuột ra khi cơn triều lên? Không phải như vậy vì ông đã khoa bàn tay lắc lắc khi chỉ ra biến và ngón tay trỏ ông chỉ vào hướng rừng kèm theo các chữ Bidong, Sungei Besi. Cuối cùng, đoán là ông ta muốn chúng tôi ở lại đây và đừng đi tiếp nữa. Ông Hưng, cựu lính trinh sát chợt nghĩ ra một điều nên nói:

- Tôi nghĩ ông ta bảo mình đục cho thủng ghe, mấy anh thấy sao?

Chúng tôi nhìn nhau. " Chắc vậy rồi anh Tám. Phải đục lủng ghe thôi ", một thanh niên trong nhóm tổ chức khẽ trả lời.


                                    (còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét