Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 11 tháng 9, 2014

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 28

      (tiếp theo)                           

Phải đục cho lủng ghe nhưng đục ở chỗ nào để bọn lính khi quay lại sẽ không biết do chúng tôi cố tình phá. Nghĩ vậy nhưng lấy cái gì để làm việc này? Thuận nói ở dưới ghe có sẵn cái búa nhỏ dùng bửa củi nấu ăn cùng một con dao to bản và nhận sẽ thử làm xem sao. Nghe vậy, Tám Kiệt đảo mắt chung quanh và hối Thuận thi hành ngay nhưng kín đáo đừng để thêm người biết chuyện, nhất là đám đàn bà-con gái. Trời đã quá trưa, ánh nắng chiếu chói chang nóng bỏng. Cảm giác chao đảo khi ở dưới ghe rồi trở về đất liền mà người ta gọi là say đất đã hết thêm có thức ăn, nước uống lại có cả nước suối để rửa ráy mặt mũi tay chân và thay y phục sạch sẽ nên hầu như người nào cũng rút vào trong các bóng râm để nghỉ. Vài bóng hải âu đảo qua đảo lại tìm mồi xa xa ngoài biển. Thấy không một bóng người trên bãi cát gần với cá lớn, Tám Kiệt gật đầu ra tín hiệu cho Thuận cùng hai thanh niên khác vọt ngay ra. Biển bắt đầu cơn triều lên, nước đã mấp mé thân cá lớn. Cả ba người nhẩy phóc lên và chui tọt ngay xuống hầm máy ghe. Chốc lát sau họ trở lại mặt sàn và nhẩy xuống nước mà trên vai vác theo một bao thực phẩm cùng hai can nước ngọt làm bộ ra ghe để lấy thêm cho những người cần thêm trên bờ.

- Xong rồi, nước đang vào. Tụi em đục hai chỗ ở phần đuôi. Thuận mỉm cười, nói tiếp: " Ghe mình coi vậy mà không chắc đâu nha anh Tám. Mới bửa mạnh vài búa mà ván đã bục ra liền. Nước vô xối xả làm em thấy sợ luôn ".

Đám chúng tôi chờ xem chuyện sẽ đến trong tâm trạng lo lắng. Mọi người tản ra tìm chỗ nghỉ, tôi bẻ vài cành nhỏ có nhiều lá rồi đem trải chúng xuống sát một gốc cây và nằm ngay xuống. Gió từ biển thổi vào thật mát, tôi nhắm mắt lim dim ngủ cho đến khi nghe tiếng xe tiếng người nói và tiếng còi huýt toe toe từng chập ngắn. Tôi choàng dậy khi đám lính
Malaysia đã quay trở lại đầy đủ ở bãi biển. Lần này chỉ một chiếc xe tải nhà binh nhưng lại có thêm một xe ủi đất bánh xích nhỏ. Một gã lính vẫn huýt còi gọi tập họp trong khi các gã khác xục hẳn vào từng bụi cây để lùa bọn chúng tôi đi ra hết. Họ ra lệnh chúng tôi đứng gọn tại một chỗ. Nhìn nhau, chúng tôi phải trên một trăm người là ít. Đám lính Malaysia cũng lắc đầu vì không dè cá lớn lại có thể chứa được nhiều người như vậy. Nước biển đã dâng lên ngang thân cá lớn và thỉnh thoảng có sóng nhỏ làm nó khẽ lúc lắc, xê dịch. Đám lính Malaysia nhìn nhau mỉm cười chắc mẫm lần này việc kéo cá lớn ra khơi dễ dàng và như vậy, công tác của họ sẽ kết thúc chóng vánh. Tiếng ghe máy văng vẳng từ xa vọng đến và chỉ có một chiếc là chiếc xuồng Pilot khi sáng. À! Đám lính Malaysia biết nước biển lên cao chỉ cần chiếc xuồng máy Pilot đã đủ sức để kéo cá lớn chúng tôi ra khỏi chỗ cạn. Nếu chiếc xuồng Pilot không đủ lực, đám lính sẽ dùng thêm xe ủi đất phụ sức đẩy cá lớn xuống hẳn dưới nước. 

- Thôi rồi. Mình sẽ phải đi tiếp trên biển nữa. Có xuồng máy kéo rồi xe ủi đất phụ đẩy, chắc chắn họ sẽ lôi ghe mình ra khỏi chỗ cạn dễ dàng. Một người lẩm bẩm than.

Xuồng máy Pilot đến sát phía sau cá lớn, một thủy thủ
Malaysia phóng xuống nước bơi đứng đến cá lớn và leo lên mặt sàn. Tay y cầm sợi dây định buộc vào cá lớn như lúc sáng đã làm nhưng khi nhìn xuống hầm máy, gã này liền quay mặt hướng về đám lính Malaysia đứng ở trên bờ và xổ ra một tràng. Ngay lập tức hai gã lính khác chạy ra, bước lội đến rồi trèo lên và nhìn xuống khoang hầm ghe. Cả hai gã đi dọc trên mặt sàn và lần lượt nhẩy hẳn xuống khoang hầm xem xét rồi sau đó quay trở về bờ cát trên bờ. Đám lính tụ lại nói chuyện xì xồ với nhau trong tia mắt giận dữ. Họ đã biết ghe bị chúng tôi đục cho lủng. Nửa tiếng đồng hồ trôi qua trong sự lo âu lẫn mừng vui của đám chúng tôi. Mừng vì biết sẽ không bị ngồi xuống ghe kéo ra biển lớn nhưng lo âu những gì sắp sửa xẩy đến. Gã chỉ huy khoát tay ra dấu cho xuồng máy Pilot và cái xe ủi đất rút lui. Tiếng còi toe toe lại nổi lên, đám lính ra lệnh cho chúng tôi xếp thành một hàng dọc di chuyển theo song song với họ. Vài phụ nữ hì hục xách theo các gói thức ăn còn sót trên bờ nhưng bị mấy gã lính ra hiệu phải bỏ lại trên mặt đất và chỉ được mang các túi xách cá nhân. Đi theo đám lính, chúng tôi vượt qua các đụn cát cùng phần rừng cây thưa thớt rồi đổ xuống con dốc lài và sau cùng băng qua mặt đường nhựa để vào một vườn hoa khá đẹp. Qua khỏi vườn hoa thì đến một sân gạch tiếp nối vào các căn nhà lớn cửa đóng kín mít, đám lính lệnh chúng tôi phải giữ im lặng và ngồi theo từng hàng mười người một. Sau đó, đám lính tản ra đếm tổng số rồi họ đưa một tập giấy để tự chúng tôi chuyền tay nhau, ghi tên và đánh số của từng người. Ngồi gọn thành từng hàng nên rất dễ đếm và thật không ngờ, tổng cộng người trong ghe chúng tôi là 135 người. Vậy, quá nhiều so với sức chứa của một chiếc ghe đi biển nhỏ tí xíu.

Ngồi ở cái sân gạch cả mấy tiếng đồng hồ mà không gặp bất kỳ nhân viên của hội đoàn thiện nguyện quốc tế như Hồng Thập Tự, Cao Ủy Liên Hiệp Quốc (UNHCR)... làm chúng tôi lo lắng không yên. Muốn bắt chuyện với đám lính để dò tin nhưng nhìn quanh thấy họ cố ý đứng ra xa, tách biệt hẳn với đám người Việt chúng tôi. Tuy ngồi thành từng hàng nhưng nhiều người bắt đầu hoán chuyển chỗ với nhau. Họ muốn ngồi gần để có gì thì cùng chịu sống chết bên nhau và chính vậy mới có thêm lệnh mới của đám lính là phải giữ trật tự, ai ngồi đâu yên đấy. Đã có vài người chịu cú đấm, cái đá từ bọn lính rõ là chúng không còn vẻ hiền lành như lúc đầu nữa. Trời chiều dần rồi xẩm tối, muỗi rừng đánh hơi người vo ve bay ra đậu trên mặt trên tay và ngay cả ở phần lưng. Kim chúng vừa nhọn vừa cứng thọc xuyên qua cả vải dầy, chích phát nào phát nấy muốn nhẩy nhổm. Tiếng trẻ con khóc cùng với tiếng đập muỗi lép bép nho nhỏ trong bóng đêm tĩnh mịch. Mùi máu tanh từ xác muỗi bết trên da càng lôi cuốn những con khác đến kiếm ăn. Ai thủ được dầu gió xanh thì còn đỡ nếu không phải đành chịu trận, chỉ một cách lấy tay xoa xoa hoặc làm quạt để xua đuổi chúng đi. Đám lính mưu chuyện đẩy ghe chúng tôi trở lại biển không được nên đành phải đưa chúng tôi vào ngồi ở đây lâu như vậy, tuy không trò chuyện được với nhau nhưng ai cũng nghĩ chắc để chờ một quyết định từ chính quyền? 

Chợt có tiếng xe hơi cùng ánh đèn chiếu lấp loáng từ xa chạy đến làm chúng tôi phải ngẩng đầu lên nhìn. Một xe bus lớn dừng lại gần, đám lính từ các chỗ tối chung quanh tiến lại bên xe và một gã nói to:

- Trẻ em cùng phụ nữ lên xe còn nam giới ngồi yên tại chỗ, xin quí vị thi hành ngay.

Ánh đèn pin trong tay các gã lính loang loáng soi cho đám phụ nữ cùng trẻ em thấy đường để lên xe bus. Vài người trù trừ không muốn chia lìa khi phải đi trước để chồng, thân nhân họ còn kẹt lại. Họ dùng dằng nhưng bị đám lính thúc hối phải trèo lên xe ngay. Xe bus vừa chạy khuất trong bóng đêm, đám lính dồn chúng tôi ngồi gọn lại trên sân gạch và tuy không thấy mặt nhau nhưng chúng tôi ai cũng bồn chồn lo lắng vì cái vụ đi trước đi sau này. Thêm một xe bus nữa có gì khó nhưng sao bọn lính
Malaysia lại không cho. Chúng tôi ngồi đó chờ tới gần 2 tiếng đồng hồ nữa thì chiếc xe bus mới quay lại. Lần lượt từng người chúng tôi theo thứ tự đi lên xe. Mọi việc xong xuôi, hai gã lính Malaysia đóng cửa trước cửa sau xe lại rồi đứng trấn tại chỗ. Lên xe rồi mới biết tài xế ngồi lái phiá bên tay mặt và xe chạy giữ lề trái trên đường ngược hẳn với Việt Nam. Xe bus ra khỏi khu vực và nhập vào một con đường to, rộng hơn xa lộ Biên Hoà. Xe chạy rất nhanh rồi rẽ vào một thành phố đèn đuốc sáng rực với các cửa hàng người ra kẻ vô tấp nập. Có lúc xe bus cắt ngang qua các giao lộ đầy nghẹt xe hơi và xe gắn máy nối tiếp đuôi nhau thành dòng khá dài. Chúng tôi trố mắt nhìn phố xá Malaysia về đêm. Sự phát triển và văn minh một đô thị, có lẽ chỉ dễ thấy nhất khi đêm về qua ánh đèn mầu quảng cáo bên vệ đường hoặc từ mặt tiền các tòa bin đinh lộng lẫy. Người ngồi trên xe lao nhao, chắt lưỡi tiếc nuối: " Nhìn phố xá nước người ta kìa, bỏ xa Sài Gòn mình, cũng do cái bọn Việt Cộng mà ra cả ". Chúng tôi còn muốn được thấy thêm các khu phố khác nhưng xe bus lại quay trở ra xa lộ và sau đó chui vào một con đường đất dẫn vô rừng cây rậm rạp. Đường rừng nên khấp khểnh nhiều ổ gà và các hố lớn đầy nước giữa hai hàng cây. Ánh đèn pha cùng tiếng xe bus khiến một con chim to như con gà hoảng hốt vỗ cánh bay vội vào bóng tối để lại tiếng kêu táo tác trong đêm trường vắng lặng. Một thân cây khô khá lớn bật gốc phơi nùi rễ xù xì, còng queo cùng cành khô không lá nằm sát lề đường và một gò mối nổi hẳn trên mặt đất như ngọn núi nho nhỏ gần ở lối mòn dẫn vào rừng. Chạy xe vào con đường này, không lẽ họ để chúng tôi sống trong rừng sao? Nghĩ như vậy mà đúng vì xe bus chậm dần và từ từ tiến vào một bãi đất trống rồi ngừng hẳn. Chúng tôi có lệnh rời xe trong trật tự. Đèn điện giăng đây đó trên các hàng cọc bờ rào và từ trong các nhà lều soi rõ khu trại vắng vẻ. Hai nhà lều lớn dựng gần bên nhau và cái lều thứ ba nhỏ hơn, nằm xeo xéo đối diện gần cổng gỗ ra vào. Một trại lính dã chiến giữa rừng. 

Phụ nữ, trẻ em của chuyến xe bus đến trước im lặng, ngồi tò hỏ gọn một chỗ trong căn nhà lều lớn nhìn đám nam giới chúng tôi mới đến đang đứng tập trung trước sân trại. Trông thấy mặt nhau, ai cũng thở phào nhẹ nhõm.
Nam giới chúng tôi được lệnh vào căn nhà lều lớn còn lại sau khi đám lính kiểm danh xong. Tất cả phải để dép ở bên ngoài lều và tự ý sắp xếp chỗ ngồi chỗ nằm của từng người. Nền lều được trải bằng vải bạt dầy nhưng mùi ẩm mốc lẫn với hơi đất vẫn bốc lên mũi. Một gã lính chỉ chỗ nhà vệ sinh rồi thông báo:

- Khuya lúc 10 giờ thì máy phát điện sẽ ngừng chạy chỉ còn đèn bão (đèn dầu có bóng che kín chịu được gió mạnh), khi đó các anh phải nằm yên trong lều và giới hạn đi lại. Cấm ngặt nam giới không được bước vào lều của nữ giới dù với bất cứ lý do gì. Bây giờ mời tất cả quý vị tập trung ra ngoài sân để dùng tạm thức ăn, nước uống thay cho bữa chiều.

Nam nữ chúng tôi kéo nhau ra hết ngoài lều đứng thành hai dãy dài. Các gã lính phát cho mỗi người một gói bánh biscuit và một chai nước lã để lót dạ trước khi ngủ. Vài phụ nữ kể xe bus chở họ đi trước để vào trại dọn dẹp cho sạch hai cái nhà lều dành cho cả bọn. Một bà chu mỏ: " Tụi tui làm mệt chết mẹ luôn, hai cái nhà lều lâu rồi có ma nào ở đâu, bụi ơi là bụi... Đàn ông-con trai mấy người đi sau khoẻ ru chẳng phải làm cái gì hết, vô đến nơi có sẵn chỗ ở rồi. Chỉ tụi nầy là cực ".

Không lẽ ở các nước Hồi giáo, nữ giới bị xem nhẹ hơn cánh đàn ông? Hay là việc dọn dẹp nhà cửa cho gọn gàng, phụ nữ làm tốt hơn nam giới?

Được đám lính cho sinh hoạt thoải mái trước khi máy phát điện ngừng chạy, tôi rảo bước nhìn bao quát chung quanh. Căn trại được ngăn cách với rừng bằng một hàng rào gỗ, rác rưởi vương vãi cùng cây bụi nhỏ mọc từng chùm đây đó trên mặt sân. Tiếng ì ì của máy phát điện nằm dưới một mái che gần bên một rờ moọc đựng nước, loại đã tiếp nước cho cá lớn buổi sáng ở ngoài bãi biển. Hai dãy vừa bàn vừa ghế bằng gỗ rừng nằm dưới hàng cây cao to gần cổng ra vào. Rõ ràng đây là một trại bỏ hoang khá lâu không có người ở. Chỉ còn ít phút nữa phải vào lều đi ngủ, chúng tôi thỏa thuận ngày mai sẽ sắp xếp lại chỗ cho từng người, bây giờ thì nằm tạm. Điện tắt, bóng tối phủ trùm trong tiếng côn trùng rỉ rả khúc nhạc bất tận của rừng đêm. Nửa khuya về sáng trời trở lạnh, không chăn mền đắp ai nên cũng co quắp tay chân sát bên nhau tìm chút hơi ấm. Khác hẳn với lúc ngồi trong cái sân gạch, chúng tôi ở đây ở giữa rừng nhưng không một tiếng muỗi, hình như bọn lính đã xịt thuốc khử cả rồi. Thao thức nhưng rồi cả đám chúng tôi từ từ chìm vào giấc ngủ của đêm đầu tiên ở nước
Malaysia.

Tôi tỉnh giấc khi tiếng chim hót cùng tiếng thú rừng kêu râm ran trong làn sương mờ của buổi ban mai. Ở căn nhà lều nhỏ, mấy gã lính
Malaysia vẫn cuộn tròn người trong các tấm võng. Trời còn sớm chưa thể ra bên ngoài được, tôi đành ngồi tại chỗ co duỗi tay chân cho bớt mỏi. Ngồi như vậy cho đến khi có tiếng kẻng báo hiệu mới được ra khỏi lều để làm vệ sinh cá nhân. Đến 8 giờ sáng một xe quân đội khá lớn chạy vào trại, vài đứa nhỏ tò mò đến gần xem. 3 gã lính từ căn nhà lều nhỏ đi ra và phụ sức với 2 gã khác trên xe khiêng xuống những thùng giấy khá lớn. Có lệnh chúng tôi xếp hàng tập trung theo thứ tự để nhận đồ dùng cá nhân.


                                   (còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét