Tôi nghĩ rằng ông Đỗ Thái Nhiên sẽ có dịp suy xét lại
những nhận thức dựa trên lối lý luận biện chứng của ông cũng như chiêm nghiệm
lại bản chất và thực tế của cuộc chiến vừa qua để từ đó ông sẽ thấy rằng những
nhận thức và mơ ước của nhà văn Nhận Tiến cũng sẽ là những nhận thức và mơ ước
của ông cũng như của phần lớn đồng bào chúng ta ở cả hai miền Nam Bắc sau khi
mỗi người trong chúng ta dẹp bỏ tự ái riêng tư của mỗi cá nhân, dẹp bỏ tự ái
phe nhóm do vị trí đứng từ bên này hay bên kia trong quá khứ để chỉ còn duy
nhất tự ái dân tộc. Có gì khác biệt
nhau khi Nhật Tiến viết về xã hội cũ ở miền Nam với "những kẻ đầu cơ, tích trữ, những đứa sống nhởn nhơ phè phỡn trên
cơn thiếu thuốc men,, bệnh tật của dân nghèo khó, những đứa buôn súng đạn, bán
đứng sinh mạng của chính anh em đồng ngũ của mình...những kẻ bất tài nhưng có
quyền thế taho túng chính trị, thao túng thị trường, thao túng trên cả sinh
mạng của binh sĩ..."
Có gì khác biệt nhau khi Nhật Tiến kết luận về xã hội
miền Nam
đó: " Một xã hội như thế , nghĩ cho
cùng tuy vẫn còn hơn là xã hội Cộng sản nhưng nhất định không phải vì thế mà
trở thành một niềm mơ ước cho tất cả mọi người…" Có gì khác biệt nhau
khi Nhật Tiến viết về xã hội miền Bắc: "cái xã hội lam lũ, nghèo nàn mà
trong đó, con người đang được vắt cho đến sức cùng lực kiệt. ". Có gì khác biệt nhau khi Nhật Tiến
nhận định về khẩu hiệu "yêu nước là
yêu chủ nghĩa xã hội" của Cộng sản: " chỉ là một sự áp đặt tư tưởng con người, cưỡng ép con người từ
bỏ bản chất dân tộc để đi vào con đường ngoại lai vong bản". Có gì
khác biệt nhau khi Nhật Tiến nhận định về chế độ Cộng sản: "CChúng nó
nêu chiêu bài chống phong kiến bóc lột, nhưng trong đời sống thực tế chúng nó
phong kiến hơn ai hết. Chúng nó nêu khẩu hiệu "không gì quý hơn độc lập tự
do nhưng chúng nó tước đoạt độc lập, tự do của con người hơn ai hết ...
" Có gì khác biệt nhau khi Nhật Tiến kêu gọi mọi người sống trong chế
độ Cộng sản phải biết: "Nhìn ra thân phận bị trị của mìn, biết biết
phẫn nộ truo1c sự phi lý về nông nỗi con người bị khai thác triền miên trong
bao nhiêu năm ròng bởi một thiểu số bởi một thiểu số đầy tham vọng và quyền lực
mà không biết đứng dậy làm một cuộc cách mạng mới giải phóng chính mình. "
Và
có gì khác biệt nhau khi Nhật Tiến nhận thức: …"mọi người Việt Nam đều
khao khát một ước vọng chung đó là xóa bó chế độ Cộng sản để xây dựng một quê
hương mới...Hãy mở rộng tấm lòng với trái tim biết cảm thông, biết thổn thức,
biết thương yêu, biết xót xa trên những đổ vỡ đau thương của dân tộc, bởi chỉ
có như thế, ta mới có thể tạo điều kiện cho một sự kết hợp rộng lớn của toàn
thể dân tộc, một điều kiện tất yếu để
chiến thắng chủ nghĩa Cộng sản. "
Đã
giống nhau về nhận thức, đã không khác nhau về những ước mơ chung, theo tôi
nghĩ sẽ có lúc, ông Đỗ Thái Nhiên nhận được ra rằng ông đã hơi vội vàng trong
khi phê phán những nhận thức của nhà văn Nhật Tiến là "ấu trĩ ",
là "toan tính dùng lòng khoan dung của đạo đức giả để che lấp nghĩa vụ
phục hoạt dân sinh" là "khiếp sợ và an thân ", là "nên
ân cần xin lỗi độc giả của ông ta" !
3- Lý luận sức nén và sức nổ của ông Đỗ
Thái Nhiên:
Cần
nhắc lại rằng, khi gặp người anh với hình thức là một Đại tá Cộng sản, người em
tù cải tạo biểu lộ lòng căm thù tột đỉnh của mình với chế độ Cộng sản qua lời
nói: nếu có súng sẽ bắn anh không tiếc tay. Với tình ruột thịt và tình đồng lý
tưởng cùng mơ ước xóa bỏ chế độ Cộng sản, người anh phân tích cho người em
thấy đó là một ước muốn điên rồ bởi vì nó không giải quyết được gì
ngoài việc tự hủy diệt mình và tạo thêm sức mạnh cho kẻ thù. Sau đó, ông phân
tích thêm: ...Phải nói rằng chính sách cải tạo không nhằm dạy dỗ các chú trở
thành những con người Cộng s3 mà mục đích của nó là nhằm tiêu diệt khả năng đề
kháng của những ngời ở phe chú. Thành quả của nó thế nào,chú đã thấy. Phần
đông sĩ quan cải tạo về đều ôm mơ
ước là đoàn tụ với thân nhân ở nước ngoài. Đó có phải là một hình thức tháo
chạy hay không? Còn nhân dân nổi dậy? Họ làm sao nổi dậy được khi chính những
người có khả năng chiến đấu, lãnh đạo như các chú cũng chỉ có một ớc mơ là ra
đi, và mặt khác, làm sao họ nổi dậy được khi mà đời sống bây giờ đã thu gọn họ
vào có một điều kiện duy nhất là lo chạy vạy để có miếng cơm hàng ngày. Chủ trương
thắt bao tử để cai trị của chính quyền nó có tác dụng ghê gớm như thế nào, chú chưa nhìn ra hay sao?"
Ông
Đỗ Thái Nhiên không chấp nhận thực trạng trên đây. Ông Đỗ nghĩ rằng những quan
niệm như thế đã kết thành sợi dây xích khóa chốt bánh xe lịch sử. Từ
đó, ông Đỗ nhận định tiếp:
"Không
có sự chối cãi rằng "cải tạo" và "thắt bao tử" là hai chính
sách đã gây sức nén đối với lịch sử. Nhưng cũng không có sự chối cãi rằng
sau sức nén là sức nổ.... Nhật Tiến chỉ
thấy sức nén chứ không thấy sức nổ. Vì
vậy Nhật Tiến chỉ biết luận về lịch sử
chung quanh sức nén như một thái độ khiếp sợ và an thân... "
Phát
xuất lừ lòng tự ái của một người tự nguyện gắn mình vào hàng ngũ của chế độ
Nguyễn Vãn Thiệu, vừa không muốn nhìn nhận một thực trạng mà ông nghĩ rằng xấu,
vừa mang tâm lý cho rằng nếu thực trạng đó có xảy ra thì xem như bó tay và lực
lượng chống Cộng chỉ giới hạn trong những người đã từng phục vụ chế độ Thiệu.
Trong khi đó, Nhật Tiến không đặt mình trong một phía nào, muốn hướng tầm nhìn
của mình xa hơn trong thời gian để tìm nguyên nhân, rộng hơn trong không gian
để bao gom nửa phần tổ quốc đã bị bỏ quên và một phần khá lớn lực lượng dân
tộc bị chia cách, nghi kỵ.
Sự
kiện phần đông những người cải tạo trở về đều ôm mơ ước đoàn tụ với gia đình
cũng như quần chúng Việt Nam
dưới chế độ Cộng Sản phải lo chạy vạy để có miếng cơm hàng ngày là một thực tế
không thể phủ nhận. Phủ nhận thực tế này chẳng khác nào chê Cộng sản không biết
tàn bạo, hoặc tàn bạo chưa đủ. Phải thừa nhận rằng, không riêng gì ở Việt Nam,
mà tại hầu hết các nước Cộng Sản từ hơn 80 năm qua, sự tàn bạo kinh hoàng của
Cộng sản trong chính sách tiêu diệt khả năng đề kháng của những người chống họ,
đã có hiệu quả. Khi cần, như lịch sử đã được tiết lộ, Cộng sản đã giết hàng
triệu người kể cả những người trước đây là đồng chí rường cột của họ. Nhưng
nêu lên thực trạng như Nhật Tiến đã nêu, không phải để tạo thành sợi dây xích
khóa chặt bánh xe lịch sử như ông Đỗ muốn kết án. Bởi lẽ bánh xe lịch sử không
phải lăn theo những cánh tay yếu hay mạnh, cũng không phải lãn theo những bụng
no hay đói, cũng không phải lăn theo những vũ khí thô sơ hay tối tân. Chế độ Nguyễn
Văn Thiệu với số lượng quân nhân, công chức nhiều hơn số lượng nằm trong các
trại cải tạo, lương thực dầy đủ, vũ khí tối tân, nhưng bánh xe lịch sử vẫn bị
khóa chặt và chế độ của ông phải tan rã, tại sao ? Phải biết rằng bánh xe lịch
sử, có lúc nhanh lúc chậm, nhưng chỉ lãn theo một con đường duy nhất: con đường
của chính nghĩa. Khi nêu lên thực trạng đó, Nhật Tiến muốn đưa ra quan điểm
của ông đối với công cuộc chống Cộng hiện nay, vũ lực hay bạo lực chưa đủ,
chính nghĩa dân tộc mới là yếu tố tất thắng. Cũng như hầu hết các chế độ Cộng
sản hiện nay, tuy họ thành công trong việc trấn áp những cuộc nổi dậy bên ngoài,
nhưng họ đã không trấn áp được những đòi hỏi và ước mơ nhân bản cất lên từ
trong lòng chế độ, từ trong lương tâm của chính họ.
Lý
luận sức nén và sức nổ của ông Đỗ Thái Nhiên cũng chỉ đứng lại ở vũ lực và bạo
lực. Và trên phương diện này thì Cộng sản là bực thầy. Câu nói đầu môi của
những người Cộng sản mà Mác đã mớm cho họ là "Chỗ nào có đàn áp bất
công. chỗ đó có cách mạng. " Nhưng khi họ làm cách mạng xong, họ đàn
áp và bất công hơn ai hết ! Do đó, vấn đề không phải ở chỗ nén và nổ cũng như
không phải ở chỗ bất công và cách mạng. Vấn đề ở chỗ nổ như thế nào và cách
mạng như thế nào. Nổ như một viên pháo để rồi tan xác pháo! Cách mạng
như Cộng sản đã làm chỉ tạo thêm đàn áp và bất công! Đó là lý do những nhận
thức của Nhật Tiến xoáy sâu vào ước mơ nhân bản của con người, nhấn mạnh đến tầm
quan trọng của chính nghĩa dân tộc. Đó cũng là điểm mà ông Đỗ Thái Nhiên không
hiểu được trong những nhận thức của Nhật Tiến và từ đó, ông cho rằng Nhật Tiến "chỉ
biết luận về lịch sứ chung quanh
sức nén như một thái độ khiếp sợ và an thân. "
Đặt
những phân tách của Nhật Tiến về thực trạng trên đây trong một khung cảnh thảo
luận và mổ xẻ tình hình để biết rõ ta và cũng biết rõ kẻ thù giữa những người
cùng chung lý tưởng và đang mơ ước làm cuộc giải phóng xóa bỏ chủ nghĩa và
chế độ Cộng sản, chúng ta mới thấy hết được ý nghĩa và giá trị của nó. Dĩ nhiên
trong khung cảnh này, chúng ta đừng chờ đợi những lời tâng bốc, ca ngợi để vừa
thoa dịu nỗi đau đớn, vừa vuốt ve lòng tự ái của mình. Suốt mấy chục năm trong
cuộc chiến chống Cộng, chính vì chỉ thích nghe những lời tâng bốc, ca ngợi như
thế trong khi thực tế trái ngược hẳn lại nên cuối cùng thua cuộc và mất nước.
Những điều mà chúng ta phải chờ đợi nghe, tuy chối tai và làm buốt thịt da, nhưng
là những sự thực. Và chúng ta phải biết rút ra những bài học từ những sự thực
đó thay vì tự ái. Chẳng hạn, không có gì phải tránh né và biện minh trước một
thực tế rằng phần đông tù cải tạo được về đều mơ ước đoàn tụ với thân nhân ở nước
ngoài, dù đó có thể được hiểu là một hình thức tháo chạy. Biết bao nhiêu điều
đau đớn hơn, xót xa hơn, tủi nhục hơn đã xảy ra dưới chế độ của Nguyễn văn
Thiệu và chúng ta cứ phải chấp nhận. Hãy đọc lại Cuộc rút quân Cao nguyên của Phạm Huấn, Việt Nam: Một trời tâm sự của Nguyễn Chánh Thi, Việt Nam máu lửa quê hương tôi của Đỗ Mậu để
thấy đau đớn, xót xa, tủi nhục như thế nào ? Nhưng chúng ta phải chấp nhận. Cũng
như đã chấp nhận trong lịch sử Việt Nam có những Lê Long Đỉnh, Lê Chiêu
Thống, Trần ích Tắc v..v... Cũng như chấp nhận có những trang sử đen tối 1000
năm nô lệ Tàu, ngót 100 năm nô lệ Tây... Chấp nhận để tránh đừng để xảy ra nữa
trong tương lai. Do đó, không có gì phải tránh né và tự ái trước một thực
trạng như thế. Vả lại, xét về tình cảm, mơ ước đoàn tụ với thân nhân, bất kỳ
ở đâu, là một thứ mơ ước đã tích lũy từ nhiều đời, trở thành một thứ thiếu hụt
thường xuyên trong máu, trong hơi thở của con người Việt Nam phải chiu đựng
phân ly, chia cách suốt gần bốn thế kỷ qua. (Chinh Phụ Ngâm Khúc của
Đặng Trần Côn với bản dịch của Đoàn Thị Điểm đã chứa đựng sự mơ ước và thiếu
hụt đó). Xét về lý trí, chính nghĩa của những cuộc chiến kéo dài triền miên từ
thời Lê-Mạc, Trịnh-Nguyễn đến nay trừ cuộc chiến chống thực dân Pháp - đã không
đủ mạnh, đủ chính đáng đề lý trí nương tựa, nên khuynh hướng tất nhiên là mơ ước
đoàn tụ để tìm về ẩn náu với mái ấm gia đình. Và như trên đã phân tích, đó
cũng là một phản ứng tiêu cực trong tình trạng vô thức của một thứ tâm lý chán
ngán chiến tranh vô nghĩa. Tránh né, phủ nhận, tự ái, không cảm thông tâm trạng
của những người cải tạo trở về mơ ước đoàn tụ với gia đình, dù ở trong nưước hay ở ngoại
quốc, là một hình thức thống trách họ. Nhưng chúng ta có đủ tư cách để thống
trách họ không ? Tại sao chúng ta tìm cách thoát thân, tìm cách đoàn tụ gia
đình, tìm cách sống một cuộc đời êm ấm, trong khi đó cứ muốn những người khác tiếp
tục noi gương "tiếng bom Sa Điện của Phạm Hồng Thái, tiếp tục đứng
đầu sóng ngọn gió để giữ tròn tiết tháo thước kẻ thù ?
Do
đó, vấn đề không phải là tháo chạy, không phải là mơ ước đoàn tụ gia đình. Vấn
đề chính yếu nằm ở chỗ nhận thức được chính nghĩa dân tộc, nhận thức được con đường
tập hợp lực lượng dân tộc. Được như thế, lúc bấy giờ, mọi người như được trở
lại giòng sinh mệnh bất khuất trong lịch sử oai hùng của giống nòi. Và lúc bấy
giờ, không những không còn ai đặt ra vấn đề tháo chạy, không còn ai mơ ước
đoàn tụ gia đình mà mỗi người sẽ tự nguyện làm đúng những gì như tiền nhân
chúng ta đã làm trong công cuộc dựng nưước và giữ nước trong mấy nghìn năm qua.
Một Phan Thanh Giản không giữ được thành trước sức tấn công vũ bão của Pháp,
liền viết sớ, trả ấn, hướng về phía Bắc vọng lạy vĩnh biệt vua và uống thuốc
độc tự tử ! Một Võ Tánh sai người lấy rơm chất dưới lầu Bát giác, đổ thuốc súng
vào để tự thiêu, một Ngô Tùng Châu uống thuốc độc tự tử khi cả hai thất bại
trong việc giữ thành... Đó chính là sức mạnh của niềm tin và chính nghĩa.
(còn tiếp )





