Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2015

SỐNG NHƯ LÀ CHẾT - Tiểu thuyết NHẬT TUẤN - KỲ 6

                                       Chương 6




Tiếng gà gáy làm gã thức giấc. Ô hô…sáng bạch ra rồi. Giờ giấc chẳng còn ý nghĩa gì. Đồng hồ sinh học của gã chẳng theo ấn định nào. Bất kỳ lúc nào cũng có thể ăn. ngủ,đọc sách, nghe nhạc, xem phim, hoặc lướt web. Thời gian liền mạch chứ chẳng cắt vụn như người đời. Gã chẳng cần biết đang mấy giờ, ngày bao nhiêu, thứ mấy.Chằng có gì thúc ép, cũng chẳng có gì chờ đợi.Gã sống như trong không gian phi trọng lượng, đẳng hướng. Chẳng lúc nào rưng rưng quá khứ,mừng rỡ hiện tại, cũng không náo nức tương lai. Như lúc này dậy cũng được, ngủ nữa cũng chẳng sao . Gã sẽ buông trôi vào giấc ngủ, thả mình theo mộng mị cho tới khi chán cả ngủ, gã thức giấc nhảy khỏi giường.
Lẽ ra gã còn ngủ nữa. Nhưng tiếng gà mái cục te cục tác làm gã nhổm dậy. Gã bổ ra sân và thấy chú gà trống đang cà cà quanh người một em  gà mái. Ghê chưa, anh chàng đã "nhặt" đâu được cô vợ, dẫn về ra mắt đấy. Nom cô nàng không còn non tơ nữa, dáng vè một mụ gà mái ghẹ. Cũng tốt, có đôi có cặp thế nào cũng đẻ sòn sòn. Vừa nghĩ tới đó, chú gà trống đã nhảy ngay lên lưng chị gà mái, mỏ quắp chặt lấy đầu dằn xuống, làm động tác cấp tập như máy khâu.
Gã bật cười, rốt cuộc rồi ai cũng đi đến đó, tình yêu cao đẹp đến mấy cũng phải vội vã đưa nhau lên giường. Suy cho cùng cả gà lẫn người cũng đều phải thực hiện cái sứ mệnh cao cả là duy trì giống nòi. Chính Sigmund Freud đã chẳng từng nói " mật ngữ lớn nhất ở người đàn bà là sự hoài thai". Cái "động cơ đốt trong " của người phụ  nữ  chính là sinh con. Cái thiên chức thiêng liêng ấy được thúc đẩy bằng cái mà người đời vẫn gọi là…tình yêu.Vậy thì bẩt cứ loại nào : platonic thánh thiện, nhục dục nhơ bẩn, tiền bạc thực dụng…bất cứ loại tình yêu nào cũng là sự thôi thúc của sứ mệnh duy trì chủng loại con người : đẻ con .
Gã vào bếp lấy  nắm gạo quăng cho đôi uyên ương. Họ đã rời nhau ra chẳng nhìn gì tới nhau để chăm chăm vào cái việc riêng rẽ là mổ gạo. Vậy là dân số trong sổ gia đình gã từ nay có thêm một…chị gà mái. Tất nhiên con Mực không hài lòng, nó cứ nhằm lúc đôi tình nhân dạo trong sân đớp một phát rụng cả lông đuôi và quang quác bay lên cây cao.
Gã chợt nhớ hôm nay đã hẹn lão hàng xóm đưa cần cẩu đến cứu cây hoàng lan. Cứ mỗi ngày qua nó lại thêm vàng úa, khô héo làm gã sốt cả ruột.Chiều qua gã sang nhà tìm lão. Người đàn bà nhỏ thó, nhăn nheo chắc vợ lão ra mở cổng.
«  Ông nhà tôi vừa chạy ra chợ, về liền, mời ông vào. Ông là nhà báo ? »
«  Tôi là hàng xóm thôi ạ… »
Căn phòng vừa đủ kê cái bàn nước với 4 cái ghế gỗ. Trang thờ có hình anh bộ đội còn rất trẻ  và bát nhang, lọ hoa giấy. Trên tường treo la liệt bàng chứng nhận gia đình liệt sĩ, huy chương, huy hiệu. Bà hàng xóm rót nước mời :
«  Nghe ông nhà tôi nói chuyện …thế vợ con đâu mà lại sống một mình vậy ? »
«  Dạ…ở xa… »
«  Xa là ở đâu ? Ở nước ngoài hả ? »
Gã lảng chuyện :
«  Anh con trai bác hy sinh năm nào ? »
«  Đó…ghi rõ trong bằng liệt sĩ rồi đó…năm 1979 ở Samát đánh nhau với Khơ me đỏ đó… »
«  Ra hai bố con đều là bộ đội ? »
«  Hồi bố nó phục viên tôi làm lễ tạ ơn trời phật chồng đi trận 10 phần chết 1 phần sống lại vẫn được trở về với vợ con. Ai ngờ chỉ 4 năm sau đến lượt con ra đi thì lại không trở về… »
Không khí trầm hẳn xuống. Gã không ưa những chuyện bi thảm nặng nề. Nhất là loại dẫn dắt về chuyện thời thế. Gã cũng chẳng biết buông lời an ủi, gã cố gắng đẩy bật ra khỏi đầu những suy nghĩ về cuộc chiến chống Mỹ, chống Khme đỏ, nó làm cho gã dễ điên cái đầu.…Gã đành cứ ngồi ngây tượng gỗ , tay xoay xoay chén nước không buồn uống.
« Ông nhà tôi thương binh loại 1, kỳ này liệu được tăng phụ cấp  không ? Ông là nhà báo chắc biết ?»
Quả thực gã mù tịt chuyện này, đành ấp  úng :
«  Dạ…Nhà nước đang nghiên cứu  ạ… »
Người đàn bà sa sầm mặt :
«  Nghiên cứu gì bao năm nay vẫn nghiên cứu ? Đó ông coi…nhà tôi ông chồng thì đi đánh Mỹ cứu nước, con tôi cũng đi đánh Khome đỏ cứu nước, chồng thì bị thương, con thì chết…Hy sinh vậy được cái gì ? Ông coi nhà tôi có được bằng cái chuồng trâu nhà nhà mấy thằng cán bộ không ? Trong khi đó những thằng lúc chiến tranh còn nhãi ranh, hỉ mũi chưa sạch, cả đời chẳng biết viên đạn nó vuông tròn ra sao. Vậy mà bây giờ tụi nó nhà lầu, xe hơi, ngồi lên đầu lên cổ tụi tôi đó. Ông bảo có uất ức, bất công không ? »
Í trời ơi, đã trốn về cái nơi khỉ ho cò gáy này rồi mà cũng chưa thoát được những nỗi niềm oán thán thế này.
«  Nói của đáng tội..tết nhất ông thương binh xã hội cũng đến thăm nhà cho gói mứt tết với chai rượu Đồng Tháp, mỗi năm nhân ngày thương binh liệt sĩ cũng cho ông nhà tôi tham quan nơi này nơi nọ…gọi là lấy tiếng vậy thôi, ăn thua gì với xương máu gia đình tôi bỏ ra… »
" Vậy mỗi tháng ông nhà được trợ cấp bao nhiêu ?"
" Có hai triệu thôi, nhiều nhặn gì, vừa đủ gạo mắm cho hai vợ chòng già…Còn bao nhiêu thứ tiền : ma chay, cưới hỏi, ốm đau , điện, xăng…"
" Vậy rồi lấy tiền đâu bù vào chỗ thiếu đó ?"
" Đi cạo mủ thuê cho người ta. Mọi năm còn được ngày trăm rưởi, giờ mủ rớt giá chủ vườn sợ  lỗ không thuê cạo nữa…Hai vợ chồng nằm nhà cả tháng nay rồi…"
Gã buột miệng :
" Cũng còn may …nhiều nới không có gạo mà ăn nữa kìa…Nhà nước phải cứu đói cả ngàn tấn gạo kìa…"
Bà chủ nhà rền rĩ :
" Trời ơi…lại còn không có gạo mà ăn nữa kìa…nếu thế tôi mang cái bằng gia đình liệt sĩ với thương binh lên tận trước cửa huyện ủy đốt cha nó đi cho rồi…"
Vừa lúc đó lão hàng xóm về tới, nạt vợ :
" Bà lại ăn nói ba láp ba sàm gì đấy ? Ông này là nhà báo ông ấy đưa lên tivi thì bỏ mẹ…"
Bà vợ tru tréo :
" Đưa thì cứ đưa…đã chết đói thì còn sợ gì con nào thằng nào nữa…"
Ông chồng phải quát lên, đuổi vợ vào buống trong mới yên.
" Ấy con vợ tôi tính nết cứ như bà la sát vậy. Mỗi lần ra lộ nhìn thấy xe hơi bóng lộn của mấy ông quan xã chạy lui chạy tới là về nhà bà lại chửi toáng lên…"
Gã đã mệt với ba cái chuyện "thời thế" này lắm rồi, vội gạt ngang :
" Ong đã thuê được xe cẩu chưa ?"
" Rồi…rồi…đã lót tay cho thằng đội trưởng, thằng giám sát rồi cả thằng công an xã nữa rồi. Tiếng là nhận của ông 20 triệu, rải khắp chẳng còn bao nhiêu…"
Gã bực mình :
" Chuyện đó ông phải lo…tôi đã cưa đứt đục suốt một cục vậy rồi, thôi không kêu ca gì nữa…"
Lão hàng xóm cười cười :
" Chuyện đó dứt điểm vậy rồi…chỉ còn…chỉ còn…xong việc ông cho tụi nó bữa nhậu cho…khí thế …"
Gã cau mày :
" Nhậu sao ? Mấy người ? Ra nhà hàng hay  ở nhà ?"
Lão hàng xóm rối rít :
" Có 4 người thôi, nhiều nhặn gì đâu, ra nhà hàng tốn lắm, cứ đưa tiền cho bà nhà tôi lo là xong hết nọi chuyện…"
Gã bằng lòng đưa thêm 2 triệu nữa hẹn chậm nhất 10 giờ sáng mai xe cẩu phải tới, giờ đã quá trưa rồi chẳng thấy cần cẩu với mặt mũi lão đâu ? Làm việc với dân cao su này giờ giấc  cũng cao su.


                               ( còn tiếp )




Thứ Tư, 29 tháng 4, 2015

YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU - KỲ 184


                                      (tiếp theo)



Lúc này ông Cục trưởng chỉ còn biết nằm ngây đơ cho con bé hầu phòng xoa xoa cái đầu hói chòng ghẹo :
“ Này anh ơi...sao lúc nẫy anh sướng anh cứ réo gọi tên ai thế ?”
Ông Cục trưởng giật mình đánh thót, nghển  cổ dậy nhìn quanh căn phòng vẫn chỉ có ông với con bé hầu phòng nên mới yên tâm, cất tiếng cười hề hề :
“ Ba ông đó là tổ sư , bố đẻ ra Đảng đấy. Thế em không để ý trong hội trường huyện uỷ có hình hai ông tây có râu à ?”
Cô hầu phòng thật thà :
“ Sao bảo ba ông tổ sư mà lại chỉ có hình hai ông thôi ?”
Ông Cục trưởng gật gật :
“ Phải rồi, phải rồi, hai ông râu rậm là tây, còn ông thứ ba là người tàu không có râu nhưng lại có cái nốt ruồi tổ bố trên mặt...”
Cô Tuyết thắc mắc :
“ Sao đẻ ra Đảng mà lại toàn tây với tàu là sao ? Thế còn bác Hồ, bác Hồ không đẻ ra Đảng hả ?”
Ông Cục trưởng gắt :
“ Chết thật thôi , cái con bé này công tác tại văn phòng huyện uỷ mà chẳng biết cái gì về Đảng cả, đến phân biệt bác Hồ với Mác, Lênin , Mao Chủ tịch mà cũng không biết. Lúc nào phải đặt vấn đề với thường vụ huyện uỷ tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ công nhân viên giác ngộ về Đảng mới được .”
Con bé hầu phòng đập  cái vào đầu hói ông Cục trưởng đau điếng :
“ Thôi thôi...đừng có bầy trò...lại bắt ngồi học tập , thảo luận với cả quán triệt gương đạo đức bác Hồ , buồn ngủ bỏ mẹ, bố ai mà học được ?”
Ông Cục trưởng càu nhàu :
“ Gớm...sao em choảng anh một cái đau thế ? Váng cả óc...”
Cô hầu phòng cười rinh rích :
“ Ai bảo định bắt tôi ngồi học tập chính trị...”
Ông Cục trưởng trợn mắt :
“ Học tập để mà tiến bộ chớ. Sau này bất cứ cán bộ nào cũng được tiêu chuẩn hoá hết. Thí dụ em muốn phấn đấu lên chức Phó cửa hàng ăn uống, em phải có bằng trung cấp chính trị, còn muốn lên chức Chánh văn phòng huyện uỷ như sếp của em thì phải có bằng đại học Nguyễn Ai Quốc..”
Cô hầu phòng bĩu môi :
“ Thôi tôi không thèm...thà đứng đường còn hơn làm cái nghề suốt ngày bốc phét, ăn gian nói dối đó...”
Ông Cục trưởng há hốc miệng :
“ Em nói ai vậy ?”
“ Thì nói mấy ông mấy bà trong huyện uỷ này chứ ai ? Anh không biết, bề ngoài thì nói năng lịch sự lắm,một điều đồng chí hai điều đồng chí, nhưng họp nội bộ thì chửi nhau, đụ đéo không khác gì ba thằng lưu manh ngoài chợ...”
Ông Cục trưởng kinh ngạc :
Ối trời ôi...em là quần chúng ngoài Đảng sao biết được nội dung họp nội bộ...”
“ Thì em bưng bê nước thuốc cho mấy ông mấy bà hội họp choảng nhau em còn lạ gì ?”
Ông Cục trưởng thở hắt ra :
“ Thảo nào em ăn nói đanh đá, bỗ bã thế. Mà trình độ của em sau này phải ngang tầm Hội trưởng phụ nữ huyện...”
Cô hầu phòng vênh mặt :
“ Đã bảo không thèm mà lị...anh muốn giúp em tốt nhất là cứ đưa tiền tươi thóc thật như ban nãy là tốt rồi...”
Ông Cục trưởng hứng chí :
“ Chuyện đó khó gì...anh “bo” thêm một tờ nữa này...”
Ông rút một tờ “bác Hồ sốt rét” tức bạc 500 ngàn dúi vào tay Tuyết làm cô cười  thích chí :
“ “Bo” nữa kia à ? Anh chơi đẹp thế này thì em cũng phải “bo” lại cho anh một chầu lên tiên nữa. Nhưng khi nào thấy hai tay tê tê muốn bắt chuồn chuồn thì phải bảo em cho anh “hạ cánh” không lại lên nóc tủ ngồi xem gà cởi truồng giờ  !”
Ông Cục trưởng ngớ người :
“ Sao lại lên nóc tủ coi gà cởi truồng ?”
Cô hầu phòng cười rinh rích :
“ Thì khi anh nhắm mắt tắt hơi, vợ con anh chẳng đưa ảnh anh lên nóc tủ rồi cúng con gà luộc là gì ?”
Ông Cục trưởng kêu lên :
“ Trời đất ơi, anh chưa thấy đứa con gái nào nói năng đểu giả như em...”
Cô hầu phòng chẳng những không tự ái còn cười  nhạt :
“ Thì ông Bí thư với bà Chánh văn phòng cứ mỗi lần cãi nhau lại réo tướng lên “ thời đại này đồ đá không phải, đồ đồng cũng không, đúng là thời đại đồ...đểu...”
Ông Cục trưởng chưa biết nói sao đã bị cô hầu phòng tống ngay vào mồm “trái quý” của cô khiến ông phùng mang trợn mắt, chân tay bủn rủn, toàn thân giãy đành đạch như con giun bị ném vào ổ kiến lửa. Khi cô trả lại tự do cho cái miệng của ông, ông cười sằng sặc và lại cất tiếng réo :
“ Ối ông Mác Lênin ôi...ôi ông Mao Trạch Đông ơi...”
Cô hầu phòng phải đập tay vào người ông nhắc nhở :
“ Bé bé cái mồm chớ...bên huyện uỷ người ta nghe thấy thì anh chết...”
Đang trong cơn hưng phấn, ông vênh mặt :
“ Đ...sợ...anh chỉ réo tên các đồng  chí Mác Lênin, Mao Trạch Đông chứ có réo tên bác Hồ đâu nên anh đ...sợ...”
Cô hầu phòng bật cười :
“ Vậy chẳng hoá ra bác Hồ to hơn ba ông kia ?”
Ông Cục trưởng lắc đầu :
“ Không to hơn, chẳng những không to hơn mà lại còn là học trò của ba ông đó nữa kìa. “
Cô hầu phòng bĩu môi :
“ Học trò mà to hơn thày. Anh xạo...”
Ông Cục trưởng la lên :
“ Anh nói thật đó. Cho dù bác Hồ luôn tự nhận mình là người học trò nhỏ của Mác Lênin, Mao Trạch Đông nhưng Đảng ta vẫn kính trọng bác không thua gì ba ông kia, có khi còn hơn nữa kìa...”
Cô hầu phòng lắc đầu :
“ Sao lạ thế ? Sao coi học trò hơn thầy là sao ?”
Ông Cục trưởng lại phải giải thích :
“ Thì em thấy Đảng ta toàn học tập theo gương bác Hồ chứ có bao giờ nói học tập Mác, Lênin, Mao Trạch Đông đâu...”
Cô hầu phòng cười rinh rích :
“ Hoá ra lúc đó anh không dám gọi tên bác Hồ sợ bác vật chết, đúng không ?”
Ông Cục trưởng lo ngay ngáy. Trời đất ôi, giữa lúc cả hai còn đang tô hô thế này, chẳng may có đứa nào ghi âm . chụp hình được cuộc nói chuyện giữa ông với con bé hầu phòng này, nó nộp lên Ban tổ chức trung ương thì ôi thôi...ông chỉ còn có nước về nhà bóc hành, coi mèo cho vợ nấu ăn. Ông vội vàng chấn chỉnh :
“ Thôi nhé... trong lúc này đừng có nhắc tên bác Hồ nhé...”
Cô hầu phòng cong cớn :
“ Tại anh nhắc chớ em biết gì ? Sau này có bị kiểm điểm lại đổ riệt hết cho con này chứ tôi có nói đâu ?”
Ông Cục trưởng giật mình :
“ Em nói cái gì ? Tại sao sau này lại bị kiểm điểm. Trong phòng này chỉ có anh và em, có ai đâu mà sau này kiểm điểm...”
Cô hầu phòng ỡm ờ :
“ Việc gì phải có ai...có cái khác thì sao ?”
Ông Cục trưởng sợ toát mồ hôi :
“ Có cái khác là cái gì ? Phải thằng Bí thư huyện muốn chơi  anh đặt máy quay camera ở phòng này chăng ?”
Cô hầu phòng giả vờ ngây thơ :
“ Em có biết camera là cái đâu ? Mà tại sao ông Bí thư huyện lại phải quay camera...’
Ông Cục trưởng rền rĩ :
“ Để nó có bằng cớ anh chơi gái hại anh biết chưa ? Chưa nói tới chuyện nó nộp cho cơ quán,  nó chỉ cần đưa cho vợ anh là đủ giết anh chết mất ngáp rồi....”
Cô hầu phòng cười  rinh rích :
“ Anh sợ vợ ghế thế kia à ? Hoá ra thằng nào cũng giống thằng nào..thằng nào cũng sợ vợ đến đái cả ra quần...”
Quả thực sau lần đó, trở về tư gia ở Hà Nội ông Cục trưởng nhìn vợ cứ len lét như rắn mồng Năm .Lậy trời, nó mà phát hiện ra cái vụ ông ngủ với con hầu phòng ở dưới văn phòng huyện uỷ thì…tan tành sự nghiệp.
Còn nhớ lần đi vào Sàigòn công tác hồi ông mới lên chức; thằng đệ tử thân tín đưa ông đi  “thư giãn” ở nhà hàng karaoke. Oi trời ôi, gọi là “nhà hàng” là sai bét , phải gọi là “Liên hiệp các xí nghiệp” thì đúng hơn, bởi vừa bước qua hai lần cửa sắt, thằng đệ tử đã dẫn ông vào một khu vực có nhà 4 tầng lầu, tầng nào ngoài hành lang cũng có các em xinh tươi, tuổi vừa đôi tám, đồng phục chỉ có hai mảnh nhỏ xíu, đứng dàn chào như đội quân danh dự đồng chí Chủ tịch nước Trương Tấn Sang vẫn dẫn khách nguyên thủ quốc gia tới thăm VN đi duyệt tại Phủ Chủ tịch.
Oi chao ôi, vỡ tổ đâu ra mà lắm gái đẹp đến thế không biết, các em cười nói mời chào, vẫy vẫy hai bên lối đi nom cứ như hồi 54 nhân dân Thủ đô Hà Nội đứng hai bên đường chào mừng Đảng, Chính phủ, bác Hồ từ kháng chiến trở về thủ đô. Chỉ có điều các cô đón ông không mang hoa, ông đi tới đâu các cô lột ngay mảnh trên ra dùng nó để vẫy vẫy.
Tự dưng , lúc đó chẳng hiểu sao ông lại nghĩ tới vở ca vũ nhạc kịch “ Tiếng hát rừng dừa” do đoàn nghệ sĩ Bắc Kinh của nước anh em Trung Quốc sáng tác và biểu diễn để ca ngợi phong trào du kích miền Nam Việt Nam hồi chiến tranh chống Mỹ.
Quả thực lúc này ông cũng đang đi giữa một rừng “dừa” nõn nà, căng đầy nhựa sống. At  hẳn nhà hàng đã làm một cuộc tuyển chọn công phu lắm mới trưng được một quang cảnh “bắt mắt” quy mô lớn, hùng vĩ đến thế ?
Ngẩn người trước quang cảnh có một không hai, ông Cục trưởng “ chửi thầm :
“Đ.M. cái bọn Sàigòn này, bầy thật lắm trò…”.
Ong tuy làm tới chức Cục trưởng mà tính cách vẫn như hồi làm nhân viên hành chính, có việc gì dù vui dù buồn ông vẫn cứ Đ.M. L.C. ầm ĩ, lắm khi khách quốc tế tới làm việc ông cũng chẳng tha, chỉ tội cô phiên dịch, đầy hai lỗ tai những từ mà ngay trong truyện tiếu lâm người ta vẫn phải viết tắt mà không dám dịch cho khách nghe sợ…mất “thể diện quốc gia”.
Có lần phát hiện ra một câu chửi của mình bị cô phiên dịch bỏ qua, không dịch cho khách, ông đập bàn quát :
“ Sao không dịch ? Cứ dịch cho nó nghe cho nó sáng mắt ra! Sợ cái đéo gì ?’
Cô phiên dịch mặt đỏ tía tai khi phải tuân lệnh thủ trưởng, còn khách quốc tế thì cứ giơ cả hai tay lên trời, trợn tròn đôi mắt xanh lét mà la lên :” Oh My God…Oh My God…”
Ngoài tật hay chửi tục, ông Cục trưởng còn có thói quen hay so sánh thời bao cấp, thời chiến tranh với thời hội nhập ngày nay. Chẳng hạn khi nhân viên phàn nàn tiền thưởng tháng này hụt nhiều so với tháng trước , ông đập bàn quát :
“ Hụt mấy thì hụt mỗi đứa cũng nhét túi cả chục triệu còn kêu gì ? So với ngày xưa còn sướng chán, thời bao cấp ấy à…ba cọc ba đồng, chẳng có thưởng tưởng con mẹ gì, cứ lĩnh lương xong phải cất kỹ 36 đồng để đóng tiền cơm, 30 đồng ăn sáng…còn mấy đồng toàn uống chè vặt với lạc rang . Ngày nay ngồi phòng làm việc đã có máy lạnh, một bước lên ô tô, ba ngày lại chiêu đãi nhà hàng, thịt ăn phát chán đến  nhả bã…vậy còn kêu ca nỗi gì ?’
Cơ quan của ông chuyên ký giấy cho các tỉnh làm dự án, thực chất là ban phát bổng lộc cho họ, bởi vậy thả sức mà tiêu tiền. Cục trưởng, Cục phó có xe riêng đã đành, ngay đến cấp Trưởng, Phó Phòng anh nào anh nấy đi công tác đều nghễu nghện ngự trên những chiếc xe đời mới láng coóng. Từ đó các cán bộ sinh ra cái mốt đi công tác xa không thèm đi…máy bay, cứ dùng xe công mà bon bon trên đường thiên lý, chiều tới ghé thành phố nào đó, tìm khách sạn du lịch 5 sao, ăn chơi nhảy múa chán chê sáng hôm sau lại tiếp tục lăn bánh trên đường trường xa.
Thói chơi ngông đó sẽ tiếp diễn dài dài nếu không bị phát hiện bởi một tờ báo địa phương. Thế là ông Cục trưởng nổi trận lôi đình, gọi thuộc cấp tới mắng mỏ :
“ Các ông quên mất thời chống Mỹ cứu nước, vượt Trường Sơn gian khó đến thế nào không ? Đã trèo leo như con  khỉ đánh đu giữa rừng, trên vai lại còn phải đeo chiếc ba lô con cóc ngót nghét nửa tạ. Truyền thống chịu đựng gian khổ vậy mà ngày nay ngồi máy bay đi công tác cũng không chịu ngồi, cứ ngự trên xe con mà rong ruổi, chơi bời, trác táng, báo chí nó chửi cho là phải. Từ này cứ đi công tác trên trăm kilômét là phải đi bằng máy bay nghe chưa ? Cấm chạy xe ô tô đường dài…”
Đại khái ông cứ ngày xưa “bao cấp”, ngày xưa “ chống Mỹ cứu nước” để  so sánh với thời nay mà răn dậy cấp dưới.
Bởi vậy sau cái màn dàn chào của cả trăm em gái xinh đẹp, bước chân vào phòng hát karaoke rộng như cái hội trường cơ quan, xung quanh cơ man là đèn màu nhấp nháy, ngồi một dẫy trên  ghế bọc nhung là cả chục em gái xinh đẹp nõn nà, đồng loạt đứng dậy vỗ tay khi ông bước vào khiến ông lập tức nhớ tới cái phòng thời bao cấp, cả gia đình ông tam đại đồng đường trong vỏn vẹn có…12 mét vuông khu tập thể Kim Liên với 6 thành viên trong gia đình xanh xao, còm cõi, xám xịt và đen đúa.
Oi trời ôi so cảnh thời đó với những gì đang diễn ra khiến ông Cục trưởng tưởng  như  mình là cô Alice ngày xưa lạc vào xứ sở thần tiên.
Có điều ngày xưa cô Alice chỉ gặp Thỏ Trắng, Sâu bướm và Hoàng Hậu…còn ngày nay, lạc vào cái phòng thần tiên này, ông Cục Trưởng cuống cả lên khi quanh ông xuất hiện cả một dàn các cô Mận, cô Đào,  cô Tuyết, cô Lê…xinh tươi mơn mởn, cô kéo tay, cô vuốt tóc, cô lau mặt, cô nhảy tót lên lòng …làm ông không còn lòng dạ đâu mà nghĩ tới thời bao cấp, thời chiến tranh ngày xưa nữa , chỉ còn biết chìm ngập trong khoái lạc ngoài sức tưởng tượng của một cán bộ dầy dạn lửa đạn, xông pha trong đấu tranh cách mạng như ông.
Sau cái đêm “nhất dạ đế vương “ ở Sàigòn đó, ngồi máy bay về Hà Nội người ông vẫn cứ ngây ngất, ngật ngưỡng như còn trên mây xanh khiến tối hôm đó vừa mở cửa phòng ngủ ra mắt bà xã sau đợt đi công tác dài ngày, bà đã nắm cổ áo ông kéo tới gần hít hít cùng khắp trên người rồi bà rít lên :
“ Vào Saìgon lại đi chơi gái phải không ? Tôi biết ngay mà…nhìn cái bản mặt ông lờ đờ như con cá cờ kia là tôi biết ngay rồi mà…”
Lẽ ra khi bà nổi cơn tam bành, quát mắng vậy thì phải im thít, miệng ngậm hột thị, tuyệt nhiên không nói năng gì, bà nói chán, bắn hết đạn rồi khắc im là ông thoát. Đằng này ông Cục trưởng lại chối đây đẩy, thề sống thề chết vẫn giữ gìn đạo đức cách mạng , học tập gương bác Hồ vĩ đại, chỉ dám nhấm nháp ba chén rượu tây trong tiệc do thành uỷ chiêu đãi, chứ chấp chới với phụ nữ thì tuyệt nhiên không ?
Nghe ông cãi, bà vợ lại càng như lửa đổ thêm dầu, bà móc máy, bà tra hỏi, bà bắt ông phải tường trình dự những cuộc họp gì, gặp những ai, các buổi tối ở Sàigòn nếu không họp hành thì nằm nghỉ trong khách sạn hay đi “tươi mát” ở những đâu ?
Oi trời đất ôi, bà quay ông còn hơn cả mật thám phòng nhì Pháp quay tù cộng sản thời xưa. Cũng may, ông nhanh trí quyết không mảy may khai báo nên điều tra xét hỏi chán rồi bà cũng cho qua, chỉ cảnh cáo ông kỳ sau đi công tác các tỉnh xa mà còn lớ xớ tới mấy “con đĩ non” thì bà …xẻo.
Nói xong bà làm một động tác khiến ông Cục trưởng sởn gai ốc.

                                                                                           ( còn tiếp)



Thứ Ba, 28 tháng 4, 2015

NHẬT TIẾN : Chuyện bé Phượng - Tiểu thuyết - KỲ cuối



33

          Sáng hôm sau, trong lúc mọi người sửa soạn đi ăn sáng ở phòng dưới thì bà Juliette bước vào. Bà nói:
          - Chị Thu, chị Quỳnh sửa soạn quần áo. Hai chị bị đuổi rồi!
          Mọi người sững sờ như vừa nghe một tiếng sét đánh bên tai. Hương hấp tấp định hỏi thì bà Juliette đã ra khỏi phòng. Thu la lên:
          - Trong phòng này có kẻ phản bội.
          Hương nhìn ngay vào mặt chị Giang làm chị ta hốt hoảng kêu lên:
          - Không! Không bao giờ cả! Tôi xin thề rằng tôi không có ý ấy.
          Hương nhún vai ngồi xuống dựa lưng vào thành giường. Chị Thúy ngừng tay chải đầu ngồi xuống ghế. Hồng rón rén cúi xuống trải lại nệm giường. Chị Quỳnh đứng yên một chỗ tay mân mê vạt áo. Bầu không khí trở nên nặng nề một cách ghê gớm. Điều ấy làm mặt Giang  xám ngoẹt lại. Nàng chồm lại phía Hương, lắc mạnh tay chị ta rồi nói:
          - Chị Hương!...Chị Hương!... Chị nói đi. Không phải tôi đấy chứ!
          Hương gạt tay không đáp, rồi quay ngoắt người nhìn ra cửa sổ. Giang điên cuồng xô lại phía Thu níu lấy áo nàng hớt hải:
          - Chị Thu! Chị Thu! Tại sao chị không nói! Chị vẫn biết rằng không phải tôi mà.
          Thu thở dài đứng dậy đổi chỗ. Cử chỉ của Giang càng trở nên như điên cuồng. Nàng đập tay xuống mặt bàn hét thất thanh:
          - Không! Không thể nào vô lý như vậy cả!... Ôi… Giê-su-ma lậy Chúa tôi…
          Nói rồi nàng nằm vật xuống nệm giường khóc lên nức nở.
          Bà Juliette lại xuất hiện một lần nữa. Giọng bà gay gắt hơn:
          - Tất cả hãy ra ngoài và xếp hàng đi xuống phòng ăn. Các chị không thấy rằng đã muộn rồi hay sao.
          Mọi người lặng lẽ đi ra ngoài. Giang thất thểu, lẽo đẽo đi sau. Ở cửa phòng ăn, tất cả mọi người đã tề tựu đông đủ. Trên hàng hiên, có đủ mặt bà phước Nhân, bà phước Hạnh, bà Cécile, bà Juliette, bà Madeleine, bà Hòa và những người giúp việc. Trước sân sỏi, những hàng ngũ trẻ con đã ngay ngắn đâu vào đấy. Mọi người hiểu ngay rằng sắp có chuyện nghiêm trọng xảy ra. Quả nhiên bà phước Nhân đứng ra hiểu dụ mọi người về sự chăm lo đến phần linh hồn và trao giồi đức tính để được toàn mình trước Chúa. Sau đó bà Célice đọc thông cáo đuổi hẳn hai chị Lê Kim Thu và Vương thị Quỳnh.
          Hàng ngũ đang chỉnh tề bỗng trở nên rối loạn. Tất cả bọn trẻ đều nhớn nhác tìm chỗ đứng của hai chị ấy. Con Dung giảng giải:
          - Tao biết ngay là hai chị ấy sẽ bị đuổi. Chính hôm nọ các chị ấy cầm dao kéo dọa đâm chết chị Giang, chúng mày còn nhớ không.
          Ở trên máy phóng thanh bà phước Hòa chợt lớn tiếng:
          - Mọi việc đã xong rồi. Hàng đầu hãy bước lên trên trước. Hãy thứ tự đi vào phòng ăn.
          Nhưng chợt hàng ngũ của các chị lớn tản ra bất ngờ. Họ lùi hẳn ra ngoài vạch trắng của nền xi măng. Trên hàng hiên, các bà phước xôn xao lố nhố. Bà Hòa hét lên:
          - Các chị lớn làm gì thế kia! Hãy xếp vào hàng ngũ.
          Nhưng không ai nghe lời bà cả. Bọn trẻ con thấy thế bắt chước túa ra chung quanh. Phượng chạy tọt đi tìm chị Quỳnh. Hai chị em ôm chầm lấy nhau khóc nức nở. Lúc đó bà phước Nhân giận dữ bước ra. Khuôn mặt của bà đỏ ửng như gấc chín. Hai làn môi tuy mím chặt mà nom vẫn còn run rẩy. Cặp mắt kính xô trễ xuống tận sống mũi. Bà nặng nề bước xuống những thềm đá. Giọng bà hét lên thất thanh:
          - Xếp hàng vào! Mẹ bảo tất cả xếp hàng vào!
          Mọi người đang ồn ào vụt im bặt, nhưng không một ai đứng vào hàng ngũ trở lại. Bà Nhân giận dữ:
          - Tại làm sao không vào ăn sáng. Có phải các chị định làm reo đấy không. Mẹ nói cho các chị biết, hai mươi mấy năm trời ở đây, Mẹ không bao giờ tha thứ cho cái thói bè lũ, đảng phái như thế bao giờ đấy.
          Ngừng một lát, bà quát:
          - Tất cả đi vào phòng ăn.
          Bọn trẻ con nhìn các chị lớn dò xét. Nhưng mọi người thì lại cúi gầm đầu xuống như không nghe thấy gì. Bỗng Hương cất tiếng:
          - Thưa mẹ, chúng con xin mẹ rút lại thông cáo vừa rồi.
          Bà phước Nhân sấn lại phía nàng. Hai bàn tay bà nắm chặt vào nhau, bà giận dữ:
          - Thế nào? Có phải chị muốn mặc cả với Ban Giám đốc đấy có phải không? Kỷ luật đã ấn định rằng kẻ nào có công thì được thưởng, có tội thì phải trừng phạt. Quyền thưởng hay phạt là do mẹ bề trên định đoạt. Không một đứa mồ côi nào được xen vào đó cả.
          Hương nhếch mép quay đi. Cử chỉ ấy càng làm cho bà Nhân điên cuồng. Bà ta tiến đến một chậu cảnh và rút lên một cành tre. Bà chỉ vào chị Giang đứng ở gần bà nhất:
          - Thế nào? Chị Giang? Chị không a dua với bọn họ đấy chứ?
          Giang nhỏ nhẹ:
          - Thưa Mẹ…con không biết phải làm thế nào cho hợp lẽ cả…
          Bà Nhân nói:
          - Vậy Mẹ bảo rằng con hãy đi vào phòng ăn ! Con có nghe lời không ?
          Giang rên rỉ:
          - Thưa Mẹ, không thể chỉ giản dị có như thế….
          Bà Nhân trợn mắt:
          - Không chỉ như thế thì còn cái gì nữa ! Đừng có nghe lời xúi giục.
          - Thưa Mẹ, xin Mẹ hiểu cho, chúng con không muốn trái lời Mẹ, nhưng chúng con cũng không thể ăn gì được nếu hai bạn của chúng con phải ra đi.
          Mặt bà Nhân như đỏ thêm lên, hai con mắt như muốn lồi hẳn ra. Bà nói như quát :
          - Hãy đừng xâm phạm đến uy quyền và danh dự của các Soeur. Đó là tai họa lớn đối với Viện của chúng ta. Một lần nữa, Mẹ nhân danh bề trên ra lệnh cho con đi vào phòng!
          Giang cương quyết:
          - Thưa Mẹ, không thể được…
          Bà Nhân gầm lên:
          - Đồ vô ơn, bạc nghĩa!
          Giang òa lên khóc. Hai tay nàng bủn rủn, chân nàng đứng không vững nên lảo đảo chực khuỵu xuống. Nhưng Hương đã tiến lại dìu nàng lên. Hương gọi:
          - Chị Giang! Chị Giang!...
          Ngập ngừng một lát Hương lấy vạt áo dài của mình lau lên mặt bạn và ấp úng nói:
          - Chị tha lỗi cho chúng em, chị Giang nhé…
          Trong lúc ấy bà Nhân với tất cả vẻ bạc nhược nặng nề tiến lại phía bọn trẻ con. Bà ta gí cành tre vào giữa trán con Dung và nói:
          - Dung! Con nghe lời mẹ hay nghe lời ai.
          Dung đáp nhanh nhẩu:
          - Thưa mẹ, con nghe lời Mẹ.     
          -Vậy hãy bước vào phòng.
          Dung lấm lét nhìn mọi người. Nhưng không có ai nhìn nó cả. Nó ngập ngừng nửa muốn cất bước, nửa muốn dừng lại thì bà Nhân quát:
          - Đi vào!
          Lần này Dung quả quyết tiến nhanh về phía ngưỡng cửa. Sau đó đến con Bích, con Hằng và vấp lại ở con Phượng. Bà Nhân hét:
          - Phượng! Hãy đi vào !
          Nhưng Phượng không đáp, chỉ đứng cúi gầm. Bà Nhân thở mệt nhọc một lát lại cất tiếng:
          - Ta nói cho mà biết, ta không chịu thua những đứa mới nứt mắt ra đâu. Hãy bỏ tánh a dua mà đi vào thì ta tha thứ cho.
          Nhưng Phượng vẫn đứng im không nói. Bà Nhân giơ tay vụt vào mông nó một roi thật mạnh rồi tiếp:
          - Đồ ăn xin! Hãy ngửng đầu lên!
          Phượng òa khóc và vùng lên chạy. Mọi người nhốn nháo nhìn theo. Trong khi ấy bà Nhân hét thất thanh:
          - Đứng lại! Đứng lại!
          Nhưng giọng của bà đã lạc đi và cả thân hình bà như một con quay hết đà đã đổ khuỵu xuống.


THƯ GỬI CHO BÀ FÉLICITÉ

         Thưa ma soeur,
          Sáng hôm qua hồi 9 giờ 15 phút, Mẹ giám đốc bề trên đã từ trần tại phòng thuốc Cô Nhi Viện. Bác sĩ nói rằng Mẹ đã chết vì bệnh đau tim. Nhưng chúng con thì quả quyết rằng Mẹ đã chết do bàn tay của chúng con nhúng vào. Ôi những bàn tay nhơ nhuốc, những bàn tay ô uế và tội lỗi. Thật là kinh khủng và hãi hùng. Nếu chúng con biết rằng hậu quả có thể xẩy đến tai hại như thế thì không bao giờ chúng con dám hành động một điều gì cả, cho dù chúng con có phải tủi nhục và khốn khổ đến đâu. Đêm ngày chúng con vẫn thường cầu nguyện cùng Chúa và tự hỏi chúng con sẽ làm gì cho đúng ý Chúa. Những lời cầu xin của những kẻ tội lỗi không bao giờ thấu tới Đức tối cao. Chúng con sẽ bị hôn mê và hành động theo lời quỉ dữ. Chúng con đã dứt đứt sợi dây liên lạc giữa chúng con và Mẹ bề trên hằng kính, hằng trọng. Công ơn Mẹ bề trên đối với chúng con dầy như trời biển. Chúng con đã nghe nhiều lời Mẹ giảng. Mẹ hằng nói: Con hãy trung kiên với những điều con học được. Bởi vì nhân danh Chúa, Mẹ đã dậy dỗ các con từ thuở thơ ấu về con đường cứu rỗi nhờ lòng tin Đức Kytô: “Ta nài xin các con hãy rao giảng đạo lý, hãy nhắc đi nhắc lại nhiều lần lúc thuận cũng như lúc nghịch, hãy cố gắng nhẫn nhục, can đảm và hy sinh trong việc ấy. Bởi vì sẽ có ngày chân lý bị rời bỏ, lòng tin bị mờ ám, tình yêu thương bị chà đạp, trách nhiệm bị quên lãng và điều tốt bị lợi dụng để phục vụ cho điều xấu”.
          Ôi, thưa ma soeur, bằng tình vị tha, bằng cả sự thương yêu chúng con dù vụng nhưng thật lòng, thế mà Mẹ bề trên đã được chúng con đền đáp bằng hành động bồng bột, xốc nổi ấy. Trí chúng con bảo rằng đúng, nhưng lòng chúng con bảo rằng sai. Như thế chúng con bơ vơ như một bầy chiên lạc đàn trong bão tố, chúng con không biết phải đi hướng nào, nói lời nào, nghĩ điều nào và thực hành việc nào cho hợp lý.
          Soeur Hạnh đã sửa soạn ra đi, bà Cécile trở về Tu Viện, bà Juliette, bà Hòa, bà Tâm cũng như tất cả mọi người còn lại đều đã nhìn chúng con bằng con mắt khinh bỉ, những con mắt như muốn tố cáo rằng chính chúng con đã là những kẻ có bàn tay bóp chết sức sống của Mẹ bề trên. Lạy Chúa, người đã giam kẻ tội lỗi vào một nơi chốn tối tăm của sự hối tiếc và lòng ân hận. Chúng con nghĩ rằng đó là một hình phạt khủng khiếp và ghê gớm nhất trong tất cả mọi hình phạt mà Chúa đã giáng xuống.
          Đáng lẽ sau lễ an tang Mẹ bề trên, con và chị Kim Thu sẽ bỏ ra ngoài để thực hiện nốt ý muốn cuối cùng của Mẹ bề trên trước khi Mẹ nhắm mắt. Nhưng khung cảnh ở đây thật là buồn thảm và tiêu điều. Các Soeur khác không một ai truyền lệnh nào tới chúng con cả. Chúng con ai nấy đều cảm thấy bơ vơ và lạc lõng giữa con đường tối tăm thê thảm.
          Bởi vậy chúng con xin ma soeur hãy nhân danh những sự cứu rỗi, vẫn thường là con đường của Chúa đã vạch ra, mà trở lại Viện Cô Nhi hướng dẫn, dìu dắt và bảo ban chúng con, cho chúng con biết sẽ phải làm gì cho hợp với ý muốn của Chúa. Chúng con vẫn hằng mong, ở đây, mọi vết nhơ tội lỗi được xóa bỏ, mọi sự phân tán được hợp nhất, chân lý đang bị mờ ám sẽ được sáng tỏ và mọi người thực sự thương yêu nhau như lời Mẹ bề trên vẫn hằng giảng trong sách Thánh.
          Chúng con xin ma soeur hãy nhân danh những sự tốt đẹp ấy mà chấp thuận lời thỉnh cầu của chúng con. Riêng đối với hai kẻ đã gây ra tội lỗi, con và chị Kim Thu, chúng con hoàn toàn xin tuân theo quyết định sau này của ma soeur.
          Vì ma soeur là kẻ đã thực sự nhìn vào cuộc sống khốn khổ của chúng con, thực sự thông cảm nỗi niềm chua xót của những đứa mồ côi.
          Con tin rằng ma soeur không thể bỏ rơi chúng con trên con đường khổ nhọc được…
                                                                         
                                                                                  QUỲNH

NHẬT - TIẾN
                                                                                                        1963




Thứ Hai, 27 tháng 4, 2015

BÁC BA PHI ĐI THĂM MỸ - KỲ 160



                                      (tiếp theo)



Bác Ba Phi theo cô Ut ra phòng ngoài thắc mắc :
“ Tía nghe nói người Mễ nhập cư trái phép sang đây được người Mỹ mướn làm việc nhiều lắm mà Sở di trú vẫn ngó lơ…”
Ut bật cười :
“ Tía so bì với người Mễ hả ? Họ là người chịu khó làm những công việc đòi hỏi rất vất vả mà người Mỹ không muốn làm. Chẳng hạn như đào đất, khuân vác, dọn cỏ, dọn rác…Sở di trú biết nhưng lờ đi vì nếu không có người Mễ thì ai chịu làm những việc đó ?”
Bác Ba Phi giọng chắc nịch :
“ Tía làm được, nếu họ mướn tía sẽ làm không thua gì người Mễ đâu .”
Ut lắc đầu :
“ Nhưng họ không mướn người Việt Nam đâu, họ chỉ mướn người Mễ thôi…”
Bác Ba Phi ngạc nhiên :
“ Sao kỳ vậy ? Sao họ lại chê người Việt ?”
Ut cười cười :
“ Ai mà biết được, chắc họ tưởng người Việt đều đi làm nails, làm vi tính, làm luật sư chứ không chịu làm những việc tay chân vất vả vậy nên họ không mướn thôi…”
Bác Ba Phi lắc đầu :
“ Không phải, người Việt cũng tuỳ người chớ. Tía mới quen một ông HO có trợ cấp rồi vẫn đi đẩy xe cho khách hàng ở siêu thị kìa. Ong cũng người Việt đấy…”
Ut sốt ruột :
“ Chịu…con cũng chẳng hiểu tại sao ? Nếu tía không tin, sáng sớm mai tía cứ ra chỗ cây xăng hoặc trạm xe buýt sẽ thấy người Mễ đứng đầy ra đấy chờ có người tới mướn đi làm. Tía sẽ thấy toàn người Mễ cả thôi, chẳng có ai là người Việt đâu…”
Bác Ba Phi gật đầu :
” Vậy sáng mai con cho tía ra chỗ đó coi tình hình sao nhé !”
Ut miễn cưỡng :
“ Tía muốn ra đó coi thì cũng được thôi. Có điều tía đừng có hy vọng kiếm được việc làm ở đó, mà con cũng không muốn tía vất vả như vậy…”
Bác Ba Phi vội nói cho co Út yên lòng :
“ Yên trí…con yên trí đi…tía chỉ tới coi cho biết thôi, làm sao mà tranh việc của người Mễ được ? Họ khác gì dân sở tại, mình chỉ là khách qua đường.”
Ngoài miệng nói vậy thôi, trong bụng bác Ba Phi dự định ra chỗ “chợ người “ đó, biết đâu sẽ kiếm được việc. Lời yêu cầu bác ở lại làm mướn bên Mỹ của vợ chồng thằng Đậu cứ nhoi nhói trong lòng bác Ba Phi. Kể ra chúng nó nói cũng đúng. Ơ lại thêm vài tháng nữa kiếm món tiền rồi về lại chẳng hơn đi về tay trắng ư ? Vợ chồng nó nhờ bác vay vợ chồng cô Ut 3000 đô la để làm vốn nuôi ba ba mà không được. Biết đâu bác ở lại làm mướn cho người ta vài thằng lại kiếm được gấp đôi số đó thì sao ? Chuyện này tất nhiên phải dấu cô Ut rồi, không đời nào nó chịu để cho tía nó làm chuyện đó. Nhỡ đến tai bạn bè mất mặt nó. Bởi vậy phải hết sức giữ kín.
Ut nhìn thấy vẻ mặt bần thần của bác Ba Phi, giục :
“ Tía thay quần áo, con chở đi siêu thị mua quà để tía mang về cho vợ chồng thằng Đậu…”
Bác Ba Phi giật mình, vội vã :
“ Ay khoan…khoan đã…để hôm khác đi…”
Ut không nghe :
“ Hôm nay con mới được nghỉ đưa tía đi, hôm khác lại phải đi làm, mà tía lại sắp về rồi…”
Bác Ba Phi lúng túng :
“ Được rồi…được rồi…sát ngày đi mua cũng được…vội gì…con cứ đi lo việc của con đi…”
Ut vừa quay đi anh chồng Tommy đã bước vào. Chàng hỏi câu gì đó, cô Ut trả lời. Cả hai đều nói tiếng Anh nghe ríu rít như tiếng chim làm bác Ba Phi cứ ngẩn ra , sau cùng thấy anh con rể giơ cả hai tay lên trời la lớn :
“ Oh My God…Oh My God…”
Bác Ba Phi đã lờ mờ đoán ra câu chuyện trao đổi giữa hai vợ chồng. Chắc thằng chồng hỏi sao không đưa bố vợ đi mua sắm như đã hẹn.  Con vợ nói lý do rồi kể chuyện bác Ba Phi có ý định ở lại làm mướn kiếm tiền nên thằng chồng mới giơ cả hai tay lên trời kêu toáng lên như vậy. Như thế là chẳng cứ gì cô Ut, ngay cả thằng con rể cũng không muốn bố vợ ở lại làm mướn cho người ta. Bởi vậy việc bác ở lại đi làm mướn kiếm tiền nghe chừng khó lắm đây. Chừng nào còn ở nhà cô Ut chừng đó đừng hòng nghĩ tới chuyện đó. Trước mắt phải dấu biến ngay ý nghĩ đó, cô Ut biết được nhất định sẽ lấy vé sớm cho bác về Việt Nam chứ không đời nào nó chịu cho tía nó đi làm mướn cho người ta. Đó, cứ bảo sang Mỹ là tự do , trừ có trốn thuế và cướp nhà băng còn muốn làm gì thì làm. Mỗi chuyện đơn giản là đi làm mướn kiếm tiền mà có được đâu ? Vậy tự do cái gì ?
Đêm hôm đó trằn trọc mãi khôn ngủ được, bác Ba Phi lại gọi điện cho thằng Đậu. Lúc này là 1 giờ sáng ở bên Mỹ tức 11 giờ trưa ở Việt nam,  hai vợ chồng nó chắc mới ăn cơm xong,  đang nghỉ trưa. Quả nhiên vừa bấm máy, bác Ba Phi đã nghe tiếng thằng Đậu lè nhè :
“ Ai đó ?”
Bác Ba Phi mừng rỡ :
“ Nội đây…nội nè…”
Tiếng con vợ thằng Đậu giật ống nói la lên xoe xoé:
“ Í trời …nội…nội không ngủ à ? Giờ bên đó khuya lắm rồi …”
Bác Ba Phi thật thà :
“ Nội đi nằm từ sớm mà cứ trằn trọc mãi chẳng ngủ được ?
Tiếng con vợ thằng Đậu léo nhéo :
“ Có chuyện gì làm nội phải trằn trọc vậy nội ?”
Bác Ba Phi gằn giọng :
“ Thì cái chuyện tụi bây bảo nội ở lại làm mướn kiếm tiền đó …”
Thằng Đậu giật máy hét toang :
“ Ở lại làm mướn có tiền tốt lắm chớ ? Sao nội phải trằn trọc ?”
Bác Ba Phi nhỏ giọng :
 Ut tụi bay không đồng ý cho nội làm…”
Thằng Đậu la lên :
“ Í trời…làm hay không là quyền ở nội chớ ? Utcon gái đã đi lấy chồng xa, quyền gì mà cản không cho nội làm ?”
Bác Ba Phi rên rỉ :
“ Nói vậy mà không phải vậy. Nội là tía nó, sang thăm nó, giờ ở lại đi làm mướn thì mất danh dự vợ chồng nó với bạn bè. Bởi vậy nội cũng chưa biết sao ?”
Thằng Đậu cuống quít :
“ Mặc kệ…nội cứ đi làm đi…kiếm được món tiền rồi về.Nội bỏ sức lao động ra kiếm tiền có làm hại ai đâu mà sợ mất danh dự cô Ut. Nội cứ làm đi, cần thì để con nói với cổ …”
Bác Ba Phi vội vàng :
“ Ay chớ…ấy chớ…tụi bay là phận cháu trong nhà. Đừng có xớ rớ vào chuyện người lớn. Cứ để từ từ nội lo…”
Thằng Đậu lại la nữa :
“ Í trời…có đi làm thì đi luôn chứ còn từ từ lo thì hỏng hết việc. Mặc kệ Ut, nội cứ ở lại làm mướn đi, kiếm được mớ tiền rồi hẵng về…”
Bác Ba Phi cáu :
“ Tiền, tiền…tụi bay lúc nào cũng chỉ có tiền thôi. Được rồi, cứ để nội lo, đừng có giục cuống lên vậy…”
Nói rồi bác Ba Phi bực mình cúp máy. Rõ chán, biết thế này chẳng đi sang thăm Mỹ làm cái gì. Con gái thì khăng khăng không cho ở lại làm mướn, cháu nội thì ngược lại, muốn nội cứ ở lại bên Mỹ kiếm tiền.Đúng là trên dao dưới thớt, biết nghe đứa nào, không nghe đứa nào đây ? Bác Ba Phi cứ nằm dài trên giường, cố nhắm mắt dỗ giấc ngủ mà chẳng được. Thật chẳng bù cho ngày ở quê nhà, cứ đặt lưng xuống giường là ngáy o o. Sang bên Mỹ này tưởng được ăn chơi, hưởng thụ, chẳng còn lo nghĩ gì, ngờ đâu cứ trằn trọc, nghĩ ngợi mãi thế này ?
                                                
                                                 (còn tiếp)


Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2015

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 62

                                       
                                          (tiếp theo)

Tối hôm sau khi gặp lại ở quán cà phê của bác sĩ Luân thì anh Khảm đã không dấu khỏi vẻ mắc cỡ vì đã để cho 3 đứa tôi biết cái nhát gan của anh khi nhắc lại chuyện đã gặp. Tôi cũng nhát mà Đỉnh cũng vậy dù nó là đứa có bản lĩnh khi cố vào tận nơi để xem các đốm sáng. Đỉnh bào chữa: " Tự nhiên ở đâu ra mấy đốm lửa xanh lè ngay sát cạnh mình thì hỏi sao mà em không sợ. Ai trong hoàn cảnh đó mà hồn vía không lên mây ". Chị Phượng cho là chỗ cây cổ thụ đó chắc cũng có người đã gặp y như đám chúng tôi và nói thêm: " Người vượt biên đến Galang từ bao lâu nay rồi mà người chết bỏ xác nằm lại đâu ít. Biết đâu, trong số họ có người còn chưa làm tròn một kỳ vọng gửi gấm của gia đình hoặc nguyện vọng của cá nhân họ nên vong linh vẫn nặng mối u uẩn chưa siêu thoát được. Có ma thì đâu gì lạ ". Anh Khảm nghe vậy, đồng tình:

- Anh thì chưa thấy ma bao giờ ngoại trừ chuyện tối hôm qua. Hồi còn trong quân đội thì anh đã từng nghe đám bạn kể họ đã gặp ma nhát ghê lắm. Cũng không hiểu tại sao có người lại gặp mà có người thì không? Có người nói do cái vía của mình, người nặng hay nhẹ thôi. Nhưng kể cũng lạ vì trời cũng thường mưa như vậy mà sao lại nhè ngay lúc bọn mình đi đến thì mới có các đốm sáng.

- Không biết mấy người đi trước mình thì họ có thấy hiện tượng đó không nữa, em cũng thắc mắc. Chị Phượng nói.

Đúng vậy! Khi rời khỏi buổi dạ vũ thì trên đường về lại Galang 1, nhóm chúng tôi đi cùng đường chung với một số người. Những người này lần lượt vượt qua mặt và sau đó chúng tôi đã mất dấu họ. Đỉnh nói không chừng đám người đó cũng thấy các đốm sáng nhưng họ bỏ đi thẳng chứ không như bọn mình, làm gan đứng lại xem. Anh Khảm thì bảo cũng có khi chỉ có bọn mình thấy hiện tượng đó thôi rồi anh lập lại: " Không biết đó có phải là ma không nữa? ".

Như lời anh Khảm nói, tôi chẳng biết ma trông ra sao nhưng cũng mong đừng bao giờ trông thấy. Chúng tôi trò chuyện tới lui rồi cũng quay trở về chuyện thanh lọc của Cao Ủy và nước chủ nhà Indo với thuyền nhân sau ngày đóng cửa trại. Tôi thầm nghĩ bản thân mình phải cố làm sao để được Cao Ủy công nhận là người tị nạn khi nghe anh chị Khảm-Phượng kể về 2 chuyện đã xẩy ra từ cuối năm ngoái. Chuyện đầu là một thuyền nhân trẻ vào tiệm tạp hoá của người Nam Dương mua một đôi dép nhựa. Mua rồi, về barrack thì mới biết đôi dép đó cùng một phía chân phải nên anh ta mang lại tiệm để đổi lấy đôi khác. Nhưng gã chủ tiệm không chịu, nói anh đã đổi chiếc dép cho một người cụt chân phải nào đó. Đôi co qua lại thì gã chủ tiệm nổi nóng và đả thương thuyền nhân nầy. Anh ta liền đến kể chuyện với ban Đại diện người Việt để nhờ can thiệp. Ban Đại diện người Việt liền báo cho phòng An ninh P3V để nhờ họ phân xử vì chủ tiệm là người địa phương. Phòng an ninh P3V không xử và ban Đại diện người Việt cũng đành chịu lép, không giúp được. Tức mình vì nghĩ đã bị xử ức, thuyền nhân nầy liền đến gặp phòng Nhân quyền của Cao Ủy và trình bầy vụ việc của mình. Các nhân viên phòng nầy đã liên lạc với phòng An ninh P3V và chỉ ít ngày sau thì họ thông báo cho ban Đại diện người Việt là gã chủ tiệm đã chịu đổi lại đôi dép khác. Người trong trại nói phòng Nhân quyền Cao Ủy can thiệp vì anh ta là người tị nạn, đến Galang trước ngày đóng cửa và còn kẹt ở lại trại để trị bệnh lao.

Chuyện thứ hai là có 2 anh em ruột người Việt khác cũng đến trại trước ngày đóng cửa. Người anh đã trên hai mươi còn người em thì khoảng 9 tuổi. Một hôm, người em mất tích khi đi vào rừng nằm mé sau căn chòi họ sống. Tên của anh em họ lại có trong danh sách những người sẽ đi định cư ở Pháp trong chuyến bay vào 3 tuần lễ sắp tới. Không thấy em mình đâu và sau ít ngày tìm kiếm ở các nơi quen biết mà không ra thì người anh liền báo cho phòng Định cư Cao Ủy biết về vụ mất tích. Biết tin đó, Cao Ủy báo ngay cho phòng An ninh P3V để làm một cuộc tìm kiếm trong tất cả các khu rừng trên đảo Galang. Cao Ủy cũng thông báo sẽ thưởng 500 đô la Mỹ cho bất cứ nhân viên An ninh P3V nào tìm được... xác người em vì họ nghĩ là đã chết. Đám nhân viên phòng An ninh P3V khoanh từng vùng rừng một và dàn hàng ngang lục lọi các bụi rậm để mong tìm thấy mà lãnh tiền thưởng. Galang chỉ là một hòn đảo nhỏ vì chiều dài và chiều rộng chỉ khoảng 3 hay 4 km nên sau hơn một tuần lễ thì đám nhân viên An ninh P3V đã quần nát mọi chỗ. Họ chỉ tìm được đôi dép của người em bỏ lại trên bờ cát của một chỗ khuất vắng sát với biển. Không thấy thi thể, vậy người em biến đi đâu? Phòng An ninh P3V cho là có lẽ người em đến chỗ bỏ lại đôi dép thì đã bị rắn độc cắn chết và sau đó thì thi thể bị thú rừng ăn mất sạch. Nhưng thú rừng ở Galang như heo rừng, kỳ đà... nếu có ăn thi thể người em thì cũng phải còn lại các mảnh xương hoặc quần áo. Phòng An ninh P3V dùng các xuồng máy chạy lùng sục dọc theo cạnh đảo khi nghi ngờ là người em đã chết đuối lúc tắm biển một mình nhưng cũng không thấy vết tích gì. Sau cùng khi đến kỳ hạn thì người anh đành phải rời trại đi định cư một mình mà không biết đích xác về tung tích của em trai. Không ai biết số phận của người em đó cho đến mãi mấy năm sau khi trong trại xẩy ra một vụ bắt cóc 2 đứa trẻ Việt khác ở Galang 1 thì mọi người mới giải thích được lý do mất tích này. 

Rõ ràng, Cao Ủy chỉ bảo vệ quyền lợi của những thuyền nhân đã được họ công nhận là tị nạn. Đó là trách nhiệm của họ. Thuyền nhân tạm dung, nó nằm lưng chừng giữa khái niệm phân biệt người tị nạn hay là di dân vì kinh tế. Thông thường khi đàn ông, thanh niên sống xa quê hương mà có chút tiền thì chuyện tụ họp nhau gầy sòng nhậu nhẹt là việc bình thường. Ở Galang cũng vậy nhưng rủi nhậu say mà đánh lộn với nhau mà để police bắt gặp có thể còn bị đánh, bị bắt nhốt ở chuồng cọp nữa. Nếu cá nhân người đó là thuyền nhân tạm dung thì có khi còn bị nhân viên phòng An ninh P3V ép phải hồi hương về lại Việt Nam.

Đã sắp sửa đến Tết ta, ban Đại diện các zone bắt đầu cho dựng cột nêu cùng làm các bàn thờ tổ quốc ở các lối đi chính trong trại. Một số thuyền nhân làng pháo bên quê nhà đã làm các dây pháo chùm thật to cho ban Đại diện để treo trên cột nêu. Có người bàn nhau vào rừng kiếm lá chuối hoang để gói bánh hoặc thử tìm mai rừng mang về chưng Tết. Một buổi tối, Đỉnh không đi ra quán cà phê của bác sĩ Luân chung với tôi, Yến, Bẩy cùng anh chị Khảm-Phượng mà lại đi đâu đó cùng với Ánh Diễm. Ngồi ở quán nói chuyện về Ánh Diễm và Đỉnh mà thực sự đám chúng tôi không hiểu mối quan hệ giữa 2 người họ bây giờ đã đến đâu. Cho đến khi về lại barrack để ngủ thì nó cho biết là sang năm mới Ánh Diễm cùng với một người quen sẽ sang lại một tiệm bán tạp hóa tại Galang 1.

- Bả (Đỉnh có lúc gọi Ánh Diễm là bả) nói vì sẽ phải ở đây lâu nên mới sang tiệm để buôn bán kiếm thêm chờ tới lúc thanh lọc tính sau. Em sẽ lo việc chạy hàng hóa cho tiệm, họ bàn vậy. 

Ánh Diễm tính như vậy kể cũng được. Cũng ở quán cà phê bác sĩ Luân thì ông cho chúng tôi biết tin là xưởng workshop nhận lệnh của nhà thầu đóng gấp cả chục băng ghế gỗ để dùng cho người nhận kết quả thanh lọc. Như vậy, tin đồn Cao Ủy sẽ công bố kết quả thanh lọc vào đầu năm mới cũng khả tín. Thuyền nhân thanh lọc từ tuốt năm ngoái và chờ mãi để mong Cao Ủy công bố kết quả, nay nghe tin này thì họ lại lo lắng vì không biết con số người đậu người rớt sẽ được tỉ lệ bao nhiêu phần trăm. Chúng tôi cũng lo âu như họ. Những thuyền nhân liên can đến chế độ miền Nam VNCH như quân nhân, công chức... hoặc thành phần phục quốc, chống phá CS đều tin tưởng Cao Ủy sẽ công nhận họ là người tị nạn. Cộng Sản chiếm được miền Nam VNCH đã đày ải họ quá mà, trốn khỏi nước để tị nạn thì đúng rồi. Họ vui khi nghĩ đến lúc trong tay cầm được tờ giấy công nhận tị nạn từ nhân viên Cao Ủy. Trái lại, thuyền nhân nào không thuộc các diện này thì tự dưng cảm thấy lo vì thân phận của mình có lý lịch quá... yếu. 

Lo âu nhất là những người có liên hệ với chế độ CS đang cai trị bên quê nhà như đảng viên, công an, công nhân hoặc bộ đội. Người trong trại cũng biết đến họ nhưng hầu như ai cũng nói: " Đám đó mà tị nạn cái gì... cũng chẳng nên lo vì có bị Cao Ủy đánh rớt thì họ hồi hương về Việt Nam sẽ gặp lại đồng chí thôi. Đời có vay thì có trả chứ. Vây mới công bằng ". 

Riêng cá nhân tôi vì chuyện thanh lọc còn xa nên vẫn tà tà 2 buổi đi làm ở phòng Dịch thuật. Một buổi trưa khi ở lại về sau cùng thì tôi gặp một người đàn ông dừng xe đạp ngay phía bên ngoài phòng dưới hàng cây tràm bông vàng. Ông ta bước vào phòng và chào tôi rồi nói: " Tui muốn dịch các tờ giấy nầy, xin anh giúp giùm ". Đón xấp giấy tờ từ tay người đàn ông, tôi mở ra xem và ghi vào quyển sổ nhận hồ sơ chờ dịch. Khi kiểm lại số giấy tờ trước khi cất vào tủ, liếc nhìn chỗ ghi can tội trong Giấy Ra Trại thấy hàng chữ đánh máy: Di tản ra nước ngoài và xâm nhập Việt Nam bất hợp pháp bằng tàu Việt Nam Thương Tín thì tôi hỏi ông:

- Ô! Ông là người trở về trong chuyến tàu Việt Nam Thương Tín đó hả?

Người đàn ông gật đầu. Tôi đi về cùng với ông và hỏi chuyện con tàu hồi hương nổi tiếng năm đó thì ông kể: " Anh biết là khi sang được tới bển mới chỉ vài tháng trời mà tụi tui đã có người đòi về. Biết tụi tui nhớ nhà, tụi Mỹ trong trại mang phim chiếu cảnh người chen chúc nhau ở bến xe chở đi vùng kinh tế mới và các chỗ tập trung người đào kênh thủy lợi dẫn nước làm ruộng cạnh lá cờ Đỏ sao Vàng hoặc cờ Việt Cộng nửa Xanh nửa Đỏ cắm trên bờ đất với mục đích để tụi tui coi các phim đó xong sẽ sợ, sẽ từ bỏ ý định quay trở về Việt Nam. Nào ngờ, xem các phim đó rồi thì tụi tui càng nhớ nhà thêm. Nhiều người muốn trở về quê nhà quá nên họ họp nhau lại và làm dữ với bọn Mỹ. Tui còn nhớ cái ông gì người Bắc có tướng thấp lùn từng làm Dân biểu Hạ Nghị Viện là kêu gọi nhiều người hồi hương nhất. Làm reo dữ nên bọn Mỹ đành phải chiều ý tụi tui, cấp cho cái tàu khá lớn để về ".

                                         
(còn tiếp)