Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 28 tháng 9, 2014

Nhà văn ĐỖ QUYÊN : Thơ Tân hình thức : Kể sao hết được _ KỲ 9



                                     (tiếp theo)

V.4. Cái Tôi của Tân hình thức Việt

Trở về nguồn bằng “hình thức” khổ thơ và phân dòng với số chữ 4-5-6-7-8[i], Tân hình thức Việt là phong cách về một cái tôi mới, hòa cùng những cái tôi mới khác trong 10 năm qua đang làm thơ ca Việt linh động dị thường mà ở một số điểm son gần được như thời Thơ Mới.[ii]  
Cái tôi là nội dung hiện thực và quan niệm trữ tình, là phong độ thời đại, là hạt nhân tư tưởng - nhân sinh quan, nên đó chính là ngọn lửa thắp sáng cho cuộc cách mạng đầu tiên trong lịch sử nghệ thuật thơ Việt Nam mà Thơ Mới đã chuyển giao thơ trung đại sang thơ hiện đại, nhập vào các dòng thơ đương thời trên thế giới, khởi phát một thời đại mới trong thi ca kéo dài suốt 80 năm qua và sẽ còn lâu. Ở miền Bắc thời 1945-1975, trong phạm vi văn học trung tâm, tính hiện đại phải dang dở khi cái tôi của chủ nghĩa lãng mạn nhường chỗ cho cái ta của dòng hiện thực cách mạng. Thơ ca hiện đại miền Nam thể hiện bản ngã tác giả trước khi là cá thể xã hội, nhưng cái-tôi-hiện-đại thường thấy chỉ ở một số ít thi sĩ đi trước thời gian như Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Nguyễn Đức Sơn… Từ sau phong trào Đổi Mới 1986, trong nghệ thuật thơ Việt Nam, trên bình diện lớn các phong cách, thi pháp “bình thường” mới bắt đầu có những cái-nhìn-vào-trong-câu-thơ, mà ở các vòng đai cá nhân hay nhóm nhỏ (đồng thời với các tác giả trong Nam) đã từng được thể hiện theo các phong cách, thi pháp bất bình thường với những Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt; muộn hơn là Đặng Đình Hưng. Khác hoàn toàn cái tôi lãng mạn Tiền chiến ngủ ngon trong lòng người viết và người đọc, thi pháp hiện đại của thơ Việt đưa cái nhìn vào trong câu thơ để từ đó xuyên qua tâm can nhà thơ đến với thời đại, xã hội đương thời. Câu thơ. Bài thơ. Tác phẩm. Tức là toàn bộ ngôn ngữ và văn bản, sau khi làm xong chức năng lăng kính, đã trở thành mục đích của sáng tạo. Không thể nào kể ra như là ví dụ năm bảy tác giả. Trong một phần tư thế kỷ vừa qua, ngót cả trăm thi sĩ Việt xuất sắc và ngang tài đã làm nên những-cái-tôi sáng lạ, đang xóa đi nhân dạng đồng phục ngự trị văn đàn Việt suốt nhiều trăm năm qua. Không nghi ngờ, cái tôi mang bản thể Việt đang là giấy thông hành cho thơ Việt tới các nền văn hóa khác, đặc biệt là khu vực Âu-Mỹ. Trong nhiều trường hợp, nó gây ảnh hưởng hơn cả các biểu hiện ngôn ngữ, thể tài…
Bút pháp của sự khách quan
Tân hình thức Việt có nhiều thuận lợi làm ra cái tôi mới, bằng cách kể-thơ rất mới của mình. Sinh ra và trưởng thành trong hoàn cảnh hậu hiện đại mà diễn đàn mạng là phương thức quen thuộc, Tân hình thức Mỹ là một trong nhiều hoạt động nghệ thuật dân chủ hóa sáng tác và bình luận hóa văn chương. Cho dù đến nay, giới hàn lâm vẫn chưa đón nhận nó với lý do chính đáng về phía họ là nghệ thuật cần có “chuyên môn”, trong khi Tân hình thức cùng các trào lưu hậu hiện đại hướng về công chúng không chuyên môn.
Lối thơ bình dị và “thẳng tưng” làm cho cái tôi Tân hình thức trở nên khách quan, dễ tới độc giả đại chúng. Khi tác giả đã tự ý thức, nhân vật trữ tình cũng tự ý thức và tự hành xử lớp lớp các chi tiết, hành động mà khỏi cần tác giả chỉ dẫn. Cái tôi tác giả và cái tôi nhân vật (tác giả hóa thân) không còn ràng buộc như ở cách thuật sự của thể truyền thống và thể tự do. Như thế, độc giả lẽ nào còn thụ động? Nguyễn Vũ Văn (Phụ lục 9-) đã logic về việc chê khuynh hướng tự sự khách quan Tân hình thức nhưng lại không cận nhân tình: đọc thơ hiện đại bằng cái nhìn cổ điển, ở đó nhân vật và tác giả là hai kẻ “biết tuốt” còn độc giả là người hưởng thụ.
Thật ra, trong các dòng văn học kinh điển, ngay cả ở Đông phương, đã có một đỉnh-thơ-khách-quan là Haiku truyền thống Nhật. Có không ít điểm mà Tân hình thức Việt đã phần nào tiếp nhận được: “Không mô tả cảm xúc, chủ yếu ghi lại sự việc xảy ra trước mắt. (…) ta cảm được vị trí đứng ở ngoài sự kiện của tác giả. Tác giả dường như chỉ chia sẻ với người đọc một sự kiện (…) nhưng người đọc vẫn có thể nghiệm được tình cảm của tác giả.” Và đây nên là điều Tân hình thức Việt vươn tới: “Người làm thơ phải tự đặt mình như một đứa trẻ lúc nào cũng có cảm giác bỡ ngỡ, lạ lùng khi tiếp xúc lần đầu tiên với ngoại giới.”. Còn mức lý tưởng là: “Không có người làm thơ và kẻ đọc thơ, cả hai nhập làm một, đồng âm cộng hưởng trong niềm rung cảm với sự liên hệ” rất hỗn mang và sống động của thời đại. Các chữ in nghiêng là của người viết mạn phép đã thay cho các chữ “tinh tế và hài hòa của đất trời” từ nguồn trích (Haiku, Tự điển Wikipedia). Cái tôi Haiku Nhật thật siêu nhân!
Một điều phân biệt giữa thơ và văn xuôi là người đọc thơ nhận lại quá khứ bất ngờ của bản thân mình, còn với tiểu thuyết anh ta sẽ tìm ra một thế giới mới. Montel có lý khi khẳng định thơ cần áp đặt một kinh nghiệm độc nhất và chưa từng có theo dạng không đầu không cuối. Theo đó, cái tôi ở thơ “Khế Iêm thường đề cập tới tính khả tín và tính bất xác của người tường thuật, và tính khả tín của điều được tường thuật” như nhận xét của Feirstein về 2 bài thơ Những chiếc ghế, Những cái hộp. (Chú thích 20).
Từ điệu nói đến điệu kể
Thêm một nét kế thừa truyền thống đáng giá của thể thơ-kể: lời nói bình thường từ đời sống bình thường đã thành thơ qua điệu kể. Trăn trở của các nhà Tân hình thức Việt về 3 mặt phong cách, nội dung và tính đương đại gói trong câu sau: “Nếu không mang được những câu nói thông thường vào thơ thì làm sao mang được đời sống vào thơ? Và nếu không thì làm sao chia sẻ được nỗi vui buồn của mọi tầng lớp xã hội, để thơ trở thành tiếng nói của thời đại?” (Chú thích 67).
Theo Nguyễn Thanh Tâm/ Trần Đình Sử, “trong thơ trung đại, có tiểu loại hình Hát nói - một diễn ngôn của loại hình nhà nho tài tử được xem là tiền đề cho Thơ Mới, đặc biệt là ở điệu nói” [iii]. Vậy là, lần thứ hai sau Thơ Mới, Thơ Tân hình thức Việt đã hiện đại hóa điệu nói - một tiềm năng diễn đạt ngôn ngữ viết và nói làm mê say lòng người ở làn điệu, ở tính dân gian, và ở cái tôi trữ tình phóng khoáng mà tự trọng của người Việt. Đáng thưởng một đóa hồng lớn cho Tân hình thức, vì nó đã nhấn mạnh bản chất ca trong thi ca/ thơ ca của tiếng Việt như là nhận dạng chính xác nhất của nghệ thuật thơ mà chúng ta vừa phác họa ở phần V.2. và Chú thích 70.

Từ đó, nảy ra các câu hỏi khó cho Tân hình thức Việt:
- Sự khác nhau trong tiến trình cải cách điệu nói ở Thơ Mới và “điệu nói”/ “điệu kể” ở Thơ Tân hình thức Việt so với điệu nói truyền thống (từ trữ tình dân gian và trữ tình trung đại)?
- Sự trao đổi, hoán vị theo hướng tiến bộ đã xảy ra như thế nào giữa những cái tôi trữ tình tính theo lịch đại và đồng đại?
Một là, từ cái tôi dân gian trong ca trù, hát nói đến cái tôi thời trung đại chứa ẩn cái ta của thế hệ nho tài tử (cái tôi siêu cá thể). Đề tài này thuộc về văn học trung đại, ví như trong sách đã dẫn của Trần Đình Sử.
Hai là, từ cái tôi dân gian nguyên thủy và cái tôi trung đại đến cái tôi lãng mạn Tiền chiến (cái tôi cá nhân độc lập). Vấn đề này đã được trả lời qua vô số bài vở về Thơ Mới, nhưng bằng cơ sở của điệu nói như bài của Nguyễn Thanh Tâm có lẽ không nhiều?
Ba là, từ 3 cái tôi nói trên đến cái-tôi-nói-thay-cho-cái-ta ở thơ chiến tranh, cách mạng và  hiện thực XHCN ở cả nước rồi ở miền Bắc 1945-1975, rồi đến cái tôi-hiện-đại hiện sinh trong thơ miền Nam và thơ ngoại vi miền Bắc 1954-1975, và đến cái tôi-hiện-đại toàn thể sau Đổi Mới 1986 của thơ Việt từ trong nước ra ngoài nước. Câu hỏi này cũng được quan tâm rất nhiều, nhưng hầu như ít liên hệ đến điệu nói. Một phần có thể vì 3 cái tôi ở thơ Việt hiện đại 1945-1975-1986 đều không thuộc về, hoặc xa với phong cách thơ kể.
Bốn, cuối cùng là đến cái-tôi-bản-thể của thời hậu hiện đại mà Tân hình thức làm một vũ điệu riêng giữa các điệu thơ hậu hiện đại khác. Cái-tôi-bản-thể Tân hình thức, về thi pháp, muốn thoát hẳn các dòng chứa 3 cái tôi ở thơ Việt hiện đại 1945-1975-1986. Nó chỉ nhận ảnh hưởng từ 3 cái tôi đầu tiên: cái tôi nguyên thủy, cái tôi trung đại và cái tôi Thơ Mới. Đó là 4 loại thơ ca của điệu nói/ điệu kể!

Từ nhãn tự đến “nhãn cú”

Chân thật - Hồn nhiên, một bản chất khác của thi ca cũng thuộc vào phong cách Tân hình thức Việt qua cái tôi trữ tình bằng lời nói trong sinh hoạt, nói nôm “có sao kể vậy người ơi”.
Tính chân thật - hồn nhiên. Nó vừa là quan niệm về hiện thực (đối tượng) vừa là phong cách biểu đạt (phương pháp); trong một số dòng văn học hiện thực, nhiều khi nó cũng làm luôn cả “mục đích” sáng tác. Và, thêm một lần nữa, tiếng Việt đáng yêu vô ngần: về mặt từ nguyên trong khái niệm thi ca/ thơ ca đã chứa cả hai yếu tính là thơ ngây và ca nhịp. Thật khó tìm thấy ngôn ngữ thứ hai được vậy, kể cả tiếng Trung Quốc?
Chúng tôi muốn dẫn lại 4 ý tưởng điển hình về cái-tôi-chân-thật, từ 2 tác gia lừng lẫy thi đàn thế giới và Việt Nam trong 1-2 thế kỷ trước, từ vị giáo sư tài năng của một trường đại học lớn và một nữ văn sĩ tài danh lại vừa mới trở thành nữ thi sĩ. Xin nhường độc giả việc soi vào đó bằng cái tôi Thơ Tân hình thức Việt. Nếu trúng, tức là thể thơ-kể chấp nhận được; nếu trật, các nhà thơ-kể còn phải cố gắng nhiều:
- Trong tất cả hoạt động của con người, làm thơ là chân thật nhất; vì vậy con người có một thứ của cải nguy hiểm nhất là ngôn ngữ, nhưng chính điều đó lại chứng thực sự tồn tại của nó. (Friedrich Hölderlin)
- Thơ Mới là sản phẩm của khát vọng thành thật. (Hoài Thanh)
- Thi pháp của sự thành thực; Thành thực mới là ‘chính thi’. (Nguyễn Hùng Vĩ)[iv]
- Trong các thể loại mà bản thân đã đi qua, truyện ngắn, truyện dài giấu mình tốt nhất, tiểu thuyết lộ chút chút, tản văn giãi bày, còn thơ thì ‘tuyệt mật’. Mà muốn tuyệt mật, phải đi đến tận cùng phơi bày, nên nó lại lồ lộ. Lộ không có nghĩa là phơi bày riêng tư đâu, lo gì. (Nguyễn Ngọc Tư)[v]
Ở tất cả thể loại văn học, cái tôi cá nhân thể hiện cao và mạnh nhất với tùy bút, tản văn. Là con đẻ của kỷ nguyên văn chương tự sự có nhiều tiền bối thành đạt, Tân hình thức phải chọn cách tự sự mới lạ mà vẫn nương theo ưu điểm của các thể loại khác sao cho cái tôi dễ thể hiện. Ví dụ, ở tùy bút văn học về tốc độ diễn ngôn nhấn nhá và phân tán nhưng tinh tế và bất ngờ; ở tản văn báo chí, blog về sự dề dà và thóc mách (“tám” chuyện) nhưng trực diện và thân thiết. Cái tôi Tân hình thức kín cạnh hơn cái tôi tùy bút và văn chương hơn cái tôi tản văn. Thơ Tân hình thức vẫn là “thơ” khi mà độc giả tìm lại mình và chỉ so sánh - nếu muốn - với cái tôi trữ tình của bài thơ; trong khi ở tùy bút, tản văn, nhất là truyện, anh ta phải so sánh để đi tìm bản thân như một cá thể giữa cả thế gian nhiều cá thể khác. Có lẽ vì thế Riordan cho rằng, “hầu hết thơ Việt và thơ Việt-Mỹ hiện đại trong tuyển tập song ngữ mới Thơ kể liên quan tới những câu hỏi, cái gì là thật, ‘thật’ nghĩa là gì, sự vật nào đó thì có ý nghĩa nào.” (Phụ lục 8-).
Cái tôi chủ thể làm nên phong cách nghệ thuật ở từng tác giả, chỉ tiếc là Tân hình thức Việt vẫn còn bị “đồng phục” kỹ thuật. Đọc khoảng 20 bài bất kỳ bỏ tên tác giả ra, rất khó biết “ai là ai”. Trừ số ít người đã làm chủ ngôn ngữ thuần Tân hình thức (Khế Iêm, Nguyễn Hoài Phương, Lưu Hy Lạc, Gỷang Anh Iên, Nguyễn Tất Độ); hoặc các nhà thơ mang dấu ấn phong cách từng có ở các thể tài của thơ khác vào Tân hình thức: Nguyễn Đăng Thường (chủ đề thế sự sinh sự lung tung beng, ẩn ức giễu hài tá lả), Đỗ Kh. (giọng điệu cà tưng, ẩn ức libido văn chương), Inrasara (nỗi đau nhân tình nhân thế triền miên, đề tài văn hóa Chăm), Hoàng Xuân Sơn (bút pháp ngôn ngữ biến dạng trong cảm xúc rời, sâu), Phan Tấn Hải (tình lứa đôi quyện tình quê hương trong tình nhân loại), Nguyễn Đình Chính (uất ức thời cuộc dồn vào trữ tình đau đáu trong ngôn từ thô mạnh), v.v… Ở thơ truyền thống và tự do, các nhãn tự dễ tạo ra hình tượng qua cái tôi cá nhân. Nhãn tự dựng nên danh tiếng thi sĩ. Tân hình thức tạo bài thơ nhờ cú pháp. Vậy, tên tuổi nhà thơ Tân hình thức được làm bằng… “nhãn cú”?

V.5. Tân hình thức Việt giữa câu chuyện dài Hậu hiện đại

V.6. Về tính truyện ở Thơ Tân hình thức Việt[vi]



[i] Về số chữ trong một dòng thơ Tân hình thức: Qua các tuyển tập Tân hình thức Việt và trang mạng quen thuộc, sơ bộ chúng tôi thấy bài có 7-8 chữ/ âm trong một dòng là đa số, khoảng 65%. (“Thể thơ 7 hay 8 chữ tương đối hợp với ngôn ngữ nói hơn vì thật khó đưa những câu nói đời thường với vần vào lục bát” - Khế Iêm). Kế tiếp là loại 5-6 chữ (25%). Rất ít loại 4 chữ, như các bài Tập hợp số thực của Đài Sử, Lảm nhảm/ Bỉm. Và lác đác lục bát [Kiều/ Đỗ Kh.; (Những) người điên/ Nguyễn Tất Độ, Tiếng hát từ cổ xưa/ Khế Iêm]. Cá biệt có vài bài “tự do” [Có không/ Đình Nguyên, Trường ca hành (xác) (…)/ Lý Đợi]. Trừ bài của Khế Iêm in trên Sông Hương số Đặc biệt 7/12/2012 và tapchisonghuong.com.vn 4/1/2013, những bài nói trên, theo thứ tự có trong 2 tập (a) Thơ kể - Poetry Narrates và (b) Thơ không vần - Blank verse ở các trang: (a) 118, 202, 248; (b) 15, 11, 81. Ba bài lục bát khá lạ lẫm của Đ. Kh., N.T.Đ. và K.I đáng lẽ được “xử lý” trong mục V.1. về thể loại mà không kịp, để dành cho mục VI.6. về tính truyện. [Nhắn riêng L.Đ.: Xin lỗi đã trích mà không dẫn nguyên con thai-thồ của chú. Nó dài thoòng và cơ cấu quá trời, anh đả tự đến chữ xác, muốn xỉu; phải sống, viết bài “nộp quyển” cho Hội thảo chứ! Nữa, chưa kể 2 dấu ngoặc, 15 chữ cả thảy trong thai-thồ mẹ, tức là riêng cái thai-thồ mẹ đã “dám” dài hơn trọn vẹn bài thơ ngắn nhất nước Nam 13 chữ của Dương tiên sinh! Chửa hết, từ thai-thồ mẹ lại đẻ ra thai-thồ con bằng cả một bài thơ 80 chữ (bài thơ phụ thì Tân hình thức chuẩn không cần chỉnh) bằng một “chú thích (thú)”. Mà anh có thích có thú hay không, chú biết rồi đấy. Hihi…]
[ii] Nếu như Nguyễn Việt Chiến, Irasara và nhiều cổ động viên (trong đó có cả người viết) đau đáu rằng, qua những cuộc “cách mạng” nho nhỏ lẻ tẻ đơn độc thơ đương đại đã tỏ ra không thua kém trong tương quan với Thơ Mới, thì ở đấy diễn ngôn cái tôi là một nét “hậu sinh khả úy”.
[iii] Nguyễn Thanh Tâm, Hát nói, một tiền đề cho Thơ mới, phongdiep.net 26/8/2013; (Trần Đình Sử: “Cho đến bây giờ chúng ta cũng có thể nhận ra điệu nói kỳ thực không phải là sản phẩm riêng biệt của Thơ Mới. Điệu nói đã có trong thơ trữ tình dân gian và thơ Nôm của một số nhà thơ trung đại. Điều đó đặt ra một sự suy ngẫm về tính chất của điệu nói trong Thơ Mới và điệu nói trong trữ tình dân gian, trữ tình trung đại.” Nguồn: Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại, Nxb Giáo dục 1999).
[iv] Nguyễn Hùng Vĩ, Thi pháp của sự thành thực, khoavanhoc.edu.vn 17/6/2013.
[v] Nguyễn Ngọc Tư, Chừng mực của nỗi cô đơn, thethaovanhoa.vn 25/8/2013.
[vi] Do thời gian hạn hẹp, hai phần V.5., V.6. đang là bản thảo. Xin được hẹn sang dịp tiếp.

                                   (còn tiếp)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét