Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 30 tháng 11, 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 139 - Trong khi chờ đợi…”sổ đỏ”.


             
      Từ thời tiền cách mạng, nông dân đã được đề cao lên chót vót, được Đảng coi là lực lượng nền tảng, được  liên minh với giai cấp công nhân vốn là giai cấp lãnh đạo, con cái nông dân được đi học bổ túc văn hoá, được  đi Liên xô đào tạo. Nhưng  thời nay, chuyện đó đã trở thành “xưa như trái đất” . Người nông dân bây giờ chịu đè nén,  khổ cực chẳng thua gì thời…chị Dậu.
    Ngày 20 tháng 3 năm  2003, ngài Trần Thành, Chủ tịch xã Phú Ngọc, huyện Đinh Quán,tỉnh Đồng Nai chửi ĐM. dân tại ngay công đường. Rồi sau đó ở xã An Khương ,huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước, ông Chủ tịch xã Nguyễn Đình Thắng còn…đi xa hơn nữa .
     An Khương là một xã vùng sâu vùng xa, bao năm nay bà con lầm lụi hai sương một nắng, đầu chúi xuống, đít chổng lên mới khai phá được mảnh đất hoang thành ruộng rẫy. Từ khi Nhà nước có chủ trương “cấp số đỏ” cho người chủ rẫy, bà con ai cũng mừng.
    Như thế nào là “sổ đỏ” ?
    Là cuốn sổ to bằng khổ A4, in đỏ chót, chứng nhận quyền sử dụng đất của người có đất. Có sổ đỏ, người nông dân chẳng những yên tâm đất mình khai phá là “của mình” mà còn mang thế chấp ngân hàng để vay được tiền hoặc khi cần thiết   có thể được bán cái…mình có.
     Cấp sổ đỏ là việc làm rất bình thường của bất kỳ Nhà nước nào có con mộc chứ chẳng phải ban ơn, ban phát gì. Ay thế nhưng ở An Khương các ông quan xã lại bày ra “lệ làng “ khắc nghiệt : “ai muốn làm sổ đỏ phải có…tiền. Cứ 1 hecta là 500 ngàn, nộp xong một tháng sau là có”. Thế là cả 20 hộ ở tổ 3, 4 thuộc ấp 1 đành phải chạy tiền , bấm bụng nộp cho quan địa chính xã là Ngô Bá Ngân cùng 2 cán bộ huyện khác. Nộp xong tiền “ lệ phí” cho các quan rồi, bà con xoa tay hí hửng, thôi, thế là một tháng nữa ai cũng được cầm cuốn sổ đỏ choét có mộc chứng nhận quyền sử dụng đất…của mình. Công ơn của Đảng, chính phủ thể hiện qua chuyện này thật là to lớn, ân đức này chẳng khi nào dám quên.
     Ay thế rồi một tháng, hai tháng…rồi cả một năm qua đi, bà con cứ ngóng cổ ra chờ mà vẫn “tịt mù nào thấy sổ hồng nào đâu”. Dân sốt ruột quá, kéo lên hỏi ông Chủ tịch xã Nguyễn Đình Thắng thì được “quan” trả lời tỉnh bơ :” Chưa nhận được giấy tờ gì hết ?”. Ô hay hồ sơ, tiền bạc bà con đã giao hết cả cho quan địa chính Ngô Bá Ngân rồi mà quan xã lại bảo chưa nhận được giấy tờ gì ? Hoá ra từ cấp xã tới cấp…xã đã xa dằng dặc như thế, vậy từ xã lên huyện là nơi đóng mộc và cấp sổ thì còn…ngàn trùng xa cách.
Đùng cái, cháu ruột Ngài Chủ tịch xã là ông Thanh, đương kim Phó Chủ tịch tuyên bố xanh rờn là ai muốn nhận sổ thì phải “nộp” lệ phí “ủng hộ địa phương tối thiểu 200 ngàn trở lên. Thôi cũng đành, chót đâm lao thì phải theo lao, bà con trong xóm lại rùng rùng chạy tiền nộp cho “quý Uỷ ban” mà trong tay chẳng hề được cầm một miếng giấy biên nhận nào, nguyên do là vì cô thủ quỹ luôn luôn…đi vắng, các quan Chánh , Phó Chủ tịch phải …nhận giúp vào…túi mình.
       Rồi, tiền “ủng hộ địa phương “ cũng đã đóng xong rồi, vậy sổ đỏ đâu ?
Một lần nữa bà con lại phải rướn cổ lên mà “ngóng tin xa”. Nhiều người sốt ruột quá, nhất mấy cha cần sổ đỏ để vay tiền ngân hàng , chờ không được dám “liều mạng” lên uỷ ban để hỏi “ sổ đỏ” tôi đâu ?
Một trong những người sốt ruột nhất là anh  Nguyễn văn Thành, anh cứ đeo theo quan địa chính xã mà hỏi nhèo nhẽo :” sổ đỏ tôi đâu ? sổ đỏ tôi đâu ?”.
Than ôi, sổ đỏ chẳng thấy đâu, ngày 13 tháng 7 năm 2003 vừa rồi anh Thành bị xơi một đòn hội chợ no nê do các quan xã gửi “tặng” khiến anh  hoảng hồn bỏ đất mà đi.
Sau anh Thành tới lượt ông Phạm văn Hoàng, uống “máu liều” dám làm đơn lên xã đòi cấp sổ. Thế là tối ngày 30 tháng 7, một đám côn đồ gồm 5 tên đầu trâu mặt ngựa “tổng tấn công” vào ngay nhà ông, đánh hai cha con ông tới trọng thương phải đưa đi bệnh viện cấp cứu.
Sau ông Hoàng tới lượt ông Lại văn Sang, ông này cũng đòi “sổ đỏ” dai như đỉa đói. Thế là ông được “phản hồi” lời cầu xin bằng một trận  tơi bời hoa lá, tan nát chim muông. 500 nọc tiêu trong vườn nhà ông bị phá sạch, rạng sáng ngày 7 tháng 8, nhà ông Sang lại bị đốt cháy ra tro.
         Ong Chủ tịch xã chơi đòn dằn mặt dân vậy để không còn thằng nào dám ngo ngoe đòi sổ đỏ, sổ đen cho ông và tay chân ẵm gọn tiền lệ phí và tiền “ủng hộ địa phương”. Ay vậy mà dân cũng chưa chịu yên, vẫn còn cố đám ăn xôi lên tận thành phố mời nhà báo xuống nhờ…đòi giúp sổ đỏ.
         Đúng 8 giờ sáng ngày 8 tháng 8 năm 2003, một anh nhà báo được dân lò dò đưa tới trụ sở Uỷ ban xã để gặp Chủ tịch. Sau khi đã coi đủ thứ giấy tờ tuỳ thân, thẻ nhà báo, ông Chủ tịch hất hàm :
             “ Mày cần gì ?”
             “ Dạ thưa đồng chí Chủ tịch xã, tôi xin được phỏng vấn đồng chí về việc cấp sổ đỏ cho dân ạ…”
         Nói rồi nhà báo “tác nghiệp “ chụp liền 2 “bô” ảnh  làm ông Chủ tịch phải quát lớn  :
             “ Tao xấu trai lắm, không có thích chụp hình. Mày tháo phim ra xé đi…”
              “ Báo cáo nhưng mà trong cuốn phim này tôi còn chụp nhiều hình khác nữa ạ…”
               “ Mặc kệ mày, nếu mày không tháo phim ra, tao gọi cảnh sát 113 tới còng cổ mày lại…”  
         Thế là anh nhà báo đành phải ngậm ngùi tháo máy ảnh, xé phim đi trước bao con mắt đồng bào đang nhìn anh như một vị cứu tinh của cả làng. Lúc đó ông Chủ tịch mới “trả lời phỏng vấn” :
               “ An ninh ở xã này rất tốt…còn chuyện cán bộ ăn tiền “sổ đỏ” của dân nào có thấy gì đâu . Đứa nào thắc mắc nói coi…”
               Chẳng còn cậy vào nhà báo nữa, bà Châu , vợ ông Hoàng bị đánh trọng thương đứng ngay lên nói to :
                “ Em đây nè. Chồng con em  ở trong nhà mà tụi chúng nó còn xông vào đấm đá túi bụi…”
               Ong Chủ tịch xã chặn ngay :
                “ Chính quyền làm việc trọng chứng hơn trọng cung, biên bản đâu , người làm chứng đâu, dẹp…dẹp…”
              Bà Châu vẫn dai như đỉa :
                “ Chính thằng Ngân địa chính xã nhận tiền của em rồi lại thuê côn đồ tới đánh chồng em…”
              Ong Chủ tịch giãy nảy :
               “ Thôi được rồi, được rồi, có chuyện gì cứ về làm đơn nộp lên văn phòng uỷ ban, phải nhớ ký phiếu nhận đơn Uỷ ban  mới nhớ. Chị cứ nói bằng miệng vầy bố ai mà nhớ cho được. “
            Bà Châu vừa bị đuổi ra thì bà Nguyễn thị Hảo đã nhào vào :
               “ Tôi chưa thấy ở đâu như cái xã này. Dân ở trong nhà thì bị côn đồ xông vào hành hung, chạy lên báo xã thì xã làm thinh. Tôi hỏi ông, ông là Chủ tịch xã, trong tay ông đã có mấy chục mẫu ruộng, vậy sao ông còn kê tên ông vào danh sách “xoá đói giảm nghèo” để nhận tiền trợ cấp trong khi có hộ không gạo ăn thì lại không được ?”
           Ong Chủ tịch mặt đỏ tía tai đập bàn quát lớn :
              “ Cấm không được ăn nói lung tung làm mất  an ninh chính trị, ổn định xã hội. Có gì cứ về làm đơn nộp lên đây…”
          Nhìn thấy cái máy ghi âm của nhà báo đang chớp chớp , ông quay sang ra lệnh ”tắt ngay, tắt ngay…” làm anh nhà báo vội vàng phải tắt máy nhét vào túi không lại bị xé toang như cuộn phim lúc nãy. Nhân cơ hội đó, ông Nguyễn văn Thắng nhảy vào tố cáo Trường  công an xã bắt ông nộp 200 ngàn  về tội tạm vắng không khai báo.Ông  nói :
            “ Thưa ông Chủ tịch, có điều khoản nào phạt tiền về tội tạm vắng không ?”
          A thằng cha này ngược ngạo, dám giở cả luật ra với chính quyền, ông Chủ tịch lại nổi cáu :
           “ Chắc là phải có chớ…khi không nó phạt ông làm cái chi…”
          Nói rồi ông ra lệnh giải tán cuộc ‘tiếp xúc” ngoài kế hoạch để ông còn lên huyện họp về công tác bảo vệ trật tự trị an. Còn nhà báo….anh  này run quá, ngay tối đó phải nhờ bà con trong xóm đưa anh đi cắt ngang rừng trở về Toà báo ở ngoài thành phố…
        
           NT
         
          
 

   
  
      

                             


Thứ Bảy, 29 tháng 11, 2014

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 39


                                                 (tiếp theo)

Kể chưa dứt câu thì có tiếng của một thanh niên trong nhóm Tám Kiệt chận đầu: " Lần lượt gặp thêm bốn hải đăng cho đến cái thứ năm là vào tới đây phải không? Tụi nầy cũng y như mấy ông vậy. Cũng do đám hải quân Malaysia kéo ra từ buổi tối hôm trước nữa nhưng khi tàu họ vừa bỏ đi thì bị mất phương hướng lại còn đi lạc vào Singapore. May sao, tụi tui gặp người chủ khách sạn tốt bụng giúp cho bản đồ thì mới chạy được đến đây đó".


Những người trên ghe đó im lặng, vậy đúng y boong rồi! Cùng cảnh ngộ nên người của hai chiếc ghe thân thiện với nhau nhanh chóng. Người trong ghe chúng tôi kéo lên hết trên sàn cầu bê tông, đứng từng đám riêng biệt bỡ ngỡ chưa biết sẽ phải làm gì. Bề ngang sàn cầu bê tông này khá rộng và chạy dài thăm thẳm vào bờ, chỗ thấp thoáng những tòa nhà sơn trắng. Vài người của ghe đến trước chỉ cho chúng tôi biết một căn nhà nhỏ ở cuối cầu tàu bê tông và dặn: " Ai muốn tắm rửa hay đi vệ sinh gì thì vào nhà đó đó và nhớ là đừng để con nít xả rác hoặc phóng uế bừa bãi trên sàn tàu nha ". Một phụ nữ thêm vào: " Tụi Indo ở đây không như đám Malaysia đâu, gặp ai làm bậy thì đánh thẳng tay đấy. Chẳng cứ phụ nữ hay con nít gì hết ".

Một tốp người tuổi trung niên từ xa đi đến chỗ chúng tôi, một trong số họ giới thiệu: " Tôi là Chức, leader của ghe... Chuyến đi bên các ông ra sao, kể cho tụi tôi nghe cho vui ".

Hai ông Thăng, Phát rồi cả Tám Kiệt kể vắn tắt cho đám người họ về hành trình của cá lớn. Người bên ông Chức cũng kể sơ cho chúng tôi biết về chuyến đi của họ. " Tụi tui khởi hành từ Sài Gòn bằng ba chiếc xe buýt lớn. Vì phải nhận khách tuốt tận trên Đà Lạt, Phương Lâm và cả Biên Hoà nữa nên đã dàn cảnh làm chuyến đi du lịch cho công nhân. Xe buýt đi đầu có cả một banderole giả dạng công đoàn nhà máy Bột Ngọt Thiên Hương để che mắt công an. Chúng tôi đón khách ở Đà Lạt xong liền quay trở về Vũng Tàu tắm biển rồi chờ tối đến bỏ xe đi xuống thẳng dưới ghe, đánh ngay tại bãi sau luôn. Đi được ba ngày bốn đêm thì gặp ghe của ngư dân Malaysia, tụi tui mừng quá ngừng lại hỏi thăm đường mới biết ở gần cảng Kuatan. Vậy mà cũng phải chật vật mới tìm được chỗ để ghe ủi thẳng vào và chúng tôi phá cho hư rồi ngồi chờ đó cho đến khi gặp bọn lính. Đám lính đến xem xét ghe tụi tui kỹ lắm trước khi cho vào trại rồi nhờ vụ điểm danh thì mới biết tổng cộng có tới 233 người. Nói là trại nhưng thực ra chỉ là một khu nhà bỏ hoang từ lâu. Ở đó được hơn hai tuần lễ, chúng tôi tưởng sẽ được họ chuyển vào Bidong hay Sungei Besi nhưng không, đám lính dùng xe buýt chở cả đám xuống cảng Johore và cấp cho chiếc ghe rồi dùng tàu hải quân kéo ra biển để mình tự đi tiếp.

Ghe của đám người đến trước trông to lớn và vững chắc với mũi kiểu Thái Lan cao vút. Loại ghe lưới cào, đi biển xa và có động cơ loại Ray 6 rất khỏe. Cả ghe tới 233 người nên mới được đám ông Aleck cho chiếc ghe lớn như vậy. Một người họ cho chúng tôi biết thêm: " Sáng sớm nay khi tụi tui ghé vào thì có mấy sĩ quan an ninh ra gặp, hỏi sơ sơ nhưng cho biết phải ngày mai họ mới có tài công vì hôm nay là Chủ Nhật, ngày nghỉ việc cuối tuần. Thấy ghe mấy ông vào, thế nào họ cũng ra ngay bây giờ cho coi ".

Trời bắt đầu tối và khi ánh sáng từ các dàn đèn cao áp chạy dọc theo sàn cầu bê tông vừa bật cháy thì nhiều người lấy tay chỉ về phía nơi có hai đốm sáng của một chiếc xe hơi đang tiến chầm chậm ra chỗ chúng tôi. Chiếc xe hơi chạy đến và ngừng tại chỗ chúng tôi đang đứng, ba người đàn ông da đen mặc thường phục bước ra khỏi xe và một trong số họ nói bằng Anh ngữ: " Tôi là Ubino, sĩ quan trực chiến hôm nay, xin quý vị cho tập trung những người của chiếc ghe vừa mới đến lại đây ngay. Tôi muốn biết ghe đó có bao nhiêu người và ai là leader? ". Nghe vậy, ông Thăng vội tiến ra khỏi hàng và trả lời: " Tôi đây. Trong ghe có tổng cộng là 135 người lớn cùng trẻ nhỏ, thưa ông " rồi ông nhanh chóng gọi cả đoàn chúng tôi gom lại đứng thành từng hàng người. Tuy vậy, cũng vẫn còn thiếu một số nên ông Phát cùng Tám Kiệt phải cho người đi kiếm về trình diện cho đủ số vừa báo cáo. Ông Ubino cùng hai người Indonesia đưa tay đếm sơ qua đầu người chúng tôi đứng thành từng hàng trên mặt sàn cầu bê tông rồi sau đó quay nhìn khắp lượt, nói:

- Rất tiếc trại chúng tôi trong bờ lại không có nhà lớn đủ cho tất cả mọi người ngủ qua đêm nên chúng tôi buộc lòng để quý vị nghỉ ngơi tạm thời ở đây, mặt sàn cầu bê tông này. Sáng ngày mai thì chúng tôi sẽ sắp xếp ghe tàu để đưa quý vị sang Galang và điều quan trọng là những ai có con nít đi cùng phải tự trông chừng lấy. Cầu tàu này tuy có lan can an toàn nhưng nếu có trẻ em lọt xuống nước thì chúng tôi sẽ không chịu trách nhiệm về các rủi ro đó và quý vị phải nhắc nhở nhau để giữ kỷ luật cùng vệ sinh chung.

Coi như xong việc, ba người Indonesia đó đánh xe quay đầu tại một chỗ sàn cầu bê tông khá rộng có hình chữ I rồi sau đó họ chạy mất biến vào bến cảng xa tuốt nằm trong bờ.

Chúng tôi từ từ tản ra, một số thì đi xem coi có ai quen ở trong chiếc ghe 233 người, số khác lại vội vã vào ngay căn nhà cuối sàn tàu để tắm rửa cùng giặt giạ qua loa. Tôi cũng vậy, đi dọc theo sàn cầu bê tông và nhìn mặt người trong chiếc ghe đến trước đang ngồi nằm đây đó mong thấy được người quen nhưng không gặp ai. Mặt sàn cầu tàu bê tông ở đây vì được nước mưa gột rửa cùng các cơn gió thổi mạnh thường xuyên nên trông rất sạch. Tôi thấy Đỉnh đang ngồi trò chuyện chung một nhóm mấy thanh niên mà nó mới làm quen của chiếc ghe 233 người. Sẵn trà, cà phê, bánh và thuốc lá từ các bao thực phẩm tiếp tế, mọi người của hai chiếc ghe quây quần thành từng đám nhỏ ngồi ăn uống chung với nhau. Cứ thấy nước nóng dùng để pha trà, cà phê vừa cạn thì họ lại xuống bếp dưới ghe nấu tiếp nồi mới lên thay. Khách đi trong ghe chúng tôi hầu hết là dân miền Tây Nam Bộ và Sài Gòn còn ghe 233 người đó lại là dân tứ xứ bên quê nhà qua các giọng họ nói ra khi trò chuyện. Người miền Nam, miền Trung vùng Bình Định, Phú Yên, dân xứ Quảng, Huế và cả giọng miền Bắc rặc nữa. Bẩy và Đào ngồi chung với một đám phụ nữ miền Nam có con nhỏ còn Yến thì nhập bọn với những người vùng Hố Nai-Biên Hoà.

Người của hai ghe thân thiện nhau cách dễ dàng. Đây đó trên mặt cầu tàu bê tông là từng nhóm 4, 5 người ngồi quây quần kể lại chuyến đi của mỗi bên. Tôi ghé vào một nhóm và nghe một người nói: " Mấy ông sướng quá trời! Đi tắm suối y như cắm trại rồi còn gặp đảo sầu riêng ăn no chán chê lại được chủ khách sạn chiêu đãi bữa điểm tâm nữa! Vậy mà còn than thở cái chi. Chẳng bù tụi tui phải ở trong cái trại bỏ hoang ngó chung quanh toàn các chấn song sắt khác chi ở tù rồi khi xuống ghe thì đi một lèo tới đây luôn. Tụi tui cầu ghe được đi lạc như mấy ông đó. Gặp đảo sầu riêng, cứ ở lại ăn hai ba ngày cho đã miệng rồi mới xuống ghe đi tiếp ". Một thanh niên bên ghe chúng tôi trả lời: " Ăn liên tiếp hai ba ngày sầu riêng không được đâu cha! Tiêu chảy thấy mẹ luôn... Tụi tui có người bị nè, tới giờ còn xanh mặt ".

Ai cũng vui vẻ trong câu truyện kể cho nhau nghe về những tuần lễ sống tạm dung tại Malaysia và lúc nhắc lại lời nói của ông Ubino, một cảm giác phấn khởi khi nghĩ chỉ trong ngày mai, chúng tôi sẽ đặt chân lên Galang và không còn nỗi lo bị kéo ghe ra biển lớn nữa. Đến được Galang rồi coi như chỉ trong một thời gian ngắn thì chúng tôi sẽ đi định cư ở Hoa Kỳ, Canada, Úc, Nhật hay các nước phương Tây như Pháp, Đức, Anh... thôi. " Trong thời gian chờ đợi đi định cư thì chỉ có một việc bọn mình phải lo phải làm là ráng học Anh ngữ cho giỏi ", một người hào hứng kết luận.

Hơn 8 giờ tối, gió đột nhiên thổi mạnh làm ai cũng cảm thấy lạnh nên uống cà phê, nước trà nóng nhiều hơn. Ánh lửa bếp dầu dưới ghe lúc nào cũng sáng xanh lơ vì luân phiên có người xuống nấu nước để pha trà, cà phê hoặc mì gói ăn thêm trước khi ngủ. Người của ghe đến trước kể cho chúng tôi biết là bọn hải quân Indonesia ở đây chẳng ngó ngàng gì đến chuyện ăn uống mà để người Việt mình phải tự lo lấy. Có lẽ, họ biết dưới ghe vượt biên nào cũng thủ đầy thực phẩm hoặc biết chúng tôi sẽ không ở cầu tàu nầy lâu. Ngồi chán rồi lại bỏ đi lòng vòng cho đỡ cuồng chân, tôi thấy một nhóm gồm Tám Kiệt, Thuận cùng các ông Thăng ông Phát và những người của chiếc ghe đến trước đang ngồi chung một đám ở ngay trên mặt sàn hầm của chiếc ghe chúng tôi. Thấy tôi, Thuận ngoắc tay nói: " Xuống đây ngồi uống trà, cà phê nóng cho vui anh Vũ. Có gặp người quen nào không vậy anh? ". Tôi theo cầu thang sắt bước chuyền xuống ghe. Một bình cà phê và một nồi nước trà lớn còn khá đầy toả hơi thơm nghi ngút cùng 5, 6 cái bát nằm ngay chính giữa vòng người ngồi. Thuận múc một bát nước cho tôi. Trà này thật thơm, không phải loại trà đen trong bao thực phẩm của Malaysia. Thấy tôi ngạc nhiên, Thuận nói: " Trà Blao ướp hoa lài đó, đã chưa! ". Tôi hớp thêm một ngụm nữa, trời lạnh uống trà nóng mà nhất là trà Blao ngon như vầy thì còn gì. Nhưng không biết ở đâu mà Thuận lại có loại trà này? Tôi đã biết khi gặp ánh mắt vui vui của một người trong ghe đến trước. Chắc ông này dân Blao hay Di Linh gì đây vì nhớ lại lời của đám ông Chức kể, xe của họ còn đón cả khách tuốt tận trên Đà Lạt nữa mà. Chợt một người hỏi: " Cái nước Indonesia sao lắm đảo quá hả mấy ông? Ông nào đọc sách nhiều, biết nước nầy có bao nhiêu hòn đảo không vậy? ". Ông Thăng ngồi gần tôi, đáp: " Tôi thì không biết rõ con số bao nhiêu nhưng nghe nói Indonesia là nước có nhiều hòn đảo nhất trên thế giới đó ". 

- Sáng nay, lúc có mấy tay Indo ở đây thì tôi đã nghe có người hỏi câu này mà mấy cha nội trả lời lúc hơn 3000 lúc lại nói 5000 hòn đảo. Thiệt tình! Người nước họ mà còn không biết rõ có bao nhiêu hòn đảo nữa. Vậy quá dở đi chứ. Một ông bên ghe đến trước góp lời. Nhưng Tám Kiệt lắc đầu bất đồng, nhỏ nhẹ: " Cũng không chê trách họ được. Vì nói ngay như bọn mình đây nè, bây giờ có ai hỏi nước Việt mình có bao nhiêu đảo lớn nhỏ thì ai trả lời ngay xem thử? Có bao nhiêu? Trả lời coi! ".

Không ai lên tiếng đáp lại câu hỏi của Tám Kiệt. Đúng vậy! Ai mà nhớ mà biết chính xác con số bao nhiêu hòn đảo nhưng quả thật, chúng tôi cảm thấy nước Indonesia có quá nhiều đảo lớn nhỏ. Bằng chứng đoạn đường ghe chạy qua, chúng tôi đã gặp rất nhiều chuỗi đảo vắng lặng. Indonesia còn có tên trong Việt ngữ là Nam Dương quần đảo cơ mà. Trên bản đồ địa lý thế giới thì đất đai thuộc lãnh thổ quốc gia này rộng lớn tới 4 múi giờ và nhiều vùng, khu vực cùng hòn đảo chưa hề có dấu chân người. Trời bắt đầu vào khuya, lần lượt từng người cáo lui, đứng dậy kiếm chỗ nghỉ ngơi. Ông Thăng thấy vậy, nói: " Mình cũng tan hàng thôi mấy ông. Đi ngủ lấy sức mai còn phải ngồi tiếp dưới ghe nữa đó, đâu biết Galang cách nơi này bao xa ".

                                    (còn tiếp)

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 138 : Buôn chuyện : TRINH

     
  

TRINH :
Cái này ngày xưa cụ Nguyễn Du “phá giá thị trường” đội giá lên nhũng...ngàn vàng.Bây giờ “hàng chưa khui” đảm bảo có giấy chứng nhận “nguyên đai nguyên kiện ” của Bệnh viện phụ sản Từ Dũ Saigòn,tuổi ô mai 9x,chưa được phép đi bầu cử quốc hội,mẫu mã coi bằng ...hoa hậu quốc tế,3 số đo vàng,90-60-90, nếu quý khách “hớt nước đầu “ trong 3 đêm liền chỉ phải trả có 300 USD  khuyến mãi luôn cả tiền test AID.
Tuy nhiên,trong phong trào “hàng giả” hiện nay,cái gì cũng giả được hết,nên quý khách rất dễ xài phải thứ “rởm” mà chị em chẳng cần tới “nước vỏ lựu,máu mào gà” mà bằng kỹ thuật khâu bằng chỉ tự tiêu siêu hiện đại của các bác sĩ nổi tiếng.
Vậy làm sao phân biệt được hàng thiệt,hàng rởm đây.Theo kinh nghiệm của mấy anh tàu xì thoỏng vẫn bay từ Đài Loan sang Sàgòn mua...trinh  thì chỉ cần ấn ngón tay vào huyệt “xán dùi” của em gái là biết liền.Muốn biết huyệt ‘xán dùi” ở đâu xin quý vị tra tự điển Đại bách khoa toàn thư  Trung quốc nhân dân thư xã ,Bắc kinh xuất bản  là biết liền.
Nhưng chữ “trinh” theo cái nghĩa đó là...xưa lắm rồi.
 Một thời ở Sàigòn  có từ  “việt trinh” mang nghĩa là sự xui xẻo.Nguyên là em siêu sao điện ảnh Việt Trinh rớ tới anh nào là anh ấy...”dựa cột” là cái chắc.
Năm xưa,em Việt Trinh cặp kè với anh Phạm Hữu Phước,thế rồi anh Phước bị ra toà,bị tuyên án tử hình. Rồi đó ,em lại cặp kè với anh Trần văn Giao,anh này lừa cả thiên hạ để lấy tiền tỷ,lẽ ra trót lọt ,nhưng vì cặp kè với em Việt Trinh ,bị em đổ cái xui xẻo vào người nên mai tới,anh cũng  án “dựa cột” là cái chắc.
Hai người đàn ông gắn với em Việt Trinh đều ra pháp trường “dựa cột” cả,nên tên em đã mang nghĩa sự  xui xẻo.
Chẳng hạn một đồng chí  Giám đốc than :
Mẹ kiếp...hôm nay tớ việt trinh quá xá ,đang hát karaoke bằng “tay” với mấy em tiếp viên,bất ngờ  mụ vợ tớ nhảy dô đại náo nhà hàng...”.
Hay là nghe một em gái than van :
Cái số em thật là việt trinh quá,hu hu,,chạy mãi mới xin được một chân thư ký,chưa ấm chân ấm tay,lão xếp lăn đùng ra nhồi máu cơ tim ,không chết nhưng mà bán thân bất toại,thế là thủ trưởng mới về thay,dắt ngay một con thư ký mới toanh,đá mình ra xếp hàng ở dịch vụ...xin việc làm.Hu hu...sao cái số em việt trinh đến thế ?”
Vậy nhưng ở Hà Nội từ “TRINH" lại mang một nghĩa hoàn toàn khác.Nguyên là  em Kiều Trinh,nguyên speaker của đài VTV – truyền hình Việt Nam sang tham quan nước bạn Thuỵ Điển.Thế rồi khi di shopping trong siêu thị,em nổi máu ‘cha anh”...thó luôn chai nước hoa với mấy cục sáp môi cho vào túi mà hoàn toàn không ngờ  các camera bí mật đang quay từng hành động của em không thua gì camera ở trường quay S9 đài truyền hình Việt Nam tại Hànội.
Vậy là em bị bắt “quả tớm” ngay khi em ra guichet tính tiền.Than ôi là quốc thể May cho em là con gái đồng chí....Tổng Giám đốc Đài truyền hình Việt Nam nên mới thoát  bị truy tố và lại tiếp tục làm MC trên các kênh truyền hình cả nước.Từ đó,người ta gắn tên em gái vào hành động “xấu hổ” nhất : ăn cắp.

NT






Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2014

HẺM BUÔN CHUYỆN - KỲ 185 - Miệng quan trôn…cave !!


                       

Mùa mưa đã qua, mùa khô trở lại mà chiều qua Sàigòn bất chợt đổ  mưa tầm tã, mưa liên miên suốt cả tiếng khiến phố nhốn nháo, đường ngập tứ  tung , kẹt xe cứng ngắc, quán càphê chật cứng người. Chuyện nở như bắp rang, nào xăng giảm giá mà cước xe buýt không  giảm, nào rắn lục đầu đỏ cắn chết người... Khác với mọi khi ông đại tá hưu thường ngồi im như con cóc cụ, chiều nay không hiểu “trúng mánh” gì ông cười nói vui như Tết :
“ Cuối năm rồi…bà con ta nghe tin gì chưa ?”
Thằng Bảy xe ôm sốt ruột trời mưa không có khách, giở giọng cười riễu :
“ Lại chuyện ông Tổng Bí thơ Nguyễn Phú Trọng đi thăm Nga chớ gì ?”
Bà Tổ trưởng hớn hở :
“ Kỳ này đồng chí Tổng Bí thơ đi ký được nhiều hiệp định quan trọng . Thắng lợi lớn lắm đó…”
Cô Phượng cave cười hích hích :
:”Đường đường vua một nước, kéo cả đoàn rầm rộ sang Nga. Vậy mà tụi nó chỉ cho mỗi thằng kỳ nhông cắc ké ra sân bay đón…”
Gã Ký Quèn cười hô hố :
“ Vậy mà Putin nó đã thèm tiếp đâu. Đồng chí Tổng đành đi loanh quanh cho …đời mỏi  mệt. Nào  đặt hoa tại tượng đài Hồ Chí Minh,tượng đài Leenin, thăm Trung tâm Văn hóa thương mại , gặp gỡ Chủ tịch Đảng Cộng sản Nga; Hội Hữu nghị Nga-Việt và Hội Cựu chiến binh Nga từng chiến đấu tại Việt Nam,nói chuyện với cán bộ Đại sứ quán và Việt kiều…Đại khái là toàn cóc nhái ễnh ương, chờ điện thoại sốt cả ruột, mãi rồi Putin nó mới cho gặp nhưng lại không phải ở thủ đô Moscow mà lại phải lóc cóc tới khu nghỉ mát Sochi nhà Putin kìa..”
Ông đại tá hưu tức quá đập bàn quát :
“Chúng mày bố láo. Chương trình đi thăm Nga của Tổng bí thơ đã được hai bên lên kế hoạch từ mấy tháng trước làm gì có chuyện phải chờ đợi…”
Thằng Bảy xe ôm xoa dịu :
“ Vậy chú Ba nói thắng lợi to lớn chuyến đi này là gì nào ? Nó cho được mấy tỷ rúp  ?”
Gã Ký Quèn cười  hô hố :
“ Thằng Putin nó đang bị cả châu Au lẫn Mỹ trừng phạt kinh tế về tội xâm lược Ucraina, rồi dầu đang rớt giá, nó đang lo méo cả mồm, tiền đâu mà cho các  đồng chí Việt Nam, ốc chưa mang nổi mình ốc sao làm cọc cho  rêu ?”
Bà tổ trưởng lên giọng :
“ Nói như anh Ký Quèn đâu có được. Đồng chí Tổng Bí thơ sang thăm Nga đâu phải đi xin tiền , còn nhiều chuyện quan trọng hơn nữa kìa…”
Ông đại tá hưu vênh mặt :
“ Đúng đúng,,,đồng chi Tổng Bí thơ đi chuyến này trước hết là củng cố tình hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Liên xô thành trì cách mạng thế giới…”
Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :
“ Ối chú Ba “ngáo đá” rồi, Liên xô sập mẹ nó từ tám đời , thành trì cách mạng thế giới cũng tan cha nó từ đời nảo đời nào rồi..”
Ông đại tá hưu tẽn tò, bà tổ trưởng đỡ lời :
“ Là chú Ba muốn nói nước Nga do Tổng thống Putin đứng đầu đó…”
Ông đại tá hưu vội vàng :
“ Phải phải, tao nói là nói nước Nga cuả đồng chí Putin đó…”
Cô Phượng cave cười ré :
“Ối chết chết…Putin nó là trùm độc tài tư bản có còn cộng sản nữa đâu mà đồng chí đồng cấu ?”
Ông đại tá hưu tím mặt chưa kịp nói gã Ký Quèn đã cắt ngang :
“ Thắng lợi lớn nhất là dâng Cam Ranh cho Nga muốn vào lúc nào vào, thắng lợi thứ hai là cho nó xây dựng nhà máy điện nguyên tử Ninh Thuận bằng kinh nghiệm Chécnôbưn…”
Chị Gái hủ tíu thắc mắc :
“ Vậy là sao , anh Ký Quèn ?”
Cô Phượng cave lau chau :
“ Chécnôbưn là nhà máy điện nguyên tử của Liên xô ngày xưa tức Nga ngày nay, vì cán bộ vận hành dốt quá nên làm nổ tung nhà máy gây nên thảm họa có tính thế kỷ …”
Thằng Bảy xe ôm cười  hô hố :
“Lại đổ tại cán bộ dốt , có dốt như cha  Lê Trí Tình Trưởng kíp trực điện đài không lưu Tân Sơn Nhất làm mất điện gần một tiếng ngày 20 tháng 11 không ?”
Ông đại tá hưu quát :
“ Vấn đề đó công an đang vào cuộc chưa quy trách nhiệm cho ai cả…”
Ông Tư Gà nướng càm ràm :
“ Rồi lại đổ cho khách quan thôi, chẳng thằng nào chịu trách nhiệm hết…:
Gã Ký Quèn cười khà khà :
“ Chú Tư Gà nướng nói đúng. “Phủ bênh phủ, huyện bênh huyện”. Thằng Trần Văn Truyền , nguyên Tổng thanh tra ôm số tài sản khổng lồ vậy mà Tổng thanh tra chính phủ Huỳnh Phong Tranh lại nói :” Đồng chí Trần Văn Truyền là cán bộ thuộc diện Ban Bí thư quản lý. Sau khi Ban Bí thư chỉ đạo và Uỷ ban Kiểm tra Trung ương có kết luận và thông báo, thì mới tiến hành…”
Ông Tư Gà nướng văng tục :
“ ĐM…vậy đồng chí nào Ban Bí thư quản lý là thả sức tham nhũng khỏi ra Tòa xét xử chỉ kiểm điểm nội bộ thôi à ? Nói vậy là đảng ngồi mẹ nó lên pháp luật rồi…”
Gã Ký Quèn tiếp tục :
“ Ông Tranh còn nói ông Truyền chỉ có dấu hiệu vi phạm về tài sản, chưa phải tham nhũng…”
Cô Phượng cave cười ré :
“ Vậy ăn cướp chưa phải là ăn cắp …đúng là miệng quan trôn trẻ…”
Thằng Bảy xe ôm cười  hô hố :
“ Chị Phượng cave nói vậy cũng chưa đúng, phải nói miệng quan lồ…í chết  trôn cave thì đúng hơn…”
Cả quán cười ầm ĩ trừ ông đại tá hưu và bà tổ trưởng…


28-11-2014

Thứ Năm, 27 tháng 11, 2014

YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU - KỲ 158


                                            (tiếp theo)



Rồi bỗng chợt nhớ ra chuyện gì, bà sầm mặt, mắt long lên sòng sọc :
“ Thế còn con bồ nhí người miền “đù” ông nói năng ra sao với tôi đây ? Ong để cho nó dùng điện thoại mắng tôi sa sả lại còn đe doạ băm vằm mổ xẻ tôi nữa chớ ? Vậy ông gọi nó về đây tôi đứng yên coi nó có gan động tới người tôi không ?”
Ong Sáu Thượng hoảng sợ :
“ Tôi …tôi vô tình gặp nó chứ đâu có cố ý !”
Bà Sáu lại rít lên :
“ Vô tình hả ? Vô tình mà ông đưa điện thoại để nó chửi tôi ?”
Ong Sáu Thượng rối rít :
“ Đâu có…đâu có…tôi đang nói với bà nó xông tới giật lấy chớ ?”
Câu nói của ông Sáu như lửa đổ thêm dầu làm bà Sáu tức tối :
“ Lúc ông nói điện thoại nó ở đâu ? Nó ở đâu mà giật được cả điện thoại của ông ? Có phải ông với nó ngủ chung một phòng không ?”
“ Không không…tôi ….vô tình gặp nó rồi đuổi nó đi thôi…đâu có ngủ nghê gì  ?”
Bà Sáu lại càng rít lên :
“ Ong tưởng che mắt được tôi à ? Hai năm nay tôi tưởng nó chết mục xương ở nói khỉ ho cò gáy nào rồi chớ , vì sao nó lại về được thành phố tìm gặp ông ?”
Ong Sáu Thượng lắp bắp :
“ Tôi đâu có biết ? Hai năm nay tôi có liên lạc gì đâu, đùng cái nó xuất hiện trước mặt tôi chứ tôi đâu có hẹn hò gì ?”
Bà Sáu trợn trừng mắt :
“ Ong nói vậy chó chẳng nghe được. Nếu ông không cho người tìm , không gửi tiền nuôi làm sao nó sống sót tới hôm nay. Ra hai năm nay ông vẫn che mắt tôi, lén lút đi lại với nó…”
Ong Sáu Thượng “tình ngay, lý gian”, ông cố thanh minh sao cũng chẳng lọt lỗ tai vợ, sau ông đành giơ tay xin thề, còn hơn thề dưới cờ đảng, bao nhiêu lời thề độc địa nhất ông đem ra thề với vợ là ông gặp lại con bé Thật hoàn toàn ngẫu nhiên chứ chẳng hề có hẹn hò từ trước. Sau cùng bà cũng nguôi nguôi, giao hẹn :
“ Tôi sẽ cho người đi tìm nó bắt nó về hỏi tội nó đã chửi tôi qua điện thoại. Nhưng về phần ông, ông phải hoàn toàn cắt đứt với nó. Ong còn dây dưa , lén lút liên hệ với nó tôi sẽ cho tụi nó chém chết cả đôi…”
Oi chao ôi, bà nói câu đó mặt lạnh tanh, giọng chì chiết khiến ông sởn cả gai ốc, im thít không cãi được  câu nào.
Bà đã nói ra điều ông lo nhất :” bắt lại con bé Thật…”.
Chao ôi lần trước bà đã bắt được nó đúng vào lúc sắp “vui vầy” với ông và bà đã ra tay tàn độc, đánh nó lòi cả con ra ngoài rồi tống sang Trung Quốc làm gái cho đến khi thân tàn ma dại mới bò được về nước. Kỳ này bà lại định tìm nó mà chắc chắn với đám tay chân Khuyển Ưng lông lá hẳn bà sẽ tìm ra. Trời đất ơi, tưởng tượng tới cảnh con bé Thật bị nắm tóc bắt quỳ trước mặt bà, ông Sáu Thượng sợ đến nhói trong tim. Thực ra lần gặp lại tình cờ trong khách sạn vừa rồi thấy sự đổi thay thiểu não của cô Thật, ông thấy tràn ngập trong lòng một tình thương  là thứ từ trước ông vốn không có nó.
Bà Sáu vẫn chưa thoát khỏi cơn giận đang nổi lên đùng đùng trong lòng bà. Bà trợn mắt, nghiến rằng ken két :
“ Có phải ông vẫn còn thương con nhãi con ấy không ? Kỳ này bắt được nó tôi cho ông đi luôn theo nó nhá !”
Ong Sáu Thượng hốt hoảng :
“ Không không…tôi có cảm tình gì với nó đâu…tôi chỉ khuyên bà để đức lại cho thằng Hàm. Mình tàn độc quá , theo luật nhân quả con cái mình sẽ lãnh đủ …”
Lời nói của ông như đổ đầu vào lửa làm bà tru tréo lên :
“ Nhân quả cái đéo gì ? Bao nhiêu thằng cao cấp hơn tôi còn tàn độc gấp mấy tôi mà cả nhà cả ổ nó vẫn sống phây phây trên đống vàng kìa..A..thì ra ông vẫn còn thương xót con đĩ ấy hả ? Ong về hùa với nó để chửi tôi hả ? Thôi được kỳ này bắt được nó về sẽ biết tay tôi. Tôi sẽ cho cả đôi hưởng hạnh phúc muôn đời nhá…nhá……”
Bà xổ ra một tràng rồi im bặt mặc cho ông thanh minh, hứa hẹn, thề thốt, van xin bà vẫn trơ ra như đá.Sau cùng bà nghiêm sắc mặt, giọng lạnh lùng:
“ Ong nhớ những lời tôi nói đây. Lúc này tôi đang bối rối lo chuyện thằng  Hàm nên tôi tạm thời gác việc hỏi tội ông. Sau này khi thằng Hàm đã được bố trí ổn định, an toàn lâu dài ở đâu, tôi sẽ tính sổ tới ông. Lúc đó ông đừng hòng van xin tôi, ông hãy nhớ lấy…”
Trong lúc hai ông bà đang cãi nhau thì thằng Hàm lục lọi tủ lạnh  phòng ăn. Suốt cả tháng trời trong trại tạm giam chỉ có hai bữa cơm thường với nước trắng khiến hắn vồ lấy chai rượu tây và đủ các món tôm, cua, cá … mẹ hắn đã trữ  sẵn. Hắn ăn uống như con chó đói và chẳng mấy chốc đã đánh ngã nửa chai rượu tây và bắt đầu say bí tỉ.
Để giấu biệt nó trong nhà, bà Sáu Thượng nhốt hắn trong phòng ăn kề với phòng ngủ và cẩn thận ngoài gã thư ký ra, bà tuyệt nhiên không cho kẻ hầu đầy tớ trong nhà giáp mặt nó. Bởi vậy thằng thư ký chạy đi đâu đó chốc lát rồi lại phải quay lại để giám sát “quí tử” cho vợ chồng ông Sáu Thượng. Vừa nhìn thấy thằng Hàm ngất ngưởng với chai rượu , gã thư ký đã la lên :
“ Oi trời ôi…anh uống thế có mà đi cấp cứu…”
Thằng Hàm đang ngồi một mình buồn trông thấy gã thư ký mừng rỡ :
“ May quá…may quá…tao đang cần mày đây…”
Gã thư ký nhào tới giằng lấy chai rượu :
“ Anh cần gì cứ bảo em nhưng anh không được uống nữa…anh say rồi …”
Thằng Hàm mắt long lên, dằn giọng :
“ Say đâu mà say… tao chỉ mới uống sơ sơ thôi…say đâu mà say…”
“ Vậy thôi để em dìu anh vào phòng ngủ đi…sáng mai dậy uống tiếp…”
Thằng Hàm trừng mắt vằn tia máu đỏ :
“ Mày riễu tao hả mày…tao đánh chết mẹ mày giờ…ngủ gì mà ngủ…mày đưa..mày đưa tao đi vũ trường kiếm mấy viên..mấy viên thuốc lắc…”
Gã thư ký giãy nảy :
“ Ay chết…mẹ anh cấm ngặt không cho anh đi đâu hết…Em đưa anh đi để mẹ anh giết em à ?”
Thằng Hàm đấm vào mặt gã thư ký một quả, rất may nó đang say nên thằng này tránh được  :
“ Mày…mày không đưa tao đi…tao…giết…tao giết mày…”
Thằng thư ký sợ quá vội vàng :
“ Được rồi…được rồi…để em đưa anh đi…”
Nói rồi gã xốc nách thằng Hàm dìu đi. Hai đứa cứ đi liêu xiêu , nghiêng ngả trong hành lang mờ mờ ánh đèn rồi như không chịu nổi sức nặng của thằng Hàm, gã thư ký lôi bừa hắn vào một phòng xép, đẩy hắn nằm lên chiếc giường kê góc phòng. Thằng Hàm lúc này như chết rồi,  chẳng còn hay biết trời trăng , chỉ nằm vật ngửa ra trên giường thở phì phò nồng nặc hơi rượu. Gã thư ký kéo cái chăn mỏng đắp cho hắn rồi khoá trái cửa phòng đi tìm vợ chồng ông Sáu đúng vào lúc hai ông bà đang gây nhau về chuyện con bé Thật. Thằng thư ký nấp ở ngoài nghe thấy hết, bụng nó run bắn. Lậy trời lần này bà đừng có sai hắn đi tìm con Thật như lần trước. Oi chao ôi cứ mỗi khi nghĩ tới cái lần đó gã lại thấy lạnh cả người.
Hôm đó gã đang làm việc trong cơ quan chợt có điện bà Sáu gọi đi công tác gấp. Gã chạy ra khỏi phòng làm việc đã thấy chiếc xe commăngca đít vuông đậu sẵn. Bà Sáu mang kính râm , mặt lạnh như đẽo đá, hai thằng cận vệ cao lớn, mặt mũi bặm trợn, sát khí đằng đằng ngồi băng sau. Gã thư ký vừa đi tới bà Sáu đã lạnh lùng hất mặt ra hiệu cho nó leo lên xe ngồi giữa hai thằng khỉ đột. Chiếc xe phóng nhanh ra ngoại thành , rẽ vào ngôi biệt thự nhỏ um tùm cây xanh và hai thằng cận vệ dẫu đầu đã đạp tung cửa phòng để lộ rõ cảnh ông Sáu Thượng và cô Thật âu yếm nhau.
Tất nhiên, ghen tuông là chuyện thường tình. Nhưng ghen cái kiểu như bà Sáu Thượng thì thật là kinh khủng. Mặc cho cô bé khóc lóc van xin, ông Sáu Thượng nài nỉ xin tha tội cho cô, bà Sáu vẫn lẳng lặng ra lệnh cho hai thằng khỉ đột quẳng cô lên xe và sai gã thư ký cùng đi, đưa tuốt lên Lạng Sơn trong một ngôi nhà nhỏ ven biên giới. Suốt một tuần liền gã phải chứng kiến hai thằng khỉ  đột thay nhau hãm hiếp cô gái . Cho tới một buổi sáng gã đang ngồi uống rượu một mình thì thằng khỉ đột chạy vào báo cô gái sắp chết. Gã vội vàng chạy vào coi và kinh hoàng nhìn cái cảnh cô gái bị truỵ thai , máu me bê bết trên chiếc khăn trải giường, đầu tóc bù rối, mặt mày tái  mét và biến dạng, xưng vù như vừa qua một trận tra tấn khủng khiếp.
Quá kinh hoàng trước cảnh đang diễn ra, gã thộp cổ một tên khỉ đột, gào lên :
“ Chúng mày…chúng mày…đã làm gì cô ta…”
Gã hầu cận vênh mặt, tỉnh bơ :
“ Đây là lệnh của bà chủ…bà chủ ra lệnh phải làm cho nó chết từ từ…sau đó thì thủ tiêu…”
Gã thư ký sợ sau này sẽ bị truy tố tội đồng loã giết người vội vã chạy đi tìm một bà mụ trong xóm gỉ tai nhờ cứu chữa cho cô gái kèm theo một phong bì thật hậu hĩnh. Cứ tưởng cô gái cầm chắc cái chết, ai ngờ nhờ bà mụ dùng một mớ lá lẩu hái ở đâu đó trên rừng sắc lên cho cô uống, ba ngày sau cô đã tỉnh lại và dần dần hồi phục.  Mấy ngày đó gã thư ký cứ thấy hai thằng khỉ đột dấm dúi bàn nhau chuyện gì đó. Gã hỏi thẳng :
“ Phải tụi mày lại tính giết chết cô ta không ?”
Một gã gật đầu :
“ Bà chủ nghe tin cô ta chưa chết lại được bà đỡ cứu chữa nên nổi giận ra lệnh phải thủ tiêu ngay không cho mụ đỡ cứu chữa …”
“ Vậy tụi mày tính sao ?”
“ Bà chủ đã sắp đặt kế hoạch tối nay nhờ mụ đỡ đưa cô lên xe chở về Hà Nội để điều trị , trả tiền mụ thật hậu hĩnh cho mụ im miệng rồi sau đó chở tuốt lên biên giới giải quyết…”


                                                                           (còn tiếp)



Thứ Tư, 26 tháng 11, 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 137 - BỜM và CHẠY trong buôn chuyện !!!

      Bờm :
      
VTV có show quảng cáo lạ.
Một anh nhà quê phe phẩy cái quạt mo đi giữa đường  làng đóng vai thằng bờm.Phú Nông gạ đổi...tivi,tủ lạnh,bờm lắc,gạ đổi xe Mẹcxêđéc,biệt thự nhà vườn,Bờm cũng lắc.Sau cùng phú hộ đưa ra một ...gói mì ăn liền nhãn hiệu 3 con tôm,thằng Bờm nhe răng ra cười,OK đổi liền.
Câu chuyện về thằng “Bờm có cái quạt mo” thì đến con nít cũng biết,vậy nhưng “lôgích thằng Bờm” thì phải nói ít các nhà...đầu tư vào Việt nam biết tới. Lôgích thằng Bờm là thứ “analogique”,duy nhất chỉ thấy có ở Việt nam.Đặc trưng của thứ lôgích đó là chẳng có cái logích quái nào nhưng mà lại rất...lôgích.
Bất kỳ ai,bất kỳ từ đâu – Âu,Á,Mỹ,Úc,Phi – khi vào Việt Nam làm ăn   mà không biết tới cái “lôgích thằng Bờm” thì ...thua là cái chắc.
      Vậy “lôgích thằng Bờm “ là cái quỷ gì vậy ?
      Hãy để em Việt Trinh, nguyên siêu sao điện ảnh của “Nam kỳ quốc” giải thích.
Ngày xưa,anh Phạm Hữu Phước,hỏi em có đổi biệt thự lấy cái “quạt mo “ của em không ? Em chưa biết tới “lôgích thằng Bờm” nên em “cười” liền.
Lần khác anh Phước lại hỏi “ có chịu đổi cái “quạt” của em lấy cái Mẹcxêđéc không” ? Em cũng lại OK luôn.
Than ôi,giá như em biết tới “lôgích thằng Bờm” thì đâu đến nỗi bị tịch thu cả nhà,cả xe khi anh Phước bị còng.
7 năm sau,em Việt Trinh cũng vẫn chưa ‘tỉnh” ra,lại đổi “cái quạt mo” lấy 280 mét vuông đất Bình Chánh và cũng lại cái Mẹcxêđéc cho anh Trần văn Giao.
Tới khi anh Trần văn Giao lại cũng bị “bắt quả tớm” lừa đảo cả Ban Ngành Đoàn thể,cũng bị công an bay từ Hànội vào  khoác vào tay cái còng số 8 (số xui nhất đối với các đại gia) thì em Việt Trinh lại bù lu bù loa lên rằng  em không có đổi “cái quạt mo” cho anh Giao mà chính là em...mua.
Tiếc thay,cái luận điệu này xem ra không vững lắm và cả đất lẫn xe đổi “quạt mo” cho anh Giao  xem ra cũng ‘của thiên lại trả địa” cả.
Bây giờ thì em Việt Trinh thành thạo “lôgích thằng Bờm “ lắm rồi.Chẳng hạn mai kia có đại gia nào đòi đổi “cái quạt mo” của em lấy cái biệt thự chẳng hạn.Em sẽ lắc :”Em chã...em chã...”.Đại gia lại đòi đổi “xe Toyota” đời mới,em cũng lại “em chã...em chã...”.Cho tới khi đại gia đưa ra cái gì đó be bé như hạt xoàn chẳng hạn,chỉ nhỏ bằng...nắm xôi thôi,thì lúc đó em Việt Tring mới...cười.
Đó...lôgích thằng Bờm là như thế đó.
Một nhà đầu tư nước ngoài muốn vào một tỉnh chẳng hạn.Ông đưa ra nào “dự án nhà máy lắp ráp ô tô”,nào “ trung tâm xử lý rác thải”...các quan tỉnh có khi đều...lắc hết.Vậy nhưng có khi nhà đầu tư đưa ra cái dự án nho nhỏ chỉ bằng cái...phong bì thôi chẳng hạn.thì có khi lại được OK liền.Nhớ nhé,trước khi vào Việt nam hãy nắm cho được...lôgích thằng Bờm.      
     Chạy :
         
 Có lẽ hiếm một từ nào lại sinh sôi “vô bờ bến “ (học theo lối nói của nhà văn nguyên là cộng sản Garaudy) như từ “chạy”.
Nói cho sang,nó giống như một từ “tạo sinh” (mot generateur) trong cách viết “chữ  đẻ ra chữ” của các nhà “Tiểu- thuyết- mới- bây- giờ- đã cũ” (xin lỗi ngài  Allain Robbe Grillet).
«  Chạy án « :
Vậy là theo vần chữ cái,mở đầu ta có từ “chạy án”,dịch vụ này nở rộ từ hồi mới mở cửa và ngay khi bà Trần thị Tú Anh ,Thư ký Toà án nhân dân TP Hồ Chí Minh vừa được đưa vô Lê văn Duyệt “quẹo trái” (nay cách mạng kêu bằng “Trại tạm giam Chí Hoà) cùng vài đồng chí trong đội trinh sát điều tra công an TP Hồ Chí Minh về tội “làm sai lạc hồ sơ” nhằm giảm án,miễn tội cho một băng buôn bán ma tuý mới bị phát hiện.Thực ra từ ngày có Bộ luật hình sự muốn xoá án,giảm án cho ai mới phải nhiêu khê “làm sai lạc hồ sơ” như thế, chứ trước đây thời bao cấp,chỉ cần anh Hai,anh Ba nhấc điện thoại lên là OK hết.
« Chạy bằng”
 cái này ngày xưa chẳng cần lắm đâu,chỉ cần thành phần cốt cán và nhiệt tình cách mạng là đủ,nhiều bằng cấp quá,bị liệt vào tầng lớp “trí ,phú,địa hào...đào tận gốc ,trốc tận rễ “ thì hỏng.
Nhưng sang thời thị trường,cán bộ được ‘tiêu chuẩn hoá” thì cái sự...bằng cấp lại vô cùng quan trọng.Khi đấu đá lên lương lên chức,người ta lại mang cái  “của nợ” đó ra so đo,thế là một phong  trào “chạy bằng” nổ ra sôi nổi khắp từ trung ương đến địa phương.
”Chạy bằng” tức là chẳng học ngày nào mà vẫn ...tốt nghiệp thì mới ngon.Học giả nhưng lại bằng thiệt,có con mộc đỏ chói chính hiệu con nai vàng mới chết .Thế là bằng cấp tiến sĩ,phó tiến sĩ,cử nhân...như bươm bướm đến mức ông nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội Mai Thúc Luân hôm rồi phải kêu lên giữa quốc hội :
”Thật chưa thấy cái xứ nào lắm tiến sĩ giấy.cử nhân rởm như cái xứ mình...”.
“ chạy chức”
Hay còn gọi là “chạy ghế’,cái này nổ ra khi ở một cơ quan có “thủ trưởng “ ốm nặng,sắp chết hoặc sắp về hưu,hoặc khi chi tỉnh hoặc sáp nhập Ban,ngành sẽ dôi ra hoặc hụt đi một “số ghế”.Vì bổng lộc càng ngày càng tăng nên việc “chạy chức”,”chạy ghế” ngày càng trở nên khó khăn.
Thời giá một cái ghế Giám đốc,Trưởng phòng,Trưởng ban cứ tăng vùn vụt còn hơn cả cổ phiếu REE vẫn chào bán ở chợ chứng khoán Sàigòn mà chẳng ma nào dám đặt lệnh mua.
 “chạy học”
Ngày nay cho con nhỏ vào mẫu giáo,cấp 1,cấp 2 ...cũng là “vấn nạn” cho các phụ huynh.Nghe nói giá một chỗ ngồi cho cháu bé vào lớp 1 Trường Hoà Bình  xế Nhà thờ Đức bà là không dưới...40 triệu.càng ra khỏi trung tâm,giá cả càng mềm hơn. Chạy học xong rồi là tới …
chạy việc”
đã trở thành mối lo canh cánh cho các bậc cha mẹ khi có con tốt nghiệp đại học , sau khi làm «  lễ thất nghiệp », nhà không có tiền,lại chẳng phải con nhà nòi COCC,trời lại chẳng cho 3 số đo vàng nếu là con gái.Các tân cử nhân,tân kỹ sư ...này sẽ làm việc ở “sở nhà đo” (đo giường) và “ăn lương ở sở “nhà báo” (báo cô) dài dài là cái chắc.
 “chạy show”
Nguyên nghĩa là từ của các em ca sĩ Cẩm vân,Hồng Nhung,Phương  Thanh chạy từ tụ điểm ca nhạc 126 Võ thị Sáu,sang sân khấu nhà hát Hoà Bình rồi lộn về Idecaf...Ngày xưa các em chạy bằng  Honda CUB còn bây giờ xoàng lắm cũng phải bằng cái Toyota hoặc Mẹcxêđéc tuỳ theo cấp hạng tiền...cátxê của mỗi em.
Lạ thay,các quan chức cũng phải  chạy ...show nữa.Bởi lẽ theo ‘cơ cấu” thì chức vụ nào dù là Hội đồng nhân dân,Hội nghiên cứu Hán Nôm hoặc là Hội người cao tuổi ...thì cũng đều phải  do các đồng chí trong “cấp uỷ” làm Chủ tịch.Bởi thế mỗi khi vào mùa Đại hội hay tổng kết,hay kỷ niệm...các đồng chí đầu ngành cũng phải  chạy  từ cuộc họp của Hội này sang Hội khác ,vất vả không thua gì mấy em...ca sĩ chạy show.
      Các thày ngày nay cũng...chạy sô nữa,mỗi tối thày chạy đủ 5 Trung tâm đào tạo tin học hoặc là Anh Ngữ thì mới coi như ...hết công suất của thày.
Vậy nhưng ai chạy gì chạy đều thua mấy  em ‘tiếp viên karaoke”  chạy show hết.Một lần , được ngồi hát với một em tuổi “cài trâm”.Em mới hát được 3 câu lại đặt micro xuống ghé tai “xin phép anh cho em đi vệ sinh”.Một lần,hai lần,ba lần...cứ chốc chốc em lại “xin phép”,quái em gái này chắc là bị bí tiểu hẳn thôi.Khách thật thà quay sang hỏi em gái ngồi cạnh.Em bật cười :
” Nó chạy sô đấy anh ơi.Cùng lúc nó ngồi tới 3 bàn lận.Lát nữa anh phải trừ bớt...tiền bo của nó đi.”
À..thì ra là như thế,đến em tiếp viên karaoke cũng chạy sô nữa thì thử hỏi ở nước này ai là không...chạy show...


NT

Thứ Ba, 25 tháng 11, 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 136 - NGỰA….trong buôn chuyện !!!



            

         NGỰA là một từ rất lạ...”ng..ựa “ – đọc lên nghe cộc lốc,ngắn ngủi,tức anh ách mà lại dùng để chỉ một con vật mạnh mẽ,khoẻ khoắn chạy đường trường vạn dậm.Thật là một trường hợp lý thú cho các nhà «  ngôn ngữ cơ cấu «  khi xét sự so le giữa ‘cái biểu đạt” và “cái được biểu đạt”.
Nhưng mà đó là chuyện của mấy ông học giả bằng thiệt.Còn ở Việt Nam ta  bây giờ,ngựa chỉ thấy có ở...hồ Xuân Hương (Đà Lạt)  và chỉ để đưa các quý khách đi chơi vòng vòng và chụp hình kỷ niệm. Bởi thế ta đành phải đi tìm chú ngựa trong văn chương chữ nghĩa vậy.
           Ở Việt Nam có một nhà thơ được xếp vào loại “mô điếc” (tức moderne),chẳng hiểu gàn quải ra sao mà từ năm 1973 anh đã làm một bài thơ về ngựa có tính tiên tri,sấm truyền mà chính anh cũng không biết.Này nhé :
                  “ Có hai con ngựa vào thành phố
                   Gặp quảng trường đá hí lồng đêm...”
          Í trời,sao nhà thơ tiên tri đúng thế ? Năm con ngựa Giáp Ngọ (1954) và con ngựa Mậu Ngọ (1978) , Đảng và chính phủ ta từ chiến khu,bưng biền vào hai thành phố lớn nhất của cả nước là Hà Nội và Saigòn. Ngựa vào thành phố nhũng tưởng tha hồ ăn ngô,ăn lúa ,ngờ đâu lại gặp cả một...”quảng trường đá” ứng với cái điều dân ta tưởng bở,tưởng hoà bình về sẽ “nối vòng tay lớn”,thóc lúa đầy sân,rượu thịt ê hề,ngờ đâu cả nước ăn bo bo nên làm sao mà ngựa chẳng “hí lồng đêm” ?
        
 Đến  cái con ngựa Nhâm Ngọ (2002) ,tác giả tiên tri mới ác :
                 “ Ngựa lạc quanh co phố dựng...”
          Phố “dựng “ là cái phố quỷ  gì ? Xin thưa nó là cái  “phố tường” (Wall Street).Nó là cái điềm báo đuổi Mỹ đi rồi, anh Mít ta lại phải mowid nó chơi trò thương ước , lò dò vào phố U ôn (Wall Street) không khéo rồi “lạc quanh co” trong cả rừng luật lệ là cái ta vốn chưa quen chứ chẳng chơi.
                 “Ngủ chìm đáy mộng bọt mồ hôi...”
  Câu này không biết tác giả tiên tri cái gì đây có điều chắc là không ngụ ý chuyện thiên hạ người ta ‘tỉnh “ cả rồi,từ Nga La Tư,Bảo Gia Lợi ,Hung Gia Lợi đến các anh thủ mừ “A dêch bai dan””U dơ bê kít tan” cũng “tỉnh” ra cả rồi,riêng anh Mít ta là vẫn “ ngủ chìm đáy mộng”, vẫn kiên trì chủ nghĩa Mác, vân tiến lên chủ nghĩa xã hội…ha ha…
.Chắc là nhà thơ không định ‘tiên tri” vậy, gàn quải sao đó, câu này lại ngụ ý trúng bóc…tài thật, tài thật, tiên sư anh…            
Cho qua mấy câu thơ “mô điếc”, ta hãy trở về với vốn cũ dân tộc.
 “ Bắt ngựa đằng  đuôi” 
hoặc nôm na,mách qué hơn “ mó dế ngựa”  là để chỉ mấy bác nhà quê kéo nhau đi “khiếu kiện đông người”  tố cáo cường hào cướp  đất chẳng ngờ đơn nộp ở tỉnh nó lại vòng về xã để rồi người bị tố cáo  đá hậu những “người tố cáo” nhũng cú đá chết người.
  “ Biếu bò nhận ngựa
câu này cũng na ná như câu “ông mất chân giò,bà thò chai rượu”,có điều,dịp tết ,thường thường nhân viên biếu thủ trưởng hẳn một chai rượu tây Hennessy hay là Johnny Walker mà lại chỉ nhận về mỗi một cái...vỗ vai :”tốt tốt,sang năm...cứ thế”.
  “Bò đất ,ngựa  gỗ “:
là thứ nhan nhản trong các cơ quan công quyền ở nước ta,tài năng giúp dân trị nước thì ít ,khả năng cứ ngồi ì  ra giữ ghế thì nhiều.Một lần có việc phải tới Uỷ ban phường gặp ông Phó chủ tịch phụ trách văn xã xin cái giấy mở dịch vụ “hát với nhau” trong quán cà phê.
Thu hết cả người lại cho ra vẻ cóm róm,mới đánh liều hỏi cô Thư ký Uỷ ban rằng ông Phó Chủ tịch ngồi đâu.
Không thèm ngẩng lên,cô buông thõng một câu :”vắng”. Lại đành phải thưa :”ông Phó chủ tịch đi đâu ?” ,mặt vẫn lạnh như kem và vẫn chăm chú vào việc giũa móng tay,cô ném ra câu nữa :”họp”.
Đó,nhũng người như thế chẳng là “bò đất,ngựa gỗ” thì là gì ? 
 “ Buộc đuôi cho ngựa đá nhau “
hay còn gọi là “đâm bị thóc,chọc bị gạo” là mẹo ...quản  lý cơ quan của các vị thủ trưởng.Bởi lẽ thủ trưởng sợ nhất là đám nhân viên đồng lòng nhất trí,kết làm một khối chống lại mình thì nguy,bởi vậy mới dùng cái chiêu “buộc đuôi cho ngựa đá nhau” để thực thi chính sách “chia để trị”.
Khi gặp ông Trưởng phòng hành chính thì thủ trưởng gỉ tai :”Cậu chi tiêu cẩn thận nhé,con mẹ tài vụ nó ghi hết các việc của cậu đấy”,lúc gặp bà tài vụ,thủ trưởng lại than vãn :”quái cái thằng Trưởng phòng hành chính,công khai tài chánh thế mà nó vẫn nghi tài vụ có sổ đen...”.
Thế là hai con ngựa “tài vụ” và “hành chánh” xông vào đá nhau chí chết,đâu có biết là cái đuôi của họ đã bị thủ trường “buộc” với nhau để dễ bề “cai trị’
   “Chạy đua một ngựa” 
là thông lệ của các cuộc bầu cử ở nước ta.Chẳng hạn  cán bộ công nhân viên trong cơ quan bầu...Giám đốc.Ứng cử viên có mỗi một ông tên là Vũ Như Cẫn. Quả nhiên kết quả bầu cử vẫn lại như cũ,ông Giám đốc đương chức lại trúng cử là cái chắc. Cái này vẫn gọi là « đảng cử, dân bầu ».
   “ Chạy nhanh như ngựa tế
tức phi nước đại,bốn vó cùng bay hết tốc độ,tuy nhiên vẫn còn thua mấy ông chạy chức,chạy quyền,chạy án,chạy bằng,chạy việc,chạy hộ khẩu,chạy sổ đỏ,chạy dự án,chạy thầu,chạy thanh tra,chạy giấy phép...nước đại. '
    “ngựa vía” 
Là ngựa làm bằng giấy, dùng trong tang lễ , là ngựa đưa “vía”  người chết lên trời.Nhưng ngày nay,”ngựa vía” lại là mấy em con nhà giàu,con ông cháu cha,nhảy nhót ở các vũ trường Apocalypse Now,New Wave...tại  Hà Nội chán rồi lại bay vào nhảy nhót tiếp ở Monaco,Đêm màu hồng ...tại Sàigòn.Một đặc điểm dễ nhận ra mấy em là vài ba ngày các em lại thay “yên cương” một lần  làm cho mấy ông via bà via chẳng biét thế nào mà chọn...nài.
     “Chiêu binh mãi mã”
ngày xưa là mua ngựa,tuyển lính còn bây giờ là chiêu lôi kéo, tập hợp vây cánh, tạo thành bè thành phái của mấy ông cán bộ trong cùng một cơ quan khi thủ trưởng đang có nguy cơ hạ cánh trong...tù.
     “ Chuông vạn ngựa nghìn”
một cách nói bóng nói gió của người xưa chỉ tình trạng các quan tham bây giờ : rất nhiều nhà mặt tiền,nhiều xe đời mới,nhiều đất trong khu có dự án,nhiều xe đời mới ,nhiều bồ nhí và nhiều tài khoản nước ngoài..Giống ông Trần Đức Truyền, nguyên Tổng thanh tra, ông Nguyễn Thanh Cung, đương kim Chủ tịch UBND Bình Dương
    “ Có chồng như ngựa  có cương »
nhưng ngày nay ,than ôi, đôi khi lại chính tay các ông chồng cầm cương trao cho...thủ trưởng,chẳng thế mà khi cãi nhau với chồng,một phu nhân đã mắng vào mặt quan lớn :”tao mà không tốc váy thì mày làm gì có...ngày nay...”...su...ỵ...t...khẽ mồm chứ...
    “Con dân làm đồng con quan cưỡi ngựa
bây giờ là con dân bơm xe,bán vé số,con quan đi Paggio,Spacy hay Toyota,Mẹcxêđéc….Rồi tương lai,con thày nhà chùa lại quét lá đa,chẳng thế mà các tiểu thư,công tử con quan ngày nay đều di du học ở...Mỹ cả.Sự đời là thế,con dế nó đùn,con giun nó đục...
    “ Con ngựa hồi tàu “
cảnh báo nguy cơ hàng tàu tràn sang ta nhiều lắm bởi lẽ sau chuyến đi của đồng chí Nguyễn Phú Trọng sang thăm Trung Hoa vĩ đại, cái tinh thần “hồi tàu” của dân ta  có vẻ ngày càng rõ.Chẳng thế mà Nô en với tết tây năm nào, liên tiếp có sứ giả hữu nghị Trung Quốc là em đào xinê Triệu Vy và chàng chạy môtô Vương Diệp Vinh sang gây ì xèo cả thủ đô Nội.
 “ Cưỡi ngựa đầu thềm” : l
là làm việc lớn trong hoàn cảnh, điều kiện thiếu thốn, bó buộc, giống như năm 2002 Bộ trưởng thương mại Việt nam Đậu Xuân Giá đang soạn thảo “lời chào” để nộp cho các quan chức WTO xem xét chuẩn bị xét kết nạp Việt Nam vào tổ chức buôn bán toàn cầu .
“  Cưỡi  ngựa xem hoa “:
 qua loa, đại khái, không tìm hiểu kỹ lưỡng, chỉ nhìn nhận loáng thoáng bên ngoài rồi nhận...phong bì là bệnh cố hữu ,vô phương cứu chữa của các quan thanh tra Việt nam hiện nay.
 “ Cương ngựa ách trâu
 là tình cảnh mấy em tiếp viên nhà hàng vừa bị má mì hà khắc,xét nét vừa bị bọn ma cô bảo kê xiết cổ bằng cho vay nặng lãi.Mở rộng ra là bà con buôn thúng bán bưng vừa phải chạy công an  vừa phải trốn thuế vụ,tránh mặt quản lý thị  trường đúng theo tinh thần ‘bộ đinh,bộ lễ, bộ hình,ba bộ đồng tình bóp vú con tôi”.
“ Da ngựa bọc thây “
 nơi chiến trường để rồi con cháu phải đi đánh giày,bơm xe,bán vé số là tình cảnh của rất nhiều liệt sĩ vô danh  “sinh Bắc tử Nam” đã nằm lại rải rác nhiều nơi trên đất rừng phương Nam.
“Dã mã vô cương
con ngựa hoang,chẳng có yên cương gì hết ,không ai kiềm chế,điều khiển được . Ta có thể thấy trước con ngựa tham nhũng vẫn sống dài dài  xứng đáng là « ‘dã mã vô cương”.
    “ Dẫu hèn cũng ngựa nhà quan “ 
câu này sai bét.Các quan tỉnh ngày nay đều xài xe hơi đời mới cáu cạnh, đi đứng hung hăng trên phố bất chấp CSGT .Vậy ai dám bảo ngựa các quan là...hèn.
  “ Đánh tung  vó ngựa, đánh bửa trăm thành, đánh phanh giáp trận “:
Đó là tinh thần trong tuyên bố sẽ nghiền nát xã hội đen của ngài thiếu tướng công an Lê Thế Tiệm trong vụ bắt trùm xã hội đen Năm Cam. Nhưng rồi từ lời nói đến việc làm xem ra cách nhau mấy  cột kilômếch ?
   “Chung ngựa với Đức ông “
là tình trạng “nhà nước và nhân dân cùng làm” hồi mới mở cửa.Nhưng ngày nay,”nhân dân” đã sinh khôn lắm rồi nên phần thua thiệt phần lớn lại là Nhà nước.
   “ Đơn thương độc mã” 
là tình trạng lẻ loi, đơn độc của thủ trưởng giữa đám đông cán bộ công nhân viên khi  tin thủ trưởng sắp về hưu đã loan truyền khắp cơ quan.
    “ Được đầu voi đòi đầu ngựa
 là bệnh của mấy em bồ nhí của các quan đã được quan sắm cho cái SPACY rồi lại còn đòi cái Iphone 8 .Túi tham của mấy em thật chẳng khác gì của các quan.Vậy mới có câu :
     “ Ngưu tầm ngưu,mã tầm mã” 
là tình trạng bè phái,cát cứ,xưng hùng xưng bá hiện nay.Từ nhũng năm sau 1985 , có tình trạng người Nghệ An đổ bộ lên ở Tây Nguyên lập nghiệp.Vốn nắm vững bài bản cách mạng,người Nghệ An chia nhau nắm các chức vụ trong bộ máy chính quyền  đến mức dân gian có câu “ Nhất Y nhì Nghệ” – nghĩa rằng ưu tiên nhất là người Thượng (họ Y – thí dụ Y Moan,Y Ngông Niek Đăm..).Rồi thứ nhì là tới người Nghê An. Còn ngày nay ở TP Hồ Chí Minh,người Quảng Nam nắm giữ tờ Thanh Niên,người Bến  Tre nắm Đài truyền hình HTV...cứ như vậy mà chia cắt còn hơn cả thời sứ quân...
   “ Hỏi trâu biết ngựa”:
đó là mẹo của mấy ông Giám đốc để nắm tình hình  dấu đá trong nội bộ cơ quan mình.
   “ Khuyển mã chí tình . »
 là thứ ngày càng trở nên hiếm hoi trong xã hội Việt Nam ta ,trong khi đó vẫn còn thấy  ở chó và ngựa.
   “ Làm thân trâu ngựa “
là ví von,thề thốt của cấp dưới với cấp trên khi nghe tin mình sắp được thủ trưởng cho tăng lương,tăng chức...
   “ Lông bông như ngựa chạy đường quai” :
là tình cảnh của sinh viên ra trường sau ngày lễ không phải tốt nghiệp mà…thất nghiệp. Nếu không phải con ông cháu cha,cũng không có tiền lót tay khó mà kiếm được việc làm ngoại trừ làm tiếp viên với con gái và bảo vệ với con trai.
   “Mồm chó vó ngựa”
cần phải tránh xa không thì ...tai nạn.Cũng giống như cửa quyền là nơi người dân nên tránh không nên dắt díu nhau tới đó.
   “ Một ngựa hai yên”
một con ngựa mà những hai người cưỡi.Giống như ngày xưa dân Mít ta vừa bị địa chủ phong kiến lại vừa bị đế quốc thực dân nó cưỡi lên người.Còn bây giờ,cán bộ Đảng , hay cán bộ Nhà Nước  cũng đều chỉ là... đầy tớ cho anh thôi,còn đứa nào dám cưỡi lên anh nữa nào ? Nói phét vậy thôi, dân ta ngày nay vẫn một cổ hai tròng, tròng đảng và tròng Nhà nước… »
“ Ngựa chạy có bầy, chim bay có bạn”
điều này tối kỵ với các quan tham vốn chỉ quen ăn mảnh,ăn riêng,ăn lén,một mình mình biết,một mình mình hay vẫn là thượng sách mà các bà tham luôn dặn dò ông nhà mỗi khi nhận phong bì.
“Thiếu voi phải dùng ngựa”  :
là tình trạng khủng hoảng người có tài có đức trong các cơ quan nhà nước .Càng ngày người ta càng thấy lớp cán bộ sau sa sút cả hai thứ đó so với lớp cán bộ trước.Và tình trạng xuống cấp này còn lâu mới hãm lại được,nhất là khi nhìn vào nền giáo dục đại học nơi bổ sung nguồn lực cho bộ máy nhà nước trong tương lai. Bởi vậy ngày nay voi chẳng có, ngựa cũng không, toàn chó… 
 “Vành móng ngựa “
nơi hò hẹn sau cùng của bọn tội phạm các loại : xã hội đen,trộm cắp,ma tuý,tham quan ô lại,buôn dân bán nước...
 “Voi biết voi, ngựa biết ngựa”
người nào phận đó,”số nào ô ấy” – đó là cách tốt nhất để tồn tại trong xã hội « ổn định chính trị » vào loại bậc nhất Đông Nam Á này...Viết xong muốn chửi tục :   ĐKMCN

NT



























































































nhà văn NHẬT TIẾN : THỀM HOANG - KY 19



                                     Chương 13


Những đầu kỳ lương, bao giờ Jean cũng tìm đến Huệ. Hắn khuân về cho nàng đủ thứ đồ ăn, thức uống cầu kỳ, hoặc cam, táo, sữa, bơ hoặc phó mát. Huệ quen lệ thường, dọn dẹp cửa nhà đón hắn như đón một người chồng thực thụ. Hai người đu lấy nhau và hôn rất lâu ở ngay giữa nhà. Jean hay nhè vào mồm Huệ một cái kẹo tây ngậm dở, mùi bạc hà thơm sực nức. Huệ mút một lần rồi thổi bay ra ngoài cửa sổ. Trẻ con đứng rình qua khe cửa tò mò xem từ bao giờ, xô nhau lại cướp. Tiếng chen lấn xô đẩy nhau loạn xạ ở ngay trước nhà Huệ. Sự ầm ĩ ấy khiến Huệ hay nổi giận. Nàng doạ giẫm đủ cách mà không bao giờ chúng chịu rời đi cả. Về sau nàng phải hối lộ bọn ranh bằng thuốc lá. Những điếu thuốc lá vừa hôi vừa khét được chúng nó rất chuộng. Chuộng hơn cả kẹo tây nữa. Mấy đứa xúm lại tranh nhau cầm rồi kéo nhau đi tìm lửa. Vị thuốc chẳng ngon lành gì mà chúng cũng hăm hở chui rúc vào một vách lá râm mát, đứa nọ chuyền đứa kia thi nhau thở khói đằng mũi, và ho sặc sụa.
Mỗi khi được yên thân, Huệ hay nằm gọn ở trong lòng Jean, dùng con dao bổ cam hay cắt táo. Thỉnh thoảng nàng lại rít lên:
"Nhột! Khỉ gió đùng lăn lắm nữa, đứt bố nó tay người ta ra bây giờ.”
Nói rồi Huệ buông dao phát đôm đốp lên cái lưng đầy lông tơ của hắn. Jean đã không tha lại còn cù thêm cho Huệ mấy cái nữa. Huệ rú lên cười, câu chửi của nàng vỡ ra không thành tiếng. Tóc Huệ xổ tung, tay chân Huệ bị ghì cứng lại, nàng vừa thở vừa la:
"Tiên nhân nhà mày... sao mà háu thế!"
Một lát, Jean bẽn lẽn ngồi thu ở một góc. Huệ bỏ hắn đi vào phía trong. Căn nhà im lặng đến độ nghe thấy cả tiếng cọt kẹt ở chỗ Jean ngồi. Lát sau hắn sửa áo quần tề chỉnh rồi ra ngồi ở phía bàn giữa. Huệ châm thuốc lá cho hắn. Hắn nhìn Huệ với cặp mắt biết ơn sâu xa. Huệ mỉm cười sửa soạn bánh và đồ hộp. Hai người ăn uống rất hạnh phúc. Huệ nói chuyện văng tê, chửi tục luôn mồm. Gã nghe không hiểu, nhưng gã thấy Huệ có duyên vô cùng. Chai rượu, hắn nốc hết ly này đến ly khác cho đến khi say mềm thì nằm vật xuống phản ngáy pho pho. Huệ móc ví lấy tiền của hắn đem đi trang trải mấy món nợ nần. Đến chiều, nàng đánh phấn, bôi môi cặp tay với hắn đi lên phố. Jean không tiếc Huệ thức gì. Hắn mua tặng Huệ đồng hồ, nhẫn, vòng, áo dài hay phấn sáp. Sự dễ dãi của hắn càng khiến Huệ thấy mình tha hồ tự do thao túng. Một người bạn đã nói với Huệ:
"Tội gì, chúng nó chán mình ngay. Cho nên lúc nó còn thương thì "cấu" được cái gì là lời cái ấy.”
Huệ đã cấu của Jean rất nhiều, và đổi lại nàng đã dành cho hắn những phút được chiều chuộng, nâng niu. Gã thấy mình chứa chan hạnh phúc.
Hai người thường đi chơi suốt một ngày Chủ nhật. Hoặc ăn kem ở hiệu có máy lạnh, hoặc xem chớp bóng ngồi ở trên tầng lầu, hay đi dạo trên những đường phố lớn hai bên có nhà cao ngất ngưởng, có tủ kính đèn thắp sáng choang. Có hôm Jean dẫn Huệ ra bờ sông, hai người ôm nhau ngồi trong bóng tối. Huệ quên thân phận của mình là một cô gái làm điếm. Nàng ngoan ngoãn ngả đầu vào ngực Jean, ngắm không chán khuôn mặt mơ màng của gã đăm đăm nhìn ra ngoài sóng nước. Không khí về đêm thoải mái và mát rượi. Tiếng nước róc rách vỗ vào mạn bờ, tiếng gió thổi xao xác trong vườn cây khiến Huệ thấy lòng mình yên tĩnh và trong sạch. Lâu lâu Jean lại hôn Huệ một lần. Nàng ôm lấy hắn nũng nịu. Nàng gọi tên gã trong khi gã hát rất nhỏ. Tiếng hát của Jean nghe buồn như ru bên tai Huệ. Khói thuốc từ miệng gã toả ra bay nhẹ nhàng trong gió mát. Huệ nhắm nghiền mắt lại và muốn ngủ thật lâu ở ngay chỗ ấy.
Đến khi hai người trở về thường thường là đêm đã thật khuya. Huệ và Jean chia tay nhau ở đầu xóm Cỏ. Những đàn chó chạy rông ngoài đường xô nhau ra sủa loạn xạ. Mùi rác tanh nồng thoang thoảng bay qua. Huệ đứng vẫy Jean cho đến khi bóng dáng cao lớn của gã khuất sau dẫy phố. Nàng trật đôi giầy ra xách trên tay. Hơi đất ẩm đưa từ gan bàn chân lên người gây cho Huệ cảm giác mát mẻ, khoan khoái. Nàng quay tròn cái dây ví đầm trong tay kia rồi dò dẫm đi vào ngõ tối.
Tiếng đàn của bác Tốn chưa dứt trong túp lá lụp xụp. Một đôi lần thằng Ích trốn nhà ra ngủ chung với bác. Hai bác cháu đùa với nhau rinh rích cả đêm, lúc nóng quá thì kéo nhau ra tắm giếng chán rồi lại trở về hút thuốc lá và nói dóc trên bực cửa.
Một buổi tối trở về Huệ bắt gặp đôi mắt sáng dữ dội của dượng Tám nhìn mình ở hàng rào. Dượng bẻ một nan tre ném về phía Huệ rồi lơi lả:
"Làm người ta chờ mãi. Đi không?"
Huệ ngất ngư cái đầu:
"Để đến mai. Đang mệt lử ra rồi đây.”
Mắt dượng Tám quắc lên khiến Huệ cũng cảm thấy rờn rợn đến nỗi phải cúi xuống. Dượng nói, hai hàm răng sít lại:
"Hôm nay "rích" đây. Để mai lại chui vào sòng hết mất.”
Nàng uể oải:
"Vậy thì đi..."
Hai người lầm lũi đi về phía nhà Huệ. Nàng nhẹ nhàng mở cửa và đánh diêm châm ngọn đèn trên mặt bàn nước. Bà cụ Chín đã ngủ từ lâu và mắt Huệ cũng như muốn díp lại. Nàng kín đáo thay quần áo trong khi dượng Tám ngồi im lặng hút thuốc trên giường. Một lát Huệ đến nằm vươn vai ở bên cạnh dượng và ngáp thật dài:
"Buồn ngủ thấy bà đi. Đi quá rạc cả cẳng.”
Dượng Tám không đáp vẫn nằm im rít từng hơi thuốc lá. Mặt dượng dúm lại, đôi mắt xếch ngược lên, hai bờ môi dầy trễ xuống. Huệ nắm lấy tay dượng thì thào:
"Lẹ đi!"
Dượng uể oải đứng dậy, ném điếu thuốc cháy giở vào góc phòng rồi tiến lại bàn nước vặn thụt cái bấc đèn xuống thấp. Ánh sáng đảo lên rồi teo lại. Căn phòng bây giờ chỉ còn một thứ ánh sáng xanh lét. Khuôn mặt dữ tợn của dượng chìm mờ trong bóng tối. Có tiếng chó sủa vu vơ ở đằng xa. Huệ ngủ thiếp đi trong những tiếng động mơ hồ ấy.
Lúc dượng Tám nhỏm dậy thì bốn bề vắng lặng và yên tĩnh. Trong căn phòng mờ mờ tối chỉ có cái bóng của dượng thấp thoáng đi lại và tiếng guốc rón rén trên nền đất ẩm. Dượng nâng khẽ cánh cửa gỗ và lẻn nhanh ra ngoài như một con cáo mò đi ăn đêm...
°
Sáng hôm sau, xóm Cỏ loạn lên vì tiếng chửi của Huệ. Trẻ con hàng xóm bu đen lại. Giọng Huệ san sát như xé vải:
"Tổ cha năm đời mười đời thằng mặt sắt, bà đã bán trôn nuôi miệng mà còn húc đầu vào ăn không lấy có của bà. Giời đánh thánh vật thằng Tám ra...
Cửa nhà thằng Ích mở tung, cái Ngoan ngồi thu hình trên bực cửa. Nó thản nhiên nghe Huệ chửi như không có chuyện gì dính dấp đến nó. Cặp mắt đen lay láy của nó chăm chú nhìn xem từng cử chỉ của Huệ. Huệ mặc một cái quần đen bạc phếch, cái áo may ô nhuộm đỏ chẳng có nịt vú ở bên trong. Nàng vung hai tay lên vỗ vào đùi, rồi xỉa xói vào nhà dượng Tám, cứ réo tên dượng mà chửi. Một người hỏi:
"Chuyện gì thế cô Huệ?"
Huệ vừa thở vừa đáp:
"Thằng Tám chứ ai, tiên nhân cha nhà nó.”
"Làm sao?"
"Tối hôm qua nó ở nhà tôi về..."
"Nó vào nhà cô làm gì?"
"Khỉ gió đùng lăn nhà bác lắm nữa. Làm gì thì kệ bố người ta..."
"Thôi biết rồi, sao nữa?"
"Động mồ động mả nhà nó, đây có tí vàng nào nó vét sạch cả. Ối giời ơi Tám ơi là Tám, mày thò mặt ra đây thì bà vạc ra, sư cha quân đầu trộm đuôi cướp.”
Nói rồi Huệ lại tức tối xông lên thềm đất. Cái Ngoan vội vã ngăn lại. Nó nói:
"Dượng tôi chưa về..."
Huệ du mạnh nó ra rồi bước hẳn vào trong. Nàng bắt gặp bộ mặt nhợt nhạt của u Tám. U mệt mỏi ngồi dựa lưng vào vách gỗ. Mái tóc quấn vội trên đỉnh đầu nom xù lên rã rượi. Huệ định cất mồm tác xác thì u Tám bưng mặt khóc. Hai chân u đập xuống mặt giường, đầu u va rất mạnh vào vách gỗ. U bật lên kêu thảm thiết:
"Giời ơi giời, chồng con ơi là chồng con..."
Rồi u ngã vật xuống trước cặp mắt ngơ ngác của Huệ. Nàng lùi lại một bước, quay đầu nhìn cái Ngoan. Ngoan đang ngồi nghe thấy tiếng ngã vội hốt hoảng chồm dậy. Nó đẩy thật mạnh cho Huệ chúi xuống rồi chen vào. Mọi người thấy tiếng nó lu loa:
"Ối u ơi là u, u làm sao thế này..."
Người xem ở bên ngoài len vào, chen lấn xô đẩy. U Tám vẫn nằm thiêm thiếp trên mặt đất. Hai mắt u nhắm nghiền. Những giọt nước mắt chưa khô trên đôi má xanh xao nhợt nhạt. Miệng u mím chặt, hai hàm răng u nghiến ken két, một dòng nước dãi chảy qua môi, lăn xuống cổ. Hai bàn tay u nắm chặt vào nhau, run lẩy bẩy. Người ta xúm lại, kẻ xoa dầu, người gọi tên u Tám. Căn buồng nhỏ hẹp của nhà thằng Ích chật cứng những người.
Huệ hậm hực loanh quanh một lúc rồi bỏ ra ngoài. Nàng bắt gặp thằng Ích đang chạy bổ từ phía nhà bác Tốn lại. Nàng túm lấy nó, quát lên:
"Dượng mày đâu?"
Thằng Ích lắc đầu:
"Tôi đâu có biết, hôm qua tôi ngủ đằng bác Tốn.”
"Mọi khi dượng mày đi đâu mày có biết không?"
Ích không đáp vì nó đã vội giằng tay Huệ ra để len vào trong nhà. Nghĩ tiếc của, Huệ uất lên. Nàng lại cất tiếng chửi. Nàng lại kể cho mọi người nghe về cái việc làm ma bùn của dượng Tám.
°
Từ hôm ấy, dượng Tám đi biệt không về. U Tám nằm liệt trên giường đã mấy hôm. Sự uất ức và tủi nhục làm u dở cười dở khóc. U gọi tên mọi người và nói lảm nhảm những chuyện không đâu. Khuôn mặt u già sọm đi, nước da xám ngắt. Cặp mắt u lờ đờ mất hết vẻ tinh khôn. Cái Ngoan phải bỏ cả công việc để túc trực bên cạnh u. Trong căn buồng mờ mờ tối, nó ngồi bó gối như một con chó nhỏ, im lặng nghe tiếng thở mệt nhọc của u, tiếng nắng nứt rạn trên mái lá và tiếng cãi cọ vọng lại từ đằng xa. Mỗi buổi trưa, bác Nhan gái lại chịu khó bưng sang cho u một liễn cháo. Hai bác cháu van hết lời u Tám mới nhấm nháp mấy thìa rồi hất xuống đất. Lâu lâu u lại bưng mặt khóc. Cái Ngoan cũng tu lên khóc theo. Bác Nhan gái lùi vào một góc đưa cái vạt áo lên hỉ mũi. Cảnh đó không mấy ngày là không diễn ra, khiến bọn trẻ trong xóm Cỏ hay sán lại, cậy vách ra nhòm. Có đứa vừa nện tay thình thịch lên vách gỗ, vừa la lớn:
"Ê! Ăn cắp! Ăn cắp!"
Rồi cả bọn túa nhau bỏ chạy. Một lát chúng lại xúm vào. Thằng Ích rất bận bịu về cái lũ nhãi ranh ấy. Nó khuân đủ thứ gạch về để ở đầu hè, mang chặn cái thùng xăng ở ngoài cổng, rồi nó rình rập bọn trẻ đông đúc cứ chực lấn vào. Bây giờ cuộc chơi của chúng nó đã biến thành thế trận. Chúng nó ném nhau dữ dội. Tiếng gỗ đá đập vào cửa nhà thằng Ích thình thịch. Bác Nhan gái ở nhà bên trông sang, giậm chânkêu trời về sự quái ác ấy. Tay bác quơ lấy cái đòn gánh nước, quần bác xắn lên, bác chạy ra lối ngõ vụt lia lịa vào bọn trẻ, mồm la không ngớt:
"Tiên nhân chúng mày, xéo đằng nào thì xéo. Người ta ốm phải cho người ta nằm nghỉ chứ.”
Bọn trẻ ùa đi, một lát lại mon men tới gần. Chúng nó chỉ bỏ cuộc khi nào thấy chán cái trò chơi mất dậy ấy.
Cho đến một buổi sáng mọi người vụt nghe cái Ngoan la làng ở đầu ngõ. Ngoan nom thấy u Tám thắt cổ trên xà nhà. U chết từ đêm nên mình mẩy u đã sưng vù lên và tím ngăn ngắt. Mọi người đổ xô vào. Không ai còn nhận ra được u Tám nữa. Mặt u trương to lên, cặp mắt trợn ngược, cái lưỡi nám đen lại và thè dài thõng xuống cằm. Mái tóc của u cứng khô rũ rã rượi xuống ngang lưng. Dưới chân u một đống nước tiểu hoà lẫn dãi rớt chảy loang ra thấm ướt cả nền đất ẩm. Người ta bồng u đặt nằm ngay ngắn ở trên chõng. Cái Ngoan lăn xả vào khóc thảm thiết. Hai bàn tay nó cấu lấy thân thể lạnh cứng của u. Nó gọi tên u trong tiếng khóc ngằn ngặt. Mọi người giữ lấy nó, nhưng nó vùng ra, khoẻ lạ lùng. Thằng Ích lúc ấy mặt còn đầy vẻ ngái ngủ, ngồi xệp xuống đầu chõng, vừa khóc nó vừa gọi u như ngày nào u đã ngất ở chỗ ấy. Bác Tốn cũng vội vã tìm sang. Bác đứng im lặng ở một góc. Hai môi bác mím lại. Có sự gì uất ức đưa nghẹn lên cổ bác. Những giọt nước mắt nóng và mặn cứ ròng ròng chẩy xuống hai gò má. Bác đã khóc u Tám như khóc một người thân yêu, mặc dầu lúc còn sống, ít khi u nói với bác một câu chuyện nhà.
Người ta một mặt đi trình báo, một mặt tính toán chuyện lo liệu cho u. U chết đi để lại trên phản một cái bọc nhỏ cuộn bằng chiếc khăn vuông đen, ở trong ấy, u để dành được bốn trăm bạc, một cái gương nhỏ và một cái áo dài bằng nhiễu đen mà từ ngày về xóm Cỏ, chưa lần nào thấy u mặc. Cuộc đời của u như thế là hết. U đã rũ cho mình nỗi cực nhọc, đã tìm được sự thanh thản mà từ bao nhiêu năm u hằng ao ước. Lúc còn sống u không làm gì được cho con cái thì cái chết của u cũng cởi mở cho chúng được tự do đi tìm lấy sự sống mới mẻ của mình. Còn ai mà không ghê tởm căn nhà tối tăm khốn khổ đầy nước mắt ấy. Mọi người thương u là thương cái chết đau đớn mà u chọn, thương sự tủi hổ mà u phải chịu đựng trong những ngày u rầu rĩ với cơn bệnh.
Từ sáng đến chiều, người ta ra vào nhà thằng Ích rần rần. Bác Nhan gái thay mặt thằng Ích nhận từng năm, mười đồng của từng người góp với nó để làm ma cho u Tám. Huệ cũng đến với dáng điệu ngượng ngập. Nàng mở cái khăn che mặt của u Tám để nhìn u rất lâu. Nàng giấu mọi người sự cảm động của mình. Rồi nàng gọi thằng Ích ra dúi vào tay nó hai tờ giấy một trăm. Đấy là vốn liếng cuối cùng của Huệ.
Sáng hôm sau, đám ma của u Tám bắt đầu khởi hành. Chiếc quan tài mộc thô sơ đặt trên cỗ xe hai ngựa, loại xe vẫn tải rau và bắp cải từ ngoại ô lên chợ. Ngồi trên, cả thảy có sáu người. Mẹ con cái Hơn, anh em thằng Ích, bác Tốn và một người phu mộ. Theo sau xe còn lác đác mấy người, nhưng được một quãng xa thì họ quay về để chiếc xe bon bon chạy. Nếu không có tiếng khóc của cái Ngoan và những thoi vàng giấy mà bác Nhan gái rắc rải rác trên mặt đường thì không ai biết rằng đấy là một đám táng. Mọi người buồn bã nhìn nhau. Bác Tốn hai tay nắm chặt lấy thành xe, đầu cúi xuống, mặt bác ngó nghiêng, thoạt trông tưởng như là bác cười nửa miệng. Bác suy ngẫm rất nhiều đến cuộc sống vất vả của những người như u Tám. Những đêm nằm thủ thỉ với thằng Ích, Ích hay kể cho bác nghe về ý nghĩ của nó. Nó vẫn ước ao:
"Ngày sau cháu lớn cháu sẽ đi làm.”
Bác Tốn nói:
"Nhà ông thì làm được cái đếch gì!"
Ích cãi:
"Việc gì chả được. Miễn là đến sở đến siếc đàng hoàng, cuối tháng lĩnh lương. Khoái không chê được.”
"Nhà ông tính làm được mấy ghim?"
Ích ngập ngừng:
"Độ hai ghim.”
"Hai ghim thì chả bõ dính răng. Tao thì tao khoái bốn ghim. Bốn ghim mới tha hồ tiêu.”
Ích xuýt xoa như sự mong ước ấy là quá đáng:
"Thôi hai ghim đủ rồi. U cháu, cháu với cái Ngoan thì ăn hết mấy.”
"Dễ mày không để dành tiền lấy vợ à?"
"Thôi đốt bác đi. Vợ làm đếch gì. Cháu chỉ mong cho u cháu sướng hơn bây giờ là cháu khoái mê cu tơi ra rồi. Tưởng tượng cuối tháng mang về đưa hẳn cho u cháu một tập giấy bạc mới toanh, úi dà thích phải biết!"
Bác Tốn lùa tay vào bụng thằng Ích bóp một cái:
"Cái thằng tầm ngầm mà hiếu thảo gớm nhỉ.”
Ích la oẳng lên. Hai bác cháu vật nhau trên nệm rơm. Bây giờ, mộng của thằng Ích vẫn chưa thành sự thật thì u Tám đã chết, mà ngay đến cả cái ý định tốt đẹp ấy của đứa con trai, u cũng không được biết. Ích chưa hề nói với u nó một lời nào về chuyện ấy cả.
Chiếc xe yên lặng đi qua những con đường đầy nắng và bụi. Rổ vàng giấy trên tay bác Nhan gái đã vơi đi quá nửa. Tàn nhang dính đen cả bát cơm đơm đầy trên nắp áo quan của u Tám. Mấy nén hương cháy đỏ hồng lên trong gió lộng. Chiếc xe đi qua những thửa ruộng sẫm đen, những gốc rạ cháy dở dang nằm ngả nghiêng dưới ánh nắng chói chang. Nghĩ đến sự cô đơn từ nay của u Tám ở chốn này, mọi người bây giờ mới bật ra tiếng khóc. Bác Nhan gái hỉ mũi xuống sàn xe luôn tay. Cái Hơn đang thiu thiu ngủ bị tuột vú ra khỏi mồm cũng vụt oà lên. Ích mặt chan hoà nước mắt nhìn mọi người. Bác Tốn đưa tay ra sờ soạng lên đầu nó. Bác có cảm tưởng như từ nay đời nó sẽ gắn liền với mình.
Người ta chôn u Tám tại một khu đất hẻo lánh. Phía bên kia là một con lạch nhỏ có những lớp lau sậy um tùm. Đằng xa từng làn khói xanh lơ bốc lên từ những thửa ruộng đang làm mầu. Nắng im lìm toả rộng, dãi lên mặt nước như một tấm gương sáng loà. Khung cảnh yên tĩnh và vắng vẻ giống như lúc còn sống u Tám hằng ao ước.
Bác Tốn nhờ thằng Ích dẫn mình lại gần miệng huyệt. Mùi đất thơm và ẩm thoang thoảng đưa lên mũi. Bác nhặt từng viên nhỏ ném xuống. Tiếng đất chạm vào thớ gỗ kêu thình thịch. Cái Ngoan và thằng Ích vụt oà lên khóc to hơn. Vào lúc mặt trời đứng bóng, mọi người lặng lẽ xách đồ lên xe. Chiếc xe song mã uể oải lăn bánh trên đường đầy đá dăm lổn nhổn. Anh em thằng Ích ngồi rũ bên cạnh nhau khóc sụt sịt. Trong gió lộng, chiếc xe tung bụi mờ mịt, nom xa như một chuyến xe đò từ dưới tỉnh trở về...

                                    (còn tiếp)