“Chủ nghĩa hiện thực nghiêm nhặt “
trong
“Gia đình bé mọn”
“ Thế là đã kết thúc hẳn, kết thúc thật, kết
thúc hoàn toàn cái cuộc chiến tưởng như là vô định ấy. Thế là yên ổn, trọn vẹn,
mãi mãi sao ?”
Không , không yên
ổn, cũng không trọn vẹn - câu hỏi của
Tiệp, một cô gái Nam bộ rặc, lên “cứ” tham gia cách mạng từ năm 14 tuổi, ba là
liệt sĩ Côn Đảo, chồng là Tuyên – cán bộ tuyên huấn, lại là nhà văn “có thẻ hẳn hoi” , lập tức có câu trả lời
: không và không .
Ngay từ những ngày
hoà bình đầu tiên, sự bất an và dang dở đã đeo bám lấy nàng; để sống cho được
“là chính mình”, là tính cách và lương tri của chính mình, nàng buộc phải đương
đầu với một cuộc chiến mới – đau đớn và
kinh hoàng không kém chống Mỹ : cuộc chiến
chống lại cái xấu xa, cái ti tiện đang dâng lên như nước lụt khắp bốn
xung quanh nàng.
Trước tiên là gã
đàn ông, chồng nàng, “ thuộc nhóm máu cá,
xa môi trường nước của công sở một lát là không chịu nổi và sự tận tuỵ tuyệt
đối của anh ta với cương vị phó phòng tuyên truyền của Ban là đáng được đề
cao…”. Nàng lấy hắn từ hồi còn ở trên “cứ”, bất hạnh thay, “hồi mới cưới, con tim nàng không rung động,
nó cứ lên tiếng rằng đây không phải người đàn ông của mình, đây là cuộc xô đẩy
của chiến tranh , của bom đạn giặc giã nước lụt bụi cây sạp xuồng.” . Với
gã, con cái không quan trọng bằng “phác đồ sống” : “phó tổ thì cố mà lên trưởng – phó phòng rồi thì trưởng – vợ chồng sẽ
lần lượt đi Học viện chính trị quốc gia và rồi sẽ phó Giám đốc ( hay Phó Ban)
và lên nữa, lên mãi”.
Trong con mắt nàng
gã chỉ là “một con ngựa đã bị bịt mắt với
đường trường quan lộ của mình”. Chính vì vậy “ Tuyên đã âm thầm tính toán mọi bề. Thì ra
Tuyên muốn việc trục thai này diễn ra ở một nơi thật xa, trong im lặng, trong
bí mật, nếu không thì bên vợ, bên chồng và cả những người chung cơ quan sẽ
không hiểu nổi sao người ta lại có thể bỏ đi giọt máu hạnh phúc có ý nghĩa kỷ
niệm một giai đoạn mới của vợ chồng và của đất nước…” .
Tiếc thay, “ Giai đoạn mới” của đất nước hoàn toàn không giống những gì nàng hy vọng
và mong chờ khi còn ở trên”cứ”. Chưa nói tới thiên đường xa xôi của chủ nghĩa
cộng sản, chỉ miếng ăn hàng ngày cũng là một cuộc vật lộn gian truân :
“Sau
trận lụt lịch sử năm ngoái , kẻ chèo người dong buồm lá dừa nước
vừa đi vừa đổi cả tư trang , bàn ghế và tủ thờ để lấy gạo chờ cơn sốt tập đoàn
hoá hợp tác hoá qua đi, trong khi những người cầm trịch
trên cao hô hào một thời điểm cấp bách khiến Hai Khâm liên tục thúc giục Tuyên
phải bão cáo tiến độ của cuộc đại cách mạng ấy với ông ta mỗi tuần”.
Hai Khâm chính là đồng chí Trưởng ban tuyên huấn, một thành viên trong giới
quyền lực nhất tỉnh, thủ trưởng trực tiếp của Tuyên, chồng nàng. Cái “cuộc đại
cách mạng “ ấy chính là phong trào hợp tác hoá đã phá tan cái “vựa lúa miền
Nam” khiến ngay cả những người “chiến thắng trở về từ trên cứ” như gia đình
nàng cũng phải ăn bo bo, phải thức đêm làm đá cục bằng tủ lạnh, phải nuôi heo
bởi lẽ “ hai đầu lương chỉ đủ nhét kẽ răng”.
Cán bộ đã vậy còn
dân thì sao ?
Dạ Ngân và dịch giả Charlotte Dang
Chị Hoài, chị của
nàng phát biểu với “giọng bất mãn thâm
căn cố đế” : “ để dân miền Tây ăn độn
thì đúng là trời còn phải chịu thua mấy ông hợp tác hoá”.
Có lẽ chưa có cái
thời nào lạ lùng như thời này, đàn bà con gái đi thử thai phải nộp tới 750 ml
nước tiểu hoá để y tá, bác sĩ dùng “nước tiểu thì bán cho dân trồng rau còn chai
thì bán lại cho bọn sản xuất rượu lậu. Nhân viên nhà nước rặt một loại hống
hách và vô cảm như “mụ bưu vụ” “ mụ nhân
viên nhà vé nà và nàm”.
Thế còn hàng ngũ
cán bộ lãnh đạo tỉnh liệu có tử tế hơn lính của họ ?
“ Trưởng
Ban kiểm tra, hồi trong cứ bà từng có tiếng là hay vấn an
đêm phó Bí thư Tỉnh uỷ, quả nhiên chỉ mấy tháng sau khi bà
vợ nông dân của ông này chết vì một tai nạn gì đó thì bà trở thành vợ quá độ
của ông cho đến khi ông mãn tang xong, từ đó cả hai dắt tay nhau bước vào ngôi vị cao hơn cho
đến khi vị Bí thư đột ngột qua đời bỏ lại bà vợ ngang sức
ngang tài và sự nghiệp cách mạng còn dang dở…” .
”Trưởng ban tổ chức …bỗng nổi tiếng với dân “cứ” bằng vụ xì
căng đan với cô văn thư hay xuống hầm bí mật cùng và chị này phải bỏ ngũ vì vì
mức án đồng đều mà đáng ra ông phải “nặng hơn” vì ông nhiều “giác ngộ” hơn.”
” Giám đốc Sở văn hoá…có một địa chỉ ông mặn mà nhất , đó là
nhà của một phụ nữ đứng tuổi có giọng cười như bị cù nách
và một ông chồng hiu hắt nghe đồn bị liệt dương…”
Dựng lên một loạt
chân dung cán bộ đầu tỉnh và tác giả hạ một câu kết luận :
” Vậy đó , toàn những đồng chí “bị lộ và chưa
bị lộ”…
Sống với người chồng và “môi trường cán bộ”
sặc mùi ti tiện và giả dối như thế, lẽ tất nhiên nàng phải đào thoát khỏi cái
cộng đồng đó, tìm cho mình một tình yêu
thực sự, một “nền văn minh cho nàng”, “một nhân loại của nàng”. Và như vậy, thực
sự nàng đã bước vào một trận chiến chống
lại chồng, chống lại gia tộc, chống lại nền “văn minh cán bộ miệt vườn”
còn ác liệt và vô vọng hơn cả thời chống Mỹ cứu nước .
Cái việc bị
chồng bỏ mặc trên đường dẫn tới sảy
thai như một giọt nước tràn ly khiến nàng “chợt
thấy tai chồng mình nhỏ như tai chuột, theo nhân tướng học , nó cho thấy một sự
nghiệp long đong dù người đó có hy sinh cả những mối quan hệ nhân nghĩa riêng
tư cho nó…” và chẳng bao lâu sau
nàng đã dũng cảm “nổ một phát súng” mở đầu cho chiến dịch ly hôn dài đằng đẵng
của mình :
” Anh Tuyên này , tôi biết chuyện viết lách
của tôi, tính khí, sở thích của tôi và cả những mối quan hệ của tôi hay làm anh
lo ngại bực mình. Tôi với anh bị chiến tranh đưa đẩy, tôi thấy không nên kéo
dài cuộc hôn nhân không có tình yêu này. Mà đã khi nào anh nghĩ tôi âm thầm có
người khác không ?”.
Cái “người
khác “ ấy là người thế nào ?
Rất may cho
nàng, chỉ sau có một lần sa sảy với một gã nhà báo hèn nhát
“bỏ của chạy lấy người về Sàigòn” , nàng
đã gặp ngay được người đàn ông đích thực cho mình : một “ nhà văn miền
Bắc” chỉ sau một lần tình cờ gặp gỡ ở
bến xe.
Đính, ông nhà văn Hà Nội lần đầu tiên vào thăm
đồng bào miền Nam ruột thịt đã la oai oái :” Ở dưới địa ngục người ta cũng không đối xử
với tóc dài quần loe như mấy ông văn hoá thông tin xứ này…”. Hoá ra ông “ đang đi , vụt cái tiếng còi, còi hẳn hoi
nhá, một tổ ba ông băng đỏ hẳn hoi ở
đâu đã túa ra hỏi giấy túm tay như mình bị truy nã. Thế rồi áp vô gốc cây dùng
kéo sởn một nhát nhanh như AQ bị người ta cách mạng cái
đuôi sam đi…”.
An tượng ban đầu
là thế, nhưng để có tiền lặn lội đi tìm người yêu ông nhà văn vẫn cứ “ ký với một nhà xuất bản ngoài đó một tập bút
ký về vùng sâu, vùng xa của miền Tây” tất nhiên là phải ca ngợi đứt lưỡi sự thay da
đổi thịt của làng quê sau giải phóng bởi lẽ ông quan niệm dứt khoát :” viết văn là một trò chơi nguy hiểm, muốn
được yên cái thân để ngồi viết thì phải tính kế bảo an cái đầu !” . Thế nào là “bảo an cái đầu” ? Chắc là giữ
sao cho nó khỏi sản xuất ra thứ văn chương có tên trong sổ đen của Cục 78 – tức
Cục an ninh văn hoá thời bấy giờ. Thua xa bản tính quyết liệt của nàng, trong
quan hệ gia tộc, ông nhà văn cũng là một mẫu mực cho sự phải đạo. Ong không dám
từ bỏ cô vợ lăng loàn, hung dữ như con
cọp cái chỉ vì sợ ảnh hưởng tới con cái
, mẹ già, ông sợ mẹ tới mức không dám
vào Nam thăm người yêu chỉ vì “ Anh nhớ
em điên đầu, nhưng năm nay anh đã bốn mươi chín, mẹ sợ mẹ cấm anh không được đi
đâu xa…”.
Mãi tới khi
tất cả con cái đã trưởng thành, mẹ già đã khuất núi được 3 năm, ông nhà văn
mới giành lại được quyền tự do không phải tự do sáng tác từ Đảng và Nhà nước mà
là quyền tự do kết hôn từ …cô vợ đầu, kéo dài tới 20 năm cuộc chiến giành hạnh
phúc của nàng, đúng bằng thời gian thực hiện công cuộc giải phóng miền Nam.
Lặn lội đi tìm
chàng, lần đầu tiên nàng ra Hà Nội, thấy hình ảnh của nó thực khác với những gì
nàng mường tượng về miền Bắc xã hội chủ nghĩa hồi còn làm cách mạng ở trên cứ.
“ Đám hành khách cán bộ trên xe cũng lần
đầu tiên ra Hà Nội xì xào thất vọng, họ
chỉ cho nhau nhìn thấy một đám đông như họp chợ trên một đoạn vỉa
hè vung vãi rác kem que, một ngài đại uý mặc quân phục quân
hàm hẳn hoi đi từ chỗ xếp hàng ra vừa đi vừa mút một cách rất là nhịp nhàng cả
hai que kem trên tay như một anh hề tung hứng…”.
” Miền Bắc thiên đường, thiên đường là xe đạp
có biển đăng ký vậy sao ?”.
Chàng cười khờ khớ :
” Xe đạp còn có biển đăng ký thì em hình dung
, con người còn bị kiểm soát tới mức nào ?”.
Tuy nhiên phải
mãi tới khi Nhà nước ban bố cái lệnh bỏ biển đăng ký xe đạp, chàng mới tháo nó
ra và “nói với vẻ đoạn tuyệt giận dữ :
” Đã đến lúc phải kết thúc vai trò lịch
sử khốn nạn của nó …”.
Rồi cả cô bạn
gái của nàng cũng dặn dò :
”Rồi Tiệp sẽ thấy người ta hung tợn như thế
nào ? Chật chội, khổ cực, thiếu thốn , bất mãn quá mà…”.
Và đây là quán
phở nổi tiếng Hà Nôi “trong mắt nàng:”: mùi than đá, mùi thịt thà lưu cữu, những dãy
người chen chúc , gần như là xếp hàng , đi ăn mà phải tì
vai, áp lưng, giơ phiếu như thị trường chứng khoán thì Tiệp chưa thấy bao giờ.”
Nhưng lạ nhất với nàng vẫn là những chiếc thìa bị đục lỗ khiến chàng phải giải
thích :
” Người ta làm thế để chống ăn cắp. Chỉ có
những thằng ăn cắp thành thần thì mới nghĩ ra cách chống ăn
cắp độc chiêu thế này…”
Tuy nhiên cái
hình ảnh của chính “chàng” do bà cụ hàng
nước vẽ ra mới thực ấn tượng với nàng :
” Khổ, cái anh này suốt ngày bã bèm với heo
cúi, ban đêm máy chữ rào rào, cũng kiểu đội con đội vợ lên đầu chị vợ mới hư
thế…”.
Và cả cái nơi chàng rón rén đưa nàng tới tân hôn trong lén lút cũng không kém phần
kinh hoàng :” Tiệp không đáp, chỉ lùa mấy ngón tay vào tóc Đính
lúc anh trôi dài xuống bụng nàng, Những cố gắng đền bù của anh với hoàn cảnh
không đánh thức nàng tận cùng như nàng
nghĩ. Tại sao lại cứ hình ảnh cục phân vàng vàng trong bể
nước, tại sao vẫn cứ cái hình thù của tấm ri-đô và những
tấm cót ép chung quanh, tại sao vẫn bị chi phối bởi người đàn ông chủ nhà đang
nín thở trên giường và đứa bé tim tím vì mồ côi mẹ và thiếu
đói ?” .
Tình yêu là
trăng sao bên bãi biển, là hoa bướm trong không gian thoang thoảng mùi con ong
làm mật ngọt, vậy mà cái nơi nàng thụ hưởng trái ngọt của tình yêu kinh hãi đến
thế đủ biết sự hy sinh của nàng lớn lao biết chừng nào.
Vậy nhưng chớ
nên cho rằng nàng đã dâng hiến hết cho
tình yêu mà bỏ bê con cái. Ngược hẳn
thế, trong dông bão của cuộc đời, nàng xù cánh như con gà
mẹ bảo bọc đám gà con. Không thể để chúng sống kéo dài
trong chật chội góc phòng cơ quan, nàng “liều mình” , cam chịu khom lưng xuống một chút để tới tận nhà riêng đồng chí Chủ tịch tỉnh xin
cho con một căn hộ. Ba tối liền nàng cầm cuốn tiểu thuyết và cắp con đến chầu
ngoài cổng, “cuối cùng gã bảo vệ có bộ
mặt của tay công an mẫn cán cũng hé cổng chuyển quyển sách và thư đi…”. Thế
rồi đồng chí Chủ tịch tỉnh , “ chú Ba quần đùi áo thun lá tự nhiên như
nhiên trên bộ salon nệm dày trong phòng khách, thím Ba hiện thoáng ra chắc để
xem con người kiên trì cầu cạnh kia là
cái con nào rồi biến vào nhà trong…” “ vảnh tay xe xe mớ lông chân trên bộ đùi
rõ ràng gốc gác nông dân “, ngoáy mấy chữ vào góc đơn
:” Sáng mơi cô vô Uỷ ban gặp tay phó của
tui nó giải quyết cụ thể…”.
Như thế đấy,
hoá ra ông Chủ tịch tỉnh xét cấp một căn hộ chẳng gì một mớ rau. Sau này vô
tình ghé qua nhà nàng trong một đợt vi hành, nhìn thấy tấm bảng “bán đá cục”, vị chủ tịch tỉnh thắc mắc :
“ nhà văn mà phải bán đá cục sao ?”, nàng đáp như trả hận cái nỗi nhục phải quỵ luỵ :” Bán đá cục để khỏi bán lương tâm chớ, chú
Ba…”.
Tình yêu của
nàng cứ trôi qua trong những tháng năm phải chống chọi như vậy. Sự bền bỉ và
tận tuỵ của nàng với tình yêu dường như không chấn động được lòng người nhưng
động tới được từ tâm của …ông trời. Cứ bằng vào sự trợ lực , khuyến khích của
chàng và của cả những người xung quanh thì người ta phải
nghĩ tới…Thượng đế, đúng thế, chỉ có Ngài mới giúp được nàng vượt cạn qua trùng
trùng trùng khổ ải, vượt hàng núi những khó khăn, trắc trở trong suốt đằng đẵng
20 năm.. Bất hạnh thay cho nàng, yêu đường đúng vào thời kỳ băng hà của tâm hồn con người
nên tình yêu của nàng thật chẳng khác
con khủng long cuối cùng chưa bị tuyệt diệt. Cứu chuộc được nàng chẳng phải cái
đẹp của tình yêu như người đời thường nói mà chính là cái sức mạnh của cả một
dòng sông chín khúc tiềm ẩn trong những cô gái miền Nam bề ngoài tưởng dịu
dàng, nhẫn chịu mà khi lâm sự “thấy chuyện bất bằng chẳng tha”, sẵn
sàng xù lông, xù mỏ bảo vệ những gì tốt đẹp nhất mà ông cha và dòng họ truyền lại lại cho nàng.
Gia đình bé mọn của Dạ Ngân thật ra chẳng bé mọn chút nào, nó
chứa đựng một dung lượng đồ sộ về đời sống của cả xã hội Việt Nam đương đại, nó
diễn tả cái bi kịch lớn của dân tộc đang diễn ra hàng ngày hàng giờ : cái đẹp,
cái cao cả đang bị cái xấu, cái ti tiện lấn át và tiêu diệt, nó lên tiếng cảnh
báo về sự dãy chết của chủ nghĩa lãng mạn
dưới bàn tay lông lá của chủ nghĩa vị kỷ cực đoan đang lan tràn hiện
nay.Gia đình bé mọn của Dạ Ngân thực sự là một cuốn tiểu thuyết
được diễn đạt bằng thứ ngôn ngữ chắt lọc, nhịp điệu nhanh với lượng thông tin
nén chặt.. Khác hẳn chiều hướng lảng tránh
hiện thực tạo nên một thứ văn chương tào lao đày rãy trên văn đàn hiện
nay, nhà văn Dạ Ngân thực sự đã dũng cảm rọi đèn vào những góc tối, khuất tất
của cuộc sống, làm hiện rõ toàn cảnh bức tranh xã hội đầy nhức nhối hiện nay.
Trong cuốn “ Nhớ lại”, NXB Văn hoá Thông tin xuất
bản năm 2002, nhà cvăn Đào Xuân Quý
viết :” Có lần chúng tôi ở lại Cần Thơ hơn hai tháng theo lời mời của anh
Nguyễn Bá, Tổng thư ký Hội văn Nghê Hậu Giang để mở lớp đào
tạo văn nghệ. Lớp có hơn 40 học viên, nhưng thực ra số năng khiếu không nhiều,
sau này chỉ có Dạ Ngân là cây bút khá hơn cả…”
Qua những sáng
tác của Dạ Ngân trong gần 20 năm sau đó, người ta thấy ông Đào Xuân Quý quả có
con mắt tinh đời…
NHẬT TUẤN
GIA ĐÌNH BÉ MỌN
Của DẠ NGÂN đã được dịch ra tiếng Pháp
Và cuộc gặp mặt ra mắt cuốn sách sẽ được tổ chức vào ngày 25
Tháng Chín 2014 từ 18h30 đến 20h à l’Auditorium de l’Inalco 65 đường des Grands
Moulins 75013 với chủ đề Dịch giả và tác giả.
LỜI MỜI gửi các bạn của DẠ NGÂN & NGUYỄN QUANG THÂN hiện
ở Pháp:
L’INVITATION
de DẠ NGÂN & NGUYỄN QUANG THÂN
Chers amis,
Nous avons le plaisir, Thân et Dạ
Ngân, de vous, nos amis demeurant en France maintenant, informer que le roman
de Dạ Ngân, Gia đình bé mọn, a été
traduit en français par Charlotte Dang sous le titre d’Une
bien modeste famille et qu’une rencontre organisée par la BULAC
et l’Inalco (Institut national des langues et civilisations orientales) se
tiendra le 25 septembre 2014 à l’occasion de la parution d’Une bien modeste
famille (collection Sémaphores, éditions Intervalles / Inalco, 2014). Cette
rencontre s’inscrit dans le cadre du nouveau cycle de conférences de la BULAC
intitulé A la table du traducteur.
Elle aura lieu le 25 septembre 2014 de 18h30 à 20h à
l’Auditorium de l’Inalco 65 rue des Grands Moulins 75013 et aura pour thème
: Un traducteur et son auteur
Elle réunira Charlotte Dang,
traductrice, Phan Huy Duong écrivain et Michel Fournié (Inalco) et sera animée
par Patrick Maurus (Inalco).
Avec le regret d’être absente
dans cette belle soirée, Dạ Ngân espère que vous pourrez participer à cette
rencontre et au « pot » qui la clôturera.
Amicalement,
HCM ville le 9/Septembre/2014
Dạ Ngân et Nguyễn Quang Thân



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét