(tiếp theo và hết)
Tình trạng đó
kéo dài tới một dịp Tết. Tết năm đó tôi được chọn đăng vở kịch vui một màn trên
báo Cải Tạo. Vở kịch nằm trịnh trọng ở ngay trang mười của tờ giai phẩm. Trịnh
trọng hơn nữa là bài của tôi lại có cả họa sĩ minh họa kèm theo tiêu đề chạy
suốt bề ngang của trang báo nữa. Và mặc dù bài xếp chữ cỡ 8, vở kịch của tôi
cũng cũng đã chiếm trọn tới 2 trang. Một bạn xúi tôi:
- Tới đòi
nhuận bút đi ! Báo ra ngày thường thì được chớ báo Xuân số đặc biệt mà không có
xu nào thì vô lý quá.
Tôi nghĩ đến
những điếu thuốc lá, đến những chầu cà phê buổi tối ở cà phê Giảng ở đường Cầu
Gỗ, xen vào đó là tự ái cũng nổi lên rầm rầm, nên bùi tai bèn quyết định làm
một việc mà tôi cho là khó khăn nặng nề hơn gấp bội việc sáng tác. Đó là đi đòi
tiền nhuận bút.
Nhuận bút !
Nhuận bút ! Hai tiếng đó thực tình chưa bao giờ tôi nghĩ tới nó trong suốt mấy
năm khởi sự đi vào làng văn nghệ, nhưng sao Tết năm đó nó lại trở thành những
tiếng ám ảnh tôi mãi không nguôi.
Một phần là vì
những nhu cầu ùa đến trong mấy ngày tết. Một phần khác nữa là vì lòng tự ái
bỗng nhiên nổi dậy thôi thúc ầm ĩ. Không có lý do gì một tờ báo do công lao của
mình góp phần, khi bán ra là thu được tiền về mà mình lại không được chia sẻ tí
ti nào trong đó. Vả lại chẳng thà tất cả mọi bài đã đăng đều chịu chung nhau
một số phận . Đằng này tờ báo đã phân chia tác giả ra làm hai loại, một loại
phải trả tiền và một loại "viết chùa" muôn năm. Tôi thì chưa phải
loại muôn năm nhưng ít ra thì cũng đã hai năm rồi. Hai năm chăm chỉ cộng tác,
đều đặn, có lẽ còn hơn là người được giao phó trách nhiệm một cách chính thức
có trả lương. Mà bài của tôi cũng đâu có thua kém gì ai. Nó cũng chiếm cả mấy
trang báo. Nó cũng được họa sĩ minh họa
tức có hình vẽ đi kèm. Nếu có thua thì chỉ thua có mỗi cái khoản là tác giả của
nó chưa hề được lãnh một xu nhuận bút nào thôi.
Tự ái của tôi
cứ cái đà suy luận đó mà vùng dậy. Bạn bè lại thúc đẩy thêm vào khiến tôi càng
hùng dũng hơn lên. Vả lại cái gì mình muốn thì mình phải nói ra, không nói ai
biết mình "ngứa" đâu mà gãi ! Vấn đề giản dị có thế mà từ bao lâu nay
tôi cứ lúng túng mãi.
Nhưng chuyện
chính yếu là tôi sẽ phải nói ra thế nào cho có hiệu quả đây ? Quả thực, tôi đã
đưa ra không biết bao nhiêu là câu ướm thử, nhưng câu nào tôi cũng thấy là chưa
được trơn tru, ngon trớn:
- Thưa ông chủ
nhiệm, tôi đến xin tiền nhuận bút (Không được, nghe chữ xin có vẻ mất tư cách văn nghệ sĩ quá).
- Thưa ông chủ
nhiệm, tôi đến đòi tiền nhuận bút (Ối chà, tiếng đòi nghe có vẻ chối tai, không ổn).
- Thưa ông chủ
nhiệm, tôi đến lấy tiền nhuận bút (Lấy thì ổn đứt đi rồi, nhưng đã tới lấy thì phải có hẹn trước. Đằng này tôi
có được hẹn hò gì đâu. Vậy cũng là không ổn nốt ).
Sau cùng tôi
nghĩ ra được một câu nghe tạm được. Đó là :
- Hì ..hì…Thưa
ông thế còn cái vụ nhuận bút….
Tôi đã chọn
câu này làm câu "tủ" để nhập đề. Còn sau đó đến đâu sẽ hạ hồi phân
giải. Tôi tưởng tượng đủ hết mọi chi tiết trong cuộc gặp gỡ sắp xẩy ra. Trước
hết là tôi sẽ tới tòa soạn vào buổi sáng. Không sớm quá để ông chủ nhiệm chưa
dậy. Cũng không trễ quá để đụng phải đám đông đảo các văn nghệ sĩ đàn anh như
Nhị Lang, Văn Bình, Kim Sinh…sẽ khó ăn nói.
Đẹp nhất là
vào được lúc tòa soạn không có ai, trước bàn giấy chỉ có mỗi một mình ông chủ
nhiệm ( ông cư ngụ ngay tại đây, vừa là nhà, vừa là tòa báo). Tôi sẽ hỏi thăm
ông trước. Rồi khen đến số Tết năm nay in đẹp, bài vở độc đáo, phong phú. Và
tôi sẽ tiếp :
- Hì ..hì…Thưa
ông thế còn cái vụ nhuận bút….
Ối chà ! Tính
toán công việc mà "suya" ( Sûr = Chắc chắn) như thế thì kết quả không
còn chệch đi đâu một ly ông cụ nào. Hẳn ông chủ nhiệm sẽ toe toét cười:
- A ! Nhuận
bút của "toa" hả. Có chứ ! Đáng lẽ "moa" phải cho vô phong
bì đàng hoàng, nhưng thôi tiện đây cầm giùm "moa" vậy nhé….
Và hẳn là ông
sẽ móc bóp phơi lấy ra những tờ giấy bạc mới tinh đem xòe to như đuôi công đang
múa. Năm chục ? Một trăm ? Hai trăm ? Ồ, cái đó thì chịu không thể đoán được.
Nhưng dù bao nhiêu thì tôi cũng thấy ông ta là một bậc đàn anh văn nghệ rất
điệu nghệ và dĩ nhiên là vô cùng hào phóng.
Kịch bản nói
trên do tôi đạo diễn đã đem lại cho tôi biết bao hăm hở. Tôi đã thao thức suốt
đêm hôm trước, y như sự thao thức ngày nào năm xưa tôi sửa soạn đem gửi cái
truyện ngắn đầu tiên tới tòa báo Giang Sơn ở Bờ Hồ Hoàn Kiếm. Lần này tôi không
tới Hồ Hoàn Kiếm nữa mà phải xuống tận hồ Halais, tức hồ Thuyền Cuông hay còn
gọi là Thuyền Quang cách nhà tôi ở khá xa.
Tuần báo Cải
Tạo nằm ở giữa phố Mongrand (sau đổi tên là Nguyễn Thượng Hiền), cách bờ hồ
Thuyền Quang cũng vài ba trăm thước. Hôm ấy tôi bận một cái quần soóc bằng vải
kaki, chiếc áo sơ mi trắng sọc xanh bỏ vào thắt lưng đàng hoàng chứ không lè
phè phủ ra ngoài như mọi khi. Chỉ còn thiếu đôi giầy tây đi lộp cộp nữa là tôi
ra vẻ một công tử con quan, nhà giầu. Nhưng cho đến năm đó, dù lớn rồi tôi vẫn
không nghĩ đến chuyện xin nhà mua cho đôi giầy tây. Đi giầy tây nom trịnh trọng
quá. Tôi lại không ưa cái tiếng lộp cộp váng cả hè phố như mời gọi tất cả bàn
dân thiên hạ chú ý tới mình. Thế cho nên tứ thời tôi chỉ kéo một đôi dép da của
phụ nữ, mà hình như đã lỗi thời nên bà chị của tôi liệt vào đồ phế thải. Thấy
còn tốt chán nên tôi "thầu" lại để đi một cách ngon lành.
Tôi cũng còn
một đôi giầy bata nữa, nhưng chỉ để dành khi đi
họp Hướng Đạo vào mỗi sáng chủ nhật. Chẳng phải tôi tiết kiệm gì, nhưng
đi giầy bata thường phải kèm theo đôi vớ. Mà vớ thì tôi chỉ có mỗi một đôi. Mỗi
lần đi họp, tôi thúc chân vào, khi trở về tháo ra, nhét đại vào trong giầy chờ
tuần sau mới lấy ra xài nữa. Có lẽ kể từ ngày mua vớ đến giờ, đã gần 9 tháng,
tôi chưa đem giặt nó lần nào. Ngó phần trên thì rất tươm, nhưng ở hai bàn chân
thì nó đóng keo lại, cứng như hồ bột (càng cứng càng sinh ra ngại đem giặt). Đi
vớ kiểu đó thì chẳng mấy hồi những ngón chân sẽ xuyên qua vớ mà bục ra ngoài,
nhất là hai ngón chân cái.
Có một đôi vớ
quý hóa như rứa, không đời nào tôi dám chiềng ra ở giá để giầy, bởi nếu bị khám
phá ra thì tôi sẽ bị chị tôi la rầy, ngay đến cả chuyện sẽ đem mách với Ba tôi.
Cho nên mỗi lần đi họp về là tôi đùn nó sâu tuốt vô tận mé trong gậm giường, để
khi nào cần đến thì lấy cây gậy khều ra. Ôi ! Cái thời niên thiếu nhởn nhơ ấy
sao mà sướng thế !
Trong những
tòa soạn của các báo ở Hà Nội hồi đó mà tôi được biết thì tòa soạn báo Cải
Tạo nom có vẻ bề thế nhất. Nó nằm trong
một khu yên tĩnh của thành phố với con đường hai bên có những hàng cây cao phủ
đầy bóng mát. Căn nhà kiến trúc theo kiểu Tây, có cổng vào rộng rãi, có tường
chung quanh cẩn đá, cả tầng dưới chỉ là nhà phụ thuộc như hầm rượu, bể nước…Hẳn
là thứ kiến trúc mà trước đây chắc người Pháp ở nên mới có.
Khách khứa tới
thăm phải bước lên một cầu thang bề thế, xây bằng gạch, lối lên có bầy chậu
cảnh đang nở hoa. Lên hết các bậc gạch thì khách đặt chân vào một khoảnh có lát
đá hoa khá rộng, có lan can nhìn xuống đường phố, trên thành lan can cũng xếp
đặt những giò hoa đựng trong những chậu sứ tráng men nom rất sang trọng, quý
phái.
Tới đây, khách
sẽ đối diện với một cánh cửa bằng kính rất lớn mà khi bước vào sẽ gặp ngay một
căn phòng rộng mông mênh. Đấy là tòa soạn, có một cái bàn dài chắc là để hội
họp nhiều người. Bàn giấy của ông chủ nhiệm kê tuốt ở phía cuối phòng. Trên mặt
bàn, ngoài những đống hồ sơ cao nghệu tôi còn thấy cả chồng báo Xuân vừa in
xong, chắc là đang chờ phân phối cho nhân viên tòa soạn.
Tôi hơi tiếc
là mình đã tới quá sớm vì lúc này căn phòng vắng ngắt chẳng có ai, kể cả nhân
vật chính duy nhất mà tôi cần gặp. Nhưng dẫu sao, tới sớm có phải ngồi chờ lâu
lắc thì cũng còn hơn là phải trực diện với mấy ông nhà văn, nhà báo vốn đã từng
lui tới nơi này hằng ngày như cơm bữa.
Chị người làm
sau khi bảo tôi hãy ngồi chờ rồi rút êm vào hậu trường để mặc tôi ngồi lại với
cảm giác rụt rè, bỡ ngỡ giữa căn phòng rộng thênh thang, gây gây lạnh. Tôi chợt nhận ra rằng thực tế đã đi ra ngoài
mọi điều mà tôi đã từng dự liệu. Câu nói làm như bất chợt : "À….thế còn cái vụ nhuận bút…" xem
chừng khó áp dụng ở đây. Vì trước đó phải diễn ra một cuộc chuyện trò rôm rả.
Sau khi rôm rả rồi thì mới
…"À"…. được chứ ? Còn bây giờ, tôi đã phải ngồi chờ ở đây. Chờ đợi
tức là cố tình mong gặp. Vậy khi gặp rồi thì biết nói cái gì trước đây ? Ôi
chà, nếu lại vồn vã "Thưa ông chủ
nhiệm, ông có mạnh khỏe không ? " thì nghe vô lý quá !
Thế là đầu óc
của tôi lại phải vận dụng để tìm ra một câu chuyện làm quà nào đó nghe cho
xuông xẻ. Nhưng khổ nỗi giữa ông và tôi chẳng có đôi chút giao tế nào trước đó.
Kể từ ngày có bài đăng trên tờ Cải Tạo, tôi chưa bao giờ nói chuyện với ông một
câu. Tôi đến tòa soạn, bỏ bài vô thùng thư đặt ở dưới lầu rồi lẳng lặng ra về.
Một đôi lần gặp ông Văn Bình, trò chuyện
vài câu hay cũng có khi ông kéo tôi lên lầu nhưng ở đó vốn đang đông người ồn
ào quá nên tôi chỉ là một cái bóng mờ, một tay mơ loắt choắt đeo dính lấy cái
bóng dáng cao lênh khênh của ông.
Rồi thời gian
trôi qua được chừng hơn 15 phút thì ông chủ nhiệm xuất hiện ở cánh cửa thông
với phòng bên trong. Trái hẳn với điều mà tôi vẫn lo lắng là sợ ông ta không
biết tôi là ai, đến làm gì, nhưng ông đã vồn vã khiến tôi vừa ngạc nhiên, vừa
cảm kích :
- A ! Nhật
Tiến hả ? Vào đây….vào đây…
Tôi líu ríu đi
băng qua bề dọc của căn phòng, vốn đã dài mà tôi lại có cảm giác như nó dài hơn
ra. Khi đối diện với ông, ông xòe ngay bàn tay ra theo thói quen để bắt tay.
Ô, cái vụ
"bắt tay" này hoàn toàn bất ngờ đối với tôi vì tôi chưa bao giờ quen
thuộc với cái lề lối xã giao của người lớn này. Bọn trẻ khi gặp nhau thì chỉ là
vỗ vai, huých khuỷu, hay thậm chí còn đá nhẹ vào nhau nữa kìa. Vì thế tôi đâm
ra lúng túng và cảm thấy ân hận rằng mình đã để bàn tay của ông giơ ra ngỡ
ngàng mất đến vài giây. Rồi tôi lại hấp tấp sửa sai ngay bằng cách giơ cả hai
bàn tay ra chộp vội lấy bàn tay của ông lắc đấy lắc để. Và mặc dù lúng túng thế
nào, tôi vẫn nẩy ra một nhận xét là bàn tay người lớn mang vẻ khô khan và sần
sùi. Cảm giác khô khan sần sùi ấy như còn đeo dính ở lòng bàn tay của tôi, ngay
cả lúc ông đã buông ra và chỉ lên mặt bàn ngổn ngang những tờ báo mới :
- Bài của cậu
khá lắm…mấy người khen rồi…Ờ, bài gì ấy
nhì ?
Tôi nhắc :
- Dạ…vở kịch
vui !
- A ! Phải
rồi. Cậu có khiếu lắm về kịch vui đấy nhé. Ráng lên !
Tôi sướng
phổng cả mũi, miệng quíu lại, định mở lời cám ơn về sự khen tặng của ông mà
không kiếm ra được lời, vì vậy tôi chỉ biết diễn tả bằng mắt. Tôi nhìn ông bằng
ánh mắt hoan hỉ, biết ơn và dĩ nhiên đầy cảm tình. Ông lại nói :
- Báo mới đấy.
Cậu lấy đi mấy tờ đem về biếu bạn bè…
Vừa nói ông
vừa rút ở chồng báo ra …hai tờ dúi vào tay tôi.
Ối chà ! Tôi
đã chắc mẩm ở nhà là ít ra thì tôi cũng có được 5 số báo biếu. Năm số này tôi
đã chia phần rõ ràng: Tôi giữ riêng một số, tặng chị tôi và anh Trường Giang
mỗi người một số, phòng khách trong nhà để một số trưng bầy mấy ngày Xuân, còn
một số tôi sẽ xịt nước hoa, đem gói giấy dầu gửi tặng một người quen. Bây giờ
số lượng đó rút xuống chỉ còn có hai theo sự diễn dịch tiếng "mấy"
của ông. Thành ra bao nhiêu tình cảm nồng hậu vừa mới dâng tràn thốt nhiên
nguội băng đi và sự bức bắt đầu nhen nhúm trong tôi.
Tôi không còn
nghĩ gì đến vụ nhuận bút nữa mà chỉ tranh thủ với chính mình là có nên cầm hai
số báo mỏng teo hay là trả lại luôn cho ông ta. Sự suy tính này làm cho phản
ứng của tôi bị chậm chạp đi (và sau này, rất nhiều lần khác tôi cũng vẫn bị cái
phản ứng chậm chạp này gây ra cho tôi những chuyện áy náy hay bực mình). Hai tờ
báo đã dúi vào tay tôi. Tôi đã cầm lấy như một cái máy vô tri cùng với những ý
nghĩ đảo lộn lung tung trong đầu. Ngay khi đó, ông chủ nhiệm vẫn với giọng thân
mật, ròn rã nói với tôi:
- Thôi ô-voa
nhé. Hôm nay moa bận quá….Lo tờ báo Xuân, còn bao nhiêu là việc…
Thế là ông lại
giơ tay ra để bắt tay tôi. Tay tôi bận cầm hai tờ báo vả
nếu không bận bịu về công việc đó thì tôi cũng chẳng giơ ra. Lần này ông chộp
lấy bàn tay kia của tôi rồi lắc lắc. (vậy là huề). Sau đó ông khoác vai đưa tôi
đi ngược trở lại căn phòng mà tôi vừa đi qua trước đấy không đầy 5 phút.
Tôi bước xuống
cầu thang xây bằng gạch với tất cả sự chua cay của kẻ chiến bại. Bao nhiêu dự
tính, bao nhiêu lời cổ vũ thúc giục của bạn bè về cái vụ nhuận bút đã tan đi
như bong bóng xà phòng trong một khoảnh khắc.
Tôi kẹp hai tờ
bào vào nách và đi lủi thủi về phía bờ hồ Thuyền Quang. Gió trên hồ ùa đến, dù
rất lạnh nhưng lại gây cho tôi cảm giác mát mẻ. Chứng đó tôi mới khám phá ra
rằng chỉ trong mấy phút ngắn ngủi tiếp xúc vừa qua, mồ hôi của tôi đã mướt ra
ướt đẫm cả lưng áo.
Tôi ngồi xuống
một ghế đá ở ven hồ. Tôi nghĩ đến cái tỷ lệ 2/5 về những số báo tôi cần có. Cơn
bực tức lại ùa lên làm tôi toan ném luôn 2 số báo xuống mặt hồ. Nhưng suy đi
tính lại, hành động đó thật phi lý. Phải chi tôi làm công việc ấy ngay từ lúc
còn ở tòa báo. Chứ bây giờ đem vứt xuống
hồ thì chỉ có cái ghế xi măng nó biết mà thôi. Thế là phí phạm, thế là quân tử
Tầu, là anh hùng rơm. Không chấp nhận được.
Tôi bình tĩnh
trở lại và thư thả ngồi mở rộng tờ báo ra, ngắm nghía lại công trình sáng tác
của mọi người trong đó. Tờ báo với đầy vẻ quyến rũ đã hiện ra với mùi giấy
thơm, mầu mực mới, những nét chữ tươi tắn, những bức họa tài hoa, tất cả đều
như cùng toát ra một vẻ mê hoặc, đầy quyến rũ của một thế giới mà bao nhiêu
ngày tháng qua tôi đã khổ công tìm cách đặt chân vào. Đó là thế giới của văn
nghệ, của báo chí, của những tấm lòng dào dạt tình cảm và những khối óc đầy
sáng tạo. Dẫu giận dỗi cách nào thì tôi cũng không thể vì một chuyện cỏn con,
nhỏ mọn vừa qua để mà rũ bỏ hết đi một cách phũ phàng.
Tôi mở trang
báo có in bài của tôi. Tôi đọc lại từng dòng, đọc một cách thoải mái, tự do chứ
không phải theo cái kiểu he hé coi cọp ở sạp bán báo mà người bán cứ đuổi quầy
quầy. Tôi sung sướng thấy tên của mình ở đó. Cái tên ấy nằm một cách trịnh
trọng, trang nhã và dĩ nhiên hẳn là mang một ý nghĩa vinh dự, niềm vinh dự của
một nhà…nghệ sĩ có tài sáng tác và tác phẩm của hắn ta được đăng trên trang báo
để gửi tới độc giả bốn phương.
Niềm vui xen
lẫn sự hân hoan hãnh diện bỗng xua tan đi mọi nỗi bực dọc vừa qua. Tôi không
thấy còn lý do nào có đủ vững chắc để khiến cho tôi bẻ bút, quăng báo xuống hồ,
không chơi với văn nghệ nữa. Văn nghệ vẫn là lẽ sống của tôi. Văn nghệ vẫn là
niềm vui của tôi. Văn nghệ vẫn là nhu cầu, là lý tưởng mà tôi sẽ còn phải theo
đuổi.
Tôi nhìn ra
mặt hồ. Mặt nước trong xanh chứa cả một bầu trời có nhiều mây xám ảm đạm. Gió
thoảng nhẹ từ xa thổi vào mang theo cái giá lạnh của một ngày cuối đông đang
bắt đầu hừng nắng. Tôi bỗng chợt thấy lòng dâng lên những cảm hứng dạt dào. Tôi
nẩy ra được một đề tài mới hay ho cho một sáng tác mới. Tôi nghĩ ngay tới ánh
đèn vàng úa của ngọn đèn chong suốt đêm khuya chỉ có một mình tôi cặm cụi với
trang giấy trắng muốt.
Tôi sẽ
viết…viết hoài…viết mãi….
Sài Gòn ngày 18-5-1973
NHẬT TIẾN
Thưở Mơ Làm
Văn Sĩ
* Đã in trọn, từng kỳ trên tuần báo Thiếu Nhi - Sài Gòn năm 1972-1973
* Do Huyền
Trân xuất bản lần đầu tháng 6-1973.
với giấy phép số 1905 PTUDV/PHBCNT/KSALP,
ngày 4-6-1973 .
* Tác giả hiệu đính và in lại tháng 2-2013
tại Nam Cali .