Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, ngày 20 tháng 10 năm 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 108 - Văn chương..."tiền hiện đại" - KỲ 1 - “Bóng đè”…các bác !



 Một dạo , trên một số diễn đàn  xôn xao quanh Tập truyện ngắn “ Bóng đè” của Đỗ Hoàng Diệu, một cây bút nữ “hậu hiện đại “mới xuất hiện.
Do sự kiểm soát gắt gao về mặt tư tưởng trong chế độ toàn trị của Đảng, do những tấm gương trừng phạt tàn nhẫn  rơi xuống đầu nhóm Nhân văn Giai Phẩm ; do bản tính khiếp nhược của  các thế hệ cầm bút và sau cùng mồi ngon bổng lộc đã mua rẻ không ít linh hồn các tài năng – tính từ ngày thành lập nước , văn học Việt Nam mang một căn bệnh trầm kha là lảng tránh hiện thực, rất sợ  viết sự thật , từ đó sản sinh ra một thứ văn chương tào lao, văn chương xi rô, vô thưởng vô phạt . Văn học cách mạng – chống Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội một thời được kéo lên tột đỉnh vinh quang để rồi những cơn bão “thời gian” đã làm tung toé đi hết cũng vì mang căn bệnh đó.
Sau 1975, ở Saigòn các mầm non văn nghệ vốn là con em chế độ cũ lại càng khiếp hãi “các biện pháp quản lý “ mà  các nh văn miền Bắc đang gánh chịu, nên xác định ngay “một lối đi dưới chân mình” – đó là tránh xa hiện thực, tuyệt đối không động tới những cấm kỵ ( tabou) và thế là mấy em hè nhau viết một thứ văn chương ngòn ngọt, văn chương phòng the, văn chương “thanh niên xung phong” -  tạo thành một đội ngũ các nhà văn hạng 2 như Lý Lan, Nguyễn Đông Thức, Đoàn Thạch Biền, Từ Kế Tường ….Trong khi đó, ở miền Bắc các nhà văn Nhân văn- Giai phẩm bị quản lý quá chặt chẽ, khiếp hãi hình phạt , bị cô lập khỏi đời sống nên đã hướng ngòi  bút vào những cuộc thí nghiệm chữ nghĩa ( laboratoires des mots), tự biến mình thành những “phu chữ”, tìm tòi  “ngôn ngữ nghệ thuật mới” - từ đó ra đời một “ công nghệ sáng tác Trần Dần” với đặc trưng là “ xiếc chữ và tránh xa thực tại”. Bởi vậy cái còn lại của nhóm Nhân văn – Giai phẩm  là ý nghĩa chính trị của một cuộc “nổi dậy” của trí thức đòi quyền tự do sáng tác chứ không phải những tác phẩm văn học chứa đựng những khát vọng tự do của họ.
 Sau chiến tranh, các nhà văn chính thống cũng được giảm bớt yêu cầu viết về chủ nghĩa anh hùng cách mạng , nếu muốn, họ có thể mô tả cái “đời thường “nhưng vẫn cấm kỵ “sự thật”. Tuy nhiên nếu đa số các nhà văn vẫn viết trong khuôn khổ “truyện ngắn báo Văn Nghệ” thì một số cây bút ở Hà Nội “võ vẽ” tiếng tây, có thể vào thư viện đọc lõm bõm Apollinaire, Prevert, Saint John Perse…cộng với “công nghệ Trần Dần” đã cho ra đời một thứ thơ “đèm đẹp”, hay hay, xinh xắn như những hòn giả sơn. Chẳng hạn :
Một góc phố êtn là hò hẹn
Một nỗi buồn tên là không tên…”
Hoặc :
Em đi ròng ròng…anatomie…”
                                                         (Dương Tường)
Am ảnh anh từ ảnh em”
                                                          ( L Huy Quang)
Cái thứ thơ “ em rất đây mà em ở đâu “ (Lê Đạt) này Đảng không cấm và cũng không khuyến khích , chính vì không có sân khấu  trình diễn” nên phát triển không mạnh lắm. Những sáng tác của Dương Tường, Hoàng Hưng, Phan Đan, Lê Huy Quang…mặc dù “vô thường vô phạt” nhưng vẫn khó lọt được vào báo Văn Nghệ nên vẫn chỉ đọc thù tạc trong những cuộc gặp gỡ “bỏ túi” hay lan truyền trong sổ tay của các em gái văn khoa.
Sang thời tin học, kỹ thuật photocopy trở nên quá dễ dàng để có thể nhân bản mà truyền tay, các trang web nằm ngoài kiểm soát của nhà nước mở ra nhan nhản. Vậy là đã có “đầu ra” (output) cho các thứ thơ văn “bàng thống” vốn không lọt được  vào cửa báo Văn Nghệ. Phong trào sáng tác  thơ văn “phi quốc doanh” nhờ vậy trở nên rầm rộ. Thơ trong nước được đăng như bươm bướm, được ca ngợi chót vót chín tầng mây trên các trang web Tạp chí Thơ, tiền vệ, talawas…nhất là từ khi các thi sĩ tìm tới một chân trời mới : vấn đề dục tính hay nôm na là chuyện thân xác và giường chiếu”.
Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền Thư… ở Hà Nội , nhóm Mở Miệng ở Sàigon  rầm rộ và kín đặc trên các web với các “sáng tác phẩm” klhông cần viết tắt khi nói tới bộ phận sinh dục của con người. Chẳng hạn, mới đây nhất là :
Nếu bạn uống rượu ở quán Thị Nghè với thịt chó quá xỉn đến mức không thể dụ thằng nhỏ dậy để xóc lọ[lem] hoặc để mấy em gái loe xoe thổi kèn ..” ( Lý Đợi)
 Hoặc :
“Một con cặc tầm thường, nó giữ. Theo cách cha ông dạy bảo vệ, nâng niu-không gì sai sót /nó gồng mình chịu trận dù muốn một phát/ huy xứng đáng cho cặc tính của mình”.  (Bùi Chát ).
Trong các nhà thơ “C..” “L...” này thỉnh thoảng cũng có vài thi sĩ muốn “mó dế ngựa” bằng cách cài đặt vào giữa những câu thơ vài câu chửi cộng sản, chửi chính quyền mà tiêu biểu là Nguyễn Quốc Chánh.  Kỹ thuật này thực ra không có gì mới , đã xuất hiện từ thời Nhân văn –Giai phẩm có tên là ”kỹ thuật gài mìn”. 
Các nhà thơ đề xướng làn cách tân nghệ thuật bằng “sinh thực khí” như vậy, các nhà văn thì sao ? Tất nhiên cái gì phải tới rồi sẽ tới . Mặc dầu có muộn mằn hơn, trên Hợp lưu đã xuất hiện truyện ngắn “Bóng đè” của Đỗ Hoàng Diệu và lập tức nó được các trang web hải ngoại vỗ tay rầm rầm. Bởi lẽ giống như một thứ Nguyễn Quốc Chánh trong văn xuôi, Đỗ Hoàng Diệu cũng mô tả những cuộc mây mưa nồng, c…l…chi li và nồng  nhiệt không thua gì nhóm Mở Miệng , hơn thế nữa còn cài đặt những chi tiết mà chắc chắn đồng chí tuyên huấn đọc thấy sẽ phải đập bàn chửi thề.
Tháng 8-2005, Đỗ Hoàng Diệu đã tập hợp 8 truyện ngắn đầu tay để in thành một tập sách dy 170 trang mang tựa “ Bóng đè” tại Nhà xuất bản Đà Nẵng và sau khi sách ra nó được các bậc chưởng lão “nhiệt liệt chào mừng”.
Nhà văn lâu nay chuyển hệ sang viết …phê bình Nguyên Ngọc bốc thơm :
Và cũng có lẽ một trong những dấu hiệu đáng tin cậy để nhận ra một tài năng văn học là đọc họ ta cảm thấy cứ như bằng trực cảm, bằng một thứ ăng ten riêng , dường như họ nhận ra được và truyền đến cho chúng ta những nghiền ngẫm sâu thẳm về con người  , về xã hội, về đất nước thậm chí về số phận dân tộc mà chính họ về luận lý cũng khong nói ra cho  được. Tôi cho rằng ta có thể chờ đợi ở Đỗ Hoàng Diệu một tài năng như vậy…”
Ghê gớm chưa, còn hơn cả thời ông nhà văn “nâng bi” Nguyễn Huy Thiệp. Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên cũng không chịu kém trong lạm phát ngôn từ :
Bóng đè, cái truyện đứng tên chung cả tập là rất tiêu biểu. Nó đầy tượng trưng, đầy ám ảnh. Nó là cả một thời đại, một lịch sử , một thân phận lớn….Đỗ Hoàng Diệu đã tự mở cho mình một đường riêng vào văn chương…” 
Ong “ngoại đạo” của văn chương, hoạ sĩ Trịnh Cung mới đây cũng nhảy vào khen tán loạn :
”Bóng đè” của chị đột ngột xuất hiện và gây sửng sốt người đọc Việt Nam Sự táo bạo của một nhà văn nữ chưa đến tuổi 30 khi đề cập đến vấn đề tính dục khiến nhiều người shock nặng. Chị rất được đánh giá cao về văn phong cũng như ý tưởng dữ dội về việc nhìn lại qu khứ nhằm từ bỏ những gi trị ảo, những ám ảnh trói buộc đeo đẳng từ thế hệ này sang thế hệ khác khiến những người trẻ không thể thoát ra và đi về tương lai.”
 Còn nhà giáo Phạm Toàn – bút danh Châu Diên, mấy năm nay được “làm mới” bởi xuất hiện đều đều trên talawas thì nâng Đỗ Hoàng Diệu lên thành một thứ “Quyền lực của một cô gái ” ngang hàng Sagan và  Vệ Tuệ .
Tuy nhiên cũng có những tiếng “kèn ngược”, không kể ý kiến “sặc mi quản lý” như  của Phúc Linh trong bài “ Về cái gọi là văn chương đổi mới” đăng trên báo công an :” chúng tôi rất ngạc nhiên khi NXB Đà Nẵng và một số người lại đứng ra làm “bà đỡ” cho loại văn bậy bạ, tục tĩu này được xuất bản.”, rồi  Nguyễn Chí Hoan viết trên talawas :
“…trong tập “Bóng đè”, lấy những chuyện tình dục tình yêu làm môi trường bàn chuyện thân phận đàn bà, rồi từ đó phóng chiếu lên thân phận lịch sử nòi  giống, tính cách và bản sắc văn hoá, thậm chí là mơ hồ một chút gì đó về hoà hợp và hội nhập đương thời v.v... đều mới chỉ dừng ở mức độ có tham vọng luận bàn. Chưa nói đến một năng lực tư duy hay sự hiểu biết cần thiết, chỉ cần nhìn vào cấu tạo thô thiển của văn chương, sự sáo rỗng của một lối tu từ cũng đủ thấy cái văn chương đó chỉ như một ảo ảnh. Theo lối dân gian, văn chương như thế thì “Ốc không mang nổi mình ốc, mà đòi  mang cọc cho rêu”.
Vậy sự thực “ Bóng đè “ là thế nào ?

                                                                      (còn tiếp)



Chủ Nhật, ngày 19 tháng 10 năm 2014

nhà văn NHẬT TIẾN : THỀM HOANG - KY 12



                                          Chương 9

Huệ chưa khỏi hẳn nhưng đã đi lại được ở mấy nhà quanh ngách. Nàng hay bắc ghế ra ngồi ngoài thềm cửa. Một vài lần có người quen đi qua, Huệ lại kéo vào nói chuyện bâng quơ. Nàng bô bô cả chuyện chồng con của mình khi nhác thấy bác Tốn thấp thoáng ở đằng xa:
"Chồng tôi đấy! Chồng ơi..."
"Rõ nỡm chửa kìa! Cưới chồng ở đâu ra mà nhanh thế.”
Huệ chỉ về phía căn nhà lụp xụp của bác Tốn:
"Nhà chồng tôi đấy... chồng tôi cưng tôi, tôi ốm thì mua cả bánh đem cho nữa.”
Có tiếng cười rích lên:
"À! Thằng khỉ gió!"
Huệ phát bẳn lên:
"Nỡm cái nhà bác này! Nói chồng người ta!"
Rồi Huệ cười rúc rích, cổ nàng ngoẹo sang một bên, mái tóc rũ xuống trán và má. Nàng có vẻ thích thú khi nghĩ rằng trong đời sống của mình có một nhân vật mới. Thật là giản tiện, vừa có chồng để nói sướng mồm, vừa không vướng víu, thiệt thòi gì cả. Mà dân trong xóm Cỏ cũng mặc nhiên công nhận tình trạng vợ chồng trời ơi đất hỡi ấy bằng một sự vui thích. Họ không từ bỏ cơ hội nào để có thể được cười đùa. Thỉnh thoảng một người đi qua ngưỡng cửa nhà Huệ lại ngứa miệng hỏi một câu:
"Chồng đâu? Cô Huệ ơi!"
Huệ đáp:
"Chồng không có nhà.”
"Có "đi" không?"
"Khỉ gió đùng lăn nhà bác lắm nữa! Chồng tôi nó ghen lắm đấy biết chưa!"
Sự bông đùa khiến Huệ thấy gần gũi với bác Tốn hơn. Những ngày khỏi ốm, lúc đánh phấn bôi môi đi qua nhà bác, Huệ bắt đầu chú ý đến túp lá tồi tàn nằm im lìm trong bóng tối. Bác Tốn đi hát từ chiều. Cánh cửa bằng nan tre xộc xệch khép hờ hững vào sát thân cây xoan tây mới lớn. Khoảng sân đất nhỏ hẹp trơ trụi mấy ngọn cỏ mọc hoang. Một lu nước thấp lè tè kê trên mấy hòn gạch đặt ở đầu hiên. Căn nhà im lặng đến hoang vắng. Qua khung cửa nhỏ, bóng lối hun hút như một lỗ mắt có chiều sâu. Huệ nghĩ đến sự mù loà của bác Tốn. Một đôi lần Huệ đã định ngắm kỹ khuôn mặt trắng xanh của bác. Nhưng tròng mắt đỏ ngầu lẫn lộn những sợi thịt xanh tím của bác khiến Huệ thấy ghê sợ. Nàng bất giác quay đi để khỏi ghi lại trong đầu cái hình ảnh ấy. Huệ chỉ thấy thích nụ cười nhếch nửa miệng và giọng hát ỡm ờ đáng yêu của bác:
"Cô Huệ ơi...
Nếu cô lấy tôi thì tôi xây nhà gạch hai tầng..."
Huệ nghĩ rằng nếu bác không mù loà thì nàng chẳng ngần ngại gì mà không về với bác. Còn thực tế thì bao giờ cũng chua chát hơn. Huệ chỉ thấy như mình đang nắm giữ một trò đùa thích thú. Thỉnh thoảng đứng trước mọi người, Huệ lại réo tướng lên khi nhác nom thấy bác:
"Chồng tôi đấy! Chồng ơi..."
Bác Tốn tuy nghe thấy nhưng không bao giờ ngoái cổ lại. Bác có cảm giác như tất cả mọi người đang chú ý đến mình. Những tiếng cười rúc rích như xoáy vào lưng, khiến bác thấy xấu hổ muốn chết được. Mặt bác đỏ lên ở dưới nắng. Hai hàm răng của bác cười nhe ra như để chữa thẹn với mình. Hình như bác cũng biết rõ là Huệ cũng chỉ nói đùa. Phải duyên phải nợ thì cả hai đã "bén" từ lâu rồi ấy chứ, đã bao lần bác tự nhủ thầm với mình như vậy! Bây giờ, bác lại tìm ra được mấy câu hát mới, và bác chỉ hát mỗi khi nghe thấy tiếng Huệ léo xéo với mọi người ở ngách trong:
Tôi trông thấy cô...
Tôi buồn...
Tôi chán...
Tôi chuồn...uồn...
Tiếng Huệ lại rít lên ở trong những tiếng cười của chòm xóm làm bác thích chí. Sợi dây đàn bác bật một cách rất ẩu ở trên ngón tay, và bác cũng bật lên cười nghe khì khì có vẻ khoái trá. Ấy cứ chọc qua chọc lại với nhau như thế cũng đủ khiến cho lòng bác thấy ấm áp và trong trái tim thổn thức, bác đã thấy Huệ rất gần gũi với mình. Bác yêu sự chanh chua, kiêu kì của Huệ. Bác nghĩ rằng không lấy nhau mà được đùa với nhau như thế thì cũng đã là sướng lắm rồi. Mà hình như Huệ cũng chia sẻ chung với bác cái cảm nghĩ ấy. Một đôi lần, lúc về khuya đi qua cửa nhà bác, Huệ thấy bác Tốn bắc ghế ngồi ngoài sân. Nàng làm như hai người đã thân thiết với nhau lắm nên nói trước:
"Hát đi bác Tốn!"
Bác Tốn ngẩng lên:
"Ai đấy?"
"Ai chả được!"
"À! Cô Huệ..."
"Hát đi một bài nghe chơi..."
Bác Tốn cười một mình trong bóng tối, mùi phấn thơm thoang thoảng theo gió đưa vào mũi bác. Mặt bác ngửa lên, ngón tay bác gõ vào bầu gỗ:
"Tôi trông thấy cô..."
Huệ dẫy nẩy lên:
"Khỉ gió!"
Bác Tốn tủm tỉm cười, nghiêng mặt về phía có tiếng Huệ nói:
"Hát thế chứ hát làm sao?"
"Ca cải cách đi!"
Bác Tốn liền cất giọng:
"Đêm qua mơ dáng em nâng cung đàn gieo muôn tiếng tơ..."
Bài hát chưa dứt được một câu thì Huệ đã đi thẳng vào trong xóm tự lúc nào. Tiếng guốc lóc cóc của nàng vang lên mặt đá khấp khểnh, âm thanh khô ròn và ngắn gọn vang vọng trong lòng bác một nỗi niềm lưu luyến. Bác ước gì chạy được ngay tới bên Huệ, cầm lấy tay nàng, hôn lên má và trán nàng, rồi ngỏ lời xin lấy nàng làm vợ. Nhưng bao giờ thì những chuyện ấy cũng chỉ là niềm ước vọng. Nó khắc khoải không nguôi trong khoảng tối đen mù mịt như khoảng trời trong đôi mắt của bác. Như đêm dài mịt mùng và mãi mãi bác chỉ hình dung thấy bóng Huệ, thon nhỏ, mặc áo đỏ quần trắng, đánh má hồng đi ở dưới ánh sáng rực rỡ của những ngọn đèn hắt từ ngoài phố vào. Bất giác, một nỗi buồn thấm thía ùa đến xâm chiếm lòng bác. Bác ngồi xuống, ngả lưng vào thành ghế, hai chân duỗi thẳng, mặt ngửa lên trời. Một luồng gió mát thoang thoảng thổi qua cổ và má mơn man. Bác nghĩ đến một khoảng trời bao la và đầy sao sáng. Ngày xưa ở quê nhà, những đêm mùa thu phải đi coi lúa ngoài đồng, hay nằm ở trên gò cao hóng mát thì bác cũng có những giây phút được các làn gió mơn man như thế. Bác còn nhìn thấy những vì sao lấp lánh trên đỉnh đầu xếp với nhau thành những hình thù rõ rệt. Bầy vịt bơi trong giải sông Ngân kéo dài mãi xuống cuối trời. Những chòm sao Mục Phu, Thất Nữ, Thần Nông, Đại Hùng lấp lánh ngang tầm mắt. Ôi! Cái thời còn sáng mắt sao mà hạnh phúc đến thế! Bác vụt thấy lòng khao khát một tia sáng, dù chỉ một tia sáng thôi thì bác cũng đủ hình dung ra được khung cảnh thật sự đang diễn ra ở chung quanh bác hàng ngày. Đã sống quen với bóng tối, lâu lắm hôm nay bác mới lại thấy lòng vụt trỗi lên những cảm giác khổ sở, ray rứt, đớn đau, dằn vặt, giống như cái thời bác mới bị lâm vào cảnh mù loà. Bác Tốn chợt rưng rưng khóc. Từng giọt nước mắt ứa ra ở hai bên bờ mi. Bác châm cho mình một điếu thuốc rồi im lặng ngồi hút trong bóng tối. Đêm về khuya nên cảnh vật yên tĩnh lạ. Chỉ có tiếng xe cộ từ giữa phố vọng về ù ù trong gió. Tiếng võng kẽo kẹt đưa buồn nản vang lên từ mấy nhà chung quanh. Thỉnh thoảng có một chiếc xích lô uể oải đạp qua, lăn khấp khểnh vào lòng ngõ. Mấy người đàn bà bán quà đêm trở về lê dép quèn quẹt trong bóng tối. Bác Tốn ngồi thiu thiu như thế cho đến khi có tiếng người gọi mình ở hàng rào, mới choàng dậy.
"Tốn đấy à?"
"Ai đấy?"
"Tám đây!"
"À! Dượng thằng Ích. Đi đâu về khuya thế?"
Có tiếng ngáp bên tai, tiếp theo là giọng nói uể oải:
"Buồn thì đi làm một quắn xóc đĩa!"
"Được hay thua?"
"Thua! Mà thua cay chứ lị! Mình khát nước hoài.”
"Thôi thì còn canh này, canh khác.”
Dượng Tám chép miệng:
"Ừ! Thì sông có khúc, người có lúc chứ. Này!"
"Gì cơ?"
"Cho mượn mấy trăm nhớ!"
"Có đếch đâu.”
"Thôi đi! Cậu cứ vờ! Tẩm ngẩm tầm ngầm mà giầu nhất xóm đấy!"
Bác Tốn giẫy nẩy lên:
"Gớm! Có mà của đi hót được. Đủ ăn hai bữa là may.”
"Sao bảo cậu có bạc nghìn cơ mà.”
"Đứa nào độc mồm vậy? Tớ mà có bạc nghìn thì chó có váy lĩnh!"
"Ôi dào, người ta nói thiếu gì! Không có lửa sao có khói?"
"Chẳng có đâu.”
Mắt dượng Tám long lên. Giọng nói của dượng đượm sự giận dỗi:
"Thôi thì một trăm cũng được.”
Bác Tốn cười hề hề:
"Nói thật mà, có thì tiếc đếch gì anh em.”
Dượng Tám muốn chửi tục một câu. Dượng đá hòn gạch cho lăn lông lốc vào lối đi để tỏ sự tức giận của mình. Vừa lúc ấy có tiếng người đi vào trong ngõ xen lẫn với tiếng chuyện trò lao xao. Dượng bỏ bác Tốn, hậm hực bước đi, chân nện đôi guốc lên nền đất nghe thậm thịch. Khi tới cổng nhà, con chó đang nằm bỗng chồm lên sủa loạn xạ. Dượng mắm môi nhằm bụng nó đá một cái thật mạnh. Con vật bé nhỏ tung lên cao rồi lăn lông lốc vào bờ rào. Tiếng sủa của nó vang lên, phá tan bầu không khí tĩnh mịch. Sự tăm tối, thản nhiên ở mọi ngách quen thuộc trong nhà khiến dượng có ý nghĩ muốn xòe một que diêm châm đốt cho mọi thứ bùng lên cháy hết. Những ngọn lửa nóng và dữ dội bốc cao phải nóng hơn cái nóng giận đang âm ỉ trong lòng thì lúc đó chắc dượng mới thấy hả dạ. Dượng tiến lại chum nước ngửa cổ tu một gáo đầy. Mồ hôi vã ra lấm tấm ở trán và hai bả vai. Lòng dượng dịu bớt lại. Dượng phanh áo vắt lên xà ngang rồi mò mẫm đi trong bóng tối. Tay dượng chạm phải u Tám nằm ngủ trên phản giữa. Dượng nghĩ đến hình ảnh mũm mĩm của u ngày xưa với làn da thớ thịt mềm mại. Bất giác dượng cúi xuống mò mẫm. Rồi những tiếng cằn nhằn vang lên. Sau đó là một sự im bặt!
Một lát dượng ra đứng quạt ở đầu hè. Bóng dáng cao lớn của dượng che lấp một khoảng trời sáng đục bên ngoài. Chợt có tiếng nói rụt rè từ trong góc tối:
"Thưa dượng đã về.”
Dượng Tám giật mình quay lại. Dượng vụt gắt lên:
"Cái Ngoan đấy à?"
Ngoan rụt rè:
"Dạ..."
"Con chết tiệt không ngủ hay sao mà ngồi làm mẹ gì ở đấy?"
Ngoan không đáp, vội vàng đứng dậy. Nó len lén bước xuống sân đất để đi vòng lên cửa giữa. Nhưng dượng đã gọi giật nó:
"Ngoan!"
Ngoan vội vàng đứng dừng lại, tim nó đập mạnh như một kẻ tội phạm đang chờ người ta tuyên án. Nhưng giọng dượng chợt trở nên dịu dàng như chưa bao giờ thấy:
"Hàng họ của mày ra sao?"
Ngoan đáp:
"Vẫn như thường đấy ạ..."
"Thường là thế nào, có nổi dăm đồng một ngày không?"
Ngoan cãi lại một cách sung sướng:
"Hơn chứ, hôm nào khá thì cũng được hai, ba chục.”
Dượng nói giọng ngạc nhiên:
"Hai, ba chục cơ! Vốn mày những bao nhiêu mà lãi nhiều thế?"
"Vốn thì chả cần nhiều, lắm khi mua được đồ rẻ đem bán đắt là thường.”
"Chả cần nhiều thì là bao nhiêu?"
"Mỗi ngày con cũng chỉ cầm đi tám, chín chục.”
"Sao ít thế? Dạo đầu mày có vốn ba, bốn trăm cơ mà?"
"Vốn thì còn nguyên đấy nhưng con lại gửi u cả.”
Dượng nói to:
"Mày nói láo! Tao có thấy u mày có nổi đến một trăm đâu?"
Ngoan nhanh nhẩu:
"U để dành tiền sắm tết đấy.”
"Dành dụm gì, u mày tiêu riêng hết rồi, còn chó đâu mà để.”
Cái Ngoan thấy tức thay cho u nó. Nó cãi lại như chính nó bị dượng nghi ngờ một cách oan ức:
"Thật mà! U không tiêu một cái gì đâu. Tiền để dành hình như vẫn để dưới chân bát hương trên bàn thờ.”
Dượng Tám gật gù:
"Thế à! Tao lại cứ nghĩ u mày phung phí đi hết rồi. Thôi thế cũng phải. Khuya rồi, mày đi ngủ đi.”
Ngoan lẳng lặng lần đi trong bóng tối. Nó thấy đây là lần đầu tiên dượng nói với nó được một câu chuyện dài như thế. Lúc trèo lên giường Ngoan nghe thấy tiếng ngáy nặng nề của u Tám ở bên tai. Khung cửa phía ngoài in nền trời đục trắng nhờ của một đêm mùa hạ. Có tiếng dượng Tám đi guốc xuống sân đất và tiếng dượng múc nước tắm lịch kịch ở chỗ mấy cái chum. Ngoan nằm một lúc thì hai mắt díu lại. Giấc ngủ êm đềm đến với nó trong những niềm vui nhỏ. Hình ảnh những ánh đèn rực rỡ như đêm hoa đăng chập chờn trong ý nghĩ. Giọng nói êm dịu của dượng Tám thoáng qua mơ hồ bên tai. Ngoan mơ thấy cuộc đời tươi sáng, tràn đầy tình yêu thương, ở đó thằng Ích ăn no rồi đánh đu trên một cành cây cao đầy bóng mát. Miệng u Tám hé một nụ cười. Mặt u tươi tỉnh như chưa bao giờ Ngoan được nom thấy u như thế. Còn dượng Tám thì bận quần áo trắng là phẳng nếp đứng khoanh tay nhìn Ích. Tiếng cười của dượng ròn giã vang lên nghe thành những âm thanh chói buốt. Hàm răng vàng của dượng lộ ra lóng lánh dưới ánh nắng. Ngoan chăm chú nhìn những tia sáng phản chiếu hắt lên mặt đường một mầu vàng ối. Mầu vàng ấy trước sáng, rồi dần dần thành nhạt, rất nhạt, cuối cùng Ngoan có cảm giác như trông thấy dượng đứng bên những ánh lửa héo úa và mặt dượng vụt trở nên hung dữ và độc ác. Nó chợt nghĩ đến những lần dượng xoắn lọn tóc của u Tám vào lòng bàn tay rồi giật đi giật lại. U Tám bấy giờ chỉ như một con vật nhỏ bé, hai tay ôm chặt lấy hai bên mang tai, tiếng khóc của u không bật ra khỏi cổ họng mà chỉ thành những tiếng rên rỉ. Hình ảnh hãi hùng ấy khiến tim Ngoan thốt nhiên đập rất mạnh và nó bàng hoàng như đang đứng trước cảnh thật. Ngoan bừng mở mắt, lưng ép xuống phản gỗ. Nó nhìn ra chung quanh. Đêm đã khuya, căn buồng chật hẹp oi bức và ngột ngạt. Muỗi bay vo vo loạn xạ ở bên tai. Tiếng ngáy của u Tám vẫn đều hoà. Chợt Ngoan vụt nhận ra rằng căn buồng còn sáng lên một thứ ánh sáng khác, héo úa, vàng vọt. Nó xoay người trở lại, nhìn xuống cuối buồng. Ngoan trông thấy dượng Tám đang bưng một cây đèn dầu, đứng lúi húi trên cái ghế gỗ trước bàn thờ. Sự ngạc nhiên và sợ hãi khiến Ngoan nín thở. Nó không hiểu được hành động kỳ quặc của dượng. Mắt nó mở to, tim hồi hộp, chân tay nó như muốn dính liền với tấm phản. Ở đằng này, dượng Tám hình như không biết cái Ngoan đã thức dậy. Dượng vẫn lặng lẽ giơ cây đèn lên soi vào những chỗ ngóc ngách. Mắt dượng long lanh sáng, hai bên lông mày nhíu sát vào nhau nom thật dữ tợn. Ánh sáng của ngọn đèn hắt lên soi rõ hẳn cái trán cao và gồ. Mái tóc bóng nhẫy xoã xuống một bên má. Một tay dượng cầm đèn, một tay dượng khẽ lấy cái que chọc vào những khe nhỏ. Ngoan vụt nghĩ đến món tiền u Tám giấu ở trên ấy. Nó nhận ra rồi, dượng ăn cắp tiền của u nó. Ngoan muốn kêu to lên cho u nghe thấy, nhưng phần vì sợ dượng đánh, phần sợ u Tám cũng bị đòn lây nên hai hàm của Ngoan cứ cứng lại không sao cất được thành lời. Bây giờ thì dượng Tám đã nhấc được cái bát hương sang một bên và mặt dượng lộ rõ vẻ vui mừng. Dượng moi được những tờ giấy bạc mới nguyên nằm sâu dưới chân đế. Sự lúi húi của dượng làm cây đèn chao đi. Bóng tối được dịp đảo đi một vòng che lấp hẳn khuôn mặt dễ ghét của dượng. Ngoan tiếc tiền nên vụt bật dậy. Nó hét lên như vừa nhận được một sức mạnh nào đến giúp nó:
"Dượng... Tiền của u đấy!"
Tiếng hét làm dượng Tám giật nẩy mình, và lần này thì ngọn đèn lộn hẳn qua cái thành gỗ rồi rơi vỡ tan tành trên mặt đất. Bóng tối vụt bưng lấy tất cả mọi vật. Có tiếng u Tám nhỏm phắt dậy và giọng của u hỏi một cách hốt hoảng ở bên tai:
"Ngoan! Ngoan! Cái gì thế?"
Ngoan bật lên khóc. Tiếng khóc của nó làm giọng u lạc đi hơn:
"Sao? Cái gì thế? Ngoan!"
Ngoan giơ tay ra quờ quạng trong bóng tối. Nó sờ thấy vai áo của u. Ngoan ôm chầm lấy u mếu máo:
"Dượng lấy tiền ở trên bát hương!"
Người u Tám bật lên như bị điện giật, u hốt hoảng bổ nhào xuống đất. Có tiếng u vấp phải cái ghế lăn đổ loảng xoảng, đồng thời u kêu thất thanh trong bóng tối:
"Giời đất ơi là giời! Vốn lưng cả nhà còn có ngần ấy.”
Rồi u lăn xuống cuối phòng. Tiếng Ngoan hét lên:
"Đèn vỡ! Đèn vỡ u ơi!"
Nhưng bàn chân u Tám đã dẫm lạo xạo trên mặt đất. Tiếng cạnh sắc của thuỷ tinh vỡ vụn kêu ròn tan dưới sức ép nặng nề của hai gan bàn chân. Cái đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần làm cho cổ họng u như tắc lại. U kêu lên một tiếng "giời" rất nhỏ rồi ngã ngửa ra đằng sau, hai chân u giơ lên cao đạp loạn xạ. Ngoan lật mạnh chiếu lên tìm được bao diêm, nó vội vã xòe một que. Ánh sáng đỏ úa bừng lên yếu ớt nhưng cũng đủ để cho Ngoan trông thấy dượng Tám đứng bối rối ở trên ghế. Mặt dượng hơi tái đi nhưng hai con mắt thì càng long lên dữ tợn. Ở dưới mặt đất còn đẫm dầu, nó thấy U Tám nằm ngửa trong cái thế như còn đang chới với, hai gan bàn chân của u giơ lên cao, dẫy dụa liên hồi và có từng tia máu đỏ lòm ứa ra ở kẽ chân rồi nhỏ xuống mặt đất. Thế là Ngoan oà lên khóc. Que diêm mà nó vừa vứt ra, đảo lên thành một vệt đỏ lừ rồi teo lại. Bóng tối lại bưng kín lấy căn buồng. Dượng Tám tụt nhanh xuống đất, quơ được đôi guốc mộc. Tiếng chân của dượng giẫm phũ phàng lên những mảnh chai. Chỉ một phút, dượng đã ra đến cửa ngoài. Con chó nằm ở bờ giậu hực lên sủa loạn xạ. Ngoan trông thấy dượng mở then cổng hàng rào và lẻn ra vội vã như một con cáo ôm mồi chạy đi mất biệt!


                                         (còn tiếp)

Thứ Bảy, ngày 18 tháng 10 năm 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 107 - “ Gái nhảy”…nhảy lên phim !




Sau Tết, một anh bạn phê bình điện ảnh gọi cho tôi :
” Nghe tin  Bill Gates mới chết chưa ?”.
Tôi la hoảng :” Chết khi nào? Sao lại chết ?”.
Anh  bạn cười rinh rích :
” Ông ấy tự tử chết  ngay sau khi …xem phim “ Thời vi tính “”.
À ra thế , nhưng nếu ông Bill Gates không chết thì chắc tôi …chết. May quá, mới coi được nửa phim tôi đã vội chuyển kênh ti vi coi phim… Hàn Quốc cho vơi nỗi buồn điện ảnh.
“ Thời vi tính” kể về một “ông ngoại miệt vườn” có con trai làm Giám đốc trên phố. Để liên lạc thông suốt, ông Giám đốc cho chở về quê một cái máy vi tính. Thế là từ đó, “ông ngoại” ngày nào cũng nhận được “meo meo” thăm hỏi của con trai. Bỗng một hôm “ông ngoại “ phát hiện ra rằng thằng con nó xỏ mình, nó tặng vi tính để khỏi về quê thăm ông. Thế là ông nổi giận đùng đùng đòi đập bể cái máy “ đánh chữ điện”  ( tức máy vi tính). May thay chưa kịp đập thì cô Út trong nhà nhờ nó mà lên mạng kiếm được…chồng. Thế là “ ông ngoại” đổi giận làm vui, thôi không đòi đập máy nữa. Chuyện xoay qua xoay lại có mỗi cái nỗi giận của “ông ngoại”   ẩm ương mà đại ngôn thành “Thời vi tính” thì không khéo ông Bill Gates có coi cũng đến phải bán cái hãng Microsoft của ông đi thật.
Thế rồi lại thấy báo chí đưa tin ì xèo phim “Lọ Lem đường phố” tức “Gái nhảy 2 đang kéo mọi người ùn ùn tới rạp chỉ trong dịp tết đã thu về  5 tỉ đồng, sơ sơ đã lãi gần 4 tỉ. Thôi thế cũng mừng, ngày xưa, nhân vật trung tâm của điện ảnh Việt Nam là người chiến sĩ cách mạng, coi mãi cũng chán, nay “chị em ta” trở thành “nhân vật thời đại” thì càng chứng tỏ Nhà nước ta cởi mở chứ sao ?
 Lạ thay, khác hẳn với báo chí đưa tin, mới ngoài mồng Mười Tết lấy vé vào coi “Gái nhảy 2” ở rạp Cầu Bông thấy vắng như chùa bà Đanh. Dưới nhà tịnh không một bóng người, trên gác vẻn vẹn có chừng hơn chục cặp trai gái cười nói ngả ngớn, “xem nhau” nhiều hơn “xem phim”. Thôi cũng dành ngồi lại coi kẻo phí 25 ngàn.
Hoá ra phim xào xáo lộ liễu  “ Pretty Woman” của Mỹ, thay ông nhà giàu bằng một “sao” ca nhạc đi tới khách sạn 5 sao  gặp vợ sắp cưới là nữ tài tử điện ảnh. Khi chàng nàng  sắp lên giường “ăn cơm trước kẻng” thì điện thoại di động báo nàng phải đi đóng phim gấp làm anh chồng cáu quá rước ngay một gái làng chơi về thế chỗ vợ sắp cưới.
Sáng hôm sau đút túi “một vé” tiền bo, cô cave ra về thì chàng  phát hiện ra mất cái…nhẫn cưới. Nghi cô kia ăn cắp, chàng tức tốc đuổi theo và thật bất ngờ …chiếc nhẫn vẫn còn trong túi. Từ lúc đó chàng đâm…yêu nàng , đưa nàng đi mua sắm, giúp nàng bỏ nghề gái gọi làm nghề…gái nhảy.
Trong khi đó cô vợ chưa cưới quyết “thâm nhập” vào gái làng chơi, cùng ăn, cùng ở, cùng…hành nghề để có vốn sống đóng vai gái điếm cho sinh động hơn . Sau một thời gian  “nghiệm sinh” quả nhiên vai diễn của cô thành công lớn. Tiếc  thay, khi cô quay lại tìm chồng sắp cưới thì chàng đã tếch theo cô gái gọi hoàn lương mất rồi.
Chiếm 90 % khuôn hình là hình ảnh các em gái trong các loại bộ đồ nghèo vải, trong quán rượu, trong bể bơi, trong phòng ngủ khách sạn…Giá như phim là do mấy anh “đầu nậu” bỏ tiền  câu khách thì chẳng nói làm gì, nhưng đây lại là một phim của Nhà nước, được Cục điện ảnh cổ vũ nâng lên hàng “sản phẩm quốc gia” với các tên tuổi lớn  như đạo diễn Lê Hoàng, nhạc sĩ Dương Thụ, quay phim Lê Hoàng Nam … thì mới thành chuyện.
Ngày 5 tháng 2 , báo Tuổi trẻ “bắn phát súng đầu tiên” mở đầu làn sóng ngược la ó bộ phim mà trước đó họ “lăng xê” không hết lời. Nào “ Gái  bia ôm hạng bèo như cô Hoa lại nhảy đẹp như mơ ở một bar lớn như Champa. Tin nổi không ? Một cô cave có giá 100 đô la một đêm (Hoa) lại ngu ngơ, tưng tửng như một cô nàng nhà quê lần đầu tiên lên thành phố, đi đến đâu cũng bỡ ngỡ đến mức phải nhảy tưng tưng và hét toáng lên. Tin nổi không? Chàng ca sĩ lẫy lừng phải lòng cô vũ nữ chỉ qua một đêm vì cô ấy không "ăn cắp" chiếc nhẫn.Tin nổi không ?”. Nào “tính cách nhân vật dở dở ương ương, anh chàng đã "hèn nhát" từ chối lòng mình khi các phóng viên phỏng vấn về người yêu vũ nữ.Nói chung các cô vũ nữ có... mơ cũng khó thấy nổi loại tình ấy trong đời thường …”. Nào “ Để lấy được tiền tài trợ, đạo diễn không ngần ngại cho khán giả "ăn" những màn quảng cáo sống sượng. Chàng - nàng bỗng dưng... múa một màn quảng cáo cho hãng điện thoại. Để quảng cáo cho một hãng xe hơi, bỗng nhiên... xe của chàng "chạy miệt mài" trên con đường ngập nước.”
Sau bạn đọc đến giới chuyên môn lên tiếng.
Nhà biên kịch Phạm Thuỳ Nhân :
 “Gái nhảy 1”dẫn dắt người xem với một thái độ gần như thích thú đi từ cái nhầy nhụa này sang cái nhầy nhụa khác. Cả bộ phim là một sự phơi bày, khơi gợi những cảnh mà những ai có sĩ diện đều thấy xấu hổ khi phải nhìn thấy những hình ảnh tệ hại của nhân phẩm phụ nữ VN. “ Gái nhảy 2” lại tiếp tục phát triển một lối câu khách bằng việc khai thác cái thế giới nhớp nhúa, hạ nhục phụ nữ như đã từng diễn ra ở tập 1.”
 Ngay đạo diễn Huy Thành, Phó Chủ tịch Hội điện ảnh Việt nam vốn nổi tiếng “ngậm miệng ăn tiền”, nay cũng phải thốt lên :
Nội dung “Lọ lem hè phố” lại bất chấp lô gích thật, tính cách nhân vật thật.  Cứ tưởng như thế là ăn khách thì sẽ ăn... đòn! Thế là đủ rồi đấy! “.
Nhà biên kịch Nguyễn Mạnh Tuấn thì phát hiện :
Phim Lọ lem hè phố gồm 70% là của Người đàn bà đẹp (Pretty woman) và 30% là của Gái nhảy 1.”  
Ông Tiến sĩ nghệ thuật học Đức Kôn cũng lên tiếng :
” cái gọi là tình yêu của một thứ nghệ sĩ nhố nhăng hoà trộn trong cái thế giới đĩ điếm bát nháo (mặc dù chưa là gì cả so với thực tế), được “tái tạo” thông qua một thứ “nghệ thuật” đầy rẫy sự chắp nối, bịa đặt ấu trĩ, phi lý và vô nghĩa, phản ánh chỉ để mà phản ánh... Tóm lại là đối đầu một cách công khai với Chân, Thiện, Mỹ...Những người làm phim, đặc biệt là những “nghệ sĩ tài ba” hẳn là biết rõ mọi sự nhếch nhác này hơn ai hết (?!) nhưng vẫn cứ nghênh ngang “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”? .
Tức giận vì không được chia tiền quảng cáo trong phim, rút cuộc nhà quay phim Phạm Hoàng Nam cũng thừa nhận :
Riêng tôi, trước hết, là một người trong cuộc, tôi không tự hài lòng và cảm thấy có lỗi với khán giả.”
Thế còn Thượng đế ? Họ bày thái độ bằng thôi không móc tiền túi ra coi nữa.
Vậy đã rõ, “ Gái nhảy và Lọ Lem hè phố” thực sự là những sản phẩm làm ô nhiễm môi trường văn hoá chẳng khác gì vứt xác gà chết xuống hồ Hoàn Kiếm. Vậy mà nhà lãnh đạo “bảo vệ môi trường văn hoá” hàng đầu của Nhà nước là bà Cục phó Nguyễn thị Hồng Ngát lại ngồi xổm lên dư luận, công khai trả lời báo chí như đinh đóng cột rằng :” Đó là một phim tốt, nội dung tốt. Cách thể hiện có tính mùi mẫn, hơi cổ tích, xem nhẹ nhàng…”. Rồi bà lại lên giọng cán bộ :”Nội dung chẳng phản động, nên chẳng thể cấm nó được.”
 Vậy là bà Cục phó đã “bật mí” chủ trương của Nhà nước là phàm cái gì “chẳng  phản động” đều không cấm, bất kỳ trơ tráo, đồi truỵ cỡ nào cũng OK, miễn không “đụng tới ghế” của Đảng là được. Cục điện ảnh xưa nay vẫn nổi tiếng khắt khe , khó tính trong kiểm duyệt chẳng khác gì bà mẹ chồng của giới điện ảnh , vậy sao bà Cục phó lại hết mình bảo vệ một bộ phim đồi truỵ vậy ?
 Nguyên ông Thảnh, nhân viên phát hành phim Sàigòn nay nhảy tót lên ghế Cục trưởng , hai năm rồi đã cài được đàn em là “đầu nậu” Thái Hoà về làm Phó Giám đốc Hãng phim Giải phóng. Để hốt bạc, các sếp hùn tiền cho tay chân làm phim câu khách. Bởi thế họ mới trao Huy chương vàng , đưa đi Liên hoan phim Quốc tế “Gái nhảy 1” và ra sức tôn vinh “Gái nhảy 2 “ khi nó còn chưa…bấm máy .
Bà Cục phó Hồng Ngát hăng hái xắn váy lội ngược dư luận chẳng qua cũng  để bảo vệ cái … túi tiền mà thôi. Ngày 7 tháng 2 vừa rồi Hãng phim Giải Phóng…”chân phụ nữ” lại bấm máy một phim mới có cái tựa rất hốt bạc : “ Những cô gái chân dài” với hàng loạt vai diễn do chính người mẫu ngoài đời thật đóng vai: Anh Thư, Yến Ngọc, Ngọc Nga, Xuân Lan, Thanh Hằng, Tống Bạch Thủy….
Đây quả là một tín hiệu đáng mừng cho cả các nhà thơ  “Mở miệng “ “ Mưa móc l…dân tộc” nữa, một ngày nào đó, thơ “ sinh dục ” xuất hiện trên trang nhất báo Văn Nghệ là chuyện nằm trong tầm…túi của các quý vị.

            NT

          12-2-04





YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU - KỲ 153




                 (tiếp theo)



Ong Sáu Thượng trầm trồ :
“ Giỏi vậy kia à ? Ong Bí thư  thuộc rễ nào mà mạnh ghê vậy ?”
Ong Bí thư huyện lắc đầu :
“ Làm sao biết được…chuyện cung đình đến cấp cao như anh Sáu còn chưa biết sao tôi biết ?”
Vậy chắc chắn bà Sáu phải biết, ông Sáu thầm nghĩ, bà vợ ông chắc chắn phải biết rõ ngọn ngành nên mới móc nối được với ông Bí thư thành uỷ mưu sâu kế hiểm này. Càng ngày ông càng  sợ uy lực ngầm của bà vợ, đến ông là người trong cuộc cũng không hiểu hết được đường dây của bà.
Xe chạy ra ngoại ô , đi vào một khu phố vắng và dừng trước một ngôi nhà tráng lệ đèn đuốc sáng choang như toà lâu đài trong chuyện cổ tích.
Lính gác chạy ra mở cổng và xe chạy vòng qua sân trải sỏi, có bồn phun nước, cố cây si cổ thụ  khiến ông Sáu Thượng phải trong mắt tự hỏi ông đang vào nhà ông Bí thư thành uỷ hay Phủ Chủ tịch ở thủ đô Hà Nội đây ?
Một cái thác nước nhân tạo cao chót vót đổ nước xuống trắng xoá , một con kênh đào xung quanh khu vườn hai bên bờ cơ man là những chậu cây thiên tuế, rải rác những lồng sắt bên trong có khỉ gấu và loáng thoáng một con công đang ngủ lim dim. Mẹ kiếp, nội cái vườn này của  cũng trăm tỉ .
Thảo nào mấy lần rút lão về trung ương lão cứ khăng khăng xin ở lại. Đầu gà hơn đuôi trâu mà. Làm vua một cõi còn hơn về triều gầm ghè, dè chừng nhau. Ong Bí thư huyện uỷ ngắm vườn rồi quay sang hỏi :
“ O trung ương có đồng chí nào có vườn được thế này không anh Sáu ?”
Ong Sáu Thượng giật mình :
“ Chắc có chớ…nhưng không phải ở Hà Nội mà đặt ở dưới quê hoặc ngoại thành. Mà sao ông Bí thư này lắm tiền thế ? Mỗi cây thiên tuế bỏ rẻ cũng 5 triệu mà ở đây không khéo cả ngàn cây chứ ít ? Rồi còn bao nhiêu thứ quý hiếm khác nữa ?”
Ong Bí thư huyện lắc đầu :
“ Toàn các huyện các xã biếu hiện vật cả thôi anh Sáu ơi. Đưa phong bì tiền thì ai dám, nhưng biếu cặp thiên tuế thì ai nỡ không nhận. Quà tặng tình cảm mà, có phải đút lót gì đâu ?”
Ong Sáu Thượng lè lưỡi :
“ Một ông Bí thư thành uỷ mà cơ ngơi đã thế này, còn 64 ông Bí thư tỉnh thành khác nữa chết tiền Nhà nước.”
Ong Bí thư huyện uỷ cười khà khà :
“ Ngoài ông Bí thư ra còn có ông Chủ tịch nữa chứ ? Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố giàu mới khiếp ! Cái nước mình tính chi li ra liệu có bao nhiêu ông quan cỡ như ông Bí thư thành uỷ này …”
Ong Sáu Thượng nháy mắt :
“ Thế còn Bí thư huyện uỷ như ông ? Tôi thấy dinh cơ của ông cũng nguy nga kém gì ông Bí thư thành uỷ đâu ?”
Ong Bí thư huyện uỷ vội vàng :
“ Ay chết…anh Sáu nói vậy chết em..nhà em sao so được với nhà Bí thư thành uỷ …”
Rồi ông Bí thư huyện cười khì khì :
“ Mà em đoán chắc nhà Bí thư thành uỷ cũng chưa dám so được với nhà anh Sáu …”
Ong Sáu Thượng lờ đi không trả lời. Tất nhiên những cán bộ ở trên trung ương chẳng dại gì phô trương tài sản như cái anh nhà quê khoe vườn thượng uyển này.Vườn nhà ông không thể bì được với vườn nhà ông Bí thư, ngược lại, những tài khoản bí mật của ông ở ngân hàng nước ngoài , ông Bí thư này làm sao bén gót  ?
 Chiếc xe chạy ngược lên hành lang dốc dừng ngay trước cửa sảnh đường . Một thanh niên vẻ lanh lợi dẫn ông Bí thư huyện và ông Sáu vào ngồi đợi ở bộ xa lông gỗ cẩm lai chân quỳ, khảm trai  đồ sộ.
Phòng khách ông Bí thư thành uỷ này thật độc đáo . Thông thường các ông cán bộ cao cấp thường trưng ngay giữa phòng khách một tủ sách sáng choang, đồ sộ , bên trong xếp toàn sách Mác, Lênin, Hồ Chí Minh dầy cộp, đóng bìa da đỏ, gáy mạ vàng sáng choang. Ai mới bước vào phòng cũng phải choáng ngợp, thầm phục sự ham nghiên cứu học kinh điển cách mạng của chủ nhân mà thật ra từ lúc xếp vào đó cho tới khi chủ nhân được cáo phó trên báo Đảng, chưa một lần sờ tới cuốn nào.
 Riêng ông Bí thư thành uỷ này không thèm trưng bất kỳ cuốn sách nào, ngay cả hình Mác Lê Nin thông thường phải treo trên tường ông cũng không chơi. Tuy nhiên bù lại tất cả những khiếm khuyết đó ông chơi ngay một cái tượng gỗ Hồ Chí Minh ngay giữa phòng.
A ha…thằng nào bảo ông giảm sút lập trường cộng sản cứ nhìn vào pho tượng lia. Nó được đục đẽo từ nguyên một khối gỗ cẩm lai đường kính phải mấy người ôm, cao hơn đầu người ông Bí thư đã khổ công vận chuyển từ mãi trên núi cao xuống rồi cho người vào tận miền nam rước thợ ra đục đẽo tượng bác Hồ toàn thân khéo như bác Hồ thật. Nguyên cái tượng độc đáo này đã kéo lại cho ông Bí thư cái thiếu sót không trưng sách Mác Lê và ảnh Hồ Chủ tịch.
Ong Sáu Thượng ngắm nghía bức tượng bụng thầm khen thằng cha này khôn, bày tỏ lập trường cách mạng thế này thì khó ai theo kịp. Ngước mắt lên tường ông lại thấy không phải tranh ảnh lãnh tụ hoặc huy chương, huân chương mà nguyên một tấm da hổ được gắn lên tường.  Chà…chơi thế này thì cha thiên hạ thật, chắc ông ta mua được con hổ mang nấu cao, lẽ ra phải dấu biến bộ da đi vậy mà lão dám trêu ngươi  thiên hạ treo chềnh ềnh trên tường thế kia thì thật không còn coi ai ra gì nữa .
Ong Sáu Thượng  đang còn nghĩ ngợi lan man, bỗng từ trong bước ra một người làm ông cứ ngẩn người ra. Oi chao ôi, cái thằng người không ra người, ngợm chẳng ra ngợm, lùn một thước mốt, mặt sưng phồng như trái bưởi, hai mắt  thụt sâu, râu mọc be bét trên khuôn mặt chẳng còn ra hàng lối nào khiến người ta nhận ra ngay đây là điển hình của loại người “mắt sâu râu rậm”, đàn bà con gái cần phải tránh cho xa.
Đến khi gã cất tiếng nói mới càng khiếp hãi hơn, giọng hắn bẹt ra, ồm ồm mà lại dinh dính như trong miệng đang ngậm kẹo. Oi chao ôi vậy mà gã lại là Bí thư thành uỷ mới thật khốn nạn cho cái thành phố này. Gã cất giọng u âm như nói từ trong cuống họng :
“ Chào đồng chí…đồng chí chờ có lâu không ?”
Rồi chẳng chờ cho ông Sáu Thượng trả lời, gã đột nhiên đổi giọng, liến láu :
“ Anh Sáu ở trên trung ương kỳ này về địa phương xin đề nghị anh Sáu cho anh em dưới này đề đạt nguyện vọng mới được. Trước tiên là chỉ tiêu thuế,  các bố nã xuống đây quá nặng, ai đời cả cái thành phố này 90 phần trăm là dân nghèo thành thị đâu có nhiều khu chế xuất như Hà Nội, Sàigòn đâu mà đặt chỉ tiêu trên trời vậy ?”
Thoắt cái gã đã xổ ra thao thao bất tuyệt từ chuyện thuế má, lương bổng cán bộ tới giá cả thị trường. Càng nói gã càng tỏ ra một cán bộ mẫn cán của Đảng ,  luôn luôn học tập gương sáng đạo đức của bác Hồ, không thiết gì đến quyền lợi cá nhân cả đời chỉ lo cho dân, đặc biệt trong công tác xoá đói giảm nghèo. Theo phép lịch sự, ông Sáu Thượng cố tỏ ra chăm chú nghe, nhưng rồi càng nghe ông càng muốn cười phá vì những lời lẽ giả dối, đạo đức giả của gã. Sau cùng, ông Sáu Thượng dường như khó kiềm chế, đành buột miệng :
“ Riêng cái vườn  Thượng Uyển của đồng chí Bí thư thành uỷ trị giá mấy chục tỷ ?”
Ông Bí thư thành uỷ kêu lớn :
" Ấy chết...anh Sáu...ai lại quy ra tiền thế . Tôi xin thưa với anh Sáu toàn bộ số cây trong vườn đều do anh em người ta thương tôi mang tới tận vườn cho tôi. Cái đó là tình cảm giữa anh em trong nhà, giữa đồng chí với nhau . Nó là vô giá. Sao anh Sáu nỡ quy ra tiền vậy ?"
Ông Sáu Thượng cười  cười :
" Là tôi nhẩm tính chơi vậy thôi. Ai mà chẳng biết toàn bộ cái vườn thượng uyển kia đều do người ta biếu tặng chứ đồng chí có phải bỏ ra cắc nào đâu ?"
Ông Bí thư thành uỷ chối đây đẩy :
" Anh Sáu nói vậy tới tai mấy ông Ban kiểm tra trung ương thì chết tôi. Đành rằng nó là của biếu, nhưng giá trị lại lớn, nhìn vào thì đồ sộ nhưng có biết đâu  cứ mỗi anh mang tới biếu một cây, nhiều anh tích lại thành cả cái vườn giá trị lớn vậy thôi..."
Ông Sáu Thượng vội vàng :
" Đồng chí Bí thư lo gì chuyện đó. Ở trên trung ương khối ông đi cái xe trị giá còn hơn cái vườn của đồng chí kìa..."
Ông Bí thư reo lên mừng rỡ :
" Đúng đúng...tôi có nghe báo chí đăng ông Chủ tịch Hà Nội đi cái xe bằng cưỡi  một ngàn con trâu...Hì hì...cha nhà báo nào chơi ác quá thế ?"
Ông Sáu Thượng ruột nóng như lửa đốt, chỉ mong kết thúc cho nhanh  công việc để dứt khỏi cái thằng cha lắm mồm, nói dai như đỉa này đi. Kể cũng lạ, xưa nay  cán bộ chính trị đã leo lên tới cái ghế Bí thư thành uỷ như hắn thông thường rất ít mở miệng, cần thiết lắm mới nói vài câu chung chung, vô thưởng vô phạt khỏi dính dáng trách nhiệm là cái anh nào cũng muốn tránh cho xa. Riêng cái thằng cha này ngược lại, hắn lan man đủ thứ chuyện trên trời dưới biển, bình luận văng mạng chẳng cần giữ mồm giữ miệng. Nhân chuyện báo chí, hắn oang oang :
" Xem ra Đảng ta nắm báo chí quá chặt. Tờ báo nào của địa phương cũng đều là cơ quan ngôn luận của Đảng, rồi thì họp giao ban hàng tuần chấn chỉnh uốn nắn từng ly từng tý , rồi thì chỉ đạo định hướng đưa tin vụ này vụ nọ...Mình làm chặt quá riết rồi các báo tự cắt gọt đi , hệt như đúc cùng một khuôn, báo nào cũng giống báo nào, cả nước có hơn 700 tờ báo mà thực ra là chỉ có mỗi một tờ..."
Ông Sáu Thượng ngạc nhiên trợn tròn mắt nhìn ông Bí thư thành uỷ. Quái cái thằng cha này, chẳng hiểu sao lại lên cơn dở hơi thế không biết ? Ai chẳng biết mười mươi là Đảng phải nắm thật chặt báo chí, tuột ra là chết. Một khi báo chí mà được tự do, bao nhiêu chuyện tham nhũng, ăn tàn phá hại của Đảng nó lôi ra bằng hết thì nguy. Bởi vậy  ngôn luận và tư tưởng phải là là món độc quyền của Đảng dứt khoát là không có chia sẻ cho ai,  đó là "phép nước" là cốt lõi của Đảng sao hắn dám to gan lên giọng phê phán ? Tuy nhiên chắc chắn hắn chẳng dám làm cái chuyện tày đình ấy đâu, hắn đưa ra những lời bình phẩm công tác báo chí của Đảng vậy chắc không nhằm phê phán Đảng mà nhằm tới chuyện khác hẳn thôi. Quả nhiên dông dài chán chê rồi ông Bí thư thành uỷ mới vào đề :
" Bởi thế rút kinh nghiệm nơi khác, tôi đã chỉ đạo cho Ban tuyên huấn thành uỷ chớ có can thiệp thô bạo vào báo chí địa phương..."
Hoá ra là vậy....ông Sáu Thượng vỡ lẽ, hoá ra hắn muốn khéo léo từ chối cái việc ngăn không cho Tổng biên tập báo thành phố đăng cái bài đó. Vậy chẳng hoá ra việc dàn xếp của bà vợ ông xôi hỏng bỏng không sao ? Ông không tin chuyện đó, một khi bà đã ra tay thì không có ai là dám nói không, không có việc gì là không thành. Chắc lão Bí thư thành uỷ này nói năng vậy để làm ra vẻ khó khăn, không làm nổi để nâng giá công việc vậy thôi. Nghĩ vậy rồi ông cất giọng tỉnh bơ :
" Đồng chí Bí thư thành uỷ nói rất đúng. Mình cũng phải để cho báo chí được độc lập tương đối, qua đó nắm được tình hình tư tưởng, tâm tư nguyện vọng quần chúng chớ ?"
Ông Bí thư thành uỷ cười  khơ khớ :
" Bởi vậy cái vụ...cái vụ anh Sáu nhờ cậy tôi khó mà thực hiện..."
Ông Sáu Thượng giả vờ ngây ngô :
" Đồng chí nói cái vụ gì kìa ?"
Ông Bí thư thành uỷ cười khẩy :
" ủa...vậy tôi cứ tưởng anh Sáu Thượng lặn lội tới đây là vì...công việc chớ ..."
Ông Sáu Thượng gật đầu :
" Đúng vậy...tôi đến vì công việc nhưng thấy đồng chí Bí thư thành uỷ phát biểu vậy thì chắc là không xong rồi...vậy tôi xin phép về..."
Ông Sáu Thượng vừa dợm đứng dậy, ông Bí thư thành uỷ đã vội vã níu lại :
" Ây..ấy...sao nóng vội thế ? Mời anh Sáu cứ nán lại tôi đưa anh Sáu coi cái này ...anh Sáu chịu khó chờ chút nhé !"
Nói rồi ông Bí thư đi vào nhà trong. Ông Sáu Thượng như mở cờ trong bụng, có thế chứ, không lẽ hắn đã nhận lời để ông cất công tới tận đây mà lại còn giở mặt thì còn trời đất nào nữa. Lão nói vậy chẳng qua làm mình làm mảy tí chút để đòi nâng giá công việc vậy thôi. Không hiểu bà Sáu Thượng đã hứa hẹn cho lão cái gì ? Tiền bạc thì nhất định không rồi. Lão có thể ăn bạc tỷ từ các Công ty trong nước và ngoài nước đóng trên địa bàn thành phố, từ các quan chức cấp dưới, các quận huyện...nhưng với những "sếp" lớn ở trên trung ương cố nội lão cũng không dám nhận phong bì, chắc là một điều kiện đổi chác nào đó mà cả hai bên đều có lợi. Chẳng hạn những vụ việc lão đang bị thanh tra sẽ cho chìm xuồng, hoặc lão sẽ nhận một suất trong đoàn đi nước ngoài để tham quan, đàm phán hoặc ký kết các hợp đồng béo bở. Hoặc giả cũng có trường hợp một tên đàn em của lão đang có nguy cơ gỡ lịch trong tù được miễn tố hình sự và chuyển về cơ sở "xử lý nội bộ"....Việc trao đổi các "tiềm năng của quyền lực" lúc nào chẳng diễn ra sôi nổi giữa các cơ quan của Đảng và Nhà nước và các cơ quan thực thi pháp luật khó mà ngăn chặn được.
Ông Bí thư thành uỷ đã trở ra và đưa vào tay ông Sáu Thượng một tập giấy dày :
" Mời anh Sáu đọc đi !"
Hoá ra là bài báo dự kiến sẽ lên khuôn trong đêm nay và nếu không ngăn chặn sáng mai nó sẽ tung đi khắp bốn phương trời.
" Một quí tử con  cán bộ trung ương đã nổ súng giết chết con trai đồng chí Bí thư huyện uỷ...".
 Mới liếc qua tít bài báo ông Sáu Thượng đã nổi da gà. Càng đọc ông càng toát mồ hôi hột. Không hiểu thằng nhà báo lấy tài liệu ở đâu mà biết chi li ngọn ngành như vậy ? Nào là chỉ vì chuyện tranh giành gái trong quán karaoke mà "quí tử" rút ngay súng ra bắn luôn hai phát vào người nạn nhân. Nào là khi bị bắt, "quí tử" này không tỏ vẻ gì ăn năn hối cải, lại còn khiêu khích cảnh sát rút điện thoại di động gọi cho ai đó ở trên trung ương và chẳng hiểu được hứa hẹn những chuyện gì , hắn cứ nhơn nhơn, tỉnh bơ coi như không có chuyện gì xảy ra.
Đọc xong , ông Sáu Thượng rút khăn tay ra lau mồ hôi đầm đìa trên mặt, ông cố giữ im lặng, tuyệt nhiên không nói câu nào, cứ để mặc cho ông Bí thư thành uỷ đang lom lom nhìn ông. Sau cùng, đưa trả lại bài báo cho ông Bí thư thành uỷ, ông Sáu Thượng lạnh lùng :
" Bài báo viết ...hay đấy, chi tiết đấy .Đồng chí Bí thư thành uỷ nên cho đăng báo ngay sáng mai cho kịp thời !"


                                                                                        (còn nữa)

Thứ Sáu, ngày 17 tháng 10 năm 2014

CHUYỆN XƯA-NAY MỚI NÓI - KỲ 106- NGƯỜI ĐẸP CHO TA BÙA MÊ.



        
                                                                    
             “Chúng ta đã làm quá nhiều chuyện vô liêm sỉ, chịu quá nhiều sỉ nhục, song lại không nhận ra sỉ nhục. Tê dại trơ lì về nhân tính, tê dại trơ lì về linh hồn, cuối cùng mẹ kiếp, ngay đến thể xác cũng tê dại trơ lì  theo, đến ăn nằm với gái điếm cũng không có cảm giác nữa…” ( trích trang 265).

                 Vài năm trước đây, một độc giả đã gửi lên mạng thơng tin tồn cầu :” Nếu muốn đoán biết tình hình bên ta , xin mời bác cứ nhìn sang bên …tàu”. Quả thực, tàu sao , ta vậy, tàu giảm tô, giảm tức, ta cũng giảm tức , giảm tô, tàu cải cách ruộng đất, ta cũng cải cách ruộng đất, tàu mở cổng, ta cũng mở cửa, tàu kinh tế đặc khu, ta cũng đặc khu kinh tế…”. Bởi thế đọc cuốn sách “ Người đẹp cho ta bùa mê” của Vương Sóc viết về chuyện bên tàu lại thấy i sì như chuyện bên ta . Trớ trêu thay, nó lại được dịch và xuất bản ở ngay tại Hà Nội. Phải chăng lại một cuốn sách nữa bị lọt lưới ?
               Vương Sóc thuộc loại nhà văn “lưu manh” ở bên tàu, nhà nước gọi ông là “ một điếm nhục của văn chương Trung Quốc”, “ một kẻ bất lương, bần tiện, vô học và cả thoái hoá nữa”.
              Vì sao vậy ? Cuốn sách này là một lý do. Trước hết, ông đả phá hầu hết những “thần tượng” của văn học cách mạng TQ, từ Lỗ Tấn, Quách Mạt Nhược, Mao Thuẫn, Ba Kim…cho đến hàng loạt các nhà văn hiện  đại như Trương Thừa Chí, Lương Hiểu Thanh…. Các nhà văn , nhà thơ cổ điển ông cũng không tha : Khuất Nguyên, Bạch Cư Dị, Gorki,  Romain Rolland…tuốt luốt  cả. Nhưng cái chính là ông lách sâu vào tính giả tạo và ươn hèn của văn nghệ sĩ trí thức Trung Quốc với những đề mục như  “ Khó sống với trí thức”,“ Sáng tác và đời sống giả tạo” “Tự hèn và thằng hèn”, “ Bợ đỡ cái tầm thường của Kim Dung”” Chính trị hoá tràn lan, ngôn ngữ văn học đi toi”, ông mổ xẻ văn hoá Trung Quốc qua “văn hoá đại chúng”  với các đề mục :” Ai đã tạo ra con khủng long văn hoá?” “ Truyền thống cũng có thể là một trò lừa dối…” vân vân…Ong nhấn mạnh :” Thời xưa, luôn có những kẻ bất lương trong số các nhà văn nhà thơ. Còn ngày nay thì rất nhiều…”.
             Bị giới chính thống đả kích dữ dội, nhưng sách của Vương Sóc bán rất chạy ở Trung Quốc và ở Thượng Hải, ông được độc giả bình chọn là nhà văn được  yêu quý chỉ đứng sau Kim Dung và Lỗ Tấn. Chương sau đây trích trong phần 5 có tựa đề là “ Chuyện vô liêm sỉ”, đọc xong, ta thấy chẳng khác gì chuyện …”bên ta”.


             CÓ MỘT SỨC MẠNH DÃ MAN TRONG ĐỜI  SỐNG

                                        (Đối thoại văn học)


Vương Sóc: ở nước ngoài không như­ thế. Tôi vốn cứ tư­ởng ở nước Mỹ như­ thế. Trong những tin tức mà tôi tiếp nhận được thì vô liêm sỉ và tuỳ tiện về quan hệ tình dục ở nước Mỹ chắc chắn là nhất thế giới. Nh­ưng một khi tôi sang Mỹ, ở đây một thời gian thì mới thấy nước Mỹ không phải thế, người ta rất coi trọng tình cảm và gia đình. Nghề gái điếm cũng rất quy phạm. Xem đi xem lại thì chỉ có chỗ mình đây mới nh­ ư thế. Đây là đặc sản, là độc quyền của chúng ta, hay nói cách khác là thứ vô liêm sỉ tập thể của chúng ta. Tại sao, hiện giờ, chúng ta không thể giữ đạo đức tập thể. Bởi vì rằng quá khứ, để có sự tiến bộ gì đó về chính trị, chúng ta đã bỏ cái ba lô đạo đức xuống từ lâu, đã vứt bỏ l­ương tâm và thành thực từ đời nào, chứ không phải bây giờ mới như ­ vậy.
Lão Hiệp: Đời sống hình như­ đã nhổ tận gốc rễ tính người. Cho nên trong đời sống, cho dù làm biết bao nhiêu chuyện vô liêm sỉ, khi chư­a khôi phục tính người, khi chế độ mới, quy tắc mới chư­a từng bư­ớc xây dựng lại, thì anh đành phải đi đến vô liêm sỉ,  sống trong sự vô liêm sỉ, và còn cảm thấy tự do thoải mái. Chúng ta đã trải qua nhiều khổ đau hoạn nạn, song lại không nhận ra khổ đau hoạn nạn. Chúng ta đã làm quá nhiều chuyện vô liêm sỉ, chịu quá nhiều sỉ nhục, song lại không nhận ra sỉ nhục. Tê dại trơ lý về nhân tính, tê dại trơ  lì  về linh hồn, cuối cùng mẹ kiếp, ngay đến thể xác cũng tê dại trơ lì theo, đến ăn nằm với gái điếm cũng không có cảm giác nữa.
Vương Sóc: Tôi phát hiện việc này cũng có dấu hiệu giảm đi, ít nhất thì trong phạm vi tôi tiếp xúc, tôi dám nói sự việc này đang giảm bớt. Trò chơi những cô gái phục vụ cả ba khâu đã không thấy khoái và kích thích nh­ư mấy năm trư­ớc nữa, không còn ai coi đây là việc lớn nữa.
Lão Hiệp: Giầu đủ lên về kinh tế rút cuộc sẽ đẩy chế độ và đạo đức đi đến đâu? Người Trung Quốc thời cổ nói, ăn mặc đủ thì mới biết lễ nghĩa, có tài sản lâu dài mới có trái tim lâu dài. Như­ng trong sách sử của chúng ta, không tìm được ra bao nhiêu người thật sự biết lễ nghĩa có tấm lòng bền vững, đặc biệt là những kẻ giàu có, nắm quyền, có học vấn lớn. Ví dụ nhà thơ đời Đư­ờng Bạch Cư ­ Dị. Từ lúc còn bé, tôi đã từng được dạy rằng, Bạch C­ Dị là nhà thơ theo chủ nghĩa hiện thực, đồng tình với nỗi đau khổ hoạn nạn của những người ở tầng lớp dư­ới, vạch trần sự đen tối của bọn cai trị: Những bài thơ "Ông bán than". "Người tóc bạc Th­ượng Dư­ơng'! của ông là những bằng chứng. Nh­ưng đời tư­ của ông lại hết sức hoang dâm, tàn nhẫn. Đâu phải chỉ năm thê bẩy thiếp, mà là nuôi gái điếm tơ,  ông ta mua những cô bé mư­ời bốn, mư­ời lăm tuổi đều còn trinh nguyên về nuôi và chơi đến m­ười tám m­ười chín tuổi, hai mư­ơi tuổi. Cảm thấy đã già già, cũng đã chơi chán chơi chê, liền đem những cô gái này ra chợ cùng bán một thể với bò ngựa súc vật cần bán của nhà mình. Đời sống của ông ta giầu có nh­ư thế, song ông ta lại tàn nhẫn với đàn bà như­ vậy, hoàn toàn không coi con người ra gì. Không chỉ Bạch Cư­ Dị, đây cũng là một nếp sống của những gia đình có tiền thời đó. Nghe đâu ăn nằm với những cô gái còn trinh, nhỏ tuổi thì có lợi cho tuổi thọ. Anh bảo ông ta quan tâm đến đau khổ hoạn nạn của những người lớp dư­ới, tôi đâu có tin được ! Ông ta đối xử như­ thế với thiếu nữ, những người đàn bà còn trẻ trạc hai mư­ơi tuổi, già rồi đem bán cùng lừa ngựa, như­ thế là quan tâm đến con người hay sao? Trong con mắt của họ, rút cuộc con người là thứ khái niệm gì? Tôi cứ cảm thấy, cái mà dân tộc này thiếu nhất không phải là của cải, không phải là một hệ thống lễ nghĩa của con người mà là đối xử với con người như­ thế nào, làm thế nào coi con người là người, làm thế nào tôn trọng con người đến lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, thậm chí lợi ích toàn cầu, đối với người Trung Quốc chư­a phải là quan trọng. Điều quan trọng là mỗi con người biết mình là con người, mình coi mình là con người, đồng thời cũng đối xử với người khác là con người. Ngạn ngữ phương  Tây nói rằng: anh đứng lên bảo vệ quyền lợi của người khác bị tư­ớc đoạt phi pháp, tức là bảo vệ quyền lợi của bản thân anh. Ví dụ như­ ở nước Mỹ, nếu cho phép cảnh sát hoặc Chính phủ xâm phạm quyền lợi hợp pháp của một con người, thì coi như­ đã dung túng cho quyền lực xâm phạm tất cả mọi người Mỹ.
        Rất nhiều nhà kinh tế học hiện nay cũng nhấn mạnh, cứ cho người ta giàu lên cái đã, các cải cách sẽ đâu vào đấy, nh­ư nước chảy thành mư­ơng. Giầu lên cái đã, người ta mới biết được, thế nào thế nào, làm đến đâu đến đâu. Tr­ước đây tôi còn tin t­ưởng phần nào lối nói này. Hay nói một cách khác, một tên lư­u manh sống không bủn xỉn  trư­ớc đây, đã trở thành hộ cá thể giầu có. Anh ta diện com lê loại xịn, chân đi giầy da Ilalia, đầu tóc  bóng lộn, thì anh ta sẽ không bao giờ chửi mắng và nhổ bậy một cách tuỳ tiện nữa. Bây giờ càng ngày tôi càng nghi ngờ, có thể giữ vẻ ngoài lịch sự nh­ư không bạđâu nhổ đấy, một khi anh ta giàu lên, anh ta cảm thấy làm như­ vậy không hợp với thân phận của anh ta, không t­ương xứng với danh hiệu có tên tuổi của anh ta. Nh­ưng anh ta lại dùng đồng tiền trong tay đi làm những việc vô liêm sỉ lớn hơn.
Vương Sóc: Việc vô liêm sỉ lớn hơn đó là gì vậy ?
Lão Hiệp: Ví dụ đi hối lộ quan chức, và cả những chuyện tôi vừa nói, còn về chuyện lừa bịp trong giao dịch, thì  chỉ là sự vô liêm sỉ nho nhỏ. “
 Vương Sóc: Tôi cảm thấy không có ai vô liêm sỉ hơn  nữa đâu. Vô liêm sỉ lớn nhất, chúng la đã làm từ rất lâu lắm rồi. Trư­ớc kia cái này chỉ là vì giữ gìn. ở mức độ khác nhau, không thể nói bây giờ vô liêm sỉ hơn trư­ớc kia. Qua thất bại của cuộc đại cách mạng văn hoá, mới thấy chúng ta đã làm những chuyện vô liêm sỉ vào bậc nhất rồi. Bây giờ giàu có rồi thì có thể mang theo một kiểu giữ gìn nào đó, nh­ư  đã là người có tiền thì phải  có đạo đức. Ngư­ợc lại, có thể là trong nội tâm anh ta càng trở nên không có đạo đức . Như­ng trước con mắt người đời,  anh ta vẫn có sự giữ gìn. Anh ta sợ chơi gái bị bắt giữ, bị phơi bày ra ánh sáng, vì nếu bị bắt hoặc là bị tốn của, hoặc là bị giam sáu tháng, một năm. Cho nên bề ngoài, anh ta vẫn ra dáng của kẻ có tiền có của, thế này thế khác. Tôi cảm thấy, nếu hy vọng lấy đạo đức ghép hành vi của con người vào khuôn khổ là chuyện rất khó. Chỉ có những người ­ưu tú cá biệt mới có thể tự ghép mình vào khuôn khổ về đạo đức. Đạo đức  không thể chế độ hoá. Một ông giám đốc xí nghiệp quốc doanh ư­u tú có thể liêm khiết, tự ghép mình vào khuôn khổ. Song tuyệt đại đa số các giám đốc không làm được, nh­ư vậy phải đem chế độ cư­ỡng chế  bó buộc họ. Tôi cảm thấy cách bó buộc chế độ, cư­ỡng chế không thể đư­a vào đạo đức riêng tư­, chỉ có thể xây dựng một thứ đạo đức chung, thấp nhất tới hạn trong nhận thức chung và d­ư luận thấp nhất của xã hội. Thế nào là thấp nhất ? Ví dụ, thứ đạo đức ấy không thể đòi hỏi ai ai cũng phải quên mình cứu người  hoặc giúp đỡ người nghèo. Như­ng thứ đạo đức ấy, lại yêu cầu mọi người không đi chỉnh người, hại người, bẫy người,  không làm tổn thư­ơng đến người khác. Anh có thể không quyên tiền cho người nghèo, song anh không thể kiếm cớ xoáy tiền ở chỗ người nghèo. Nhưng chuyện đạo đức công cộng này lại hết sức nguy hiểm. Vừa mới khoen khoen xây dựng tí chút đạo đức công cộng thì nó lại dễ đi tới xâm phạm  lợi ích cá nhân. Ở  chỗ chúng ta đây, đã có cái truyền thống không tôn trọng lợi ích cá nhân. Một khi hô hào xây dựng đạo đức công cộng, thì ảnh h­ưởng phụ có thể còn v­ượt qua tác dụng chính. Tôi không biết còn có biện pháp gì hơn. Truyền thống c­ưỡng chế trong văn hoá Trung Quốc, đặc biệt thích ứng với bọn người bảo vệ đạo đức. Nh­ưng tôi đã nói rồi, tôi không cho rằng hiện giờ vô liêm sỉ hơn trư­ớc kia, nếu so với chính trị vốn cưỡng bức có tính c­ưỡng chế vô liêm sỉ  thì những vô liêm sỉ hiện nay, tuy  không  cư­ỡng bức người khác, nhưng nó lại vô liêm sỉ hơn trư­ớc kia, điều này thể hiện rõ nhất trong tình dục, nhất là tính dục.
Lão Hiệp: Hút thuốc phiện, một khi đã nghiện rồi, thì hết đời vô liêm sỉ, một khi đã nghiện rồi  thì đạo đức cũng đi toi.Muốn xây dựng lại một thứ gì đó,  phải có nền tảng nhân tính với hạn độ thấp nhất, song hiện giờ không có nền tảng này, vậy xây thế nào đây ? '
Vương Sóc: Về điểm này tôi không có xung đột gì với anh. Xây dựng ý thức đạo đức có tính tập thể, là không có khả năng. Thậm chí, đạo đức công cộng có hạn độ thấp nhất mà tôi vừa nói đều rất khó xây dựng. Có lẽ phải là đạo đức có tính chế độ, biến khuôn khổ thành một cơ chế có thể công bố tr­ước mọi người những kẻ vô liêm sỉ, buộc hắn phơi bày triệt để ra trư­ớc ánh sáng, không  còn mặt mũi nào nhìn thấy mọi người. Biện pháp phạt tiền hiện nay t­ương đối phổ biển. Nh­ưng phạt tiền là lấy vô liêm sỉ đối phó với vô liêm sỉ, không thể coi là hành động có nhiều hiệu quả. Theo tôi, phạt tiền lấy vô liêm sỉ quyền lực trừng trị vô liêm sỉ đạo đức. Cái tr­ước còn vô liêm sỉ hơn cái sau. Bởi vì nó  là hành vi quyền lực có tính c­ưỡng chế, là một thứ hành vi dã man có tính chất gần như­ cư­ớp đoạt. Phạt một người không tuân thủ lệnh đạo đức thông dâm, thì về bản chất chẳng khác gì, vì viết một chữ nào đấy phạm huý của Vua chúa mà bị xử án hoặc đi đầy trong thời cổ Trung Quốc.
Lão Hiệp: Tôi cảm thấy giữ đạo đức sạch sẽ kiểu Xanhgapore gì đó, được một số  người trong nước gọi là mẫu mực. Trật tự đạo đức này của họ dựa vào sự vô liêm sỉ có tính c­ưỡng chế mà xây dựng nên, chỉ có hai từ.  :' Tiền và bạo lực ".
Vương Sóc: Theo tôi việc làm của Xanhgapore gần gũi với quan niệm đạo đức là trên hết của các nước theo đạo Hồi. Nó đã thành khu vực hoá, hạn chế điều này trong  phạm vi thì còn được. Đạo đức tràn lan cũng đáng sợ nh­ư chính trị tràn lan. Nếu nói đây là một phần như­ợc điểm nhân tính, thì anh chẳng có cách nào giải quyết. Tôi cảm thấy, chỉ dựa vào đạo đức là không xong. Bởi vì đạo đức cũng có cái khó của đạo đức Khi dính đến nh­ược điểm căn bản của con người, tôi cảm thấy, chỉ có thể cố gắng giảm bớt, hoặc thu hẹp trọng phạm vi nhỏ nhất. Nếu muốn giải quyết từ gốc rễ, thì cái gọi là phải tái tạo con người mới thì không có cái nào là không kết thúc bằng sự thất bại.
Lão Hiệp: Xã hội định  tạo ra  con người mới, nhưng  kết quả  là  không những không tạo ra con người mới, ngư­ợc lại còn làm thoái hoá con người.
Vương Sóc: Xem nh­ư vậy, thì về mặt tình dục cũng có vấn đề này. Muốn tuyệt nọc hoàn toàn chuyện vô đạo đức trong tình dục, thì chư­a có nước nào thành công. Những thí dụ thành công hiện nay, là hạn chế nó trong phạm vi, quản lý bằng quy  phạm luật pháp. Có lẽ đây cũng là sự lựa chọn không biết còn cách nào hơn của loài người. Nên cuối cùng chỉ có thể làm đến đấy. Về mặt đạo đức thì ít nhất phải làm được nh­ư  kiểu: "không cho là nhục  thì còn được, ng­ược lại cho là vinh thì kinh quá ". Có thể làm tới mức, không cho là vinh thì đủ rồi.
Lão Hiệp: ở Canbela, người Trung Quốc đến đó cũng xây không ít nhà thổ, c­ướp đi  khá nhiều phi vụ buôn bán mãi dâm của người địa phư­ơng Otxtraylia châu Úc. Bởi vì "kỹ viện" của người Trung Quốc giá rẻ hơn. Một người bạn đã dẫn tôi đến một nhà  chứa do người Thư­ợng Hải kinh doanh.  Tôi định thử đi một chuyến xem nó thế nào. Điều khiến tôi hết sức sửng sốt là con trai của ông chủ nhà chứa đã chơi gái trong đó. Tôi hỏi ông, sao không tìm cho cậu ấm một đứa con ở ? ông đáp con ở ở đây đắt lắm. Tôi bảo nghề này của ông chẳng phải hái ra tiền đó sao? Việc gì phải để thằng con sau khi đi học về sống trong môi trư­ờng này? Lúc ấy vợ ông chủ từ nhà trong đi ra, bà vừa hầu hạ xong một khách hàng. Ba người trong nhà họ đều ở trong nhà chứa, khi thiếu người, thì bà vợ thay chân. Mẹ kiếp? muốn có tiền đã phát điên lên mất rồi .
Vương Sóc: Theo tôi, con người nên có một ít tiền, như­ng có những người không hãm nổi tham vọng kiếm tiền. Càng tranh càng hăng, tháng này kiếm được bằng này, tháng sau phải gấp đôi mới xong. Nh­ưng sau khi đã có tiền, tôi không tin  trình độ đạo đức của anh ta  được nâng lên,mà chính là anh ta lo lắng nhiều hơn.
Lão Hiệp: Sự tàn nhẫn vô liêm sỉ nhất thế giới này đều do trí lực gây nên. Con người có thể dùng trí tuệ đi làm những việc vô liêm sỉ. Đặc biệt là ở mặt đối xử với đồng loại. Sự tàn sát lẫn nhau giữa các con vật làm sao có thể tàn nhẫn hơn, vô liêm sỉ hơn sự tàn sát lẫn nhau giữa các con người với con người.
         Hai con mèo đánh nhau, nếu một trong hai con đó cảm thấy con kia hết sức tàn nhẫn, vô cùng vô liêm sỉ, thì chắc chắn sẽ chửi :” Mẹ kiếp , mi vẫn còn thua loài  người". Trong “cách mạng văn hoá ", sự tàn nhẫn và vô liêm sỉ này đã đạt tới đỉnh cao nhất. Sự tàn nhẫn ở Liên Xô  còn giản đơn nhiều so với tàn nhẫn kiểu Trung Quốc. Cuộc thanh lọc lớn chỉ tiêu diệt anh về thể xác là xong. Song kiểu Trung Quốc, thì đầu tiên, làm nhục anh về nhân cách và uy tín , đánh đổ anh, cho anh đi diễu phố, đội mũ chóp cao, đeo giầy rách ở cổ, phê đấu anh trư­ớc cuộc họp hàng ngàn, vạn người, bắt anh phải chửi mình, vả vào mồm mình  trư­ớc dân chúng, cúi đầu nhận tội  trư­ớc đám đông. Việc làm này còn tàn nhẫn hơn nhiều so với chuyện thủ tiêu về thể xác.
Vương Sóc: Tôi cảm thấy, sự vô liêm sỉ về đạo đức hiện nay của chúng ta, chắc chắn rất phổ biến ở nước Trung Quốc cũ. Rất nhiều người không thích điều đó, họ đòi thay đổi. Cho nên Trung Quốc đã mô phỏng cuộc cách mạng kiểu Liên xô  thời đó nêu khẩu hiệu “ Tạo ra con ngư­òí mới, con người xô viết…,".  Hơn nữa, họ còn tin  tưởng, chỉ có xã hội chủ nghĩa xô viết  mới tạo ra được con người mới. Họ định cải tạo tính
người từ gốc rễ. Như­ng mục đích “cao thư­ợng” này  lại được thực hiện bằng cách  không từ thủ đoạn nào nên cuối cùng đã tạo nên địa ngục trần giàn và sự 'đổ vỡ mất mát về nhân tính. Bây giờ không còn ai tin vào cái giọng điệu, cái lề lối ấy nữa, mà đã  trở về một tiêu chuẩn đạo đức cơ bản nhất: Làm người chỉ cần tôn trọng của công, giữ gìn pháp luật là được, các sinh hoạt riêng tư ­ khác hoàn toàn là chuyện của cá nhân.
Lão Hiệp: Cái lối  lấy hành chính can thiệp vào đời sống riêng tư­ của con người trong truyền thống của Trung Quốc đã chết đâu mà bảo nó cháy lại. Trong đời sống hiện  giờ vẫn còn hàng loạt việc làm can thiệp này. Khi anh nhất định chỉnh người trị người, nhất định có nhiều người nhìn thấy chuyện  hai mắt sáng bừng, vui sư­ớng tới mức  vung chân, múa tay lên cho mà xem.
Vương Sóc: Nó sẽ chuyển đổi lời kêu gọi về đạo đức thành sự giám sát khống chế và xử phạt hành chính một cách nhanh chóng và có hiệu quả. Cuối cùng sẽ khôi phục ngay lập tức những thứ đã diễn ra trong thời kỳ cách mạng văn hoá". Ví dụ "luật thông dâm", để có chứng cớ về chuyện thông dâm, thì phải mò vào chân tư­ờng, nghe trộm, theo dõi, viết báo cáo tố giác. Đội trinh sát bắt giữ vốn nhởn nhơ chơi dài của Uỷ ban đ­ường phố sẽ có xông bừa vào nhà lục soát bất ngờ. Sự qua lại giữa đàn ông và đàn bà sẽ trở lại thời đại hoảng hốt sợ hãi, cuối cùng chẳng còn gì là chuyện riêng tư ­ kín đáo của cá nhân nữa. Mà bây giờ vừa mới bắt đầu có chút không gian dành cho cá nhân, mọi người được ngồi với nhau tán chuyện của cá nhân; cá nhân cũng  được quyền giữ kín chuyện riêng không cho ai biết. Đã có sự tôn trọng lẫn nhau, vào nhà phải gõ cửa. Trong khách sạn, nhà trọ cũng không đột nhiên có cảnh sát xông vào. Nếu dùng sự hỗn loạn về tính dục làm cái cớ, lấy lý do duy trì trật tự đạo đức để khôi phục cái lối ngày xưa  đã từng làm, thì khi cảnh sát xồng xộc vào lục soát, anh sẽ chẳng có cách nào từ chối được, không có cách nào giữ được mình.
Lão Hiệp: Hiện giờ nếu nó định làm nh­ư vậy, cũng vẫn làm được, bất kể anh đang ở nhà nghỉ, hay trên đ­ường phố hoặc ở nhà riêng. .
Vương Sóc: Cho nên trong đời sống của chúng ta vẫn còn có một sức mạnh dã man, phi lý tính hoặc hoàn toàn không có lý tính. Ở những nơi có lý tính ví dụ nước Mỹ có hô hào đạo đức đến đâu cũng chẳng sao . Song chỗ  không đáng sợ của nó là  ở chỗ nó có một thứ lý tính được thể chế hoá để kìm giữ và hạn chế. Bất cứ một bộ luật mới nào đ­ưa ra, thí dụ hạn chế đùng súng, đều phải thảo luận đi thảo luận lại nhiều lần. Hơn nữa, phải thực hiện có hiệu quả ngay, hạn định trong phạm vi nào đó, không được đe doạ và xâm phạm đối với các quyền lợi khác. Còn ở chỗ chúng ta đây, quả thật đang tồn tại một sức mạnh dã man, anh cứ cho nó một cái cớ là nó trỗi dậy trở lại. Tôi vốn cứ tư­ởng đã tư­ơng đối an toàn rồi, như­ng một số sự việc gần đây đã khiến anh luôn có cảm giác nó sẵn sàng quay trở lại, nếu anh hơi sơ suất không chú ý đã cho nó một cái cớ, hoặc tự bản thân nó kiếm cớ, thì chỉ trong chốc lát lực l­ượng dã man ấy sẽ được huy động ngay. Đến lúc ấy, thì bung bét hết cả, mù quáng cả nút. vẫn
có nhiều người bị nó sai khiến, còn phần đông người không chống lại nổi. Một khi nó đã đến, thì song song với việc quét sạch cái này, cũng quét sạch theo rất nhiều thứ khác nữa, đại đa số người ta đành phải nghe theo...
Lão Hiệp: Đúng là như­ vậy. Cảm giác mà anh vừa nói, mặc dù anh vận dụng dáng vẻ nào,dáng vẻ lư­u manh  cũng được, cỡ có máu mặt của văn hoá đại chúng cũng được,
dáng vẻ tuyên chiến với văn hoá đại chúng như­ hiện nay cũng được, đều không tách khỏi một bối cảnh lớn. Cảm giác không an toàn là cảm giác của toàn thể, ai ai cũng có, giống nh­ư  thời cách mạng văn hoá, to như­ ông Lư­u Thiếu Kỳ, chủ tịch Nhà nước thì đã làm được gì nào? Vẫn chẳng phải bảo nhục nhã là nhục nhã, bảo hạ bệ là hạ bệ, bảo hành hạ đến chết là hành hạ đến chết đấy sao ­? Vận mệnh của ông ấy có tốt hơn một thư­ờng dân nào đâu , có khi còn thảm hơn  là khác. Ví dụ cuộc họp phê đấu  gì đó...
Vương Sóc: Tôi không cảm thấy Lư­u Thiếu Kỳ thảm như­ thế đâu, thảm nhất, thảm  hơn vẫn là những người dân thư­ờng. L­ưu Thiếu Kỳ đã chết oan, thì rồi còn có ngày được sửa sai, bây giờ đến ngày gì đó, còn tổ chức kỷ niệm. Chứ dân thư­ờng thì cứ im thin thít, nh­ư một con kiến bị dẫm chết. Thời tôi đi bộ đội, mới 18 tuổi, có thời gian ở Học viện Quân y .Trong viện có ba cái ao to, toàn ngâm xác người chết để giải phẫu. Chúng tôi đứng tre n bờ nhìn người khác dùng móc câu, cứ chốc chốc lại móc lên một xác. Móc lên một xác thì nói, đây là đặc vụ quốc dân Đảng; móc lên một xác nữa, lại
bảo đây là một tên phản cách mạng. Họ móc lên xác nào thì chúng tôi lại giúp đặt lên bờ. Họ vừa móc xác vừa giới thiệu, đây là ai, kia là ai, đều bị bắn chết cùng một lúc, ngâm xác trong ba cái ao to ấy. Mỗi khi mổ xong, anh em vớt những xác ấy lên, đi  găng tay vào, luyện nắm đấm trên thân họ. Trên những thi thể ấy đều chi chít các mũi khâu, đã ngâm mấy năm rồi. Lúc ấy tôi mới 18 tuổi, không có cảm giác gì ớn lắm,  nh­ưng mẹ kiếp, sau chục năm qua đi... bây giờ hễ chợt nhớ lại là cứ rùng mình rợn tóc gáy. Cái thứ ấy một khi đã quay đầu trở lại thì chống chọi không nổi, quả thật không
thể chống chọi nổi. Cái mông to ấy nặng gớm lắm, không ngồi lên đầu anh, thì ngồi lên người anh cũng đều rất đáng sợ.  Cho nên tôi đành phải tránh xa một chút và nh­ ư thế đã làm cho quan điểm và lập trư­ờng của chúng ta dừng lại ở đây. Lâu dần tôi cảm thấy đã trở nên vô cùng tê dại, trơ lì….


        NT
      30-4-03