Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, ngày 02 tháng 9 năm 2014

YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU - KỲ 147




                              (tiếp theo)





Ông Bí thư huyện vội vàng :

“Thôi được , thôi được ...Bà cứ lo thu xếp hai gói quà đặc sản địa phương cho hai thày trò đồng chí Sáu còn để mặc tôi tiếp chuyện ...”

Bà Chánh văn phòng muốn dự cuộc gặp giữa Bí thư huyện và ông Sáu Thượng để nghe ngóng tình hình, vội kiếm cớ :

“ Báo cáo anh, em đã lo xong rồi, giờ phải vào văn phòng tìm số liệu cho đồng chí Sáu Thượng...”

Ông Bí thư huyện giật mình :

“ Số liệu gì ? Sao vừa nãy đồng chí ấy ghé tôi không thấy nói gì ?”

Bà Chánh văn phòng tròn mắt. Hoá ra ông Bí thư huyện đã đón ông Sáu Thượng về nhà riêng rồi. Chắc lại “đút lót” gì để thoát tội đây mà. Ghê gớm thật. Làm thế nào lão đã kịp mua được cả cán bộ cao cấp ? Kiểu này lão vẫn ngồi lại ghế Bí thư khoá tới là cái chắc. Nghĩ vậy, bà liến láu :

“ Báo cáo anh, đồng chí Sáu Thượng chỉ cần số liệu về tình hình phát triển Đảng ở huyện ta trong 6 tháng đầu năm thôi. Cụ thể kết nạp bao nhiêu đảng viên mới, đưa lên chính thức bao nhiêu , đoàn thanh niên giới thiệu bao nhiêu cảm tình Đảng ?”

Ông Bí thư huyện thở phào :

“ Được được, nếu chỉ lấy những số liệu đó thì tốt , chị cứ tập hợp . Còn những chuyện khác khác thì phải qua tôi...”

Bà Chánh văn phòng cười mỉa :

“ Chuyện khác là chuyện gì kia ạ ?”

Ông Bí thư huyện cau mặt :

“ Cô này lạ nhỉ ? Chuyện đó là những chuyện nhạy cảm như là chống tham nhũng, chống lâm tặc, tinh  thần đoàn kết nội bộ ... Khi cung cấp những số liệu đó nhất thiết phải qua tôi. Có thế thôi mà cũng phải hỏi...”

“ Dạ...em nhớ rồi, nhớ rồi...”

Bà Chánh văn phòng đáp vội rồi ba chân bốn cẳng chạy lên phòng khách nơi ông Sáu Thượng và gã thư ký vẫn ngồi chờ. Lúc này đã có một cô tiếp tân trẻ đẹp, tha thướt áo dài bưng đồ uống tới làm gã thư ký quên cả thủ trưởng ngồi bên cạnh, cứ hau háu nhìn vào thân hình bốc lửa. Cô cười chúm chím :

“ Anh với bác có cần gì nữa không ạ ?”

Gã thư ký như bị hút hồn , hổn hển :

“ Cảm ơn...cảm ơn em ...giá mà...giá mà đổi cái ly cam vắt này thành bia ướp lạnh cho anh thì...tốt...tốt lắm...”

Cô tiếp tân nháy mắt :

“ Dạ có ngay ...tưởng anh cần gì chớ..bia thì dễ quá...anh chờ em  chút...”

Nói rồi cô uyển chuyển đi vào phòng trong, thân hình ẹo qua ẹo lại trên đôi guốc cao gót làm gã thư ký cứ há cả miệng. Ông Sáu Thượng bực mình, nhắc nhở :

“ Mày phải nhớ giữ cho nghiêm tư thế cán bộ cấp trên xuống thăm cơ sở !”

Gã thư ký cười hềnh hệch :

“ Chú Sáu yên trí đi....con hiểu mà...”

Ông Bí thư huyện bước vào cung kính cúi chào :

“ Chào anh Sáu ạ...xin lỗi anh tôi mắc việc dưới cơ sở không về ngay được làm anh Sáu phải chờ....”

Ông Sáu Thượng vội vàng :

“ Không sao...không sao...tôi chờ bao lâu cũng được miễn lấy được cái...”

Ông Bí thư liếc nhìn thấy bà Chánh văn phòng đang giỏng hết cả hai tai lên đón từng lời, vội vàng cướp lời :

“ Ấy ấy...anh Sáu chờ cho một chút có ngay có ngay...kìa đồng chí Chánh văn phòng đi tập hợp số liệu để đưa anh Sáu cho kịp về đi...”

Ông Sáu Thượng ngạc nhiên :

“ Cái gì ? Số liệu gì kìa ?”

Ông Bí thư huyện nhanh nhảu :

“ Dạ...báo cáo anh số liệu về cảm tình Đảng, số mới kết nạp và số các đồng chí mới được đưa lên chính thức. Báo cáo anh , phát triển Đảng đang là thế mạnh của Đảng bộ chúng tôi đấy ạ...”

Ông Sáu Thượng xua tay :

“ Khỏi khỏi...tôi đâu cần những thứ đó. Để lần sau nếu có đợt kiểm tra công tác tổ chức thì mới cần...”

Bà Chánh văn phòng mừng rỡ :

“ Vậy là đồng chí chưa cần các cái đó ạ. Vậy thì chúng em còn thời gian để chuẩn bị báo cáo kỹ lưỡng hơn nữa ạ...”

Cô tiếp tân đã mang bia vào. Gã thư ký nhấm nháy, gỉ tai cô chuyện gì đó làm cô cười rũ chạy khỏi phòng. Gã thư ký xin phép ông Sáu Thượng đi “nắm tình hình” rồi chạy theo cô. Ông Sáu Thượng nhìn theo lắc đầu :

“ Cái thằng này...tới đâu là quen đó...”

Bà Chánh văn phòng cười nịnh :

“ Báo cáo anh Sáu như vậy mới gọi là đi sâu đi sát quần chúng chứ ạ.”

Ông Bí thư huyện cũng chêm một câu :

“ Thanh niên bây giờ mạnh dạn dám nghĩ dám làm lắm. Như thế hệ tôi với anh Sáu còn rơi rớt tư tưởng phong kiến nên chuyện nam nữ kiêng kỵ lắm. Như các cụ ta ngày xưa nói “nam nữ thụ thụ bất thân” mà...”

Ông Bí thư trò chuyện cốt câu giờ đuổi khéo bà Chánh văn phòng để ông còn đưa cái giấy bãi nại. Ngờ đâu bà này gan lì, nhất quyết ngồi ì  để coi hai ông cán bộ Đảng trao đổi gì với nhau. Bởi vậy bà lại gợi chuyện :

“ Đồng chí Bí thư lại còn thông cả chứ Hán nữa kìa. Mà câu đó nghĩa là gì vậy đồng chí ?”

Ông Bí thư đành trả lời cho qua chuyện :

“ Nghĩa là trai gái phải đứng xa nhau ra không có được chạm vào người nhau...”

Bà Chánh văn phòng reo lên :

“ Chính như vậy mới giữ được quan hệ lành mạnh, chứ như bây giờ, mới nứt mắt còn đi học lớp 9, lớp 10 đã cặp bồ cặp bịch, phá thai tùm lum. Như chúng tôi ngày trước phải giữ trinh tiết cho tới ngày đi lấy chồng chứ như bây giờ, nếu điều tra thì con gái cứ đến tuổi choai choai 14, 15 là mất trinh hết rồi...”

Ông Bí huyện sốt ruột, cau mặt :

“ Chị nói thế nào ấy chứ, từ hai năm nay huyện ta phát động phong trào học tập theo gương bác Hồ vĩ đại trong toàn huyện Đoàn nên đã cơ bản hạn chế được hiện tượng yêu đương quá sớm trong nhà trường, trên địa bàn huyện tuyệt đối không còn trường hợp nạo thai nào ở tuổi vị thành niên hay là chưa có gia đình. Chị là Chánh văn phòng huyện uỷ sao lại phát biểu hồ đồ như vậy ?”

Bà Chánh văn phòng huyện bị sếp phê bình trước mặt cán bộ cấp cao nên vội cãi lấy cãi để :

“ Đồng chí Bí thư nói rất đúng, trên địa bàn huyện ta tuyệt đối không có ca phá thai nào ở tuổi vị thành niên hay là chưa chồng nhưng không phải là không có chuyện quan hệ tình dục bừa bãi. Xin thưa với đồng chí là khi cần “khắc phục hậu quả” bố mẹ các em đưa về Hà Nội hết , đời nào họ chịu đưa tới bệnh viện huyện làm chuyện đó để rồi miệng tiếng ầm ĩ…”

Thấy hai người có vẻ găng nhau, ông Sáu Thượng vội vàng can ngăn :

“ Thôi thôi … tôi thấy không nên đi sâu vào chuyện này…thế nào cũng có một Hội nghị chuyên đề về vấn nạn trong học đường này, lúc đo các đồng chí tha hồ tranh luật…”

Vừa lúc đó gã thư ký mặt đỏ gay vì bia, chạy vào nhăn nhở :

“ Báo cáo thủ trưởng chắc mình phải ở lại đến sáng mai mới về được !”

Ong Sáu Thượng giật mình :

“ Sao lại sáng mai. Lại ham vui đòi ở lại hả. Thôi được, vậy tao về trước cho kịp sáng mai họp giao ban, cho mày ở lại …”

Gã thư ký không nao núng, vẫn cười :

“ Chú lại nói oan con rồi. Xe mình bị chết cái bình điện, phải sáng mai mới mua được  bình khác thay chớ phải do con ham vui đòi ở lại đâu ?”

Ong Sáu Thượng kinh ngạc :

“ Bình điện hỏng thật không ? Sao xe mới chạy tới đây vẫn còn tốt kia mà ?”

“ Thì tới giờ tới phút nó hỏng sao biết trước được ?”

Gã thư ký nói xong nháy mắt với cô tiếp tân vừa bước  vào.

Nhìn hai đứa nhấm nhá nhau, ông Sáu Thượng hiểu ngay cái lý do xe hỏng. Hoá ra gã thư ký đã kịp “làm quen “ với cô tiếp tân và đêm nay có “đánh chết’ gã cũng không chịu về. Thôi cũng đành chiều gã , ông gật đầu :

“ Thôi được, hỏng xe thì ngủ lại chứ biết làm sao, nhưng mày phải gọi điện nói rõ cho bà ấy biết không lại tưởng tao ham vui ở lại đi tìm của lạ,,,”

Gã thư ký mừng rỡ :

“ Vậy thì nhất thủ trưởng. Con sẽ gọi cho “sếp bà” liền. Mà không gọi cũng chẳng sao. Xưa nay ai chẳng biết   thủ trưởng là tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, chẳng những cần kiệm liêm chính, chí công vô tư mà còn … lành mạnh trong sinh hoạt nữa, “ cơm nhà…má vợ”, tuyệt đối là không có cái khoản …gái gú nọ kia… kia nọ…”

Cô tiếp tân đi tới nói nhỏ vào tai gã thư ký điều gì đó khiến gã cười rú như phát rồ . Bà Chánh văn phòng cau mày :

“ Con bé nó nói thầm gì với anh thế ?”

Gã thư ký cố nhịn cười , đáp :

“ Nó bảo bình của chú hết điện rồi…. Sạc cũng chả được… giờ có bầy ra trước mắt chú cũng chịu không “can thiệp” được vào chuyện…nội bộ…”

Rồi gã quay sang cô gái :

“ Nhầm chết…em cứ thử..cứ thử bầy ra chú coi xem ….chú “nắm vững hai điểm trên đi sâu vào điểm dưới liền”…hé…hé…”

Ong Sáu Thượng ngượng đỏ cả mặt. Thằng nhãi ranh này ra vẻ “tinh tướng” khoe mẽ với  con bé kia, cậy thế tay chân thân tín của vợ ông nên nó chẳng coi ông ra cái gì. Ong uất máu lên mà không làm gì được, đành theo nó cười hề hề cho qua chuyện. Ong Bí thư huyện liếc đồng hồ sốt ruột, quay sang bà Chánh văn phòng :

“ Vậy là đồng chí Sáu ở lại huyện ta sáng mai mới về. Không mấy khi huyện ta có vinh dự được tiếp đón , bởi vậy chiều nay chị sắp xếp để Ban thường vụ huyện uỷ mời cơm thân mật đồng chí. Sau đó bố trí đồng chí nghỉ lại phòng đặc biệt nhà khách huyện uỷ.”

Bà Chánh văn phòng lắc quày quạy :

“ Báo cáo đồng chí Bí thư, nhà khách huyện uỷ đang có Hội nghị tập huấn phát động phong trào học tập đạo đức cách mạng Hồ Chủ tịch cho các đối tượng cán bộ xã nên xô bồ lắm. Em đề nghị đưa đồng chí Sáu ra nghỉ khách sạn khu “Rì sọot” ạ.”

Ong Bí thư đuổi khéo bà Chánh văn phòng :

“ Hoàn toàn nhất trí với đề xuất của chị. Để đồng chí Sáu Thượng ra ngoài khu đó nghỉ ngơi cho yên tĩnh. Vậy chị đi ngay thu xếp đặt thức ăn nhà hàng và thông báo cho các đồng chí Uỷ viên thường vụ tới dự đúng giờ và không ai được vắng mặt…”

Bà Chánh văn phòng “báo cáo rõ” và hớn hở ra khỏi phòng. Ông Bí thư huyện kéo tay ông Sáu Thượng sang phòng ngách kế bên. Đây chắc là phòng cơ mật nhất của Bí thư huyện uỷ khi cần làm việc riêng với vài người thân tín nên  phòng hẹp chỉ kê vừa đủ cái bàn viết và vài cái ghế ngồi. Ong Bí thư liếc ra cửa phòng, yên trí chỉ có hai người , mới trịnh trọng mở cặp rút ra tờ giấy :

“ Báo cáo đồng chí Sáu tôi xin gửi đồng chí giấy bãi nại cho cháu về nhà đây ạ…”
           Ong Sáu Thượng cầm tờ giấy lên đọc. Quả thực, văn bản được soạn thảo rất chặt chẽ, nêu rõ cả nguyên nhân vì sao bãi nại và có cả hai chữ ký của vợ chồng ông Bí thư huyện. Ong Sáu Thượng ngạc nhiên :

“ Tôi tưởng bà nhà vừa lúc trưa phản đối quyết liệt lắm kia mà ?”

Ong Bí thư huyện cười cười :

“ Báo cáo anh lúc đầu quả có căng lắm. Bà khăng khăng không chịu . Sau rồi tôi phải làm công tác tư tưởng mãi đấy ạ. Ay cũng phải lúc thì cương, lúc thì nhu, lúc viện lý lẽ, lúc lại dùng tình cảm riết rồi bà ấy mới chịu ký đấy ạ…”

Ong Sáu Thượng nhẩm tính từ lúc bà vợ ông Bí thư quát tháo đuổi khách ra khỏi nhà tới lúc ông Bí thư huyện chạy tới đây không quá nửa tiếng đồng hồ, vậy ông làm sao thuyết phục bà nhanh vậy được ? Chắc chắn là ông ta giả mạo chữ ký của vợ đây. Liều lĩnh thật, sau này bà ấy kiện, Toà cho giám định chữ ký thì mọi việc đổ bể hết rồi liên luỵ đến cả ông. Thấy ông Sáu Thượng ngần ngừ không nhận tờ bãi nại , ông Bí thư huyện hiểu ý, nói như đinh đóng cột :

“ Anh Sáu yên tâm đi.Anh cứ đưa tờ bãi nại này sang Sở công an là tụi nó phải thả cháu nó ra. Tôi xin cam đoan giá trị pháp lý của văn bản này…”

Ong Sáu Thượng cất tờ giấy vào cặp, cười gượng :

“ Thôi được, tôi cứ giữ đây rồi trao đổi lại với bên nghiệp vụ. Có thế nào sẽ báo anh sau….”

Ong Bí thư huyện ngập ngừng :

“ Vậy là về phía tôi đã hoàn thành nhiệm vụ…chỉ mong anh Sáu lo giúp…lo giúp cho cái vụ thanh tra và dự kiến nhân sự đại hội khoá tới…”

Ong Sáu Thượng cười, gật đầu :

“ Anh yên tâm…tưởng gì chứ cái chức Giám đốc Sở văn hoá thông tin  thì trong tầm tay rồi còn gì…”

Ong Bí thư huyện mừng rỡ, đổi ngay cách xưng hô  :

“ Thật vậy ạ ? Nếu được vậy em ơn anh Sáu suốt đời. Sau này mọi chuyện ổn thoả em sẽ tạ ơn anh Sáu…”

Ong Sáu Thượng gật gật :

“ Được rồi…được rồi…Mọi chuyện cứ như vậy đi…”

Ong Bí thư huyện rối rít cảm ơn rồi xin phép về để sửa soạn tối nay dự tiệc. Ong Sáu Thượng lôi ngay gã thư ký vào phòng riêng, chìa ra bản bãi nại :

“ Mày coi, chữ ký vợ thằng Bí thư có phải giả không ?”

Gã thư ký xăm xoi tờ bãi nại rồi gật đầu :

“ Giả đứt đuôi đi rồi. Chú không thấy mụ đuổi thày trò mình ra khỏi nhà như thế nào à ? Mụ tha không ném cà chua , trứng thối là may, còn lâu mụ mới ký !”

Ong Sáu Thượng lo lắng :

“Vậy chữ ký này là giả à ?”

Gã Ký Quèn gật đầu :

“ Giả đứt đuôi đi rồi. Có điều chồng giả chữ ký vợ. Mặc kệ họ, không dính dáng gì tới mình. Với cả công an nó chỉ cần tờ bãi nại này để  có cớ thả cậu Hàm ra. “

“ Nhỡ sau này mụ ấy đi kiện là chữ ký giả thì sao ?”

“  Mụ ta chưa điên đến mức đập bể nồi cơm của chồng. Mai kia lên chức phu nhân Giám đốc Sở văn hoá thông tin có khi còn khen chồng mạo chữ ký là sáng suốt ấy chớ ?”



                                                          (còn nữa)

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 71 -… VU CÁO CHÍNH TRỊ, MẬP MỜ HỌC THUẬT.






                                                                               

 “ Vu cáo chính trị – Mập mờ học thuật” -   là tựa đề bài báo nảy lửa của GS-TS Mai Quốc Liên “phản pháo” hai thư ngỏ của GS-TS Nguyễn Huệ Chi đăng trên mạng TALAWAS ngày 5 và 6 tháng 3 - 2008 . Hai ông Giáo sư - Tiến sĩ một ông ở Hà Nội , một ông ở Sàigòn tuy “đối thủ” của nhau, nhưng đều là cán bộ Nhà nước kỳ cựu.

Nguyên vào ngày Hội thơ rằm tháng giêng năm đó, tập thơ Trần Dần mang bán ở Văn Miếu thì bị …ách lại, đình chỉ phát hành . Đó là một hành động thách thức dư luận nên ngay lập tức một nhóm nhà văn – nhà thơ trong đó có Nguyễn Huệ Chi thảo “Thư ngỏ” gửi Nhà nước yêu cầu giải toả lệnh cấm và lấy chữ ký của nhiều người. Tiếp đó , ông kể lại diễn biến xoay quanh việc cấm sách và vạch mặt chỉ tên kẻ ném đá giấu tay “ton hót cấp trên” không ai khác chính là GS-TS khả kính Mai Quốc Liên :

 “Theo những nguồn đáng tin cậy thì việc ngưng lưu hành cuốn Trần Dần - Thơ trước sau chỉ dựa vào một căn cứ duy nhất là Quyết định của ông Giám đốc NXB Đà Nẵng hủy giấy phép xuất bản do ông Nguyễn Đức Hùng, Phó giám đốc kiêm Tổng biên tập ký…Chúng tôi nghĩ cũng có thể có chuyện “trống đánh xuôi kèn thổi ngược” trong nội bộ NXB, nhưng chuyện “dàn dựng ra một vụ việc” là khả năng lớn hơn… Các quy trình như nộp lưu chiểu, chờ thẩm định đều đã làm xong đâu vào đấy, rồi khi đem phát hành trong Ngày thơ Việt Nam thì mới sinh chuyện. Có thể đây cũng vẫn là hậu quả của một cú điện thoại như thông lệ vốn có trong mấy chục năm nay; chẳng hạn ông X hay một ông trong cái “nhóm người bất hủ” - mà cả nước đều biết rõ - nổi hứng gọi cho A 25 và Cục Xuất bản rằng Trần Dần – Thơ có vấn đề, thế là dù đã có giấy phép hẳn hoi và mọi công đoạn đều đã trót lọt, sách cứ nhất thiết... phải ngưng phát hành. Chuyện ấy là chuyện của thời Trung cổ (trước Đổi mới) thế mà vẫn nghiễm nhiên tồn tại đến nay và hứa hẹn sẽ còn tồn tại lâu, thế có kỳ quặc không ?”

Người ta thừa hiểu rằng cái “nhóm người bất hủ” – mà cả nước đều biết rõ đó chính là nhóm các GS - TS  Mai Quôc Liên – Trần Trọng Đăng Đàn – Trần Thanh Đạm – Vũ Hạnh  như một thứ “tứ quái Sàigòn.” mà trong thư ông Nguyễn Huệ Chi còn mênh danh là “đội quân thính nhạy” cầm đèn chạy trước ô tô  và đòi “phải được dẹp bỏ, và các vị thượng cấp phải biết rằng cứ tiếp tục chấp nhận cách làm này là đáng xấu hổ, không xứng đáng là người cầm quyền”

Trong lá thư thứ hai đề ngày 6 tháng 3, ông Nguyễn Huệ Chi tiếp tục vạch mặt kẻ “ton hót giấu mặt” :

“Tôi được một người bạn thân cho biết: trong cuộc họp của cái gọi là Hội đồng Lý luận Phê bình Trung ương do Ban Văn hóa Tư tưởng đẻ ra cách đây một thời gian, vừa diễn ra hôm qua, để nhìn lại tinh hình sáng tác văn học nghệ thuật của nước nhà ít lâu nay, ông X đã lên tiếng phê phán gay gắt cuốn Trần Dần - Thơ và ông Y cũng có đế theo tuy giọng không nặng nề bằng. Như vậy là dự đoán mà trong thư hôm qua tôi gợi ý với các anh chị rằng có một cú điện thoại nào đó gọi cho “cấp trên” nên mới sinh chuyện là có cơ sở và nay đã có lời giải chính xác. Còn nhớ bộ Từ điển văn học - Bộ mới của chúng tôi phát hành vào trước cái Tết năm 2005 cũng đã bị một cú điện thoại của đúng kẻ ấy khiến phải ách lại đúng 10 ngày và sau khi không tìm ra điều gì để gán cho tội "phản động" về nội dung như cú điện đã báo, NXB cũng phải nhận phạt 5 triệu đồng vì "sai phạm hành chính" (nhan đề sách không khớp hẳn với giấy phép) rồi mới được đưa ra thị trường.

Tôi đã xem phim La vie des Autres và không khỏi rùng rợn vì mạng lưới "an ninh văn hóa" ở những nước xã hội chủ nghĩa sao mà giống nhau đến thế, nhưng hình như loại người tha hóa về phẩm cách, tự nguyện làm “khuyển mã” ở Việt Nam thì còn khủng khiếp hơn ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu nhiều lần vì đó là thứ khuyển châu Á vừa bẩn thỉu, nham hiểm, vừa lì lợm, trơ tráo và man rợ mà ta không tài nào dùng ngôn từ để miêu tả được. Tôi không còn chút băn khoăn nào về cái lý do "mâu thuẫn nội bộ trong NXB" mà vài hôm trước nghe dư luận đồn đại còn hơi phân vân nghi ngờ. Vì thế, mặc dầu hôm nay, trong một cuộc gặp mặt, nhiều anh em cho rằng đây là một hiện tượng rất mới, trước nay chưa có, trong việc đối thoại công khai với nhà cầm quyền, về quyền được tôn trọng của người trí thức, tôi lại nghĩ, điều quan trọng giờ đây không chỉ còn là yêu cầu nhà nước hành xử một cách văn minh, theo đúng luật pháp, đối với các sáng tác văn học nghệ thuật, mà là làm thế nào chấm dứt vĩnh viễn cái cơ chế sinh ra lũ người-khuyển “đánh hơi văn hóa” như một nhu cầu tất yếu. Chỉ có như thế đời sống văn hóa, tinh thần của đất nước mới mong có cơ khấm khá lên được. “

Gần một tháng sau khi ông Nguyễn Huệ Chi công bố hai lá thư trên mạng Talawas, mới đây, ông GS-TS Mai Quốc Liên mới viết bài “phản pháo” ngày trên tờ Hồn Việt do ông làm Tổng biên tập. Ong viết :

“Ông Nguyễn Huệ Chi, trên một mạng nước ngoài, khi nói đến Thơ Trần Dần, có “nhã ý” tặng tôi câu chuyện: vì có cú telephone của tôi mà cuốn sách bị ngưng phát hành. Ban đầu, tôi thấy ông gọi tôi là “ông X” (cũng có thể do ở mạng mà tôi nhận họ dè dặt để thế, còn một nhà nghiên cứu thì cho biết anh đọc thấy thẳng tên), nhưng sau đó, trên e-mail thì ghi MQL. Đây là một sự bịa đặt hoàn toàn, trắng trợn, (và dại dột - điều này tôi sẽ nói dưới đây), một sự vu cáo chính trị, bởi vì ông Nguyễn Huệ Chi đang đưa đơn đến nhiều cơ quan công quyền về cuốn Thơ Trần Dần.

Xin nói ngay là: tôi không hề biết, và cũng không hề liên quan gì đến cuốn Thơ Trần Dần. Đến lúc nó in ra, nhân ngày Thơ Việt Nam, một vài tờ báo đưa tin về nó, tôi mới biết. Rồi tôi chuẩn bị gấp gáp ra Hà Nội tổ chức cuộc họp Hội đồng Khoa Học của Trung tâm Nghiên cứu Quốc Học nghiệm thu 15 công trình của Trung tâm, đồng thời dự một số cuộc họp khác, nên không hề quan tâm đến chuyện này.
Lấy đâu ra cú téléphone trong hoang tưởng của ông Nguyễn Huệ Chi? Cái cú téléphone ấy gọi ngày nào, cho ai, ông đã nói ra chắc nịch như thế thì hẳn ông phải có chứng cớ. Ông có dám đưa chứng cớ ấy ra không?
Ông lại còn bịa đặt nữa rằng, trong cuộc họp Hội đồng Lý luận - Phê bình TƯ, tôi nói về vụ Thơ Trần Dần. Cuộc họp ấy chỉ diễn ra trong vòng 2 tiếng để bàn về Quy chế và Kế hoạch của Hội đồng, tuyệt nhiên tôi không đả động gì đến Thơ Trần Dần cả, một từ cũng không. Biên bản, ghi âm, và tất cả các vị có mặt buổi họp 6-3 tại số 7 Nguyễn Cảnh Chân còn đủ. Ông Huệ Chi moi đâu ra tình tiết ấy? Ông Nguyễn Xuân Đức, Chánh Văn phòng Hội Đồng Lý luận - Phê bình TƯ cho tôi biết hôm 14/3 rằng ông ta đã điện thoại cho ông để xác quyết là tôi không hề nói gì về Thơ Trần Dần trong các cuộc họp và ông Xuân Đức sẽ cải chính tin này trên báo.
Thông tin của ông một lần nữa lại sai, và sai theo hướng có chủ định, để vu cáo. Ông cho rằng, vì tôi gọi điện thoại mà cuốn Thơ Trần Dần bị đình chỉ lưu hành, trong khi ai cũng biết nó chỉ bị “phạt vạ” vì thủ tục giấy tờ in ấn sao đó.
Không những dựng đứng sự việc, cái nguy hiểm là ông Nguyễn Huệ Chi lấy đó làm cái cớ để viết những lời thóa mạ tôi đủ điều, với một giọng hằn học, thô bỉ, rất không xứng đáng với một người có học, nhưng lại rất xứng đáng được đưa ra tòa vì tội vu cáo và mạ lị người khác, theo Điều 175, của Bộ luật hình sự nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Như vậy, tóm lại, đây là một vụ dựng đứng, không tiền khoáng hậu nhằm mục đích vu cáo và hạ sát cá nhân.

Nhân đây, tôi cũng xin bày tỏ tóm tắt thêm về thái độ của tôi đối với ông Trần Dần, thơ Trần Dần... Khi tham gia Hội đồng xét Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Quốc gia về văn học của Hội Nhà văn, tôi bỏ phiếu tán thành ông Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm… giải Quốc gia, chủ yếu là vì muốn giải toả, chấm dứt một vụ việc kéo dài, nói đi nói lại, chứ chất lượng văn học thì không ai đặt ra, và ở đây ý kiến có thể rất khác nhau mà cũng không phải là để “xin lỗi các anh ấy” như có người nói; rồi mạng nước ngoài đưa tin Chủ tịch sám hối ký lệnh giải thưởng cho các ông ấy! Riêng trường hợp Phùng Quán thì ở Hội đồng sơ khảo không đưa lên; tôi phải nhắc và đề ra quy chế: Hội đồng, trong trường hợp đó, sẽ biểu quyết 2 lần: lần thứ 1 có đồng ý đưa người ấy ra xét giải không, và lần thứ 2 biểu quyết phiếu có đủ quy định không (9/11). Trường hợp ông Trần Dần còn có câu chuyện là ở Hội đồng sơ khảo (cũng đều do nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội làm chủ Hội đồng), do quên ông Trần Dần, ông Thỉnh phải chạy theo mời Hội đồng họp lại. Nhưng vẫn quên phứt Phùng Quán…Chuyện ông Trần Dần – và Nhân Văn với tôi đại loại là như vậy. Chuyện này chẳng có gì đáng kể và tôi cũng không cần nói với ai để làm gì, nhưng ông Nguyễn Huệ Chi vu cáo, thì tôi kể ra cho vui, cho rõ. Làm sao có thể nghĩ rằng trong Hội Đồng tôi bỏ phiếu cho ông Trần Dần, rồi lúc in thơ ông ấy tôi lại chủ trương thu hồi. Không thể có chuyện, và không hề có chuyện tôi gọi điện, gởi thư, phát biểu… để ngăn cản phát hành. Đó là chuyện tôi không biết, không để tâm, thế thôi. Mà chuyện trục trặc trong phát hành cuốn thơ này là do thủ tục hành chính ở Nhà xuất bản, nó xảy ra trước cuộc họp của Hội Đồng Lý luận – Phê bình.

Như thế là chuyện này đã rõ.

Tuy nhiên đó chỉ là ý kiến ông  Mai Quốc Liên trắng đen ra sao vẫn cứ phải chờ phái ông Nguyễn Huệ Chi lên tiếng.



   NT






Thứ Hai, ngày 01 tháng 9 năm 2014

Nhà văn NHẬT TIẾN ; Tiểu thuyết THỀM HOANG - KỲ 3



                                  (tiếp theo)

                                Chương 2

Ở đường cái rẽ vào là tới ngay đầu xóm Cỏ. Có những mái lá nứt rạn chìa ra lối hẹp. Vào những ngày mưa, lòng xóm hoá ra lòng cống, khi nước rút đi thì ngập bùn và rác rưởi. Mùi tanh nồng theo gió thoang thoảng bay đi. Mỗi lần đêm về, lối ngõ tối hun hút như một cái miệng có chiều sâu. Một vài ngọn đèn dầu đỏ đòng đọc lùa ánh sáng qua kẽ vách không soi hết những mô đá khấp khểnh nhô lên giữa mỗi vũng bùn đen quánh. Ở đấy về đêm có từng bóng áo trắng thấp thoáng sau mấy cái thùng xe đậu rải rác. Khách tìm hoa chụm đầu vào nhau thì thào. Que diêm bật lên rồi tắt ngóm. Ánh sáng teo lại theo tàn than rồi bóng tối lại tiếp tục bưng lấy tội lỗi một cách hối hả, vội vàng.
Dạo ấy, dân xóm Cỏ làm đủ mọi nghề của một tầng lớp thấp kém. Đạp xích lô kiêm nghề ma cạo, bán hàng rong không hẳn là nghề chính thức, thợ mộc, thợ hồ, hót rác, hát dạo và cả ăn mày nữa, tất cả quây quần trong những túp lều tồi tàn, ẩm thấp. Cuộc sống dữ dội và ồn ào bắt đầu ngay từ lúc mây hồng mới rạng ở trên nền trời và kéo dài cho tới quá nửa khuya. Vào buổi tinh mơ, đã có những bóng người lố nhố chụm đầu quanh ngọn đèn đất vàng vọt ở cái quán nghèo đầu ngõ. Họ trao cho nhau những ca nước nóng hổi, những đĩa xôi, bát cháo còn nghi ngút khói. Chiếc điếu cầy rít lên sòng sọc, cháy đỏ ở trong từng góc tối.
Đến lúc trời sáng hẳn thì trong ngõ là thế giới của lũ trẻ con. Hàng dăm chục đứa lốc nhốc, bẩn thỉu chen chân nhau ở bên lề cống. Dưới tia nắng đầu tiên của một ngày mùa hạ, chúng cãi nhau om sòm trong từng đám đánh bi, đánh đáo, đánh bài cào ăn thua nhau từng cắc. Đứa bé hơn thì bò ở trên mặt đất. Mắt chúng nó kèm nhèm dử xanh. Từng đàn ruồi bay vo vo ở trên những cọng rác, thỉnh thoảng táp lại, bám lấy hai vành mi rồi bò xuống má, xuống cổ, hoặc đôi khi rúc mãi vào những cái mụn lở loét có mùi tanh đến lợm giọng.
Buổi chiều lúc gió mát thổi ở trên mái lá thì cuộc sống còn ồn ào hơn. Người lớn trở về chửi nhau ở hai đầu ngõ. Họ tranh nhau từng thùng nước ở ngoài miệng giếng nhỏ. Họ đòi nhau những đồng bạc cho vay từ tuần lễ trước. Chai dầu đong đầy, đong vơi, bó củi bán năm hào bắt tháo ra đổi lại từng nhánh cũng là đầu đề cho cuộc cãi lộn om sòm, liên miên hầu như không dứt.
Huệ vào nghề từ mấy năm trước khi về xóm Cỏ. Hồi còn hương sắc, nàng đi khách với giá hằng trăm. Như thế buổi sáng có cháo gà, có phở, có xôi lạp sường. Thỉnh thoảng có phim nói tiếng Việt, Huệ lại đi xem. Cuộc sống đối với Huệ cứ càng ngày càng tươi đẹp thêm, khác hẳn với những ý nghĩ đen tối hãi hùng của buổi đầu tiên Huệ bị đẩy vào phòng riêng với một người đàn ông xa lạ. Ngày ấy, Huệ cho rằng cuộc đời mà phải dẫn đến những chỗ ấy thì là tàn đời và không còn gì nhục nhã và xấu hổ hơn.
Nhưng cái nghề nhàn hạ của Huệ lại tàn phá thân thể nàng một cách thảm hại. Đầu tiên da Huệ ngả màu xanh lướt. Cặp mắt bạc đi, lòng đen trở thành nhờ nhờ đục. Rồi từng mấu xương cứ nhô ra, khuôn mặt hốc hác thêm, và những đêm trời trở lạnh, nàng bắt đầu húng hắng ho gióng một. Rồi đến cái lần Huệ nghe con bạn cố tình làm sẩy cái thai đã mấy tháng thì Huệ nhược hẳn người ra như chẳng còn mấy hơi sức. Tóc Huệ sáng nào chải cũng rụng ra hằng nắm. Đờm nhổ ra đã thấy vẩn lên từng tia máu. Chính những sợi máu ấy đã khiến Huệ tự tử hụt một lần. Đối với nàng, như vậy là nàng đã mắc phải một tai hoạ lớn lao, còn lớn lao hơn cả cái tai hoạ đang từ một cô gái ngây thơ bị vướng chân mà sa vào vòng tội lỗi. Sau đó mấy lần liền, không có khách nào nhận "đi" với Huệ. Thím Phềnh thẳng tay đuổi Huệ ra khỏi nhà. Bạn Huệ thu xếp cho nàng về xóm Cỏ.
Huệ thuê nhà của một bà cụ bán cháo, xôi. Căn nhà chật hẹp và ẩm mốc, chỉ vẻn vẹn có hai người. Hằng ngày họ ra vào im lặng như những cái bóng. Cụ Chín là một bà già kì cục. Cuộc sống của cụ âm thầm và cô độc đến độ khó hiểu. Ban ngày cụ quẩy hàng lên chợ. Đến tối trở về thì cụ rúc vào cái buồng xép chỉ vừa vặn kê một cái ghế bố, không đồ đạc, hòm xiểng, không nồi niêu, ấm chén, cũng không có cả ánh sáng của một ngọn đèn nhỏ. Bà cụ ăn uống ở trong bóng tối âm thầm đầy muỗi và hơi ẩm. Những bữa cơm của bà, Huệ chỉ nghe thấy tiếng nhai chóp chép, nhỏ nhẹ, uể oải và nặng nhọc. Rồi một lát sau thì Huệ nghe thấy tiếng ngáy. Lúc ấy là lúc bà cụ đã trùm kín mít cái mền rách, hôi hám sặc sụa lên đầu và ngủ một giấc đến sáng. Ít khi Huệ nghe thấy bà ta nói một câu. Ở trong nhà, hai người ít nhìn nhau. Nhiều khi Huệ muốn biết bà ta nghĩ gì về mình, nhưng trong cái nhìn lạnh lẽo, thờ ơ ấy, Huệ không thể nào đọc ra được một ý tưởng nào. Duy chỉ có một điều chắc nhất là bà cụ biết Huệ tiếp khách ở trong nhà.
Phòng ngoài, Huệ kê một cái đi văng ở sát vách, có màn quây kín chung quanh. Cạnh đấy là một cái bàn gỗ đầy bụi bẩn. Mặt bàn rất bừa bãi, chiếc gương vỡ đặt chếch lên ngọn đèn dầu, vài hộp phấn và lọ nước hoa rẻ tiền xếp ở trên mấy tập bài hát in chỉ có lời mà không có nhạc. Huệ cũng đọc cả tiểu thuyết nữa. Cuốn truyện Huệ mua "xon" từ mấy tháng trước mà hầu như không bao giờ nàng đọc hết cả. Nàng lẩm bẩm từng trang, từng chữ. Chỗ nào hiểu được thì cười một mình, rồi đọc lại, đọc lại nữa vì có thể ngày mai Huệ đã quên mất mấy đoạn ấy rồi. Lúc nào không đọc truyện thì Huệ nằm lơ mơ trên đi văng nghe tiếng chuột chạy sột soạt trên mái lá, tiếng trẻ con lao xao ở đầu hồi, hoặc đôi khi có tiếng đàn của bác Tốn gẩy vu vơ ở ngách ngoài. Những lúc nhàn rỗi, bác Tốn hay hát một mình. Cải cách có, vọng cổ có, chán rồi xoay ra hát bậy:
"Cô Huệ ơi...
Nếu cô lấy tôi thì tôi xây nhà gạch hai tầng.
Tôi mua ô tô cho cô ngự, mua váy đầm cho cô thay..."
Mới đầu Huệ còn bật dậy, chửi đổng qua vách hàng xóm:
"Khỉ gió đùng lăn! Thừa cơm rửng mỡ chửa! Ai thèm mặc cái thứ váy đầm. Mà đồng xu chẳng có, còn bầy đặt xây nhà hai tầng!"
Nhưng mãi rồi Huệ cũng quen đi, vì bác Tốn lúc nào buồn mồm thì hát chơi, ngay cả khi bác không nghe tiếng Huệ léo xéo ở bên tai. Về phần bác thì bác hình dung ra cô Huệ qua lời diễn tả của thằng Ích.
"Cô Huệ béo hay gầy?"
Nó đáp:
"Cũng nhùng nhằng!"
"Đen hay trắng?"
"Trắng bốp!"
"Ui cha! Thế tóc phi dê hả?"
"Phi dê!"
"Xoăn không?"
"Xoăn tít! Phi dê mà lại không xoăn!"
"Áo gì?"
"Áo cánh.”
"Mầu gì?"
"Mầu đỏ!"
"Quần gì?"
"Quần lụa trắng!"
"Ái chà sang nhỉ! Môi son má phấn chứ?"
"Đứt đuôi đi rồi!"
"Thơm không?"
"Bác nói như bố chó xồm ấy! Phấn mà lại không thơm!"
Bác Tốn cười hì hì:
"Ừ nhỉ! Phấn mà lại không thơm!"
Rồi bác ngửa cổ ra đằng trước, mũi bác hếch lên, hít khìn khịt, hai hàm răng ngà ngà của bác nhăn ra nửa chừng, nom trắng như răng ngựa. Bác có vẻ khoái chí. Trong trí tưởng tượng của bác, Huệ là một người đẹp. Từ đấy mỗi lần hứng chí lên, bác lại hát:
"Cô Huệ ơi... nếu cô lấy tôi thì tôi xây nhà gạch hai tầng..."
Tiếng đàn bật lên ở mấy đầu ngón tay xen lẫn tiếng cười khúc khích của bà con hàng xóm. Nhưng ai cũng cho là bác đùa vậy thôi, vì chưa một ai nom thấy Huệ ở nhà bác Tốn đi ra. Ngay cả đến hai người đứng lại trò chuyện với nhau cũng chẳng còn có nữa là.
Về phần Huệ thì bực mình mãi rồi cũng thành quen cũng như nàng cũng đã quen mồm gọi bác Tốn là thằng khỉ gió!
"Thằng khỉ gió ngứa mồm chửa! Bộ cái mã ấy mà xây được nhà gạch hai tầng thì chó nó đã có váy lĩnh.”
Đôi khi bác Tốn đi qua cửa, Huệ mượn lời mắng mấy đứa trẻ như để nói với bác, giọng nàng chanh chua rít lên đành đạch:
"Khỉ gió đùng lăn chửa, giẫm chết chân người ta rồi đây này.”
Rồi nàng cười như nắc nẻ. Bác Tốn cũng che mồm quay đi tủm tỉm một mình. Lòng bác khoan khoái như vừa hớp xong một ly rượu lớn. Hình ảnh của Huệ chập chờn sáng lên ở trong khoang tối tăm mù loà của bác. Nhiều khi bác muốn quay lại góp với Huệ một câu. Nhưng chỉ cứ nghĩ như thế là chân tay, mồm miệng của bác đã ríu lại cả với nhau rồi. Bác vẫn tự nhủ với mình:
"Nói gì! Nói cái quái gì! Xấu hổ bỏ bố đi..."
Đấy là kể những lúc bác nghe tiếng Huệ léo xéo ở bên tai. Còn khi vắng nàng, bác lại chẳng nhút nhát tí nào. Bác đã nghĩ ra rất nhiều câu hát bậy và đánh đàn hát cho hàng xóm nghe. Tất nhiên ai mà chẳng khoái chí, ai mà chẳng rúc lên cười. Tiếng cười của họ khiến bác nghĩ rằng mình không cô độc. Chung quanh bác có nhiều người thân yêu. Huệ cùng cảnh với bác, nghèo như bác, và tất cả đều lam lũ, khốn khổ như nhau. Khi vui thì giọng bác ngân được rất dài và rất cao:
"Cô Huệ ơi...
Tôi theo cô đến tận góc bể chân trời
Sông sâu tôi cũng lặn, núi đồi tôi cũng leo
Sang Tây, sang Nhật, sang Lèo
Sang Tàu, sang Mỹ... tôi theo cô đến cùng...
Ới cô Huệ ơi..."
Câu hát như thế mỗi lần Huệ nghe thấy nàng lại dẫy lên:
"Rõ thừa cơm rửng mỡ chửa! Sang Lèo để mà ăn cái khỉ gió đùng lăn gì kia chứ..."
Cũng có những lúc giọng hát của bác tự nhiên buồn não nuột, nhất là về đêm khuya thanh vắng. Mọi người nghe như cảm lây với cái buồn của bác. Huệ nói với hàng xóm:
"Thằng khỉ gió nhớ con nào mà thảm chửa.”
Rồi nàng cũng lắng tai nghe tiếng hát của bác vẳng lên trong ngõ tối:
"Tôi chờ cô tối qua.
Suốt canh chầy chẳng thấy cô ra..."
Chắc lúc ấy bác Tốn đang ôm đàn ngồi ở bực cửa. Bóng tối vây quanh như nỗi cô độc của bác trong sự mù loà. Mặt bác hướng ra khung cửa. Mùi tanh nồng của nước mương đầy rác rưởi theo gió bay vào gây cho bác cảm giác nhẹ nhàng yên tĩnh. Tiếng đàn bật lên ở trên tay. Âm thanh quen thuộc rung trên phím gỗ và lắng sâu vào hồn bác. Những lúc ấy bác muốn lấy Huệ làm vợ. Bác nhớ đến mùi phấn thoang thoảng của Huệ lúc nàng đi qua hàng rào. Nếu những buổi tối có Huệ, sau bữa cơm, hai người sẽ ra ngồi ở đầu hè. Bóng tối êm ả vây quanh. Bác sẽ cầm lấy tay Huệ mà không nói. Không nói tức là nói thật nhiều. Rồi hai người sẽ hôn nhau. Mùi phấn thơm là của riêng bác, gió mát và bóng tối là của riêng hai người. Bác thấy lòng rạo rực với niềm yêu dâng lên. Mắt bác nhắm nghiền. Bác thấy hình ảnh của Huệ, mặc áo đỏ, đánh môi hồng đang cười với bác. Bác chợt mỉm cười và thấy mình sung sướng, hạnh phúc.
Tuy vậy ý định lấy Huệ chỉ đến với bác vào những buổi tối ngồi một mình trên bực cửa. Đến sáng ra, nằm trên nệm cỏ, nghe thấy tiếng thùng tôn va chạm loảng xoảng ngoài giếng nước, tiếng trẻ con khóc lên ngằn ngặt ở đầu hồi và tiếng xe, tiếng người chửi nhau loạn xạ thì bác quên hẳn ý nghĩ ngày hôm trước. Bác thấy buồn vì cuộc sống ồn ào, gay gắt chẳng như trong mộng tưởng. Huệ có cuộc sống riêng của nàng, tự do, nhàn hạ và đầy vẻ chanh chua, kiêu kì. Mỗi lần có tiếng Huệ léo xéo ở ngoài ngõ, bác nghe tiếng họ trao đổi với nhau mấy câu nói quen thuộc:
"Mệt không cô Huệ ơi!"
"Mệt cái phải gió! Ít tiền mà cứ đòi của đẹp.”
Tiếng nói của Huệ gieo vào lòng bác những cung bậc trầm buồn khiến cho bác thấy lòng mình thắt lại. Bác nghĩ rằng nếu mình chỉ ngửi thấy mùi phấn thơm của Huệ mà không phải nghe thấy những câu nói ấy của Huệ nói chắc sự sung sướng của bác sẽ trọn vẹn hơn nhiều. Ý nghĩ ấy làm bác có thể khóc được, và bác lại sờ soạng tìm cây đàn, vừa gẩy vừa hát nhè nhẹ:
"Tôi với cô... không duyên, không nợ
Tôi với cô... không vợ, không chồng..."
Thường thường buổi sáng nào bác Tốn cũng tiêu phí thì giờ vào nỗi buồn vu vơ như thế, đến gần trưa thì có con gái bác Nhan gọi sang ăn cơm. Bác Tốn ăn trọ ở nhà bên ấy. Bác Nhan gái làm đủ nghề lam lũ: cu li, thợ hồ, mua bán đồng nát và gánh nước thuê. Tuy quần quật suốt ngày mà bác cũng chỉ kiếm đủ tiền nuôi bốn miệng ăn. Bác Nhan giai ốm yếu lúc nào cũng chỉ nằm như một cái xác ve trên phản. Hai đứa con gái thì một đứa còn phải ẵm. Con chị là cái Hòn cũng mới lên tám, so với cái Ngoan thì Hòn xấu xí và đen đủi hơn nhiều. Sự thiếu thốn, đói khổ làm người nó quắt lại, tay chân khẳng khiu như que củi. Cả ngày hai chị em nó bế nhau thơ thẩn ở ngoài ngõ, nhất là ở quán nước cụ Tư. Chúng nó hay nhặt những cái lá gói còn dính bánh chưng, những khúc mía xương xẩu hoặc mấy cái đuôi bánh mì thừa vứt đi, đem vét voi nhấm nháp gọi là cho biết mùi của lạ. Tuy vậy thỉnh thoảng chúng nó cũng được bác Tốn mua hẳn cho một đồng kẹo tây. Mấy cái kẹo xanh đỏ, tuy ít ỏi nhưng hai chị em nhè đi, nhè lại cho nhau cũng ăn được suốt cả một ngày. Bác Tốn biết nhà chúng nó nghèo nên hay chia ngọt sẻ bùi với mọi người. Nhiều lúc nhà hết gạo, thổi thiếu cơm bác vẫn cười dễ dãi và bỏ tiền ra mua cho hai chị em thêm tấm bánh. Thành ra đối với họ, bác là người rất phong lưu, rộng rãi.


                                        (còn tiếp)

Chủ Nhật, ngày 31 tháng 8 năm 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 70 - Nhân chuyện nhà báo bị tước thẻ…

             
      Ở  đâu không biết, chứ ở VN, với mọi người, quan trọng nhất là…cái thẻ.  Các em gái miệt vườn muốn đổi đời bằng lấy chồng Đài Loan, lên thành phố xin  vào các Công ty nước ngoài bán sức lao động với giá rẻ mạt, thậm chí đứng đường bị bắt vào đồn…nhất nhất đều phải có thẻ chứng minh nhân dân, tức thẻ “chứng minh” rằng mình là “nhân dân” chứ không phải Việt kiều “vượt biên” từ Mỹ trở về. Các bác xe ôm, người đi xe máy…nhất nhất đều phải có thẻ lái, thẻ chủ quyền xe, thẻ bảo hiểm…nếu không muốn thực hiện thủ tục “đầu tiên” với cảnh sát giao thông.
           Thôi thì khỏi bàn tới các loại thẻ “nhạy cảm” như thẻ Đảng, thẻ Đoàn,thẻ đại biểu quốc hội, thẻ công an…riêng các nhà báo, quan trọng bậc nhất cũng vẫn là…cái thẻ, không có nó thì khỏi  ưu tiên qua phà, khỏi miễn phí qua trạm giao thông và nhất là khỏi nhận phong bì ở các cuộc họp ra mắt hoặc tổng kết , giới thiệu sản phẩm của các công ty, không có nó thì hết chuyện hù doạ để ăn tiền “bảo kê” mấy anh doanh nghiệp tư nhân, hết chạy “xin” quảng cáo vốn là nguồn thu nhập không thua trúng số, hết chạy tới lấy tin , chụp hình tại các vụ cháy nhà, xe cán người, cảnh sát bắt ma tuý, hiện trường các vụ cướp của giết người…
Thẻ nhà báo đối với nhà báo quan trọng như thế bởi vậy một khi bị Nhà nước “rút thẻ”, các nhà báo thật chẳng khác gì con chiên bị rút phép thông công. Vậy thì ai là người có cái quyền “to tát” đến như thế ? Xin thưa rằng chẳng cần tới quý Bộ trưởng Bộ văn hoá thông tin , chỉ cần Ngài Cục trưởng Cục báo chí đặt bút ký là nhà báo bị …rút thẻ như chơi. Vậy thì quý Cục trưởng từ xưa tới nay đã hạ bút ký lệnh rút bao nhiêu cái thẻ nhà báo rồi. Cái đó thì chính đồng chí Đỗ Quý Doãn cũng chịu chẳng nhớ được , chỉ mấy anh nhà báo Trần Mai Hạnh,Hoàng Long, Quang Thắng… bị lôi ra toà về tội “ăn tiền”  Năm Cam  hiển nhiên bị “rút thẻ “ lẽ đương nhiên.
 Thế còn số nhà báo bị rút thẻ vì phạm vùng “cấm bay”, mó dế ngựa vào chỗ “nhạy cảm chính trị” thì có ai không ? Tất nhiên là có chớ, nhiều là khác, nhưng Cục báo chí chẳng nói ra ai biết được. Hồi đó có nhà báo Duy Chiến, phóng viên báo Nông nghiệp Việt Nam vì viết bài moi móc đồng chí Ut Phương, Chủ tịch tỉnh Bình Dương “bảo kê” cho Hoàng “lựu đạn” – con yêu râu xanh , nỗi kinh hoàng của chị em bán quán dọc xa lộ Đại hàn, đồng chí Chủ tịch còn tổ chức cưới chồng cho con gái mà khách khứa lên tới …3000 người được mời dự đại tiệc và tiền “phong bao” lên tới vài tỷ, trên 500 xe đời mới đỗ kín mấy phố . Đến khi báo đăng ra, đồng chí Út Phương cho lính thu sạch số báo và kiện ngược lại nhà báo Duy Chiến là…vu oan giá hoạ cho lãnh đạo. Thế là thẻ nhà báo của Duy Chiến bị Cục trưởng Đỗ Quý Doãn ký lệnh thu hồi cái rụp, mãi 6 tháng sau mới trả lại thẻ cho đương  sự kèm vài câu an ủi “ nhà báo cần rút kinh nghiệm”.
           Nhà báo bị “rút phép thông công” nữa là phóng viên văn hoá văn nghệ báo Người Lao động, thường trú tại Càmau vì bài viết “ Kính gửi ông Trần Mạnh Hảo” đăng trên báo Văn Nghệ trẻ số ra gần đây. Thư viết :
        “Lạ thật, ông là một nhà thơ thì cứ lo làm thơ, cứ hướng tâm hồn mình vào trời trăng mây nước và . . . em cho nó thanh thản, ai lại mang nỗi ức chế về ba cái chuyện SGK của mấy ông Bộ Giáo dục làm gì, không khéo lại mất ăn mất ngủ, mà cũng may cho ông là bọn Năm Cam nó đang ở trong tù, nếu không coi chừng ông toi mạng.”
       Đọc qua thì chưa thấy, đọc lại mới thấy nhà báo xỏ xiên “mấy ông Bộ giáo dục” chơi sát ván, thuê đàn em Năm Cam xin “tí huyết” ông Trần Mạnh Hảo cũng nên. Và chẳng riêng gì “mấy ông Bộ giáo dục, bài báo cũng vạch trần nhiều ông Bộ trưởng khác cũng nhăm nhăm lập dự án để móc tiền tỷ của Nhà nước :
       “Người ta bảo ông người thực dụng, hay nói đến chuyện tiền nong.Hàng tỷ đồng được ông nhắc đi nhắc lại. Nhưng ông phải biết thông cảm,làm Bộ trưởng, Thứ trưởng mà không biết lập ra dự án nầy dự án nọ để đầu tư thì lấy gì để nuôi cả một . . . bộ máy, lấy gì để lo cho tương lai con cháu lúc về hưu. Đó là nỗi “bức xúc” chung của nhiều Bộ trưởng chớ không riêng gì ngài Bộ trưởng GD-ĐT kính mến của chúng ta.”
     Bôi bác như vầy thì còn gì là uy tín của Chính phủ Cộng hoà XHCN Việt Nam khi có “ nhiều ông Bộ trưởng” chỉ bức xúc lập dự án để lấy tiền nuôi bản thân mình và nuôi tay chân, lo cho con cháu ? Rồi như sợ rằng chửi “nhiều ông Bộ trưởng chung chung như thế thì rồi ông nào cũng nghĩ :” chắc nó chừa mình ra”, tác giả điểm mặt, gọi tên cụ thể :
        “ Cái dự án cải cách SGK mà ông chửi bới thậm tệ ấy thật ra cũng chỉ vài chục tỷ đồng là cùng, chưa bằng năm mươi phần trăm cái cảng cá mà Bộ Thuỷ sản vừa xây xong cách nay hai năm ở Cà Mau…”
          Thế là rõ nhé, Ngài Bộ trưởng Bộ thuỷ sản “lập dự án” xây cảng cá chỉ để mà :
         “…góp phần tích cực cho chiến lược …an toàn giao thông vì có nơi cho … trẻ con đá banh, giải quyết được tình trạng hỗn loạn giao thông do trẻ con có thói quen đá banh ngoài đường…”
      Mà chẳng phải có một cái cảng cá xây xong chỉ để cho con nít đa banh mà còn có nhiều cái nữa :
         “Tôi chưa có điều kiện để tìm ra số liệu trên cả nước, nhưng riêng đồng bằng sông Cửu Long thì đã có ít nhất năm cái bãi tha ma như thế được gọi là cảng cá, ước tính tiêu tốn khoảng vài trăm tỷ đồng, mà thực trạng xây dựng cơ bản của nước ta hiện nay thì ông quá hiểu, nó không đơn giản như cái chuyện in sách giáo khoa để ông có thể đếm được từng trang mà tính toán…”
Mà chẳng riêng gì Bộ thuỷ sản xây cảng cá, Ngài  Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn xây “đê điều” cũng chẳng kém gì bên Bộ “bạn” xây cảng cá . Nhà báo cho biết :
Tôi không hiểu dựa trên cơ sở khoa học nào để người ta lập ra cái gọi là Dự án ngọt hoá bán đảo Cà Mau, có nghĩa là để dẫn nước ngọt từ sông Hậu về bốn tỉnh vùng nước mặn như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang với tổng số vốn là một ngàn bốn trăm tỷ đồng để rồi cuối cùng trở thành chuyện ném tiền qua cửa sổ bởi vì kết quả của dự án chỉ làm đảo lộn môi trường sinh thái “
Chuyện này ông nhà báo chưa viết rõ là hệ thống đê này dân đã…phá bỏ hết để nuôi tôm, 1500 tỉ đồng đã trôi ra …vịnh Thái Lan. Hết đê, lại đến…đường. Ong nhà báo vạch áo cho người xem lưng  :
Nhưng thật ra, một ngàn bốn trăm tỷ đồng lãng phí cho dự án ngọt hoá bán đảo Cà Mau cũng chỉ là số tiền lẻ so với chương trình một triệu tấn đường với hai mươi sáu ngàn tỷ đồng cho bốn mươi mốt nhà máy đường trên cả nước mà hiện nay đang đứng trên bờ vực của sự phá sản…”
Hình như “xả chưa hết” , ông nhà báo còn quèo thêm chuyện “đê điều ở đồng bằng sông Cửu Long :
“Đó là những con số cụ thể, những công trình làm nghèo đất nước đang thách thức dư luận, chưa kể đến những công trình thoát lũ, ngăn lũ, vượt lũ ở đồng bằng sông Cửu Long đã ngốn hàng chục ngàn tỷ đồng mà lũ thì mỗi năm lại nghiệt ngã hơn, tai hoạ càng thảm khốc hơn, nghèo đói càng chất chồng hơn . . . trong khi người dân vùng lũ chỉ cần một bộ cột đúc để cất nhà cao, một chiếc xuồng, một tay lưới và một bè nuôi cá năm mười triệu đồng thì họ có thể làm giàu ngay trong mùa lũ.  “
 Vậy thì còn biết trông vào ai để “gỡ rối” chuyên thất thoát hàng ngàn tỉ của Chính phủ ? Trông vào ...quốc hội chứ còn ai ? Quốc hội là “cấp trên” chính phủ mà . Ấy thế mà tác giả bài báo giở giọng riễu cợt “cơ quan quyền lực cao nhất” của nhà  nước :,
Tôi xin lấy vài ví dụ nhỏ để ông nhà thơ thông cảm mà bớt đi cái sự nổi nóng của mình, mà đừng lớn tiếng xỉ vả ngài Bộ trưởng GD-ĐT trong lúc Quốc hội đang họp để bàn bạc nhiều chuyện quốc gia đại sự, trong đó hẳn có nhiều vấn đề nghiêm trọng liên quan đến nền giáo dục ưu việt của nước nhà.”
Và sau cùng, bài báo “đúc rút bài học kinh nghiệm” chung của các thành viên Chính phủ :
“làm Bộ trưởng mà không biết đẻ ra các dự án từ tỷ nầy sang tỷ nọ thì nhậm chức để làm gì, loại trừ những Bộ không thể xoay ra dự án thì người ta mới đầu tư quyền lực cho thế giới ngầm như ông Phạm Sĩ Chiến hay ông Bùi Quốc Huy.
Oi chao ôi, “khái quát” hình ảnh của các vị Bộ trưởng trong Hội đồng chính phủ đến như thế thì còn quý vị nào đứng ngoài chuyện “xoay dự án” nữa đây ? Thế là đã rõ, nhà báo chẳng qua chỉ là mượn cớ “Gửi thư cho ông Trần Mạnh Hảo” để làm một bản “báo cáo hoạt động của chính phủ “ trong các nhiệm kỳ của ông Thủ tướng Phan văn Khải  , một bản báo cáo “phản biện” hoàn toàn bản báo cáo ông Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mới đọc trong phiên khai mạc kỳ họp quốc hội mới đây. Chỉ tiếc “bản báo cáo tổng kết” của ông nhà báo chẳng được trình bày trong bất cứ hội nghị nào mà chỉ được in trên báo để …bà con đọc chơi.
  Hình như mượn danh nhà thơ Trần Mạnh Hảo cũng chưa đủ, ông nhà báo còn mượn thơ một nhà thơ Sàigòn để bày tỏ tâm trạng mình :
“  Ta sinh ra gặp buổi nhiểu nhương
Bất lương bàn luận chuyện hiền lương
Nho sĩ cúi đầu làm binh sĩ
Thơ quốc doanh cười cợt thơ Đường…”
Oi trời ôi, nghe nói sau khi đọc xong bài báo, ngài Bộ trưởng Bộ VHTT hồi đó là Phạm Quang Nghị đập bàn :” Võ Đắc Danh là cái thằng nào mà viết láo thế ? Tước ngay thẻ nhà báo của nó …”. Thế là ông Cục trưởng Đỗ Quý Doãn vội vàng xuống lệnh thu hồi ngay lập tức cái thẻ  đó kèm theo một cái công văn khiển trách nặng nề đồng chí Hữu Thỉnh, Tổng biên tập báo văn Nghê đã để “lọt” một bài báo “láo đến thế”.
Lại cũng nghe nói sau khi bị tước thẻ, nhà báo Võ Đắc Danh đã làm đơn khiếu kiện đi khắp nơi. Thôi ông ơi, con kiến còn khôn hơn ông, nó có kiện củ khoai bao giờ ?

NT







       

HẺM BUÔN CHUYỆN - KỲ 176 - Đoạn này bỏ…xuống dòng đọc tiếp




                

Tối nay chị Gái hủ tíu bấm bấm sao ra ngay cái đài đang có muá hát.  Một bên tốp con gái mặc áo xường xám đỏ tượng trưng cho Tàu, một bên tốp con gái mặc áo dài trắng tượng trưng cho Ta. Cả hai bên đều ẹo  ẹo cái eo, đá đá cái chân, vung tay lên tận nách, hát véo von :
Việt Nam-Trung Hoa, núi liền núi, sông liền sông, chung một biển Đông, mối tình hữu nghị sáng như rạng đông.
Thằng Bảy xe ôm la toáng :
“ Phản động…phản động …”
Ong đại tá hưu đập  bàn quát :
“ Thằng Bảy xe ôm kia ? Sao mày dám nói láo. Người ta hát “ Việt Nam Trung Hoa – núi liền núi sông liền sông…” sao phản động hả ?”
Thằng Bảy xe ôm sừng sộ :
“ Thằng Trung Quốc nó bắn giết, cướp bóc ngư dân ta, xâm chiếm các đảo  của ta , vậy mà dám hát “mối tình hữu nghị sáng như rạng đông “ hả ? Ngay đến ông Nguyễn Tấn Dũng cũng nói ta không chơi trò “hữu nghị viển vông”…”
Ông đại tá hưu quát :
“ Chuyện đó xưa rồi. Mới đây đồng chí Ủy viên Bộ chính trị Lê Hồng Anh đã sang Trung Quốc nối lại quan hệ thân thiết gắn bó, vừa là đồng chí vừa là anh em giữa hai đảng rồi…”
Cô Phượng cave cười rinh rích :
“ Vậy nay đảng ta xào lại 16 chữ vàng hả chú Ba ?”
Bà tổ trưởng đỡ lời :
“ Chớ sao ? Mà 16 chữ vàng đã ôi thiu bao giờ mà phải xào lại. Vẫn vàng chóe kìa…”
Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :
“ Tưởng vụ thằng Trung Quốc đặt dàn khoan đảng nhân dân ta đã “tỉu hà ma cái lị thằng Tàu “ rồi, đã nhét 16 chữ vàng vào lỗ đít rồi, giờ lại móc ra không sợ thúi hoắc ?”
Ông đại tá hưu đập bàn :
“ Thằng xe ôm kia, sao mày dám nói nhét 16 chữ vàng vào lỗ đít  hả ? Phản động…phản động…”
Cô Phượng cave cười rinh rích :
“Không nhét vào chỗ đó thì nhét vào đâu ?”
Bà tổ trưởng cao giọng :
“ Không nhét vào đâu cả , chỉ dùng làm kim chỉ nam cho việc xây dựng và củng cố tình hữu nghị anh em giữa Việt nam và Trung Quốc thôi…”
Ông đại tá hưu cũng cao giọng :
“ Tụi bay không biết , tại cuộc gặp, đồng chí Lê Hồng Anh khẳng định Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn coi trọng và mong muốn cùng với Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc không ngừng củng cố và thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung phát triển lành mạnh, ổn định lâu dài. ..”
Chị Gái hủ tíu thật thà :
“ Đảng và Nhà nước coi trọng và mong muốn hữu nghị với Trung Quốc phải rồi. Còn nhân dân ta có muốn vậy đâu, ghét thằng Tàu thấy mồ tổ…”
Bà tổ trưởng quát :
“ Cái chị này quanh năm bán hủ tíu chẳng biết cái gì. Bác Hồ đã nói “ý đảng lòng dân”. Đảng đã quyết định chuyện gì là lòng dân theo sát chớ sao  ?”
Cô Phượng cave thắc mắc :
“ Nói chuyện với Tập Cận Bình đồng chí Lê Hồng Anh phải giở giấy ra đọc. Đọc cái gì vậy hả chú Ba ?”
Ông đại tá hưu còn đang ngớ ra thàng Bảy xe ôm đã cười hô hố :
“ Đồng chí Lê Hồng Anh đọc : “ Đảng và Nhà nước quyết thắt chặt…quyết thắt chặt… đoạn này bỏ, xuống dòng đọc tiếp ?”
Cả quán phá ra cười, chị Gái hủ tíu thắc mắc :
“ quyết thắt chặt…đọan này bỏ là sao ?”
Cô Phượng ccave cười rinh rích :
“ Là lỗi thằng đánh máy, lẽ ra bỏ đoạn ấy theo ghi chú của thằng thư ký, đằng này cứ đánh nguyên si làm đồng chí Lê Hồng Anh cứ thế đọc…”
Cả quán bò ra cười. Riêng ông đại tá hưu và bà tổ trưởng mặt đỏ tía tai…

31- 8 - 2914 


CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 69 - NHÀ VĂN KHÔNG CÒN BIẾT PHẪN NỘ



 

Bài trả lời phỏng vấn với tựa đề “ Cách mạng không đào tạo được trí thức lớn “  của nhà văn Nguyễn Đình Chính trên Talawas ngày 2 tháng 1 -2007 đã đưa ra một vài ý kiến khá thẳng thắn.
Về phương pháp hiện thực XHCN ông thừa nhận :
Cái gọi là HTXHCN ấy chỉ là một phương pháp què quặt, một sự nguỵ biện, để mà thực hiện một cái hiện thực nửa vời và điều đó đã hạn chế rất nhiều giá trị của các tác phẩm nghệ thuật. Chính vì thế hàng loạt tác phẩm đã bị chết yểu. Chết trước tác giả.”.
Về trí thức xã hội chủ nghĩa, ông cho biết :
Thế nên ông bố tôi, anh Thi, khi còn sống có nói với tôi thế này: Ở mình nó có sẵn một cái đường ray rồi, mọi người chỉ còn có một việc là chạy trên đó thôi. Thế thì làm sao có thể sản sinh ra trí thức lớn được. Tôi nghĩ rằng ở mình không có trí thức lớn. Cách mạng không đào tạo được trí thức lớn. Nguyễn Đình Thi không phải là một trường hợp ngoại lệ. Mặc dù hội tụ rất nhiều điều kiện cần, Nguyễn Đình Thi vẫn thiếu một cái điều kiện đủ để trở thành một trí thức lớn.”
Về vai trò “làm loạn” của các nhà văn, ông Nguyễn Đinh Chính huỵch toẹt :
“Vì các nhà văn Việt Nam hiện nay (trong đó có tôi) là những người vô cùng nhút nhát và đặc biệt là rất tôn trọng, nếu không muốn nói là rất sợ pháp luật. Người liều mạng nhất đã tự thiến mình đi để sẵn sàng làm giặc là nhà văn Dương Thu Hương thì cũng vừa chạy sang xin định cư ở Pháp để chuyên tâm vào công việc viết tiểu thuyết rồi. Những ai e sợ các nhà văn sẽ nổi loạn thì hãy yên tâm. Còn những ai hy vọng các nhà văn Việt Nam sẽ nổi loạn thì tôi thành thật khuyên các vị hãy tự mình dập tắt niềm hy vọng đó đi. Dã tràng xe cát biển Đông mà thôi… Tôi cam đoan các nhà văn không bao giờ dám nổi loạn. Thế lực chính trị nào ở trong nước và ở ngoài nước mà hy vọng và mong muốn các nhà văn Việt Nam nổi loạn thì thật là ngây thơ.”
Bài trả lời phỏng vấn đã nhận được sự đồng tình của một số nhà văn trong nước và hải ngoại. Sau đây là bài viết của nhà văn Nhật Tiến gửi nhà văn Nguyễn Đình Chính :

California ngày 4 tháng 1 năm 2007

             T/g anh NGUYỄN ĐÌNH CHÍNH,
                   
                     Tôi đã đọc kỹ bài của talawas đã phỏng vấn anh. Xin có một đôi điều trao đổi. Trước hết là một vài quan niệm của anh về :
                     - trí thức (Anh nói : Tiêu chuẩn đầu tiên của trí thức lớn là phải độc lập về tư tưởng, phải suy nghĩ bằng chính cái đầu của anh, và anh phải thể hiện ra trong các hoạt động bằng chính cái tư tưởng, suy nghĩ của anh.);
                      - về tự do sáng tác (Anh nói : Tự do sáng tác là một thuộc tính rất cá biệt chỉ thuộc riêng nhà văn. Không một thế lực nào có thể tước đoạt cái quyền đó ngoại trừ chính nhà văn);
                     - về sự làm tha hoá thẩm mỹ của đám đông do giới phê bình trong nước đã gây ra (tất nhiên không phải toàn thể);
                     - về thái độ viết lách của nhà văn (Anh nói : Tốt nhất là các nhà văn Việt Nam không nên ngồi nhận lương viết văn. Ai giỏi thì nên tự trả lương cho mình bằng nhuận bút, còn thì nên kiếm sống bằng một nghề nào đó trong xã hội) ...
                     - và về sự minh bạch của anh khi anh phân biệt rạch ròi hai trường hợp khác biệt  đi làm cách mạng của những vị như Nguyễn Thái Học, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh với Nguyễn Đình Thi (Anh nhận định: Nguyễn Đình Thi là một trí thức của phong trào cách mạng cộng sản.).
                     Tất cả những quan niệm kể trên của anh, tôi đều chia sẻ và hết sức tâm đắc.
                                                                  *
                      Ngoài những điểm nói trên, tôi có 2 điều muốn trao đổi:
                      1) Về phong trào NVGP và vụ Văn nghệ Đổi mới năm 1990: Dĩ nhiên là anh có trong tay di cảo của Ông cụ thân sinh (về Phong trào NVGP) và sự có mặt tại chỗ vào thời điểm 1990 ( về vụ đổi mới văn nghệ), nên với cả hai yếu tố này, anh là người hoàn toàn có thẩm quyền hơn tôi về sự nhận chân thực chất của hai biến cố văn nghệ này và có thể đưa ra một kết luận khả tín về những phong trào đó. (Ẩn giấu bên dưới là những âm mưu, những đầu cơ vốn liếng chính trị cá nhân để tự bảo vệ mình nhằm tranh giành quyền lực ở văn nghệ và cũng ở một nơi khác ngoài văn nghệ. Đám anh em văn nghệ sĩ chỉ là những quân bài, những bung xung bị đem thí như thí tốt.).
                    Cũng theo anh thì: “Di cảo của Nguyễn Đình Thi có giải mã cả hai vụ này. Có đúng sự thật hay không thì tôi không biết. Nhưng đó là một quả bom. Và chúng ta hãy kiên trì đợi quả bom đó nổ vào năm 2014, nếu như từ bây giờ đến năm đó không có ai làm hộ anh Thi.”
                    Bẩy năm nữa không phải là một thời gian dài, chắn chắn độc giả cũng muốn và có thể chờ đợi quả bom ấy được tung ra, chưa biết nó chứa đựng những gì, nhưng qua những điều tuyên bố mấp mí của anh, hẳn nhiều người cũng có thể đoán ra sự thực là thế nào (Cụ nhà văn đồng ý với tôi là nên cho những phần tài liệu này trong di cảo của Nguyễn Đình Thi được hoá vàng. Theo cụ, nếu bóc mẽ cả hai vụ ra thì thảm hại quá cho cái giới văn nghệ này. Thế giới người ta cười cho thối ruột. )
                   Tôi không đồng ý với “Cụ nhà văn” này, vì sự thật cần phải trả cho lịch sử, mọi sự che giấu đều không nên làm vì nó tỏ ra vô trách nhiệm với những thế hệ đi sau, nhưng tôi thấy lo ngại cho cái điều kết luận sẵn có của anh về 2 vụ này mà qua văn phong của bài phỏng vấn mà người đọc có thể  cảm nhận được. Đại để như đó chỉ là những cuộc tranh giành quyền lực ở  trong giới văn nghệ và cũng ở một nơi khác ngoài giới văn nghệ.
                Có thực là toàn bộ những người đã tham gia những phong trào ấy đều là nhưng người cầm bút muốn tranh giành quyền lực không ?  Đành rằng nếu có sự thực là “Đám anh em văn nghệ sĩ chỉ là những quân bài, những bung xung bị đem thí như thí tốt”, nhưng cũng chẳng thể vì thế mà cái mộng ước (đồng ý là chưa thể gọi là lý tưởng) về tự do cầm bút của họ lại bị lên án là tranh giành quyền lực và những đóng góp cũng như những đau khổ mà họ phải chịu đựng lại bị nhấm chìm trong cái bể ô nhục mà di chúc của Nguyễn Đình Thi sẽ bật mí  ra.
                 Vì không thể để những người có lòng phải bị vùi dập tới hai lần, nên khi nhắc tới những vụ này thì cần phải có một thái độ cẩn trọng, một sự phân biệt rạch ròi những kẻ có ý đồ riêng tư với những người có thực tâm muốn đem lại một bầu không khí mới mẻ cho văn nghệ  vào những thời điểm đó. Cũng vì thế ta nên trân quý những nỗ lực tốt đẹp của nhiều người đã thực tâm đóng góp cho hai phong trào ấy. Những điều này, những thái độ thận trọng này, theo ý tôi, cần phải biểu lộ ngay từ bây giờ chứ không phải chờ tới lúc di cảo của nhà văn Nguyễn Đình Thi được công bố. Nhưng rất tiếc, hình như anh đã mang sẵn thành kiến với tất cả mọi người tham gia hai phong trào này, và anh đã gây cho người đọc cái cảm nhận “Họ là cá mè một lứa.”
                
                 2) Về thái độ của các nhà văn trong đời sống sáng tác bây giờ :
                 Anh đã phát biểu rằng:” nhà văn thì nên đứng ra ngoài lề xã hội, ngậm miệng ăn tiền, ngồi quay mặt vào tường mà viết văn thì mới là nhà văn lớn, mới là nhà văn khôn ngoan, biết điều.”
                 Và từ quan niệm viết lách này, anh đã đưa ra lời khuyên nhủ :
                  “Những ai e sợ các nhà văn sẽ nổi loạn thì hãy yên tâm. Còn những ai hy vọng các nhà văn Việt Nam sẽ nổi loạn thì tôi thành thật khuyên các vị hãy tự mình dập tắt niềm hy vọng đó đi. Dã tràng xe cát biển Đông mà thôi.”.
                  Tôi hoàn toàn không đồng ý với anh về những luận điểm này.
                  Một nhà văn mà chỉ ngồi quay mặt vào tường mà viết văn thì hắn viết cái gì? Dấu vết xã hội nơi hắn đang sống có chỗ nào để hiện diện trong tác phẩm ? Mà khi nhà văn viết ra tác phẩm lại không có dấu vết xã hội (dù dươi dạng thức nào) thì có đáng gọi là nhà văn không, chưa nói là nhà văn lớn ! Mặt khác, đồng ý với anh là hầu như đa số các nhà văn không biết nổi loạn hay không muốn nổi loạn, nhưng phẩm chất cần thiết của một nhà văn là Phẫn Nộ. Có phẫn nộ mới có thể nói thay cho những người khác muốn nói mà họ không có khả năng nói lên được.  Vậy thì chỉ riêng  cái phẩm chất này cũng đủ để nhà cầm quyền hết còn yên tâm được rồi, chứ không thể như anh nói : “Những ai e sợ các nhà văn sẽ nổi loạn thì hãy yên tâm.”
                 Anh sẽ chỉ đúng khi nào chứng minh được rằng tất cả giới cầm bút trong nước nay không còn ai biết Phẫn Nộ.
                   Riêng tôi thì tuy không có điều kiện sống thực tế với môi trường sáng tác ở ngay trong nước, nhưng thành thực mà nói, tôi không tin điều này. Có thể là tôi đã ngây thơ, nhưng thà chịu nhận mình ngây thơ còn hơn là mắc phải sai lầm.
                   Sau cùng, tôi mong ước vọng của anh thành sự thực khi anh phát biểu: “Rất tiếc là chưa được phép ra báo tư nhân. Nếu được phép thì mấy anh em bạn văn chúng tôi sẽ ra một tờ báo văn nghệ cho...vui.”.
                  Có lẽ khi ấy thì tôi cũng sẽ cố gắng gửi bài đóng góp với anh, nếu (lại nếu!) tới lúc đó tôi còn sức khoẻ để tiếp tục viết được!
         
             Thân ái
         
           NHẬT TIẾN