Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, ngày 18 tháng 9 năm 2014

YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU - KỲ 149


                                                (tiếp theo)



Gã cười khoái trá  kéo ông già lái xe bước khỏi phòng sợ ông Sáu Thượng  giữ lại. Thực ra ông cũng chẳng còn đầu óc đâu nghĩ tới chuyện trăng hoa của gã . Ngồi ô tô chạy chỗ nọ chỗ kia suốt mấy tiếng đồng hồ, ông Sáu Thượng người đau như rần. Ong cần ngả cái lưng lấy lại sức tối nay còn đấu trí với lão Bí thư thành uỷ. Mặc dầu nói cứng với thằng Thư Ký vậy , trong thâm tâm ông vẫn ngại không hiểu lão này có chịu giúp ông không ? Năm ngoái lão ta vướng chuyện cướp đất định cư của dân bị giải toả mang chia chác trong thành uỷ, bị dân kiện, chuyện vỡ lở, lão phải chạy lên trung ương xin xỏ may thoát tội. Hồi đó hắn cũng lót tay cho bà Sáu Thượng một cái “phong bì” tuy không rõ là bao nhiêu nhưng chắc phải là tiền đô la với 5 con số trở lên.
Nhưng  bây giờ, chuyện đó đã qua, lão đã vững ghế rồi, không biết lão còn nhiệt tình với ông như năm ngoái ?  Ông rất hiểu giữa các “đồng chí” với nhau chỉ có quan hệ “quyền lợi” chứ đừng mong có chút gì gọi là tình cảm . Khi anh đương chức đương quyền, đương có bổng lộc phân phát cho thiên hạ, phòng khách nhà anh lúc nào cũng nhộn nhịp, mọi người sẽ xúm lại lo lắng, săn sóc, bày tỏ lòng trung thành bằng những lời vàng đá đến sắt thép cũng mủi lòng. Vậy nhưng chẳng may anh sa chân lỡ bước hoặc đến tuổi hưu phải buông ghế , lập tức như có phép thần thông, phòng khách vắng lạnh, cả ngày bói không ma nào đặt chân tới. Những kẻ ngày xưa chịu ơn  lại là những kẻ cao chạy xa bay trước nhất. Bao nhiêu lời nỉ non đá vàng ngày trước bay sạch .
 Tuy ông chưa tới cái ngày bẽ bàng đó nhưng ông hiểu lão Bí thư thành uỷ này chắc chẳng có tý tình tọt gì ,việc ông đỡ cho gã hồi năm trước, gã đã trả tiền sòng phẳng, giờ tới việc của ông, chắc chắn hắn chẳng chịu làm công không. Ông moi óc suy nghĩ tìm coi có cái gì có thể đổi chác với lão Bí thư thành uỷ trong vụ nhờ lão rút lại bài báo này. Không lẽ lại muối mặt làm cái việc nằm ngoái lão đã làm với ông là đút lót cho lão cái phong bì .
Hai cô tiếp tân khách sạn bưng cơm lên tận phòng với đủ các thứ sơn hào hải vị mà ông cũng chỉ gẩy đũa qua loa. Lòng dạ rối bời mà gã Thư Ký vẫn bỏ đi biền biệt. Cái thằng láo thế ,công việc đang nước xôi lửa bỏng thế này mà gã bỏ đi tán gái !
Nếu chẳng may gã Thư Ký không về kịp – mà có cả tá  lý do để gã nằm lại dưới huyện, nào hỏng xe, nào trúng gió, nào say xỉn, nào quyến luyến dứt không nổi cô tiếp tân ... nếu gã về không kịp, không tới gặp được Bí thư thành uỷ, sáng mai bài báo ấy tung ra khắp thành phố thì thật khó mà cứu vãn. Thời gian qua càng mau càng làm ông Sáu Thượng sốt ruột.. Phải làm một cái gì đó trước khi mọi chuyện quá muộn. Sau cùng ông đành làm cái việc tối kỵ là gọi điện cho vợ . Bà tin tưởng đã giao hết đường đi nước bước cho gã Thư ký nên ấn định cho ông đơn thuần chỉ đóng vai trò danh nghĩa trong mọi cuộc dàn xếp. Tuy nhiên hẳn là bà không dự kiến được tình huống trắc trở này và ngoài bà ra chắc khó ai cứu nổi.
Đi khỏi nhà hai ngày nay, ông cũng muốn biết vắng ông, ở nhà có xảy chuyện gì không ? Ông cứ tưởng vợ mừng rỡ khi nghe tiếng ông, rồi tíu tít hỏi han sức khoẻ và lúc nào ông về, vậy mà không, bà phủ đầu bằng giọng đầy cáu kỉnh :
“ Đã dặn rồi...đừng có gọi điện về....ông gọi từ đâu vậy ?”
Ông vội vã trấn an rằng không gọi từ bất kỳ máy  nào trong các cơ quan Đảng và Nhà nước mà từ một phòng khách sạn, bà vẫn gắt :
“ Khách sạn mà an toàn à ? Tôi đã dặn ông có việc gì cần lắm thì nói với thằng  Thư ký nó gọi cho tôi, tôi đã giao trách nhiệm cho nó liên lạc với tôi. Nó có đường  dây an toàn không bị ai nghe trộm...”
Ông Sáu Thượng vội vã :
“ Tôi cũng đang nóng ruột chờ nó về để tới nhà lão Bí thư thành uỷ. Lấy được giấy bãi nại của thằng Bí thư huyện rồi, nhưng chẳng hiểu sao báo chí thành phố  biết chuyện viết bài vạch trần việc chạy án của mình. Nếu tối nay không thương lượng được với Bí thư thành uỷ để ra lệnh cho thằng Tổng biên tập rút bài lại thì sáng mai chuyện sẽ ầm khắp thành phố rồi khắp cả nước nữa. Bên Viện kiểm sát cũng sợ nên chưa dám ký giấy tại ngoại cho thằng con bà. Chỉ còn mấy tiếng tối nay nữa thôi, mình không chặn kịp thời, sáng mai báo ra là hỏng hết việc...”
Ông cứ tưởng nghe xong tường trình, bà vợ ông sẽ sợ cuống cuồng , bắt ông chạy chỗ nọ, chạy chỗ kia, vậy mà không, bà chỉ cười nhạt:
“ Ông đúng là già rồi. Bao nhiêu bản lĩnh trui rèn từ ngày xưa trôi đâu hết rồi ? Chưa chi đã sợ cuống cuồng . Ông yên trí, tôi đã sắp xếp hết rồi. Ông cứ ngồi trong phòng chờ thằng thư ký nó về rồi cùng đi với nó tới nhà lão Bí thư thành uỷ...”
Ông Sáu Thượng ngớ người ấp úng :
“ Vậy ra...vậy ra...thằng thư ký nó đi xuống huyện chơi gái, bà vẫn nắm được và chỉ huy nó à ?”
Bà vợ ông bật cười trong máy điện thoại :
“ Ông hỏi hay nhỉ ? Nó là thằng thừa hành đắc lực, không nắm nó thì còn nắm ai. Thôi ông cứ chịu  khó chờ nó về, có sốt ruột mở tivi ra coi...”
Rồi chưa kịp cho ông hỏi han đôi ba câu về tình hình ở nhà, bà cúp máy cái rụp, coi như chẳng còn gì để nói ngoài cái việc dặn ông cứ phải chờ gã Thư Ký. Ông thấy buồn nhói trong lòng. Vợ chồng ông là vậy đó. Ngoài những lời lẽ trao đổi công việc ra chẳng còn nói được gì với nhau theo kiểu cách vợ chồng , ngay cả khi ông xa nhà. Ông nằm sõng sượt trên giường và nghe theo lời vợ mở tivi coi cho đỡ sốt ruột.
 Thế rồi những gì đang chiếu trên tivi làm ông trố cả mắt. Đó là một cuốn phim tài liệu nói về tỉnh vùng cao mấy năm trước ông đã từng lên đó công tác trong cương vị phái viên chính phủ. Phải rồi, đúng cái hội trường tỉnh uỷ hồi đó ông vẫn lên đăng đàn giảng nghị quyết ở đó. Ông nhận ra cả cái nhà khách tỉnh uỷ ông đã ở và để lại biết bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu ấn tượng chắc cả đời chẳng bao giờ ông quên được. Phải rồi, ở đó ông đã gặp cô con bé Thật trắng trẻo, xinh xắn, ngây thơ và hồn nhiên như bông hoa rừng. Thế rồi một kế hoạch chinh phục lâu dài đã được ông đề ra. Ông nhận cô làm con nuôi, ông là bố đỡ đầu để có điều kiện gần gũi đưa cô vào bẫy. Chẳng bao lâu sau ông đã kịp nhồi vào đầu cô bé những ảnh đồi truỵ, khiêu dâm và cả phim con heo ông giả vờ vô tình lắp sẵn trong máy để cô mở ra coi. Chỉ trong một thời gian ngắn, “con nai vàng ngơ ngác” đã sập bẫy, biến thành một thứ đồ chơi cho ông trả thù bà vợ và hưởng lạc thú tiên bồng trên cơ thể trẻ trung, cháy rừng rực với sức hút kinh hồn của con bé Gái .
Từ sau đó ông liên tục đi “công tác miền núi” và chung sống gần như công khai với “cô con gái nuôi” trong sự bao che ngấm ngầm của văn phòng tỉnh uỷ. Tuy nhiên, cái kim trong bọc cũng có ngày lòi ra. Sau khi khống chế được gã lái xe, bà vợ ông đã giao nhiệm vụ cho gã theo dõi ông và sau cùng gã đã bán đứng thủ trưởng, người đã cưu mang, cứu vớt gã khi gã đang hoạn nạn. Ông còn nhớ như in cái lần gặp “cô nhân tình bé ” trong căn phòng bí mật của nhà khách tỉnh uỷ miền núi đặt tại ngoại thành Hà Nội. Cái lần đó sau khi cho ông ôm ấp, vuốt ve trong thoáng chốc, cô đẩy ông ra từ chối quyết liệt làm  ông phải dỗ dành :
“ Có chuyện gì cứ nói thẳng ra...anh...anh sẽ giải quyết hết cho ...”
Cô bé Thật trợn mắt :
“ Thật không ? Ông nói thật không ?”
“ Thật chứ sao không ?”
Cô bé vênh mặt :
“ Vậy thề đi...thề đi...”
Ông Sáu Thượng bấm bụng cười thầm. Cái vụ thề thốt này ngày xưa ông chỉ làm khi được kết nạp vào Đảng trước cờ búa liềm. Bây giờ ông lại phải làm cái việc đó trước mặt con bé khoả thân đang nằm ưỡn ra trong lòng ông. Ông đành giơ tay lên dõng dạc :
“ Xin thề...xin thề...xin thề...”
Cô bé Thật cười  rinh rích nhưng vẫn chưa tha, bắt ông thề nữa :
" Tôi xin thề phải nuôi đứa con  do cô Thật đẻ ra...thề đi..."
Rồi cô nắm lấy tay ông đặt lên bụng cô. Ông tá hoả tam tinh khi nhận ra quả thực nó đã lùm lùm  kiểu  người mang thai tới tháng thứ ba. Đúng con bé này mang bầu thật rồi, nhưng có chắc của ông không ? Hay ông chỉ là thằng nặn bệ cho thằng  khác nặn bụt ? Mà nếu đúng của ông , làm sao ông giấu được  con mụ vợ quái quỷ ấy câu chuyện tày đình này ? Trong lòng đầy phân vân, nửa mừng nửa lo khiến ông cứ ngẩn cả người không thốt được thành lời. Cô bé Thật chờ mãi, sốt ruột :
" Ông sao thế ? Thề đi chứ  !"
Cái giọng nó thúc giục, riết róng quá làm ông cuống cả lên, thề sống thề chết rằng ông sẽ cả đời yêu thương và sẽ không bao giờ phụ bạc mẹ con cô, rằng ông sẽ thu xếp để cô về sống tại Hà Nội với danh nghĩa chính thức là vợ ông. Đúng vào lúc ông hăng hái nắm tay , hô to " xin thề, xin thề", y như trong các cuộc kết nạp Đảng  thì cửa phòng bỗng bật mở, một nhóm người mặt mũi bặm trợn, dẫn đầu đích thân là bà Sáu Thượng phu nhân ùa vào.Ông giật nảy người, chưa kịp lấy lại bình tĩnh đã thấy cô vợ hất hàm ra lệnh :
" Lôi nó đi..."
Ôi chao ôi, cô bé Thật rúm cả người lại, giãy giụa tuyệt vọng trong tay mấy gã đàn ông lực lưỡng, cô kêu cứu, gọi tên ông toáng lên, lập tức cô bị bịt miệng và lôi sềnh sệch ra khỏi phòng. Ông cứ đứng ngây đơ, cổ họng tắc nghẽn, giương mắt bất lực cô nhân tình bé bị bọn đầu trâu mặt ngựa tàn nhẫn lôi đi mà không thốt nổi lấy một câu phản đối cho dù những lời thề thốt vàng đá vừa mới bay ra khỏi miệng ông.
Cô vợ ghê gớm của ông chờ cho cô bé Thật bị lôi đi thật xa, mới khoát tay đuổi hết tay chân, đóng chặt cửa buồng, quay lại ông cười nhạt :
" Sao ? Vừa nãy ông thề thốt những gì ông thề lại tôi nghe nào !"
Ông Sáu Thượng cuống lên lắp bắp :
" Tôi có...thề thốt gì đâu...."
" Ông lại còn chối hả ? Ông vừa nắm tay "xin thề...xin thề..." khác gì ông thề trước lá cờ Đảng khi được  kết nạp...ông nhắc lại tôi nghe coi. Có phải suốt đời hy sinh phấn đấu vì lý tưởng cộng sản...à không phải...suốt đời nuôi nấng, gắn bó với con bé đó không ?"
Ôi chao ôi nhục, nhục, vợ ông mắng như tát nước vào mặt ông với những lời lẽ tục tĩu, chanh chua xúc phạm cả ông lẫn cái Đảng của ông.

                                                                       (còn tiếp)


Thứ Tư, ngày 17 tháng 9 năm 2014

Nhớ một thời VIỆT NAM CỘNG HÒA - Càphê Sàigòn .(KỲ 2)



                                                          (tiếp theo và hết)


Chẳng giấu gì mày, tao đang mặn mà với những cái tên của quá khứ cùng lá vàng rơi trên giấy, ngòai trời mưa bụi bay…Với chỉ một con đường Catina không thôi cùng những cái tên như Continental, Caravelle, Majestic, Broda, La Pagode, Givral, dẫu rằng chỉ là những cái tên. Để rồi một ngày nào đó, theo tuổi tác của những người viễn xứ, giấy đỏ buồn không thắm, mực đọng trong nghiên sầu và tàn lụi vào dĩ vãng. Nếu có thể được, cùng bên bờ đôi ngả, mày cho tao một chút vấn vương không tưởng, như lối xe ngựa hồn thu thảo, ngõ cũ lâu đài bóng tịch dương cùng những…hòai vọng. Mày vén môi : “Vậy ư “. Vậy thì mày cứ tà tà húyt gió như người Sài Gòn năm xưa qua tiếng hát Sylvie Vartan với : ”J’attendais que ma vie recommence..” là sắp tới đường Tư Do với mini jupe, montagut để tìm kiếm cô Bắc kỳ nho nhỏ… em có nhìn anh giữa đám đông, trong đám đông.
Nếu mỗi hẻm nhỏ, mỗi góc phố, mỗi hàng cây, đều thấp thoáng bóng hình của bạn xưa trường cũ…Hãy khoan đã, mày muốn là thổ công Sài Gòn hay lõi đời với ba chữ dấm dớ ở nhà Tây, lấy vợ Nhật, ăn cơm Tầu. Mày muốn chấm bánh croissant vào cái tách cà phê sữa to bằng cái bát ăn cơm. Hoặc giả như như ngày này năm ấy, muốn gặp Sartre, Camus da vàng mũi tẹt đeo kính cận vuông đồi mồi to tổ bố, ngậm ống vố dài ngoằng và luận về thuyết hiện sinh hay dấn thân cùng thân phận bèo bọt thì cứ táp vào quán Chùa. Mày sè được ngồi trong cái ghế da to đùng, ôm cái bàn nặng chình chịch, được nghe kể chuyện tán đào, rầu rĩ ôm gối thất tình hay châu đầu vào nhau tính chuyện lấp bể dời sông, hay sì sầm bàn tính đường trốn lính. Và mày sẽ được hút thuốc lá có mùi nhang thả dàn, cuối chầu là quên bẵng chuyện ai là đầu tầu…trả tiền cà phê! Thế nên thổ địa mới được gọi là quán…chùa chăng ? Thôi thì mày cứ hoài cố nhân về những thằng áo liền quần với cái kính ray-ban, thằng thì mầu áo hoa rừng đeo khăn quàng cổ, dẫu gì tao cũng muốn thả rong về một thời chinh chiến cùng cái poncho mầu cứt ngựa mà mày. Thôi…”zu-lu”.
Mày ớ ra với “zu lu”…thì cũng “dzọt” cho phải phép đấy thôi. À mày hỏi tao đi đâu hả, thì quay về vùng đất địa linh nhân kiệt của Sài Gòn đấy mà, nhân tài và quán “cà phê” thời nào cũng có, đông như tổ đỉa.
Vậy thì hãy ghé quán cà phê Thu Hương, thảnh thơi bước vào một sân gạch rộng, từ trong có thể nhìn ra đường qua những song sắt nhỏ sơn xanh, cũng với một dàn hoa giấy phủ rợp. Mày hãy mộng dưới hoa về một ông chủ quán khó chịu một cách…dễ thươg. Hình như với ông, bán cà phê như một nghệ thuật kỳ thú với nghệ thuật vị nhân sinh. Mày muốn làm một cái phin chăng ? Xin cứ ngồi yên đó, việc của mày là đợi, đừng táy máy đụng vào làm hư ”tác phẩm” của ông ấy. Cà phê bưng tới, ông ngồi đâu đó như rình thời gian và… rình mày. Ông rình mày như mèo rình chuột.
Trong lúc ông nhìn trời, cà phê trong “nồi” lặng lẽ, từng giọt, từng giọt âm thầm theo nhau rụng xuống đáy…trầm luân. Như tao đã giải lý, cà phê rụng xuống không hấp tấp. Một giọt cà phê tự hư vô không bào giờ vội vã. Giữa khung cảnh của cái thời yêu cuồng sống vội ấy. Giọt cà phê chân chính không bao giờ biết nói dối. Vẫn bình tĩnh, thong thả, đủng đỉnh lắc lư, chán chê rồi bấy giờ mới buông mình xuống đáy tách.
Đừng nôn nóng gì cả, mày sẽ có tách cà phê để đời. Ông sẽ xuất hiện đúng lúc cạn phin, sẽ bỏ đường và khuấy đều cho mày và sẽ lịch sự…“Xin mời” khi mọi việc đã mồ yên mả đẹp. Mày táy máy mở cái nắp phin ư, nước chảy ào ào để lỏng le còn gì là Thu Hương nữa ! Mày bỏ đường ngọt như ăn chè Hiển Khánh và còn khuấy thìa cốp cốp kiểu đó cà phê sẽ chua lét là mày giết ông ấy rồi ! Khách đến với Thu Hương là ai ? Nhiều lắm, có thể họ từ bên trường Luật qua, từ dưới Văn Khoa, Dược, Nông Lâm Súc xuống. Họ đều có điểm giống nhau là tất cả đều tha tập cours quằn tay. Nào là “Nói Với Tuổi 20” của Nhất Hạnh hay “Hố Thẳm Tư Tưởng” của Phạm Công Thiện với mặt trăng hiếp dâm mặt trời. Hoặc giả như một thời buồn nôn phi lý hay buồn ơi chào mi qua Jean Paul Satre, Abert Camus, Francoise Sagan. Ấy là Sài Gòn một thời bút nghiên đèn sách đấy mày, họ kéo nhau ngồi đấy, bập môi kéo thuốc nhả khói như điếu cầy, không phải Mélia vàng hay Basto đỏ mà phải Basto xanh giống thuốc lá Gaulois cho ra dáng Tây, cho có vẻ phong trần cát bụi. Cứ như thế mà trầm ngâm suy tư, rì rào tâm sự và…thiêu đốt cuộc đời, đốt cháy thời gian. Nể không mày.
Vừa ra khỏi quán Thu Hương, miệng mày mấp máy ra cái điều làm một quả…quẹo trái đi ? Ấy không được đâu, lạng quạng mày dám ngược dòng lịch sử để trở về thời hông hoang, như ngày nào mày lại viễn mơ về những cuộc hành trình dọc theo con đường của hai Bà, Cầu Kiệu, Võ Di Nguy, Chi Lăng là gặp lại một thoáng hương xưa với “một tiếng kêu cha” ở bệnh viện Cộng Hòa và xa hơn một chút nữa với “hai tiếng kêu chú” ở Ngã Ba Chú Ía. Đừng dại mày, đừng bao giờ trở về tắm lại hai lần cùng một dòng sông để thăm…. chốn cũ người xưa. Người kỳ nữ đâu không thấy, ngoảnh lại chỉ thấy đất xưa rày đã lên đồng, chỗ dựng nhà cửa chỗ trồng ngô khoai. Chuyện vật đổi sao rời là vậy đấy, thưa mày.
Với Sài Gòn không nắng thì mưa, hay tháng sáu trời mưa, trời mưa không dứt. Hoặc giả như gọi nắng cho cơn mê chiều nhiều hoa trắng bay… Với đình thụ bất tri nhân tận khứ, xuân lai hòan phát cựu thời hoa, để nay tao thấy khúc phố nào cũng có dăm nhà ẩn mình sau giàn bông giây hồng tươi mầu xác pháo hay dây thủy tiên chói đỏ… Có một điều lạ, đất khách quê người, loáng một cái như một giấc mơ hoang, tao quên bẵng đi những bụi hoa lạc loài ấy, mà chỉ miên man đến hoa phượng, hoa điệp như con cuốc gọi hồn. Những con đường Sài Gòn qua ký ức của tao là vậy.
Từ đầu thập niên 60 cùng cái “sây chừng” với 1 đồng 3 điếu Ruby, để bắt đầu lớn lên cùng tách cà phê đắng chát… sau đó phun khói mịt mù. À mày hỏi tao lầu bầu gì ấy hả… Ừ thì tạo hóa gây chi cuộc hí trường, đến nay thấm thoắt mấy tinh sương, rằng đường mưa ướt đất để đi xuống một chút nữa, gặp một khúc phố… Ấy là tao muốn mày ghé quán Văn Hoa.
Quán có món…cà phê đá, chẳng phải là đá bào, đá cục. Mỗi viên đá chỉ to bằng đầu đũa đè lên nhau đầy ứ như bị ẩn ức. những viên đá dẫy dụa như muốn buông thả. Cầm cái ly lên tay mát lạnh vì ẩm ướt, lắc lắc kêu lanh canh, nhấp một ngụm, lạnh cả người, lạnh cả đầu lưỡi. Nó cứ chui tuốt xuống cổ họng, lại thấy cái lạnh lan man khắp lục phủ ngũ tạng, len lỏi thăm thú từng phân vuông da thịt. Ngoài một chỗ ngồi, tao muốn trở về hai bên vỉa hè đầy cây cao thẳng tắp, để trăm nhớ nghìn thương với quán Văn Hoa cùng gió nồm rồi lại gió hanh, bể dâu thì đành bể dâu. Chẳng là ở đấy tao có nụ hôn đầu đời thắm mùi ngô non với người tình nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát, bởi vì em măc áo lụa Hà Đông.
Rồi tao đưa em vào hạ, vào rạp Văn Hoa với bóng tối đèn mờ. Lần đầu tiên trong đời tao mới biết thế nào là ngứa ngáy, là bàn tay năm ngón kiêu sa tháo mở với…sào khô, sào ướt đến…khó chịu. Tao đang khơi đống tro tàn, nói dại chứ, ai chẳng muốn làm người lớn thì cũng phải bước qua giữa lối đi hẹp trong bóng tối âm u. Chữ nghĩa buông xả và niệm rằng: tao chỉ vọng cố hương qua đường xưa lối cũ cùng một vạt áo dài ngang ngang…đầu gối. Trái nắng trở trời với mưa không ướt đất nắng không ấm đầu, tao thương hoài nghìn năm về một tà áo tiểu thư qua tách cà phê đá và…không hơn đấy thôi.
Thêm một cái quán nho nhỏ để gợi nhớ đằng cuối đường Pasteur. Đầu ngã ba này là nhà may Thiết Lập phía đường Nguyễn Đình Chiểu, cuối ngả tư kia là phở Hòa : ấy là quán cà phê Pateur. Quán nhỏ bé với một cái tên, gọi riết thành quen vì rằng quán có tới ba chị em, cô Hồng, cô Hà và cô út tên Khuê. Quán không có bảng hiệu, mặt tiền trông ủ ê cũ kỹ với cửa nẻo mầu xanh lá cây. Ngày ấy tao ngất ngư với dòng nhạc mệt mỏi cở… đại bác đêm đêm vọng về của Trịnh Công Sơn như… cánh vạc bay, để rồi bay lên vút tận trời, từ nay xa cách mãi. Nói rõ ra là với những âm hưởng này, khách đến quán với một chút “cát bụi” như…đàn bò vào thành phố.
Quán hồi đó có những ai nhỉ ? Vẫn hồn ma bóng quế của những dị tướng, dị nhân. Những hiện tượng cổ quái của một thưở với tóc tai như tổ quạ, mặt mày nhăn nhó khó coi, quái nữa là những khứa này lại sính nói chuyện…vô vi. Lại có khứa mang vóc dáng khinh đời khinh bạc, đi guốc, mặc áo nâu sòng, ngồi vất mật vào tường và lầu bầu một mình như…Bùi Giáng. Ấy đấy, khách ngồi quán đếm không xuể kể không xong, nay lâu lâu lại có dăm thằng bạn cà phê một thuở thì thào qua điện thọai, chuyện cũng chỉ nhắc lại quán cũ cùng thằng này thằng kia cùng một thời thế sự du du hề một thoáng bạch câu. Quán đã đi vào quá vãng, dãy phố buồn hiu trống vắng, ảm đạm của thành phố một thời người xe tấp nập như nêm cối.
Một chiều, tao đã đứng ở đấy rất lâu, trước mặt quán bây giờ cái đống rác to bự sự và u hoài về cô hàng cà phê tên Hồng giờ chẳng biêt luân lạc ở góc trời chân biển nào. Thì đùng một cái, qua một bài viết của Phan Nghị, ông tự sự cô là người tình liễu trai của ông trong cái tuổi thất thập cổ lai hy. Đêm đêm hồn ma của bác phu quét đường, đàn bò, cánh vạc, đại bác, cứ
nhè tai ông kêu réo, sau đó ông đành giã từ cõi nhân gian. Chuyện tình cô hàng cà phê là như thế đó. Cà phê nào mà chả đắng, cuộc tình nào mà chả…đen đủi. Thì cũng là chuyện vậy,  thưa mày.
Cùng Sài Gòn lang thang trên đường Hồng Thập Tự chạy dài là gặp Đinh Tiên Hòang. Mày vỗ vai tao… Ừ thì sắp về đến một vùng thổ ngơi mà âm hưởng là bánh cuốn Thanh Trì nằm trong con hẻm Trần Khăc Chân, thứ bánh cuốn mỏng tang, không nhân, chấm nước mắm nhĩ mầu cua đồng, cay xè vị ớt bột, kèm miếng đậu rán nóng hổi, dòn tan, thêm miếng chả quế, giò lụa trắng phau, ăn quên chết. Cũng nơi chốn này, còn có quán chả cá Thăng Long, với xoong mỡ sôi đổ lên đĩa chả cá hòa nhập trong lá sung, lá ổi. lá mơ xanh um. Nghe tiếng mỡ xèo xèo đầy “ấn tượng”, vậy mà tao vắt óc nghĩ mãi không quán nó nằm ở cái xó xỉnh nào, thoáng như hiện ra ở Xóm Chùa đường Lý Trần Quán thì phải. Ngựa xe rong ruổi, mây chiều gió sớm, thôi thi hãy đảo qua đường xưa lối cũ với những Đinh Tiên Hoàng, Hiền Vương, để còn gì nữa ở vùng đất im ắng này.
Ấy là tao muốn ngược về một buổi hoang sơ trở lại với một góc phố Đa Kao bây giờ, mày ngó vào một căn nhà cửa đóng then gài mà trước kia là cà phê Hân. Không nói mày cũng biết tỏng là quán loại…cao cấp vì bàn ghế ở đây đều…cao, tạo cho khách một tư thế ngồi nghiêng ngả và bàn nào cũng thủ sẵn những tạp chí Pháp ngữ số phát hành mới nhất cho nó Tây. Thì như tao đã luận ngữ ở trên, người Sài Gòn thưở đó rất Tây. Ấy là chưa kể cái nghĩa địa cũng Tây nốt gần đấy. Ở quán Hân này, như mày thấy đấy, bàn này người rì rầm nói chuyện, bàn kia người trầm tư lơ đãng, tạm lắng xuống những lo toan vất vả của đời thường, chẳng ai để ý đến ai.
Ma đưa lối quỷ dẫn đường, tao vô tình vồ được một mớ văn chương của mấy ông nhà văn Hà Nội viết về Sài Gòn hôm nay. Đọc mà tức anh ách vì họ vào đến đây, kẻ thì bắng nhắng như nhặng vào cầu tiêu, kẻ thì ngơ ngác như quạ vào chuồng lợn. Một bữa, đủng đoảng thế nào tao nhúm được một bài viết của một người Hà Nội…đàn bà, viết về Sài Gòn với quán cà phê với phố phường. Nên tao mới khoe mẽ với mày như thế này đây:
“Tôi, sinh ra và sống ở Hà Nôi 25 năm. Yêu Hà Nội đến cực đoan. Bỗng thấy trong mình tìm được những lắng đọng, trầm sâu qua nhịp cầu với thành phố Sài Gòn phương Nam như bức tranh hiện thực ba chiều gió mưa. Nắng tràn trề rất trẻ, nắng chạy theo người, qua kẽ lá, những phố phường…”. Và một đọan khác : “Sài Gòn trên cao, Sài Gòn dưới thấp, Sài Gòn nhìn thẳng, Sài Gòn nhìn nghiêng, Sài Gòn quay mặt. Sài Gòn hối hả triền miên, tất bật đa đoan nhưng phóng khoáng và rộng lượng”.
Tao chịu đèn hột vịt nhất ở khúc này:
“Sài Gòn mất tên… Nhưng Sài Gòn vẫn mộng mơ. Sài Gòn sóng sánh cà phê, nhớ nhung, chạy theo ký ức, chạy theo những con đường của mưa, của nắng, của những chuyện tình trong nhịp phồn sinh…Vậy mà bao nhà thơ, nhạc sĩ, những người gắn bó lâu năm ở thành phố này, rất hiếm khi viết được tác phẩm thật hay về vóc dáng, phong cách của thành phố ấy. Phải chăng vì nhiều nắng đến phát sốt, nắng đến rực lửa ầm ào để con người Sài Gòn cởi mở hơn và cũng hồn nhiên hơn. ”.
Ngươi viết lắng đọng :
“Anh thầm thì hát nho nhỏ bên tai em khúc nhạc “Em còn nhớ hay em đã quên” của họ Trịnh, để em vẫn nhớ những con đường me anh chở em qua. Không phải là kẻ hoài cổ, mà bởi vì cái đẹp của quá khứ, sao nhớ mưa xuân Hà Nội, cũng như khi chúng mình đi trên đường phố se lạnh của Sài Gòn, đường trải gấm hoa điệp vàng và lá me hát trong gió, lá me bay khiến nắng trong đến lạ, trong tóc em gió từng cơn rơm rả làm những chùm quả me rụng xuống những thanh trầm quanh những thân cây được mặc áo lụa mầu, nắng Sài Gòn em đi mà chợt mát. “
Và chấm dứt tùy bút ngắn với :
“Nhưng cứ mỗi lần đi xa lại nhớ, lại mong trở về Sài Gòn cà phê cùng những quán cóc vỉa hè, những vỉa hè dát nắng. Với những người đã đến, khó mà thóat khỏi những cảm giác tiếc nuối của Sài Gòn một thuở. Nỗi nhớ chạy theo ký ức tình yêu tình tứ-tĩnh lặng còn đến bây giờ. Sài Gòn thăng trầm binh biến, nỗi nhớ ấy cứ cuốn hút chạy theo những con đường, con đường chạy theo những khuôn mặt già-trẻ, cũ kỹ thanh-xuân. Sài Gòn khao khát, đi-về, lúc mệt mỏi, vô cảm, khi viên mãn-muôn mảng mầu sắc, bức tranh hiện thực và ấn tượng của không gian ba chiều nắng-mưa…”
Và cô buông bút một câu để đời, tao nhớ mãi :
- Sài Gòn đổi tên, mới cũ nhập nhòa nhưng cái tên không thể mất.
Người viết có cái tên nghe rất quen. Nhưng tao lại không nhớ mới khỉ.
Trở lại với mấy ông nhà văn Hà Nội viết về Sài Gòn bây giờ, như cô phóng bút : “rất hiếm khi viết được tác phẩm thật hay về vóc dáng, phong cách của thành phố ấy”. Ngược lại, họ… bức xúc với Hà Nội có con đường ngắn nhất tên hồ Hòan Kiếm, gần đấy có rạp cíné Lửa Hồng ở phố Hàng Trống, xa hơn một tí nữa là phôt Cầu Gỗ có với cà phê Giảng. Nhưng họ đâu biết Sài Gòn, đường Hiền Vương với Cầu Bông có con phố ngắn nhất là Nguyễn Phi Khanh với rạp Đa Kao.
Nhà văn Hồ Biểu Chánh
Con phố có từ đầu thế kỷ 19, theo cụ Hồ Biểu Chánh : “Phố là phố đúc được dựng lên chen chút lẫn nhau không thứ tự, có cả nhà ngói, hàng rào sắt coi sạch sẽ san sát nhau…”. Hay nói khác đi nơi đây là một góc nhỏ ẩn khuất, khu phố cổ thu hẹp, khép kín của Sài Gòn. Mày nghĩ tao có nói quá chăng ? Thì mày hãy thử ngắm mà xem, từ con phố này gặp con phố Nguyễn văn Thạch cũng chỉ mấy trăm thước, ở đó không có cái tập nập mắc cưởi của phố thị, nó trầm lắng cô liêu, im ả tách biệt. Nhà nào cũng nhỏ, cất cao hơn mặt đường mấy với bực tam cấp xi măng, mở cữa ra là có thể nghe người bên trái nói, thấy người bên phải cười và có cảm tưởng như có thể đưa tay ra bắt tay nhau được với người đối diện bên kia.
Cả con phố ngắn nhất Sài Gòn trên, chỉ với dăm căn nhà chật chội, mái ngói xạm mầu rêu, trồi sụt nhấp nhô. Mà cũng có một cái lạ, như tao đã thưa thốt, bỏ đi thì nhớ, về gặp lại thấy bồi hồi vì phố cũ vẫn như vậy chẳng đổi thay, nhật mộ hương quan hà xứ thị, yên ba giang thượng cổ nhân sầu, sầu qua nỗi nhớ cùng con phố ấy một thời tao đã đi lại lắm lần qua những ngôi nhà cửa đóng im ỉm như trơ gan cùng tuế nguyệt.
Ở đấy cũng có một quán cà phê mà gần đấy có… cái cột đèn, dường như là cái chỗ người ta dựa lưng đợi nhau. Mà mày đang múa máy chỉ chỏ gì vậy, mày lẩm nhẩm hình như căn nhà của cụ thầy bói mù Ba La râu tóc bạc phơ có vườn hoa giấy, chẳng phái đâu. Thằng khỉ, thì như tao vừa nói : đó quán cà phê Thái Chi năm xửa, năm xưa với một nhớ hai quên đấy, thưa mày. Mày còn nhớ chứ, quán là cái phòng khách chỉ đủ chỗ cho ba bốn chiếc bàn, không có nhạc, không gì cả ngoại trừ một bức tranh đen trắng treo trên vách được cắt ra từ một tờ báo ngoại quốc. Tranh chụp một bàn tay giắt một em bé vai đeo cặp sách, mắt mở to, miệng mếu máo, phía dưới có hàng chữ : “Đi học hả ? Hôm qua đã đi học rồi mà”.
Khách đến với quán nhiều lần thành quen, từ quen hóa thân, ngồi dai dẳng như muốn dính vào tường. Mà cũng quái, không biết từ hồi nào, khách hễ vào quán cà phê mà ngồi không lâu y như rằng, là tự nhiên cảm thấy…áy náy. Và chị thì dường như chẳng lưu tâm đến cái chân lý bất biến này. Khách ngồi không mặc khách. Chị làm công việc…một ngày như mọi ngày của chị. Cả hai không dính dấp gì đến nhau. Vậy đấy.
Chị Chi pha cà phê nhưng quen tay vần là trà xanh. Mỗi người một vẻ, như quán cà phê ông Nhân, ông Giảng, cái này số nhà 88, cái kia số100. Quán này có rượu rhum, bơ bretel, quán kia có cà phê…”ovaltine”. Với chị thì khác, lúc nào cũng thế, trà được bốc một nhúm ngang lòng ấm, nước vừa độ sôi, thời gian vừa đủ, nước trà vàng tươi, ngai ngái thơm trong những chiếc ấm gan gà nhỏ nhắn, xinh xinh. Mỗi bộ ấm có kèm theo những chiếc tách cùng màu, to bằng hột mít, vừa đủ cho vài hớp nước nhỏ. Nhắp một ngụm trà, chuyện trên trời dưới đất, thóang trông nhàn cư và thoát tục như ai.
Chẳng mấy ai nhớ đến số nhà của quán chị Chi, chỉ biết rằng nó nằm ở  con phố nhỏ Nguyễn Phi Khanh. Ấy vậy mà cách đây mấy năm, ngày chị đi vào cõi tĩnh mịch, có tới hơn hai trăm khách quen theo linh cữu chị để tiễn đưa. Nghĩ cho cùng mấy ai được như vậy. Tất cả chỉ vì cái tình tri ngộ qua hình bóng lắng đọng với cái tên thân quen, gần gũi: quán chị Chi.
oOo
Ừ thì bằng vào tất cả những gì tao nhắc tới qua bài tản mạn này là một thóang ngày cũ, một chút cảnh xưa, một phần hơi thở và nhịp sống của Sài Gòn trong trí nhớ. Mây vẫn bay, ngày vẫn trôi đi, ai chẳng có một cái quán của riêng mình còn đang bồng bềnh ở đâu đó, nơi quê nhà.
Và ngẫm cho cùng nếu có đi hết đất, có đi hết biển thì ai cũng chẳng có một hạt sạn trong chiếc giầy, mới đầu chỉ bằng hạt cát, theo tuổi tác cứ lớn dần bằng hạt đậu, hạt sỏi rồi thì to bằng quả núi Tu Di, và để rồi…một ngày : “Anh về thăm chỗ đợi xưa – Cây cột đèn ấy hình như nhớ liền – Căn nhà có cội mai vàng – Ngưoi ta đã đốn mở hàng cà phê”.
Ừ thì bằng vào cái tuổi vắng gió đìu hiu này…Mấy ai chẳng một lần hòai cổ, hoài cố quận với hoài cố nhân cùng Sài Gòn vắng những cơn mưa.
Rồi mày cũng sẽ có một ngày…
Phí Ngọc Hùng


nhà văn NHẬT TIẾN : Thềm hoang - KỲ 6

                                                        (tiếp theo)

Chương 4
Vào những lúc buổi chiều sâm sẩm tối, mọi người trong xóm Cỏ mới trở về đông đủ. Nhất là lão Hói thì không hôm nào vắng mặt. Lão đi đâu ít ai biết ngay từ lúc trời còn sương lạnh buổi sáng và trở về rất đúng giờ khi thành phố mới lên đèn. Nhác trông từ xa, người ta đã nhận ra ngay cái hình thù kỳ dị của lão. Lão đi lom khom, cái đầu nhẵn bóng giơ ra phía đằng trước. Khuôn mặt của lão tóp lại, choắt choeo. Mũi lão đỏ ửng như một quả cà chua. Cặp lông mày rậm, lốm đốm bạc rủ xuống hai con mắt lúc nào cũng đục ngầu lên, tráo trưng vì men rượu. Tứ thời lão bận một cái quần tây vàng, mất một khúc gấu, vừa bẩn vừa rách, thắt lưng chẳng có, lão đã thay bằng một sợi dây gai luồn qua cạp quần, buộc túm lại ở phía đằng trước. Lão bận một cái sơ mi lụa nhuộm màu nâu già, lúc nào cũng bốc ra mùi hôi khét lẹt và chua như mẻ. Vai lão đeo một cái túi vải. Trong túi, lúc dốc ra, người ta nom thấy có một cỗ bài tây cáu ghét, một cái khăn tay nhầy nhụa mũi dãi và mồ hôi, một gói giấy đựng thuốc lá sợi đen và một cái bật lửa cũ kỹ vừa nặng, vừa thô, đã phai bóng cả nước mạ bên ngoài. Đó là cả cơ nghiệp của lão.
Lão kiếm ăn bằng gì, không ai rõ. Nhưng lúc nào lão cũng ra vẻ phong lưu. Thuốc lá sâu kèn lão phì phèo luôn trên miệng. Rượu lão nốc hàng chai. Và buổi chiều khi trở về lão say sưa sung sướng như một người không vướng víu nợ đời. Lần cháy nhà trên phố, lão khiêng về được một cánh cửa cháy dở. Lão đem kê nhờ dưới mái hiên nhà gã Hai Hào làm chỗ ngủ. Những hôm trời mát, lão vừa đập muỗi vo vo trên mặt, vừa chõ mồm qua lỗ hổng của vách đất nói chuyện huênh hoang với gã chủ nhà. Có hôm lão đọc cả thơ cho Hai Hào nghe nữa. Thơ lão thì lẩm cà lẩm cẩm, vừa đọc lão vừa giảng:
"Ngọc xuất thiên cung thủ quả châu. Ngọc đây là Ngọc Hoàng Thượng Đế đó. Ông trời mà... ông trời xuất ngai ngó xuống tụi mình.”
Hai Hào hỏi:
"Vậy chớ quả châu là quả gì?"
"Châu là châu báu. Vàng bạc châu báu ông trời thiếu gì. Người ta đây ổng còn sinh ra biết bao nhiêu nữa mà..."
Rồi lão ngâm tiếp:
"Ngọc xuất thiên cung thủ quả châu. Hoàng thiên thương mến quả địa cầu. Ông trời bình đẳng mà, ổng không về phe một ai hết, ổng thương mến hết ráo trọi mọi nơi, mọi người... cùng khắp địa cầu này. Vậy mới xứng bực ông trời chớ.”
"Ổng thương hết mọi người sao tụi mình khổ mãi vậy cà?"
Lão Hói cười ha hả:
"Vậy mới có thơ chớ! Phải biết... thơ này "sâu" lắm mà. Nghe nốt coi nè:
Hoàng thiên thương mến quả địa cầu
Giáng tạo thay đời không tranh đấu
Thế giới thanh bình khỏi thuế sâu.
Rồi coi nghen, ông trời sẽ thay đổi tuốt hết cái thế gian này. Vì trên đời này thì nhất hết thẩy là ổng mà. Ổng sinh ra mình, sinh ra cây cỏ, sinh ra mọi thứ lu bù. Tây, Tầu, Anh, Mỹ gì cũng thua ổng ráo trọi..."
"Thôi đi cha... Thời buổi nguyên tử mà cha tính nói những chuyện đâu đâu.”
"Chèn ơi... Cha biết một mà không biết mười. Qua hỏi nhen, ừ thì các cha có tàu bay hoả tiễn tùm lum, thử hỏi không có khí trời của ổng trên đầu thì các cha có nghẹt léc không. Ông nội ơi, cứ là rơi rụng tuốt luốt hết! Thế cho nên mới:
Giáng tạo thay đời không tranh đấu.
Thế giới thanh bình khỏi thuế sâu... mà!"
Thấy Hai Hào làm thinh, lão nói tiếp:
"Lúc đó nghen, không còn có cái nước chiến tranh um sùm bậy bạ như bây giờ. Không tranh đấu mà. Chiến tranh không còn thì thế giới thanh bình, người người ấm no. Đến cái nước ấm no cả rồi thì còn ai thâu thuế mần chi. Chèn ơi...hay thiệt hay..."
Rồi lão lại cất giọng ư ử ngâm bài thơ tuyệt tác của lão mãi đến khi trăng lên quá đỉnh đầu. Nhiều hôm nằm ngủ quên, mưa đổ xuống ướt không còn một sợi tóc. Ấy vậy mà lão chẳng hề bao giờ ốm. Sức lực lão dai như đỉa. Cứ sáng tinh mơ là đã thấy lão thức dậy, ngồi bó gối hút thuốc một mình trong góc tối. Môi lão bậm lại, mũi hếch ra, hai bên gò má tóp lại làm nhô lên cái lưỡng quyền cao và nhọn. Đến khi trời bắt đầu hửng sáng là lão lại xách cái bị lên vai ngất ngưởng đi ra ngõ để mãi đến tối mới trở về với hơi men sặc sụa.
Hôm nay lão đi khật khưỡng qua lề đường. Ống chân nhún nhẩy trên đôi giầy ba ta rách lòi cả ngón chân. Hai tay lão múa may. Miệng lão lẩm bẩm. Có khi lão ca vọng cổ một mình. Bọn trẻ trong xóm mê cái tính khôi hài của lão nên hễ nhác thấy lão về là chúng bu lại. Một đứa chổng mông vào mặt lão, đít cong lên, ngực ưỡn ra phía trước, hai chân nó đi khệnh khạng, miệng nó hét to:
"A lê! Đi nào... ắc ê... ắc ê..."
Lão Hói cũng vội vàng khuỳnh hai đầu gối xuống, đít lão ngoe nguẩy, hai tay lão vung lên bắt chước kiểu đi của thằng bé, miệng lão kêu theo nó:
"Ắc ê! Ắc ê!"
Bọn trẻ khoái chí vỗ tay reo ầm ĩ. Chúng nó theo lão đi mãi vào mạn trong xóm Cỏ. Đám người đi qua nhà ông Phó Ngữ. Đào ở trong ngứa miệng hỏi ra:
"Mấy cút rồi lão Hói?"
Lão Hói đứng dừng lại. Cặp mắt của lão hấp him. Lão nhìn hai cái bụng chân trắng nhẫy của Đào lúc nàng đang xắn quần tưới những gáo nước lên gánh rau đầy tú hú. Rồi chẳng chờ Đào hỏi thêm một tiếng, lão sà ngay vào bực cửa. Đào chu chéo lên:
"Khắm chửa! Vô đây làm gì? Đừng có ám quẻ người ta, bố già..."
Lão Hói bật lên cười, giọng lão lè nhè sặc men rượu:
"Qua dô uống nước, ăn trầu mà..."
Đào buông cái gáo xuống đất, lấy cả hai tay tì lên vai lão, đẩy ra ngoài. Lão Hói lùi lại loạng choạng. Mùi mồ hôi chua loét xen lẫn với hơi thở nặng nề của lão khiến mũi Đào chun lại. Nàng "xì" mấy cái thật mạnh và dúi hắn lão ra khỏi bực cửa. Lão Hói ngã ngồi ngay xuống những viên gạch lổn nhổn. Hai chân lão duỗi ra, người lão vặn đi mấy cái. Xương lão rão ra, kêu ục ục. Lão khoan khoái cười nhăn cả mấy cái răng cải mả móm mém. Lão không giận Đào mà chỉ lẳng lặng lục cái túi lấy ra bao thuốc lá, nhón một dúm đặt lên miếng giấy mỏng rồi vê tròn trong hai bàn tay. Quấn xong điếu thuốc, lão châm lửa hít một hơi thật dài. Miệng lão phà mạnh những sợi khói khai và khét lẹt vào mặt lũ trẻ. Bọn chúng nó túa lên, thi nhau nhẩy thật cao để bắt những sợi khói xanh lơ bay tản mạn. Mọi người đi ngang qua bị nghẹn ứ lại, chen chúc chật cả lối đi trong tiếng cười nói loạn xạ.
Chợt một cái xích lô từ xa lăn khấp khểnh vào lối ngõ. Tiếng vành xe nẩy lên xọc xạch, xen lẫn với tiếng chuông bóp ầm ĩ. Gã Hai Hào vừa đập vào thùng xe vừa hét:
"Dô... Dô..."
Bọn trẻ túa ra hai bên rìa đường rồi lại ùa tới. Chúng nó bỏ lão Hói để trèo lên chiếc xe. Đột nhiên cái xe nặng trĩu những người. Có đứa trèo phắt lên đệm, có đứa đánh đu ở đằng trước, ở đằng sau, nom xúm xít như một chùm sung, lố nhố hàng chục cái đầu cạo nhẵn, đầy chốc và lở. Hai Hào nói lớn:
"Tụi bây rút chân nên, không kẹp chết đừng kêu!"
Nói rồi gã đứng lên đạp. Bắp thịt của gã nổi cuồn cuộn ở trên hai vồng tay. Mồ hôi loang loáng thấm ướt cả lần áo thung rách lỗ chỗ. Đít gã cong lên, ngoáy bên nọ, ngoáy bên kia. Nhắc trông thấy Đào đứng trong khung cửa, gã cất tiếng hát:
"Đào thơ niễu yếu em ơi!
Kén gì cho đặng bằng nơi anh hào!"
Cho rằng mình dùng được chữ "anh hào" mấy nghĩa, Hai Hào cất tiếng cười khoái trá. Tay gã lại gõ vào thùng xe, đít gã lại ngúng nguẩy, gã hò không ngớt miệng:
"Dô... Dô..."
Ở trong khung cửa, Đào liếc gã một cái thật dài, rồi nàng hắt theo cái xe ọp ẹp một gáo nước lã. Gáo nước văng lên tung toé khiến lão Hói nhỏm phắt dậy, chu chéo lên:
"Ý trời đất ơi... Bộ đui hả?"
Đào trông ra, vội vàng nói:
"Ấy chết... xin lỗi! Tưởng lão đi rồi.”
Lão Hói vừa cằn nhằn vừa phủi những giọt nước dính đầy cả cổ lẫn má, rồi lão nói:
"Đàn bà đâu có thứ đàn bà..."
Đào dẩu môi lên, hỏi xẵng:
"Khắm chửa... đàn bà làm sao?"
"Đàn bà đẹp quá cỡ chứ làm sao!"
Đào bật lên cười, hắt nốt gáo nước cặn về phía lão rồi lại cúi xuống vục nước tưới lia lịa lên gánh rau. Lão Hói lèm bèm một lúc rồi cũng xách túi lên vai. Mồm lão lại cất tiếng ư ử:
"Ngọc xuất thiên cung thủ quả châu
Hoàng thiền thương mến quả địa cầu... Có ông trời! Có ông trời thiệt mà..."
Đến đầu lối rẽ, lão ngừng lại trước tiếng khóc như ri của ba đứa trẻ. Chúng nó là con nhà mụ Năm Trà. Năm Trà đi lính từ mấy năm nay. Gã để vợ một mình nuôi mẹ già và bầy trẻ. Hàng năm gã chẳng gửi về nhà lấy một đồng xu. Mụ Năm Trà vất vả ngược xuôi lo lắng mãi rồi cũng đâm chán. Mụ coi cái bổn phận của mình là một món nợ lớn. Bà cụ lẩm cẩm và già nua chẳng giúp cho mụ được gì hơn là dò dẫm ra vào với ba đứa cháu nội. Một đứa gái lên sáu, môït đứa gái lên năm và một thằng bé lên ba. Chị em chúng nó là hiện thân của sự nghèo đói. Quần áo không được lấy một cái lành lặn. Mặt mày nhem nhuốc, bẩn thỉu và lúc nào cũng vêu vao vì bữa có bữa không. Mụ Trà thì đi lên phố tối ngày. Một vài hôm mụ đổ vào thùng dăm ba chục lon gạo. Vại dưa trong nhà ủng lên, đóng váng dầy đặc, chưa ăn hết đùm này đã ấn vào đùm khác. Thỉnh thoảng lắm mụ mới mang về cho mấy khúc xương bò, thứ xương vớt ra ở thùng phở. Lũ trẻ nhôi nhai gậm nhá hàng buổi. Tuy vậy không phải mụ ta nghèo đến độ ấy đâu. Mụ có vàng đeo ở hai tai. Cổ tay còn có đôi xuyến. Mỗi lúc ra đường, mụ toàn bận quần mỹ a với cái áo bà ba may bằng phin nõn. Mụ mới ngoài ba mươi nên trông vẫn còn xuân sắc lắm. Hai gò má hồng hào, cặp môi bôi son đỏ chót. Bộ ngực thỗn thện của mụ kín hở trong cái áo nịt bằng sa tanh đen, thít hằn lên lớp da in rõ sau lần áo mỏng. Ra ngoài thì mụ tươi tỉnh như hoa. Nhưng ở nhà thì mụ không ngớt gầm gừ với mẹ chồng và các con. Cặp mắt sắc như dao của mụ lườm chúng nó như muốn giết. Đối với chúng, mụ ít lòng thương. Mụ cầm đầu đứa này đập vào đầu đứa nọ. Có khi mụ bóp cổ chúng nó rồi lắc lia lịa khiến mắt đứa bé cứ trợn lên. Bà cụ chẳng oai quyền gì chỉ biết ngồi cúi mặt làm thinh. Thật ra cụ cũng sợ mụ ta nốt.
Lúc lão Hói đi qua thì ba đứa trẻ đang khóc lóc hò hét với nhau ở đầu hè. Con bé Ba ỉa đùn, phân vãi từ đầu đến chân. Bát cơm đổ vung ra khắp mặt đất. Thằng Út lê từ góc này sang góc kia, phân cũng dính đầy cả lên mặt và tóc. Bà cụ Nết vừa chửi, vừa quơ lấy dúm lá chuối, vét cả cơm lẫn phân đùn đống lại. Ruồi và nhặng bu đen, bay vo vo loạn xạ. Lão Hói đứng lại, miệng lão vê điếu thuốc bằng hai bờ môi, lão kè nhè:
"Ỉa rồi còn khóc! Trời ơi, tụi bây bộ muốn làm lớn hả?"
Giọng ồm ồm của lão làm mấy đứa sợ hãi im thít. Mắt chúng nó giương lên nhìn lão, nhưng cái mồm thì vẫn còn như mếu dở. Bà cụ bèn nhân dịp nói gióng:
"Thôi đấy cho ông già bế tuốt tụi bây đi... Chèn ơi! Cực với tụi bây bao giờ mới hết chớ.”
Lão Hói cúi xuống, vừa quệt tay lên má thằng út, vừa nói:
"Kêu làm chi cho mất công, bà cụ. Có ông trời... có ông trời thiệt mà!"
Nói rồi lão giơ tay bẹo lên má thằng bé khiến nó lùi lại, mắt sợ hãi nhìn lên. Chợt có tiếng hỏi ở đằng sau:
"Có trời thật không, lão Hói?"
Lão Hói quay lại. Lão nhận ra Huệ đang tới gần. Nàng bận áo đỏ, quần trắng, đánh môi hồng, cặp mắt bôi đen, sâu hõm xuống. Tay lão xòe ra, lão cười sung sướng như được người ta gãi trúng chỗ ngứa của mình:
"Thiệt chớ. Nói thiệt đấy chớ. Bộ không có ông trời làm sao có được cô.”
Huệ đáp:
"Thôi đi dấm dớ! Dễ thường ông già bà già nhà tôi không "ấy" thì dễ có được tôi đấy chắc.”
"Vậy chớ ai sinh ra ông già, bà già nhà cô?"
"Ông nội bà nội chớ còn ai.”
"Vậy ông nội bà nội thì ai sinh?"
"Khỉ gió đùng lăn nhà lão lắm nữa. Hỏi vậy thì có đến hàng đời không nói hết.”
"Hết chớ sao không hết. Bộ nhiều lắm là ngàn vạn ức đời chớ bao nhiêu. Vậy trước đó hết thẩy thì ai?"
Huệ hỏi lại:
"Vậy thì ai, lão nói thử coi?"
Lão Hói rúc lên cười, hai hàm răng của lão nhe ra, hở hết cả lợi:
"Ông trời chớ ai! Ông trời chớ ai!"
"Vậy ai sinh ra ông trời kia chớ.”
"Ý trời đất ơi! Đã là ông trời thì còn ai sinh ra được ổng nữa cơ chớ! Ổng là nhứt hết thẩy mà..."
Huệ phản đối lão bằng cách lấy chân đá một viên sỏi nhỏ về phía lão rồi bỏ đi. Mùi nước hoa thoang thoảng trong gió mát làm mũi lão hếch lên. Lão lim dim nhìn cái mông của nàng ngúng quẩy theo nhịp bước. Lão nhớ đến câu hát của bác Tốn vẫn thường gẩy đàn, giọng vọng ra:
"Cô Huệ ơi
Nếu cô lấy tôi thì tôi xây nhà gạch hai tầng...
Tôi mua ô tô cho cô ngự, mua váy đầm cho cô thay.”
Bất giác lão bật lên cười.
Về đến nhà, lão móc cái túi lên vách rồi nằm dài trên cánh cửa. Trời đã tối hắn. Mấy vì sao long lanh ướt trên mấy nóc nhà tranh. Qua những khung cửa gỗ của dẫy nhà hai bên lối đi, ánh đèn dầu đỏ úa bắt đầu le lói. Men rượu thấm dần làm hai mắt lão díu lại. Lão thoáng nghĩ đến những hình ảnh ban ngày. Buổi sáng, lão lang thang ở những vườn hoa, gạ bói bài tây cho mọi người. Buổi chiều, lão trở về khung cảnh quen thuộc trong xóm Cỏ. Lão thấy mình sống đủ một ngày sung sướng.
°
Nội xóm Cỏ, Hai Hào chỉ thích có mỗi Đào. Gã cảm Đào mê mệt và chẳng để lỡ dịp nào để có thể ghẹo nàng dăm ba câu chuyện vu vơ. Đào không đẹp nhưng có duyên. Một phần cũng là do cái tính lẳng lơ của nàng. Đứng ở đâu, Đào cũng cười được. Tiếng cười rích lên như chuột rúc. Cái cổ nghẹo sang một bên. Hai gò má núng nính thịt rung rinh, cặp mắt tít lại. Những hôm Phó Ngữ say rượu đi ngủ sớm, Đào lẻn cha ra đứng túm năm túm ba ở ngoài giếng nước. Mấy cô chụm đầu vào nhau nói chuyện nhảm rồi rũ lên cười.Tiếng phát đùi, phát bẹn đôm đốp trong bóng tối. Mà bao giờ người ta cũng nghe thấy tiếng Đào to nhất. Nàng "chí" bạn rõ đau rồi chu lên:
"Ý cha mẹ ơi! Bộ mày "muốn" hả..."
"Khỉ gió, "cấu" chết thịt người ta đây này. Về nhà mà cấu nó có được không?"
"Nó là đứa nào. Không khai được tao rút lưỡi.”
"Bộ tưởng người ta đui cả đấy hẳn. Hai Hào chớ ai!"
Đào giẫy nẩy lên, phát đen đét vào lưng bạn:
"Khắm chửa! Khắm chửa! Ai thuê mà nói..."
Một cô bắt chước giọng gã đàn ông:
"Đào thơ niễu yếu em ơi!
Kén gì cho đặng bằng nơi cái anh Hai Hào.”
Tiếng cười lại choé lên như tuột nắp và năm sáu cô lại ôm nhau rũ ra như những người không có xương sống.

                               (còn tiếp)


Thứ Ba, ngày 16 tháng 9 năm 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI- KỲ 82 - Operation Babylift:

-                         Chiến dịch giải cứu trẻ em


Trong những ngày đầu tháng 4 năm 1975, Sài Gòn có quá nhiều biến cố: dòng người di tản từ cao nguyên, từ miền Trung dồn dập đổ về thủ đô trong khi quân đội VNCH ngày càng co cụm để bảo vệ Sài Gòn trước làn sóng tràn ngập của lực lượng miền Bắc. Người ta hầu như chỉ nghĩ đến bản thân và gia đình của mình trước đại họa đất nước nên có rất ít người chú ý đến một tin thuộc loại “chấn động” (shock news) nếu như trong thời bình.

Khoảng 4 giờ chiều, Thứ Sáu, ngày 4/4/1975, một chiếc phi cơ vận tải quân sự C-5A Galaxy của Hoa Kỳ mang ký hiệu 68-0218 cất cánh từ phi trường Tân Sơn Nhất trực chỉ Clark Air Base tại Phi Luật Tân. Đó là chuyến bay quân sự đầu tiên di tản các trẻ em mồ côi Việt Nam sang Mỹ trong sứ mạngOperation Babylift do đích thân Tổng thống Gerald Ford tuyên bố một ngày trước đó.

Tin “chấn động” vì chiếc C-5A Galaxy, phi cơ vận tải quân sự lớn nhất của không Hoa Kỳ vào thời điểm 1975, đã bị trục trặc kỹ thuật và rơi trong khi cố quay lại đường băng 25L Tân Sơn Nhất. Tai nạn xảy ra khiến 138 hành khách bị thiệt mạng, trong đó có 78 trẻ mồ côi người Việt và 35 nhân viên Văn phòng Tùy viên Quốc phòng (Defense Attache Office – DAO) người Mỹ tháp tùng.

Người ta kể lại, khoảng 12 phút sau khi cất cánh từ phi trường Tân Sơn Nhất, một tiếng nổ phát ra từ phía đuôi của chiếc Galaxy, tạo ra một lỗ hổng lớn. Áp suất trong phi cơ thay đổi đột ngột và phi hành đoàn quyết định bay trở lại hướng Tân Sơn Nhất. Nhưng đã không kịp.

Phi cơ phải đáp khẩn cấp bằng bụng, trượt dài hàng trăm mét trên một ruộng lúa, đụng vào bờ đê và cuối cũng vỡ thành 4 mảnh. Một cột khói cao ngất xuất hiện trên bầu trời gần phi trường trước khi lực lượng tiếp cứu có mặt tại địa điểm xảy ra tai nạn.


Trực thăng cấp cứu bay đến An Phú Đông (nay thuộc quận 12), nơi phi cơ bị rớt. Đây là một khu vực ruộng lúa ngập nước và chỉ khoảng phân nửa số hành khách được cứu sống. Những người ngồi ở phần đuôi máy bay đều bị thiệt mạng. Thân thể họ nằm vương vãi trên một diện tích rộng hằng trăm mét vuông.


                      Xác của chiếc Galaxy tại khu vực An Phú Đông

Trực thăng cứu nạn chỉ bay lơ lửng trên đầu vì không thể đáp xuống ruộng lúa ngập nước. Những người sống sót, gồm phi hành đoàn, y tá và nhân viên thiện nguyện, phải lội ruộng, trên tay bồng những trẻ sơ sinh giữa những cơn gió xoáy của cánh quạt trực thăng.


Nhưng rồi họ cũng chuyển được một số trẻ em lên trực thăng. Người ta vẫn tự hỏi, biết đâu tại nơi xảy ra tai nạn cũng còn những em thoi thóp nhưng người cứu nạn không nhìn thấy. Số phận của những trẻ mồ côi này cũng được coi như đã chết như những bạn đồng trang lứa vắn số khác. Đó là nghịch cảnh của chiến tranh. Khoảng cách giữa sự sống và cái chết rất mong manh.

Bà Allison Martin [*] kể lại: “Ở phần đuôi máy bay đa số là trẻ em dưới 2 tuổi và có 7 nhân viên tình nguyện người Mỹ. Trong số những người sống sót, có đến 170 người bị thương tích nặng, trong đó có một cô bé sau này được báo chí nhắc đến qua tên Melody khi tài tử nổi tiếng Yul Brynner đã nhận làm con nuôi”.

Theo kế hoạch do Tổng thống Gerald Ford công bố, Operation Babylift sẽ sử dụng khoảng 30 chuyến bay - cả phi cơ quân sự lẫn dân sự - để di tản 70.000 trẻ mồ côi ra khỏi Việt Nam vào tháng 4/1975. Kế hoạch được tài trợ một ngân khoản 2 triệu đô-la từ quỹ hỗ trợ đặc biệt của chính phủ Hoa Kỳ.

Ông Gerald Ford đã xuất hiện trên truyền hình Mỹ khi đích thân đến phi trường San Francisco đón một trong những chuyến bay chở trẻ mồ côi từ Việt Nam đến. Trong mắt người dân Hoa Kỳ, hình ảnh ông bồng một đứa trẻ từ trên máy bay xuống đã vớt vát phần nào thể diện của một vị tổng thống trước biến cố 30/4/1975


                  Tổng thống Gerald Ford đón trẻ mồ côi tại phi trường San Francisco

Tuy nhiên, có thể nói, Operation Babylift đã diễn biến không theo đứng kịch bản mà chính phủ Mỹ đã phác họa. Chiến dịch chỉ có thể di tản khoảng hơn 3.000 cô nhi thì phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích và cuộc chiến Việt Nam đã chấm dứt vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Tại Mỹ, tin tức về thảm họa Galaxy được coi là điềm xấu báo trước một biến cố còn nhiều kịch tính hơn nữa đối với miền Nam khi bị hoàn toàn sụp đổ. Thế nhưng, vào thời điểm 1975, người Mỹ không có cách nào khác hơn là tiếp tục chiến dịch Babylift trước tình hình chiến sự ngày càng nguy ngập.

Tân Sơn Nhất không còn thời gian để tưởng niệm những hành khách đi trên chiếc Galaxy định mệnh. Chỉ một ngày sau tai nạn, Operation Babylift được tiếp tục tiến hành. Một chiếc Boeing 747 được thuê từ hãng hàng không Pan American Ariways để chở 409 trẻ em và 60 nhân viên chăm sóc. Và cứ thế, các chuyến bay thuê với các hãng hàng không khác như United Airways, World Airways, Air America… liên tục bốc trẻ mồ côi ra khỏi Sài Gòn.

Làm thế nào để vận chuyển một số lượng khổng lồ hành khách gồm toàn trẻ em trong đó có cả trẻ sơ sinh là cả một vấn đề đối với các nhân viên di tản. Trong cuốn This Must be my Brother, Leann Thieman kể lại:

“Chúng tôi không có thì giờ cho các em ăn… đồng loạt bấy nhiêu cái miệng đều cất tiếng khóc… Cuối cùng, một sáng kiến được đưa ra: cứ 3 em được đặt trong thùng giấy carton và mỗi em có một bình sữa đặt trên vai người bạn nằm cùng thùng. Với cách này, có em bú thoải mái nhưng cũng có em gặp khó khăn khi bình sữa rơi khỏi miệng…

Tôi đặt một em bé gái trên đùi để em bú bình sữa còn tay kia cầm bình sữa cho một em khác nằm trong hộp nhưng hình như em không đủ sức để bú nên cuối cùng tôi phải dùng tay bóp vào núm vú cho sữa chảy mạnh…”

Trên chiếc Galaxy đầu tiên rời Sài Gòn ngày 4/4/1975 những hành khách nhỏ tuổi nhất đều nằm trong hộp, được chằng bằng dây đai an toàn. Những “hộp người” đó nằm giữa lòng phi cơ. Những em lớn hơn ngồi trên hai hàng ghế bằng nhôm dọc theo thân tàu… Người lớn đi theo gồm nhân viên phi hành đoàn và những người tình nguyện làm việc một cách vất vả trong một trạng thái tinh thần căng thẳng khi tiếng súng đã vọng về từ các vùng lân cận quanh thủ đô.


      
                                                    “Hành khách” sơ sinh được để trong hộp carton

Miriam Vieni, một người hoạt động xã hội người Mỹ và cũng là mẹ nuôi của một trẻ mồ côi người Việt, nhớ lại:

“Sáng hôm nghe tin chuyến bay di tản đầu tiên bị rớt, một số bạn bè tụ họp tại nhà tôi để chờ nghe tin tức. Bỗng điện thoại reo liên tục, người ta hỏi thăm về thủ tục nhận con nuôi. Họ biết được số điện thoại của tôi qua một bài báo trên Newsday. Không chỉ qua điện thoại, có người còn đến tận nhà để lấy thông tin…

Người ta phấn khởi khi biết họ có thể nhận nuôi những trẻ Việt sẽ sang Mỹ một cách hợp pháp qua Operation Babylift và như thế là họ làm thủ tục nhận nuôi dù khi đó các em còn chưa lên máy bay rời khỏi Việt
Nam.”

Cặp vợ chồng Pat và Dave Palmer từ Iowa kể lại việc làm thủ tục nhận con nuôi: 
Khi nộp đơn xin con nuôi, chúng tôi phải tiến hành thủ tục một cách mau lẹ vì tình hình chính trị ở Việt Nam lúc đó quá rối ren. Rất khó có thể liên lạc bằng điện thoại với cơ quan FCVN [Friends of Children of Viet Nam] vì đường dây luôn bị nghẽn mạch. Chúng tôi phải dùng đến điện tín để liên lạc và kết quả là chúng tôi có một cậu con nuôi 1 tuổi. Không phải chỉ cuộc đời cháu bé mà chính cuộc đời chúng tôi cũng đã thay đổi từ đó”.

Tại Úc, trong bản báo cáo về tình trạng nhận con nuôi qua Operation Babylift, Ian Harvey cho biết:“Tháng 4/1975, khi có tin nước Úc sẽ tiếp nhận trẻ mồ côi Việt Nam làm con nuôi, một số gia đình người Úc đã vội vã nộp đơn. Riêng tại bang New South Wales là nơi đến của 14 trẻ Việt nhưng số đơn xin nhận con nuôi đã vượt con số 4.000”.

Theo báo cáo Ian Harvey, có trên 90% gia đình Úc có con nuôi người Việt ghi nhận sự thành công của việc họ nhận con nuôi. Tuy nhiên, đối với những gia đình tiếp nhận con nuôi từ 4 tuổi trở lên gặp khó khăn hơn những người khác vì càng lớn trẻ mồ côi càng khó thích nghi hơn với cuộc sống mới.


Ngay từ đầu tháng 4/1975, hàng loạt các tổ chức từ thiện trong đó có Holt International Children’s Services, Friends of Children of Vietnam, Catholic Relief Service, International Social Services,International Orphans và Pearl S. Buck Foundation thỉnh nguyện chính phủ Hoa Kỳ di tản trẻ mồ côi bị lưu lạc từ các trại mồ côi tại miền Trung đang bơ vơ giữa Sài Gòn hỗn loạn.

Cho đến bây giờ, vẫn chưa có con số chính xác trẻ mồ côi được di tản khỏi Sài Gòn vì tình hình rối ren lúc đó. Có khoảng 2.000 trẻ được đưa sang Hoa Kỳ và khoảng 1.300 trẻ được di tản đến Canada, Âu châu và Úc. Ngoài những chuyến bay chính thức, hằng ngày từ 4 đến 7 chuyến, còn có những chuyến bay bằng phi cơ nhỏ qua các hợp đồng kéo dài suốt tháng 4.




Dư luận Mỹ bị phân hóa vì những quan điểm đối chọi nhau về Operation Babylift. Thậm chí trên báo còn có những câu hỏi nhức nhối: Babylift or babysnatch?, tạm dịch là Di tản trẻ em hay giành dựt trẻ em?và The Orphans: Saved or Lost? (Trẻ mồ côi: Cứu giúp hay Mất mát).

Trần Tương Như, một trong số ít người Việt sống tại Mỹ từ trước 1975 và cũng là một thành viên hỗ trợ đắc lực cho Operation Babylift tại San Francisco lúc đó. Bà Như và một số người tình nguyện khác đã khám phá một sự thật ngay từ những ngày đầu của Operation Babylift: một số nhỏ trẻ mồ côi được di tản sang Mỹ thực sự không phải là cô nhi, chúng được các gia đình khá giả gửi theo để được di tản sang Mỹ một cách an toàn.

Sau này, đã có những vụ kiện tại Mỹ về những trường hợp trẻ em bị đưa khỏi Việt Nam “ngoài ý muốn của cha mẹ chúng”. Dĩ nhiên những người khởi kiện chính là các gia đình người Việt hiện định cư tại Mỹ.

Người ta cũng không loại trừ trường hợp trong tình trạng hỗn loại vào tháng 4/1975 nhiều gia đình bằng mọi cách gửi con đi theo chiến dịch di tản trẻ mồ côi và thời gian sau lại kiện các gia đình Mỹ đã nhận con cái của họ làm con nuôi như bà Như đã phát hiện từ đầu.

Một số người cho rằng việc di tản trẻ mồ côi Việt Nam, trong đó có cả những đứa con lai do hậu quả của chiến tranh, sẽ đem lại cho các em một cuộc sống tốt đẹp hơn so với nơi các em ra đời. Họ cũng cảm thấy Operation Babylift là nguồn an ủi tinh thần mang tính cách nhân đạo trước những hậu quả tàn khốc của cuộc chiến tranh Việt Nam.

Ngược lại, có dư luận cho rằng Operation Babylift là một chiến dịch hoàn toàn vì mục đích chính trị, thậm chí còn là “đòn chính trị cuối cùng” của chính phủ Mỹ trước khi rời khỏi Việt Nam.

Bà Miriam Vieni giải thích về những ý kiến tương phản nhau trong việc Operation Babylift đưa trẻ mồ côi người Việt sang Mỹ:

“Một số người cho rằng đưa trẻ em ra khỏi quốc gia nơi các em sinh sống là sự vi phạm quyền thiêng liêng của con người khi các em chưa đủ trí khôn để chọn lựa và quyết định. Một số người lại nghĩ những trẻ mồ côi người Việt phải được chính người Việt giải quyết. Trên TV, một số khác không ủng hộ việc chọn con nuôi khác nguồn gốc chủng tộc, họ còn đưa ra trường hợp tại sao không chiếu cố đến một số trẻ mồ côi người Mỹ gốc Phi còn đang chờ các gia đình Mỹ nhận nuôi”.

Về phía các gia đình Mỹ nhận con nuôi người Việt cũng có những suy nghĩ cho rằng những đứa con mà họ nuôi nấng và dạy dỗ bấy lâu nay vẫn còn một hố sâu ngăn cách vô hình. Một cuộc khảo sát cho thấy những trẻ mồ côi có một cuộc sống khá đầy đủ trong suốt thời kỳ thơ ấu tại Mỹ. Đến gia đoạn trưởng thành, những đứa trẻ mồ côi ngày nào sẽ có những suy nghĩ và sự dằn vặt về cội nguồn của mình.

Thân phận của 3.000 trẻ em ngày đó đã và đang sống ra sao tại nước ngoài? Đó là câu hỏi ít khi người ta nghĩ đến. Nguyễn Thị Thanh Trúc là một trẻ thuộc Viện Mồ côi Ghềnh Ráng, Quy Nhơn. Năm 1975 Thanh Trúc được Operation Babylift bốc sang Mỹ và làm con nuôi một gia đình người Mỹ tại Seattle, tiểu bang Washington.

Với tên Julie, Thanh Trúc được nuôi dạy và lớn lên như bất kỳ một đứa trẻ nào trên đất Mỹ. Khác biệt duy nhất là Julie có vóc người châu Á nhỏ bé hơn so với các bạn bè đồng trang lứa. Hiện nay Julie đã lập gia đình với Brad Davis và trở thành bà Julie Davis.

Lần đầu tiên trở về Việt Nam cùng chồng trong nửa tháng trời, Julie kể lại: “Chuyến bay từ Mỹ về ViệtNam kéo dài hơn 20 giờ mà tôi có cảm tưởng dài đến 20 năm… Khi phi cơ đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, Brad vỗ vai tôi, ý nhị: ‘Chúng ta đã đến nơi. Em đã về nhà’… Sau khi đi thăm Sài Gòn, Đồng bằng sông Cửu Long, chúng tôi về lại Quy Nhơn và đến tận Viện Mồ côi Ghềnh Ráng để thăm lại nơi xuất xứ của tôi…”

Cô nhi viện Ghềnh Ráng tọa lạc trong khuôn viên một nhà thờ và do các nữ tu phụ trách. Qua người thông dịch, Julie tìm lại được bà sơ Emilienne, người đứng tên trên giấy khai sinh của Thanh Trúc. Người nữ tu chỉ biết mẹ của Thanh Trúc đã qua đời ngay sau khi sinh con nên bà đứng tên trên giấy khai sinh cũng họ Nguyễn như bà. Cội nguồn của Julie chỉ có thế nhưng cũng đủ để cô tìm hiểu về quá khứ của mình.

Cuộc hội ngộ nào rồi cũng đến lúc chia tay. Julie viết: 
Cuộc hành trình ngắn ngủi để tìm lại quá khứ của tôi đã chấm dứt nhưng dư âm của nó vẫn còn vĩnh viễn đọng lại trong tôi. Giờ thì tôi tự hào là người có gốc, cho dù nguồn gốc đó cách nơi tôi sinh sống đến nửa vòng trái đất”.


Tháng 4/2005, một đoàn du khách Mỹ gồm 38 người đã đến Việt Nam trong một chuyến du lịch được mệnh danh là “Operation Babylift—Homeward Bound 2005”. Điểm đặc biệt đoàn du khách này có 21 người trước đây là trẻ mồ côi trên các chuyến bay di tản, số còn lại là những người có liên quan đếnOperation Babylift. Đặc biệt hơn nữa, trong số trẻ mồ côi ngày nào trở về quê hương có 3 em đã từng được cứu sống sau tai nạn của chuyến bay khởi đầu Operation Babylift.

Chuyến Hành trình về nguồn được hãng hàng không World Airways (WA) bảo trợ. WA, một trong những hãng hàng không đã tham gia Operation Babylift, đã liên lạc được với 21 trong số 57 trẻ mồ côi được WA chuyên chở khi rời Sài Gòn vào năm 1975 và đưa họ trở về thăm quê hương đúng 30 năm sau ngày được di tản.


Những hành khách đặc biệt này ngày nay đã thuộc lứa tuổi trên 30, đa số đã lập gia đình và có một cuộc sống ổn định như bao thanh niên trên đất Mỹ. Khác chăng chỉ là họ có một mối liên hệ từ tuổi ấu thơ với Việt Nam và khi trở về quê hương họ đã là những người trưởng thành.

Safi Thi-Kim Dub và Emma McCrudden đã may mắn sống sót trong chuyến bay ngày 4/4/1975 
(Ảnh My Lăng chụp năm 2005 trong chuyến “Hành trình về nguồn” thăm lại nơi xảy ra tai nạn)

Chuyến về Sài Gòn chỉ kéo dài 2 ngày (15 và 16/4/2005). Nhưng có điều chắc chắn chuyến trở về mang nhiều ý nghĩa đối với những người lúc ra đi chỉ là những đứa trẻ còn khóc oe oe trên các chuyến bay bão táp, thậm chí có trẻ còn nằm lọt thỏm trong hộp giấy. Trên chuyến trở về họ là những hành khách như bao hành khách khác nhưng mang một tâm trạng “hồi cố hương” sau 30 năm xa cách.



Câu chuyện Babylift mang âm hưởng một chuyện cổ tích giữa đời thực với đầy đủ “Hỷ - Nộ - Ái - Ố”.Tuy nhiên, câu chuyện có đoạn kết “có hậu”, rất hiếm gặp giữa đời thường.trong đó có rất nhiều bài viết về chiến dịch Babylift của các gia đình Mỹ cũng như các thành viên Babylift. Gia đình Martin có 3 người con, trong đó người nhỏ nhất là con nuôi từ Việt Nam năm 1997.

    Theo quehuongngaymai.com

HẺM BUÔN CHUYỆN - KỲ 177 - Cô Phượng cave đi “công tác” Hànội …



 

Trận cầu U19 VN đá với Nhật Bổn thằng Bảy xe ôm thua độ cả mấy trăm ngàn, ca cẩm  :
“ ĐM…Trận này ỷ y  không lấy dự đoán của Mít tơ Vàng thua phải rồi…”
Ong Tư Gà nướng ngạc nhiên :
“ Mít tơ Vàng là ai ?”
Thằng Bảy xe ôm cười cùng cục :
“ Là một con chó Phú Quốc dự đoán rất giỏi, đoán mấy trận trúng bóc….”
Gã Ký Quèn chen ngang :
“ Hồi Uân Cấp ăn mừng bạch tuộc Paul bằng thi nhau chén mực nướng. Sao kỳ này không ăn mừng Mít tơ Vàng bằng cày tơ 7 món ?”
Gã Ký Quèn trợn mắt :
“ Có chớ sao không ? Đêm đá trận chung kết dân cá độ toàn xơi thịt chó nướng…”
Ong Tư Gà nướng cười hề hề :
“ Khi nào Mít tơ Vàng dự đoán trúng bóc ngày cộng sản sụp đổ tau sẽ khao cả quán nguyên một con chó luộc cả con…”
Cả quán cười rầm rĩ :
Ha ha…ha ha…ha ha…”
Ong đại tá hưu nổi giận , đập bàn quát :
“ Chúng mày bố láo, sao lại mang chó Phú Quốc ra dự đoán ngày cộng sản sụp đổ  ? Đảng ta mình đồng da sắt, dao đâm không lủng, đạn bắn không lọt, bỏ vào lửa không cháy, sao sập  ?”
Cơn giận đùng đùng của ông đại tá hưu làm cả quán xanh mắt. Sợ ông nổi đoá gọi điện  công an tới lôi ông Tư Gà Nướng lên Quận thì rầy rà, thằng Bảy xe ôm vội vàng đánh trống lảng :
“ Quái thiệt…mấy hôm nay cô Phượng cave đi đâu không thấy ra ngồi quán ?”
Gã Ký Quèn cười cùng cục :
“Đi bệnh viên phụ sản giải quyết hậu quả cũng nên…”
Chị Gái hủ tíu lắc đầu :
“ Hình như đi bệnh viện Hoàn Mỹ Sàigòn điều trị u xơ tử cung …”
Thằng Bảy xe ôm cãi :
“ Không phải đâu, nghe nói có chú cán bộ Hà Nội vào cho cô thuốc Nga Phụ Khang uống tan cả khối u xơ đi rồi mà…”
Chị Gái hủ tíu vội vàng :
“ í trời …Nga Phụ Khang là thuốc gì mà hay vậy. Kỳ này cô Phượng về tôi hỏi mua uống luôn…”
Thằng Bảy xe ôm trợn mắt :
“ Thuốc quý lắm đó…nghe nói có cả cây trinh nữ hoàng cung thuộc loại kỳ hoa dị thảo của triều đình ngày xưa…Thuốc này phải cỡ Bộ chính trị mới có. Chị Gái hủ tíu làm sao có tiền mà mua ?”
Ong Tư Gà nướng chen ngang :
“ Thằng Bảy xe ôm xạo không à ? Làm gì có cây “trinh nữ hoàng cung”, đã vào tới hoàng cung rồi làm gì còn trinh ..Tao đoán cô Phượng cave mấy bữa nay chắc đi Hànội với mấy cha fan đội U 19 cổ động trận chung kết ?”
Ga Ký Quèn xua xua tay :
“ Sai bét…sai bét…cô Phượng cave được ông bồ già Hà Nội rước ra ngoài đó  làm công tác quan trọng lắm. Nghe nói cha cán bộ này có chân trong Ban gì lớn lắm kìa…”
Thằng Bảy xe ôm đoán già đoán non :
“ Chắc Ban Bí thơ trung ương ?”
Ong đại tá hưu đập bàn quát :
“ Thằng Bảy xe ôm nói láo ! Các đồng chí Ban Bí thơ là lãnh đạo cao cấp của Đảng, đạo đức cách mạng sáng ngời sao lại cặp bồ với con Phượng cave ?”
Gã Ký Quèn cười khì khì :
“ Không Ban Bí thơ thì cũng cỡ Ban chấp hành trung ương …Nghe nói đồng chí bồ già này gọi cô Phượng ra gấp không phải để cổ động đá banh đâu, ra công tác gì quan trọng lắm . Mấy cha cấp cao suốt ngày đá nhau trong nội bộ còn thiết mẹ gì coi đá nhau trên sân cỏ …”
Chị Gái hủ tíu thắc mắc :
“ Vậy ổng kêu cô Phượng ra Hà Nội công tác chi hè?”
Gã Ký Quèn vẫn cười :
“ Ra để thử rượu … Trường Tô Tửu …”
Chị Gái hủ tíu lại hỏi :
“ Trường Tô tửu là cái rượu quỷ gì phải triệu cô Phượng cave ra thử ?”
Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :
“ Ay chết…Rượu này của đồng chí Nguyễn Trường Tô, nguyên Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang vẫn dùng để đi thăm các cháu nữ sinh trường trung học Việt Lâm nên mới gọi là Trường Tô Tửu. Rượu này thần kỳ lắm, tác dụng còn hơn cả rượu Minh Mạng nữa kìa. Chẳng thế mà sau khi vui vẻ với các cháu về đồng chí nguyên Chủ tịch Nguyễn Trường Tô vẫn đăng đàn diễn thuyết trên tivi học tập gương đạo đức bác Hồ hăng hái lắm. Khi chuyện “mua dâm nữ sinh “ vỡ lở ” đồng chí vội biếu các đồng chí Bí thơ mỗi người một chai Trường Tô Tửu để chạy tội …”
Hoá ra cô Phượng cave được ông bồ già mời ra “công tác” Hà Nội thật. Sau một tuần “công tác”, nghe nói vào thăm cả lăng bác Hồ  cô mới trở vào Sàigòn . Sáng nay ngồi trong quán cô hát véo von :
“ Em ơi Hà Nội…sóng…”
Thằng Bảy xe ôm kêu lên :
“ Chị Phượng cave hát kỳ vậy ? Em ơi Hà Nội “phố” chứ sao lại …”sóng” ?”
Cô Phượng cave la chói lói :
“ Í cha trời ơi…tại mày hổng biết…sáng hôm qua Hà Nội mới mưa có một trận 2 tiếng mà phố xá đã biến thành sông hết. Tao ngồi taxi đi sân bay Nội Bài mà đường tắc chặt cứng . Sau “ảnh” phải điện cho cảnh sát giao thông tới giải toả mới đi thoát đó. Ra khỏi Hà Nội ngoái lại nhìn ..í trời ơi chỉ thấy sóng là sóng…Vậy chẳng phải Em ơi Hà Nội sóng là gì ?”
Thnừg Bảy xe ôm vỡ lẽ :
“ Hoá ra là sóng nước…ngập. Nhưng  ngoài sóng nước, Hà Nội còn sóng gì nữa không ?”
Gã Ký Quèn chen ngang :
“ Thì còn sóng…tình nữa chứ còn sóng gì ? Phải không cô Phượng ?”
Cô Phượng cave đỏ mặt :
“ Đó là chuyện riêng của người ta…anh hỏi làm gì…”
Thàng Bảy xe ôm lại hỏi :
“ Vậy ngoài sóng..tình ra còn sóng gì nữa không cô Phượng ?”
Cô Phượng ngập ngừng :
“ Còn …sóng ngầm nữa…”
Gã Ký Quèn trố mắt :
“ Sóng ngầm ? Sóng ngầm là sóng gì ?”
Cô Phượng cave ra vẻ quan trọng :
“ Là những thứ không được đưa lên báo đài tivi…chỉ phổ biến trong nội bộ …”
Thằng Bảy xe ôm reo lên :
“ Chị Phượng cave hồi này “oách” thiệt rồi…biết cả chuyện nội bộ nữa kìa ?”
Cô Phượng làm ra vẻ quan trọng :
“ Thì “ảnh” nằm trong Ban chỉ đạo trung ương , chuyện gì “ảnh” chẳng biết, và chuyện gì “ảnh” chẳng gỉ tai tao !”
Thằng Bảy xe ôm trầm trồ :
“ Vậy thì kinh thiệt. Có chuyện gì “bí mật nội bộ” chị Phượng bật mí cho bà con nghe coi !”
Cô Phượng cave ngập ngừng :
“ Có chớ…nhưng chỉ nói ở đây nghe thôi nha…cấm không được loan đi mà  chết…”
Thằng Bảy xe ôm rối rít :
“ Yên trí…yên trí đi…ở đây toàn người tin tưởng cả mà …”
Cô Phượng cave đảo mắt nhìn quanh rồi nhỏ giọng :
“ Ảnh nói ông Nguyễn Bá Thanh kỳ này  đi Mỹ chữa bệnh về có sống cũng ngắc ngoải  , đại hội tới trượt vỏ chuối là cái chắc …”
Bà Tổ trưởng nhắc nhở :
“ Chuyện nội bộ đảng cô Phượng cave chớ nói linh tinh…”
Thằng Bảy xe ôm sốt ruột :
“ Ổng còn bật mí gì nữa không ?”
Cô Phượng cave giọng tỉnh bơ :
“Anh” còn nói có vàng hay đô la thì chôn xuống đất , chớ có gửi ngân hàng nguy hiểm lắm. Tụi nó đang  đổ nợ còn tiền đâu mà chi trả cho dân …”
Ong đại tá hưu hét lớn :
“ Con Phượng cave kia…phản tuyên truyền…Nhà nước ta thiếu gì tiền…cần chi tới 50 tỉ đô la ra làm đường sắt cao tốc Nhà nước ta vẫn có thừa tiền…”
Thằng Bảy xe ôm vội vàng xuê xoa :
“ Thôi thôi chị Phượng cave…mình phận gái goá lo chi chuyện trào đình…chị nói cho bà con nghe cái vụ thử rượu Trường Tô Tửu đi…”
Cô Phượng cave tròn mắt kinh ngạc :
“ Trời đất ôi…cả chuyện đó trong này cũng biết kia à ? “
Gã Ký Quèn cười khơ khớ :
“ Chuyện đó ai chẳng biết. Vậy cô thử rồi, cô thấy sao ?”
Cô Phượng cave đỏ mặt rồi cười rinh rích  :
“ Nhằm nhò gì ba cái vụ lẻ tẻ đó. Trường Tô Tửu chớ Tấn Sang Tửu, Tấn Dũng Tửu, Phú Trọng tửu tôi cũng chấp hết, chấp hết…”
Cả quán cười ầm ầm , riêng ông đại tá hưu và bà tổ trưởng mặt  hầm hầm.

16-9-2014