Tổng số lượt xem trang

Thứ Sáu, ngày 24 tháng 10 năm 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 111 - Gà của anh Hai



                   
Ay chết, không phải con gà mắc cúm , bị giết hàng loạt, mà là gà nòi nuôi theo chế độ “săn sóc đặc biệt” mang đi chọi thiên hạ. Xưa nay người ta vẫn  coi  miền Nam là đất “cải lương” và “đá banh”, các anh Hai suốt ngày cứ say xỉn “dzô, dzô”, đầu óc đâu mà kì cạch ngồi viết truyện ngắn với tiểu thuyết. Bởi thế mãi tới  nay, sau cụ “tiên chỉ “ Hồ Biểu Chánh - “Ngọn cỏ gió đùa” phóng tác theo “ Những người khốn khổ” của Victor Hugo ; chễm chệ ngồi chiếu trên tại đình làng văn học vẫn chỉ có nhà văn quá cố Bình Nguyên Lộc với “Rừng mắm” , và nhà  văn cũng quá cố Sơn Nam, “Hương rừng Cà Mâu”  một thời lần mò chùa chiền  Sàigòn viết sự tích sư trụ trì giúp bổn tự được Bộ văn hoá ghé mắt tới trao bằng “di tích xếp hạng” cho  đông khách thập phương lui tới mở rộng hòm công đức.
Một cây bút cao niên, dẫu không lên ti vi , sách báo nhiều  bằng Sơn Nam, lại ẩn dật ở Bến Tre nhưng vẫn được coi như linh hồn văn chương “Nam kỳ quốc”, nhà văn Trang Thế Hy, dẫu rằng “ chú Bẩy” vài ba năm mới lai rai  một bài.
Chiếu nhì giữa làng vẫn “đào kép cũ” – Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Đinh Quang Nhã, Lê văn Thảo…ham “bảo vệ Đảng” hơn cả sáng tác, văn chương cà kê , vòng vo chưa vượt được sư tổ Hồ Biểu Chánh. Nói cho ngay, hồi tết con gà, nhà văn Nguyễn Quang Sáng trình làng truyện ngắn “Con gà trống” được lên phim, tết con khỉ, lại có “ Con khỉ cô đơn” cũng lên phim, cả hai con gà và khỉ đều là vật nuôi hồi còn nằm rừng. Phim làm xong, chiếu cho coi cọp trên tivi mà chẳng mấy người xem.
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế văn hoá, đi đầu cả nước, vậy mà món đặc sản “cải lương”, đầu tư tiền tỷ vẫn ế khách, còn “đá banh” thì “tan tác chim muông” bởi nạn bán độ khiến hai đội banh con cưng là Cảng Sàigòn, Công an TP HCM sập tiệm, mất phiên hiệu. Bởi vậy “văn chương” phải là trận địa,”tiến lên ta quyết tiến lên” vươn tới đỉnh cao, xứng danh thành phố mang tên Bác, vẻ vang thành đồng Tổ quốc, chứng minh “miền Nam đi trước về sau”.
 Mười năm trước, một cô gái Bến Tre xuất hiện trên văn đàn như một niềm hy vọng cho văn chương “người đằng mình” : nữ văn sĩ Trầm Hương. Sau vài cuốn sách tầm tầm, đài truyền hình TP HCM quyết định “đầu tư” cho “gà” viết kịch bản phim truyền hình nhiều tập “ Người đẹp Tây Đô” ca ngợi nữ tình báo viên cách mạng. Từ đó Trầm Hương được đưa về Bảo tàng phụ nữ Nam Bộ chuyên khai thác đề tài “đội quân tóc dài”, được đi đào tạo đạo diễn , được kết nạp Hội nhà văn VN, lâu lâu ra sách lại được anh hùng Lê Thành Chơn, Giám đốc khách sạn Sàigòn, cũng là nhà văn, bảo trợ mở hội thảo lôi cả mấy anh nhà văn Bắc kỳ gạo cội tới cấp chứng chỉ “chất lượng cao”. Than ôi, được o bế như gà chọi vậy mà trời chẳng chiều, tới nay nữ văn sĩ Trầm Hương vẫn chưa cho ra được tác phẩm nào mang về cho quê ta một chiếc huy chương vàng ngoài danh hiệu Hội viên Hội nhà văn Trung ương.
May thay, cách nay vài năm, từ mãi miệt Cà Mâu, lại xuất hiện  cây bút mới, Nguyễn Ngọc Tư, cũng là một cô gái còn rất trẻ vừa xuất hiện đã trúng ngay một “ giải văn học tuổi 20 “ của Nhà xuất bản Trẻ : truyện ngắn “ Ngọn đèn không tắt”  viết về ông lão thường chống thuyền đi các nơi kể  gương đánh Mỹ ngày xưa. Một lần được mời lên huyện kể cho lớp thanh niên lên tinh thần “tiếp bước cha anh”, không may ông bị ốm. Thế là cô cháu gái, người vẫn nghe ông  đến thuộc lầu lầu, xung phong lên huyện thay ông kể chuyện . Những tấm gương  anh hùng liệt sĩ hy sinh cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước vậy là vẫn được truyền tụng  từ ông lão qua cô gái giống như “Ngọn đèn không tắt”  biểu trưng truyền thống cách mạng mãi mãi không bao giờ mất.
Lập tức báo chí TP Hồ Chí Minh xúm vào ca ngợi tài năng mới, nào dẫn chuyện gọn gàng, cắt cảnh chuyển lớp chính xác, tay nghề  sớm chững chạc. Thừa thắng xốc tới, Nguyễn Ngọc Tư liên tiếp cho ra một loạt truyện nữa, truyện nào cũng xoay quanh tinh thần cách mạng của nhân dân ta. Các ông trùm văn chương miền Nam mừng rỡ, gà nòi đây rồi, đẻ còn hơn cả gà , nội dung tác phẩm vẫn tiếp bước cha anh mà nghệ thuật lại già giặn , khác hẳn mấy cây bút mới thế hệ A còng (@) miền Bắc, toàn viết chuyện lên giường, xuống giường lếu láo.
Từ đó Nguyễn Ngọc Tư được lăng xê như diều, ưu tiên tối đa, viết truyện nào, báo chí chộp in ngay truyện đó, trong vòng có 3 năm  xuất bản liền liền 4 tập truyện ngắn : Ngọn đèn không tắt, Ông ngoại, Giao thừa, Biển người mênh mông. Báo chí ca ngợi “ Nguyễn Ngọc Tư tuổi trẻ tài cao, viết dễ như ăn cháo” , chẳng bù cho mấy anh nhà văn già, cứ nằm vạ quanh Hội nhà văn ăn hết cả lộc nước mà năm này sang năm khác chẳng “đẻ” được ra  cái cóc khô gì.
Sách báo “lăng xê” chưa đã, Hãng phim truyền hình TP Hồ Chí Minh chuyển thể ngay truyện ngắn “ Diễn viên nghiệp dư” thành phim truyền hình nhiều tập. Truyện kể một đoàn làm phim xuống xã quay một phim tố cáo tội ác Mỹ Nguỵ. Một ông nông dân tên Bảy ngày xưa là du kích được  mời đóng vai…ác ôn, trong đó có cảnh hãm hiếp, bắn giết. Thế là đang sống yên lành, bà con chòm xóm quý mến, lại sắp lấy vợ lập tức ông Bảy bị mọi người xa lánh, tẩy chay,  ngay cả cô vợ sắp cưới cũng quay lưng đòi từ hôn báo hại ông đạo diễn phải ra sức giải thích đây chỉ là các cảnh trên phim, chú Bảy chỉ đóng vai “ác ôn” thôi chứ  vẫn là du kích ngày xưa.
Kết thúc phim là cảnh bà con chòm xóm tư tưởng đã thông suốt  lại đón nhận “ chú Bẩy” trở về với cộng đồng dân tộc , cô vợ sắp cưới lại vui vẻ chuẩn bị ôm hoa cùng chú đi tới phòng cưới.
Phim làm xong, chiếu “chùa” trên ti vi , người coi vẫn lác đác và rơi nhanh vào quên lãng. Tuy nhiên phim không hay là tại…đạo diễn, còn tác giả truyện ngắn “ Diễn viên nghiệp dư” , Nguyễn Ngọc Tư  vẫn cứ “đẻ” đều đều, năm nào cũng 5,6 truyện ngắn in trên các báo xuân, riêng  tết con khỉ y, Nguyễn Ngọc Tư than :” Tết này tôi chỉ in có…3 truyện ngắn , bạn bè tôi bảo năm nay con Tư "thất thu".
Một trong ba truyện ngắn đó in trang trọng trên số Tết Tạp chí Nhà văn của Hội nhà văn Việt Nam, nơi chỉ in toàn tác phẩm chọn lọc của các cây đa, cây đề, lớp trẻ ưu tiên có mỗi mình Nguyễn Ngọc Tư. Truyện lại kể về …một đoàn làm phim xuống xã, nhưng lần này không phải quay cảnh tố cáo tội ác Mỹ- Nguỵ mà kể lại gương anh dũng hy sinh của một nhà báo cách mạng. Người anh hùng ra đi để lại  cô vợ chưa cưới và  đứa con trong bụng mẹ. Đoàn làm phim đang ngón trớn bấm máy vo vo thì vấp ngay một trở lực : cô vợ chưa cưới của nhà báo liệt sĩ nay đã đi bước nữa khăng khăng không chịu tới đồi Gò Quao nơi chồng cũ hy sinh để đứng trước ống kính đóng lại tình xưa. Cô sợ ông chồng mới quá ghen, ghen đến đốt hết cả thư từ, kỷ vật của người đã chết. Thế là ông đạo diễn cùng bà con chòm xóm lại phải làm công tác tư tưởng cho cô và ông chồng mới thông suốt. Sau cùng cô chịu ra trước ống kính sướt mướt khóc chồng cũ làm ông chồng mới thương quá phải rút khăn tay lau nước mắt cho cô. Truyện viết như thế đăng số Tết “Tạp chí Nhà văn” là xứng đáng rồi.
Sáng ngày 13 tháng 1 năm 2004 vừa rồi,  Hội nhà văn Việt Nam tổ chức kết nạp Nguyễn Ngọc Tư, nhà văn trẻ nhất Hội , sinh năm 1976. Nhân dịp này nhà báo phỏng vấn :
“Lại thêm một tin mừng đầu năm - Ngọc Tư vừa được kết nạp vào Hội Nhà văn, vậy giữa một "cây viết" Ngọc Tư trước đây và "nhà văn" Ngọc Tư hiện nay có gì khác?” .
Nhà văn trả lời :
Khác chứ, sẽ khác đôi chút, nhưng không phải là cách sống hay viết, mà chỉ là cái cảm giác khi viết, phải đắn đo hơn nữa, viết bậy bạ bạn bè cười  chết…”
Vậy là Nguyễn Ngọc Tư  sẽ vẫn sống và viết như  thế, dứt khoát không “bậy bạ” và còn đẻ dài dài các đứa con tinh thần, nối dài những “Hòn đất”, “ Người mẹ cầm súng, “ Trong vành đai diệt Mỹ” …Và có thể thấy trước con gà này khó mà bay  khỏi vòng tay o bế của anh Hai mà cất lên tiếng gáy của chính mình.
Nhưng may thay, chỉ vài năm sau, Nguyễn Ngọc Tư đã cho ra đời “Cánh đồng bất tận “ được nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn nhận xét :
là tiếng thét câm lặng, uất ức của hiện thực về số phận bi thảm của người nông dân miền Tây: bị bần cùng hóa, bị đẩy vào một “cánh đồng bất tận” của nghèo đói, áp bức và sự thờ ơ vô cảm của xã hội. Trên cái nền tương phản của vô tận sông nước và đồng lúa trù phú của miền Tây, những số phận nghèo khổ cứ phải trôi nổi, tưởng có thể tụ vào nhau rồi lại ly tán, để lại cho người đọc dư vị đắng cay của sự bất lực, cho dù ẩn sâu trong nó vẫn mêng mông chan chứa tình người”
Tất nhiên anh Hai nổi giận đùng đùng , đập bàn, quát tháo đòi trừng trị “con nhỏ hỗn láo “. Nhưng cái thời “đấu tố” Nhân Văn Giai phẩm đã qua rồi, gà của anh Hai đã ra khỏi chuồng và vẫn cất tiếng gáy đều đều chỉ chưa biết có còn “bất tận” như “cánh đồng” của cô không ???…

NT




nhà văn NHẬT TIẾN : THỀM HOANG - KY 13


                                        
                                      Chương 10


 Một buổi tối Huệ dìu về nhà một người lính say. Trời lất phất bụi mưa. Xóm Cỏ im lặng và tối om như một đường hầm sâu hun hút. Lối đi nhớp nháp bùn. Trận mưa buổi chiều làm nước đọng thành vũng lớn. Người lính say ngoẹo đầu trên vai Huệ. Anh ta đi lảo đảo, tiếng giầy đinh miết vào lòng sỏi kêu lộp cộp ầm ĩ. Một tay Huệ đỡ lưng anh ta, một tay nàng nắm lấy ngực áo, vừa đi Huệ vừa cất mồm chửi. Tiếng chửi chanh chua len qua kẽ vách, khiến có người ở trong nhà bên lề đường bật lên cười, hỏi vọng ra:
"Cái khỉ gió gì thế cô Huệ ơi?"
Huệ không quay lại, nhưng nói bâng quơ:
"Cha bố cái giống.... chỉ nốc là khoẻ thôi.”
Nói rồi nàng du mạnh người lính một cái. Anh ta rú lên cười. Tiếng cười nghe rờn rợn như tiếng chó tru. Rồi anh ta lại ôm choàng lấy Huệ làm nàng chúi hẳn người đi. Cả hai líu ríu vướng vào nhau loạng choạng như sắp té. Huệ ghé mồm vào tai anh ta hét lên:
"Khỉ gió đùng lăn nhà mày lắm nữa, béo cơm rửng mỡ chưa!"
Rồi nàng lại sốc hắn ta lên bờ vai, mũi nàng chun lại vì hơi thở của hắn nặng nề, xông lên mùi rượu bia sặc sụa làm nóng cả mũi và má Huệ. Nàng vội vàng túm lấy mái tóc của hắn ta, giật ngửa về phía đằng sau. Lần này hắn xiết hai vòng tay nhấc bổng hẳn nàng lên vai. Mặc cho Huệ hét ầm ĩ, hắn ta vẫn bế nàng ngông nghênh đi xiêu vẹo, lảo đảo từng bước. Chó hai bên lề hực lên rồi sủa loạn xạ. Tiếng chó, tiếng Huệ, tiếng cười của người lính say xen lẫn tiếng giầy đinh xúc vào rãnh vào bùn làm vang rộn cả khúc đường tối tăm, vắng vẻ.
Qua cửa nhà, Huệ nói rối rít:
"Ici! ici! Tốp là bas!"
Hắn vội vàng đứng lại, đặt Huệ xuống hàng hiên. Huệ thọc tay vào túi áo hắn tìm ra được cái bật lửa. Một làn ánh sáng đỏ đùng đục nhoáng lên, nhấp nháy soi rõ khuôn cửa gỗ xộc xệch và những mô đất ẩm ướt xung quanh. Huệ lùa chìa khoá vào ổ, lách cách mở. Lúc nàng vặn sáng được ngọn đèn lên thì người lính vẫn ngập ngừng ở bực cửa. Bây giờ hắn ta có vẻ thẹn thùng và ngượng ngập. Dưới ánh đèn, nom hắn trẻ và đẹp trai. Mái tóc vàng óng cắt gọn ghẽ, uốn rất nhẹ mấy lượn sóng nhỏ. Vầng trán cao và phẳng. Đôi mắt hắn tuy ngầu đỏ nhưng vẫn còn ánh lên một mầu xanh biếc khiến Huệ nghĩ đến tròng mắt của những con mèo ban đêm. Miệng hắn nhỏ, cặp môi đỏ và dầy. Lúc hắn cười, Huệ trông thấy hai hàm răng trắng, khấp khểnh một cách rất có duyên. Huệ mới quen hắn từ hồi chập tối. Hắn vào quán rượu với mấy người bạn đồng ngũ. Bọn này cần đàn bà hơn cả cần ăn, cần uống. Trong khi họ dìu nhau từng cặp đi vào dẫy hành lang phía sau thì hắn ta ngồi lầm lì uống rượu một mình trong một góc nhỏ. Huệ rót cho hắn hết ly này đến ly khác. Hơi men bốc lên làm cặp mắt xanh của hắn trở thành ngầu đỏ. Hắn nhìn Huệ chăm chú rồi mỉm cười. Huệ lùa cánh tay qua cổ hắn, những móng đỏ của nàng vuốt nhè nhẹ lên nếp áo vải dầy. Từ lúc ấy, Huệ ngồi với hắn như một đôi tình nhân thực thụ. Hai mái đầu chụm vào nhau, hắn tiếp tục uống rượu như không bao giờ biết say là gì cả. Tiếng nhạc nhè nhẹ phát ra từ một góc phòng. Đêm càng về khuya, bầu không khí trong căn phòng càng thêm im lặng. Ở những góc tối, từng cặp ngồi với nhau thủ thỉ. Thỉnh thoảng lại có đôi đứng đậy đi vào nhà trong. Huệ chẳng nói gì với hắn vì nàng có biết tiếng tây tiếng u gì mấy đâu. Hai người chỉ nhìn nhau mỉm cười. Thỉnh thoảng Huệ trao cho hắn một cái hôn. Bây giờ thì mặt hắn đỏ gay và đang ngả sang mầu tái lợt. Hắn cất giọng ồm ồm nho nhỏ theo tiếng nhạc. Hồi lâu sau, Huệ thấy hắn khóc. Nàng kéo hắn đứng dậy và quay sang hỏi cô giữ két:
"Bảo nó về nhà mình thì nói thế nào?"
Cô ta nhìn Huệ, nhìn hắn rồi mỉm cười đáp:
"Voudriez-vous aller chez moi?"
Huệ nhắc lại câu ấy với hắn. Hắn ta đứng dậy, ôm lấy Huệ lảo đảo. Nàng dìu hắn đi ra cửa. Bên ngoài trời lất phất mưa. Hai người dìu nhau đi dưới ánh đèn héo úa. Hắn bắt đầu cất tiếng hát ông ổng và cười đùa rũ rượi. Huệ vừa buồn cười vừa bực mình. Nhiều khi nàng văng tục ra với hắn, nhưng hắn không hiểu gì cả. Đường phố về khuya vắng ngắt bóng người. Lùm cây hai bên đường loang loáng bụi mưa. Qua những đống rác bẩn, tiếng mèo hoang rú lên trong đêm khuya khiến hai người dừng lại. Huệ nhặt lên một viên đá nhỏ ném về phía ấy. Con mèo càng rú to thêm khiến hắn phá lên cười. Huệ tức mình cũng chửi đổng một câu:
"Cha tổ bố!"
Hắn nhắc lại nhiều lần mấy tiếng "cha tổ bố" một cách thú vị. Sự có mặt của hắn khiến Huệ thấy lòng nẩy nở một niềm vui. Nàng nghĩ đến sự cô đơn của mình trong những đêm mưa rả rích phải lủi thủi một mình trở về ngõ tối. Bất giác Huệ thấy mến hắn và muốn lôi hắn bằng được về xóm Cỏ. Nàng săn sóc hắn một cách tận tình. Cứ như một bà chị săn sóc cho một đứa em nhỏ. Lúc hắn ngồi ở ghế, Huệ tháo giầy cho hắn. Đôi giầy đinh sũng nước nặng như hai cái cùm, Huệ ghếch chúng vào một góc. Nàng bưng cho hắn một chậu nước rửa mặt rồi vào cài then cánh cửa thông với buồng trong. Tiếng thở nặng nề của cụ Chín khiến Huệ biết bà ta đã ngủ say. Huệ vào chạn bát, lục được tô cháo đậu xanh. Tô cháo này tối nào bà cụ cũng để dành cho Huệ lúc nàng đi khuya về. Huệ bưng ra cho hắn. Hắn nhìn Huệ bằng đôi mắt đầy vẻ biết ơn. Rồi tự nhiên hắn lục ví lấy ra mấy tờ giấy bạc. Huệ gạt tay hắn một cách giận dỗi. Lần này thì đến lượt hắn ta thẹn thùng. Hắn nhét tiền vào ví một cách ngượng ngập rồi húp cháo như một đứa trẻ. Dưới ánh đèn, cặp mắt của hắn bớt đỏ. Trong khi hắn ngồi ăn thì Huệ đi thay quần áo. Một lát nàng ngồi trang điểm lại trước cái gương kê ghếch lên chân ngọn đèn dầu. Hắn chăm chú nhìn công việc của Huệ. Nước mưa làm mái tóc Huệ trở nên óng ả. Nàng không cuộn mà để xoã xuống hai bờ vai. Cái vẻ tự nhiên ấy làm Huệ trẻ lại như một thiếu nữ còn xuân sắc. Lúc nàng tô son lên môi, Huệ thấy hắn nhìn mình một cách đắm đuối. Huệ cũng thấy hắn không xa cách với mình. Nàng sà vào lòng hắn như một người yêu thực thụ. Bao nhiêu lần nằm trong tay những người đàn ông, chưa lần nào Huệ nao nức như thế. Nàng muốn trao cho hắn tất cả nỗi xao xuyến của mình. Nàng dẫn hắn đi lại phía giường, và đem ngọn đèn dầu đặt lên trên cái ghế kê ngay bên cạnh. Căn buồng chỉ sáng lên ở một góc. Ánh sáng rung rinh, ấm cúng in bóng hai người lên vách gỗ. Nàng châm cho hắn một điếu thuốc lá. Khói thuốc mầu xanh lơ bay tản mạn trong bầu không khí lạnh và ẩm. Hai người ngồi dựa lưng vào thành giường nhìn những con thiêu thân nhảy loạn xạ quanh bầu đèn. Mưa bên ngoài nhỏ xuống mái tôn nghe tí tách. Huệ thấy mình dễ chịu lạ. Nàng muốn nói với hắn nhưng không biết phát biểu thế nào. Nghĩ một hồi, Huệ bảo:
"Moi Huệ... et toi?"
Mắt hắn ngớ ra và hắn nhắc lại tiếng Huệ một cách ngượng ngập. Huệ nhớ đến một người bạn có tên tây nên vội tiếp:
"Moi: Marie, et toi?"
Mắt hắn sáng lên. Hắn lùa tay vào cổ Huệ nhắc lại tiếng Marie mấy lần. Điều ấy khiến Huệ có vẻ tự hào về cái tên chọn rất nhanh chóng của mình. Từ lúc ấy, hắn gọi Huệ là Marie và Huệ cũng biết tên hắn là Jean. Jean lục ví cho Huệ xem tất cả ảnh của gia đình hắn và nói huyên thuyên. Huệ tuy chẳng hiểu mô tê ất giáp gì nhưng cũng cứ gật đầu lia lịa. Thật ra, qua mấy tấm ảnh cũ kỹ Huệ chỉ đoán phỏng hắn ta còn cả ông nội, bà nội, bố hắn, mẹ hắn và cả các anh, các chị nữa. Nàng nói:
"Tú pha-mi? (Toute famille?)"
Hắn sung sướng gật đầu và có vẻ thích thú về sự thông minh của Huệ. Dưới ánh đèn, đôi mắt của Huệ long lanh một cách quyến rũ. Nàng dựa đầu lên thành giường, cổ nghiêng sang một bên. Mái tóc xoã xợi rũ xuống hai bờ vai. Huệ cao nên chân nàng duỗi ra tới mãi tận cuối giường. Bàn chân Huệ ghếch lên đùi Jean. Hắn ủ hai cái gót nhỏ vào lòng bàn tay của mình. Giây lâu, hắn lại tìm ra ở trong ví một cái ảnh của hắn trao cho Huệ. Huệ cầm lấy, ngắm nghía rồi hỏi:
"À moi?"
Hắn gật đầu, lấy bút hí hoáy ký tặng. Huệ đưa tấm ảnh lên môi hôn rồi nhìn hắn cười. Hắn ném bút lên giường và thò tay vặn nhỏ ngọn đèn. Huệ ôm lấy hắn. Hắn gọi tên Marie rất nhiều lần trong bóng tối...
°
Buổi sáng lúc Huệ trở dậy thì Jean đã đi từ lâu. Hắn để lại trên bàn một xấp giấy bạc. Huệ cầm lên ngắm nghía một cách vui sướng. Món tiền thật là to đối với Huệ. Nàng đi chân đất lại mở tung các cửa sổ. Ánh nắng lùa vào chiếu lên những đồ vật còn ngổn ngang trên mặt đất. Bát cháo Jean ăn hồi đêm còn dính mấy hạt đỗ xanh và những cặn bẩn. Quần áo ướt sũng của Huệ vo tròn thành đống ấn ở dưới gậm giường. Huệ mệt mỏi, không muốn dọn dẹp, ra đứng tựa lưng vào cánh cửa, nhìn ra ngoài. Nàng nghĩ đến những món mình sẽ tiêu với số tiền còn thơm mùi mực ở trong túi. Hình ảnh Jean chập chờn đi qua những tờ giấy bạc. Bất giác Huệ mỉm cười nhớ đến tên Marie mà Jean vẫn gọi hồi đêm. Nàng có vẻ mãn nguyện với mình.
Lúc thằng Ích quẩy đôi thùng đi qua cửa, Huệ gọi nó:
"Ích ơi! Sao mày đi gánh nước sớm thế.”
Ích quay lại, kêu lên:
"Sáng nửa ngày rồi còn kêu là sớm. Bộ cô hôm qua mệt lắm hả..."
Huệ tru lên:
"Khỉ gió đùng lăn chửa! Bộ ai dậy mày ăn nói thế hở thằng khỉ kia.”
Ích cười rinh rích, tay gõ vào lưng thùng, thủng thỉnh bước. Huệ gọi giật lại:
"Này Ích! Ở yên đấy tao bảo cái đã. Cho mày hai đồng ăn kẹo đây này!"
Ích đặt đôi thùng xuống, kêu lên:
"Ái chà sang nhỉ! Hôm qua cô phát tài phải không. Đưa đây. Kẹo thì sợ gì.”
Huệ cười:
"Thằng khỉ gió! Nói đến kẹo sao mà nhanh thế. Vào đây cái đã rồi tao cho.”
Ích theo Huệ bước vào nhà. Huệ bảo:
"Chờ tao rửa mặt một tí đã.”
Ích sốt ruột:
"Mau lên đấy nhé! Dượng tôi mà ra giếng không gặp tôi thì tôi chết đòn.”
Tiếng Huệ khuất ở phía nhà trong:
"Rõ bầy đặt lắm điều chửa! Mày nhẩy như chó dái ngoài đường thì chả sao.”
Ích không đáp nhìn quanh quẩn khắp nhà. Mùi ẩm mốc xông lên đống chăn, xen lẫn mùi hôi hám bốc ra từ cái bô sứ để dưới gầm giường khiến nó thấy lợm giọng. Ích bỏ giường ra ngồi trên một cái ghế gỗ. Tay nó táy máy nghịch mấy hộp phấn son ngai ngái của Huệ. Mấy con ruồi bay vung lên từ bát cháo, táp vào mắt nó làm nó nhăn mặt lại. Lúc Huệ cầm cái khăn ra, đem vắt lên dây thép thì Ích nói:
"Đâu! Cô bảo cho hai đồng đâu. Bỏ lẹ lẹ ra đây.”
"Thì mày làm gì mà rối lên thế. Dạo này mày vẫn đi hát với bác Tốn đấy chứ.”
"Tối nào mà không đi.”
"Khá không?"
"Cũng tàm tạm thôi. Bác Tốn dạo này hay về ngủ sớm thành ra cả hai người được năm chục là giỏi.”
"Về sớm thì làm cái khỉ gió gì ở nhà ấy?"
"Ai mà biết được! Thấy bác ấy bảo: tao bây giờ già rồi, đứng mộït tí là đau lưng.”
Huệ phì cười:
"Nỡm chưa! Mặt mày hơn hớn ra thế mà kêu già với cả. Bộ không muốn lấy vợ nữa sao?"
Ích sốt ruột:
"Thôi đi! Có định cho thì bỏ mau mau ra đây, không thì tôi đi gánh nước đây.”
Huệ móc túi:
"Tao cho chứ ai thèm nói dứ mày! Nhân thể tao nhờ mày đến chiều qua đưa hộ bác Tốn bánh thuốc lào nhé!"
Ích kêu lên:
"Ái chà! Sang nhỉ! Cô định trả nợ đấy à?"
"Ai thèm trả nợ! Lúc tao ốm, người ta tốt với tao thì bây giờ tao cám ơn lại chứ can cớ gì.”
"Thuốc lào thì nhất rồi! Bác ấy khoái phải biết!"
"Thế à! Tao cũng nghĩ thế. Vậy chốc nữa tao đi mua.”
Lúc Huệ lấy tiền, nàng làm rơi ra cái ảnh của Jean. Ích nhặt lên hỏi:
"Ảnh của ai thế?"
Huệ đáp:
"Chồng tao đấy!"
Ích bĩu môi:
"Chồng gì! Mũi lõ rõ ràng đây mà.”
"Lõ thì đã làm sao! Cốt tử tế thôi chứ! Mà cấm mày bép xép đấy nghe không.”


                                              ( còn nữa)

Thứ Năm, ngày 23 tháng 10 năm 2014

Phỏng vấn Giáo sư NGUYỄN VĂN TRUNG: - KỲ 1


“Không ở chế độ nào tôi làm người đối lập!”

ĐỖ QUYÊN thực hiện


Lời dẫn của Người thực hiện:

Lâu nay, ở trong và ngoài nước, chắc hẳn nhiều người đã có nhiều "nhận định" về ông - cha đẻ của bút ký triết học nhiều tập mang tên NHẬN ĐỊNH nổi tiếng một thời. Riêng tôi thiết nghĩ, nên chăng dùng chữ "hiện tượng Nguyễn Văn Trung" và có các nghiên cứu, tìm hiểu về tác phẩm cũng như con người của ông? Không kể với những nhân vật khoa học và nghệ thuật, thông thường việc nghiên cứu, tìm hiểu như thế chủ yếu cốt là để "phong thánh" cho những con-người-thực vốn được ít nhất một tập thể nào đó đề cao (và đương nhiên có thể bị một tập thể nào đó hạ thấp). Người ta rất muốn né tránh những nhân vật có góc cạnh tới mức "không giống ai", mặc dù chính họ mới tạo nên sự phức hợp đầy hấp dẫn ở trên trần gian này của những con-người-thực.

Với việc tìm hiểu "hiện tượng Nguyễn Văn Trung", điều quý hơn cả là chúng ta có thể ghi nhận thêm được não trạng của trí thức Việt Nam, nhất là trí thức miền Nam, và ảnh hưởng của nó lên bộ mặt đất nước từ thời 1954 đến nay. Bởi vì giáo sư Nguyễn Văn Trung là một trong số những trí thức nổi bật giữa các sinh hoạt học thuật về chính trị, văn hóa và báo chí miền Nam, là một tác gia triết lý Mácxít - Hiện sinh - Nhân vị từng làm chuyển động nhiều lớp thanh niên, sinh viên thành thị miền Nam trước 1975 và vẫn còn gây nhiều tiếng động trong giới nghiên cứu, phê bình trong và ngoài nước từ sau 1975. Nhưng điểm gai góc hơn cả là dưới bất cứ chế độ nào Nguyễn Văn Trung đều “nhận định” ra tính chất sống còn của chế độ đó bằng lối nhìn và thái độ rất không giống ai của ông. Sau biến cố 30.4.1975 ông tiếp tục ở lại Sài Gòn cho đến cuối 1993 thì qua Montréal (Canada) ở với những người con của ông đã vượt biên từ trước. Từ đó đến nay [1997] thỉnh thoảng ông lại về Việt Nam.

Buổi phỏng vấn của tôi không hề (vì không thể!) có ý đặt ra vấn đề gì đáng kể xung quanh "hiện tượng Nguyễn Văn Trung". Giữa vô số các chủ đề về chính trị, xã hội, văn nghệ... của Việt Nam từ cổ đến kim do ông viết gần 40 năm nay, tôi nhận thấy, cần thiết và trước hết, đưa đến cho các bạn đọc như tôi - sinh ra và lớn lên trong chế độ xã hội chủ nghĩa miền Bắc - chủ đề CỘNG SẢN & TÔN GIÁO (hai chương đầu và cuối của tập  “NHẬN ĐỊNH – VII” mang tên CÁCH MẠNG VÀ HƯ VÔ được viết từ năm 1988-1993 và chưa được công bố chính thức). Nội dung chính của cuộc hỏi chuyện giáo sư Nguyễn Văn Trung tại nơi ông đang sống trong thành phố Montréal, chiều 6.6.1996, được hình thành như vậy.

Khi viết ra thành bài cuộc phỏng vấn được chia làm 5 phần:
I. NGƯỜI CỘNG SẢN NHƯ MỘT NGƯỜI ANH EM THÙ ĐỊCH
II. TỤC HÓA ĐẢNG VÀ THỂ CHẾ HÓA CHỨC NĂNG TRÍ THỨC
III. NGƯỜI LÀM CHỨNG TÁ CHO MỘT LÝ TƯỞNG KHÁC
IV. NHỮNG BÀN TAY BẨN - NHỮNG BÀN TAY SẠCH
V. LỐI TIẾP CẬN - "TÔI LUÔN LUÔN BỊ HIỂU LẦM!"



*



I. NGƯỜI CỘNG SẢN NHƯ MỘT NGƯỜI ANH EM THÙ ĐỊCH

+ Đỗ Quyên: Đọc mấy bài anh viết gần đây, tôi chưa hiểu hết ý anh lắm ở việc phê phán đảng Cộng sản Việt Nam. Hình như anh đặt ra vấn đề nên phê bình đảng Cộng sản ra sao?

- Nguyễn Văn Trung: Anh nên hiểu tôi coi đảng Cộng sản là gì? Tôi coi đảng Cộng sản như một tổ chức tôn giáo, lý thuyết Cộng sản như một lý thuyết tôn giáo. Khi phê bình đảng Cộng sản cần phải lưu ý là phê bình với tư cách nào, với tư thế nào và để làm gì. Thêm nữa, đối tượng phê bình là ai: nói với người Cộng sản hay với người khác. Vấn đề là ở chỗ đó.
Theo lối nhìn của tôi về triết học và tôn giáo thì đảng Cộng sản là một tổ chức chính trị mang tính chất tôn giáo, như tôi đã trình bày trong tập bài vừa đưa anh ("Đảng Cộng sản Là Tôn Giáo Hay Chính Trị", Nhận Định - VII, tài liệu đã dẫn - Đ. Q. chú thích). Theo đó, chủ nghĩa Cộng sản và lý thuyết Cộng sản cũng mang tính chất tôn giáo. Thể hiện rõ nhất là ở những người theo đảng và những người vào đảng trong thời kỳ đảng chưa cầm quyền, hay gọi là thời kỳ đi làm cách mạng. Cái cung cách chiến sĩ của họ là cái cung cách của các tu sĩ đi giảng đạo, của các Thừa sai bên Thiên Chúa giáo. Đó là những người bỏ hết mọi sự theo lời Chúa: "Ai muốn theo ta thì bỏ hết!", và ngay cả khi đang có người chết cũng bỏ đi theo Chúa: "Người chết để lại cho người sống chôn, bỏ lại hết đi theo thầy!" Có nhiều Thừa sai ra đi còn không nói cho cha mẹ, không một lời từ giã người thương. Đó là những người có lý tưởng và muốn truyền bá tư tưởng đó, nên phải hy sinh cuộc đời mình, không đòi hỏi gì hết và sẵn sàng theo một tổ chức truyền giáo nào đó đưa họ đi. Thế thì những người đi theo đảng Cộng sản cũng vậy thôi. Cụ thể như những người đi vào Nam hồi 1954-55 nằm trong các đường dây tình báo chiến lược, họ theo lệnh của đảng mà bỏ hết lại ngoài Bắc gia đình, vợ con, thậm chí còn không nói cho người thân biết mình sắp đi đâu. Họ không đòi hỏi gì hết và đảng thì đòi hỏi họ tất cả, kể cả sự sống. Tôi đã trao đổi nhiều với những người đó khi họ bị nghi kị, bị mất đảng. Họ rất thú về sự so sánh như trên.

+ Tức là những cựu đảng viên Cộng sản ấy chấp nhận với anh rằng họ như những người Thừa sai Thiên Chúa giáo?

- Nguyễn Văn Trung: Chấp nhận chứ! Họ coi như thế mới hiểu họ. Nếu so sánh với những người phía bên kia của ông Diệm trong các chiến dịch ném biệt kích ra ngoài Bắc, thì những người này có ra đi theo tâm trạng thế đâu? Những người biệt kích này cũng phục vụ lý tưởng của họ thật đấy nhưng họ nằm trong các tổ chức cụ thể có pháp lý bảo đảm. Ví dụ, trước khi ra đi họ ký một khế ước với chính quyền và vợ con họ là những người đại diện lãnh lương của họ hằng tháng, nếu họ bị tù, bị mất tích thì được tiền đền bù. Đấy! Nếu tham gia một tổ chức chính trị thật sự thì lý tưởng chỉ đến thế thôi, chứ không thể như lý tưởng của một tổ chức chính trị mang tính tôn giáo là đảng Cộng sản Việt Nam. Như vậy, với những người theo đảng có cung cách như thế, muốn xét họ đúng hay sai, có thất vọng với đảng không mà nếu anh là người đứng ngoài thì hãy phê bình làm sao để người ta phục anh.

+ Vậy phê bình cách nào?

- Nguyễn Văn Trung: Đấy mới là vấn đề! Nếu họ vào một đảng chính trị bình thường thì chuyện vào đảng rồi ra đảng chẳng có tính cách phản bội gì cả. Không bị coi như một sự phản đạo, chỉ là một sự sai so với “khế ước” mà thôi.
Những người Cộng sản ở trong Nam thường nói với tôi: "Đối với tôn giáo càng đàn áp chỉ càng làm cho nó mạnh hơn, càng làm cho các giáo dân tử vì đạo. Thế thì đối với người Cộng sản cũng vậy: đế quốc thực dân càng đàn áp, càng tra tấn càng làm Cộng sản mạnh hơn". Điều tôi muốn nói với anh hôm nay là bao lâu đảng Cộng sản Việt Nam còn niềm tin mang tính chất tôn giáo thì chừng đó còn có những đảng viên tin theo (tôi chưa muốn nói việc tin đó là đúng hay sai) và mọi cách phê phán thô bạo chỉ làm niềm tin đó mạnh lên.
Làm thế nào để phê phán họ? Ngay với cả những người Cộng sản không còn xác tín đó nữa và đã coi lý tưởng của họ là ảo tưởng, sai lầm thì họ cũng không phản bội lại lý tưởng đó. Con người ta có sự tự trọng, mà sự tự trọng ở một tín đồ là không chửi lại tôn giáo cũ và chỉ từ bỏ nó một cách im lặng... Ở Đông Âu dễ nhận ra sự thật đó vì người theo Cộng sản sống với khuôn khổ văn hóa Thiên Chúa giáo. Còn ở các nơi khác, ở Việt Nam khó nhận ra.

+ Nhưng những người “không Cộng sản” muốn phê phán Cộng sản để mọi người tránh xa Cộng sản...

- Nguyễn Văn Trung: Thì họ phải phê sao cho những người Cộng sản nghe được, chấp nhận được phương pháp phê phán đó, chứ chưa nói đến chuyện phê đúng hay sai. Điều đó nằm ở tư cách của người phê bình. Anh có là người xứng đáng để phê bình người ta không? Thí dụ, anh là người không có một lý tưởng nào hết thì làm sao anh phê được một người dám hy sinh vì lý tưởng?
Lấy ví dụ, các trí thức Công giáo trẻ, các tu sĩ Thiên Chúa giáo rất có trình độ ở miền Nam đã "tham gia cách mạng" sau 1975. Đơn giản là họ tham gia những gì mà nhà nước Cộng sản yêu cầu ở toàn dân. Thí dụ, như đi bộ đội ở Campuchia. Tôi có các chứng từ do những tu sĩ đó viết về cho tôi. Thoạt đầu người chính ủy Cộng sản không thể hiểu được tại sao những người có tôn giáo (tức là phản động, theo quan điểm của Cộng sản) vừa đi tu lại vừa đi bộ đội Cộng sản được. Dần dần cuộc sống chung chỉ cho người chính ủy thấy, đứng về mặt con người, thì các tu sĩ - bộ đội đó không khác gì họ cả. Các tu sĩ đó làm cho họ hiểu đúng hơn về tôn giáo. Đó! Khi hai người có hai lý tưởng mà cảm thông được nhau thì họ sẽ chịu nhau. Những người tu sĩ mà tôi biết đó lại chính là những người được các chính ủy tin tưởng nhất, như khi cần người về Sài Gòn làm gì các tu sĩ này thường được đi vì họ không bao giờ trốn cả! Tôi rất muốn nhấn mạnh rằng khi anh muốn người Cộng sản thay đổi niềm tin của họ, hay ít ra họ tôn trọng niềm tin của anh, thì hãy làm sao để anh có một tư cách nào đó đối thoại được với sự "dám hy sinh" của họ.

+ Thế ra, theo anh, vấn đề phê bình nằm ở tư cách người phê bình! Sao lại thế được nhỉ?

- Nguyễn Văn Trung: Ở đây thì là thế! Nếu anh là một thằng hèn nhát, anh bỏ trốn đi, từ trước 1954 đã là một kẻ tào lao ở miền Bắc, vào Sài Gòn suốt 20 năm cũng bê bối, sau 1975 qua bên này cũng tào lao nốt, thì làm sao phê bình Cộng sản được; ngay cả những người không Cộng sản cũng còn không chịu được.

+ Song ngay cả ở trường hợp "tào lao" đó nếu có nội dung phê bình đúng thì sao? Anh cũng dư biết, đôi khi, tác phẩm và con người thực không cần là một.

- Nguyễn Văn Trung: Vâng, nhưng việc phê bình đó khó có thể đúng. Phê bình Cộng sản không phải là chuyện lý thuyết. Muốn nói đúng Cộng sản anh phải đi vào trong thế giới Cộng sản để chia sẻ tâm tư với họ. Còn chỉ nói về chuyện chủ nghĩa Marx không thôi thì lại là chuyện khác.

+ Là một người theo học, nghiên cứu và tuyên truyền Mácxít anh có thấy đảng Cộng sản là một trường hợp độc nhất vô nhị về hình thức hoạt động nếu so sánh giữa các tổ chức chính trị?

- Nguyễn Văn Trung: Không có đảng chính trị nào như đảng Cộng sản cả: hình thái sinh hoạt của đảng Cộng sản giống với tôn giáo. Tôi đã nói hôm nọ với anh rồi, "cái lầm than của đảng Cộng sản nằm ở cái cao cả của nó" là vì thế!

+ Hình như anh chưa định tính hóa xem phần tôn giáo là thế nào, phần chính trị là sao trong cung cách sinh hoạt của đảng Cộng sản. Hay ta xem đó giống như sự lưỡng tính trong... vật lý lượng tử!?

- Nguyễn Văn Trung: (Cười hà hà) Không thể làm vậy được đối với tính chất của đảng Cộng sản! Cũng không phải là lưỡng tính như anh muốn so sánh, dù để làm vui. Đây là một sự lẫn lộn với nhau, không cái nào ra cái nào và chính thế nó mới kẹt.

+ Một lần anh đề cập đến chuyện rằng chỉ sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc, đánh đổ đế quốc thực dân thì với người Cộng sản mới dễ phê bình hơn...

- Nguyễn Văn Trung: Tôi chỉ muốn nói rằng sau khi người Cộng sản nắm chính quyền họ mới thấy những chuyện xấu xa và tệ hại của họ lộ ra. Nhưng ngay khi đó lại có khó khăn khác; đó là vấn đề "esprit de corps", tức là cái "tinh thần tập thể", cái tự ái tập thể trong các tôn giáo. Ví dụ, tôi là Phật tử, anh là người Công giáo, thì chúng mình rất biết các chuyện bê bối trong mỗi giáo hội của mình. Nếu có thằng cha nào đó cũng là tín đồ mà phê thì tôi và anh đều chịu, dù các phê bình của nó là đau xót. Còn như nó ở ngoài tôn giáo mà lại đòi phê bình thì chúng ta sẽ không chịu, chúng ta sẽ cố tìm cách bênh vì tình tự trọng, tự ái tập thể. Anh có nhớ dạo năm 1980 gì đó có đợt học tập về Marx-Lenin, phê bình đảng một cách công khai? Rất nhiều người đã nói. Ông Trần Văn Giàu cũng nói hết cả. Đến khi ông Lý Chánh Trung lên tiếng trên báo thì bị các ông Lê Đức Anh và Nguyễn Văn Linh phản ứng. Về sau tôi hiểu ra ý của các ông ấy như thế này: "Mẹ kiếp! Cái đảng của chúng tôi, cái Mác-Lê của chúng tôi thì chúng tôi biết chứ! Đau xót lắm chứ! Nhưng chúng tôi mới nói được! Anh là cái thằng ngoài đảng thì anh không nói được!" Đây là vấn đề tâm lý mà thôi. Mình không thể phủ nhận. Tất nhiên, quyền anh phê, anh cứ phê; quyền chửi cứ chửi. Làm sao để mà, thứ nhất người ta cảm nhận lời phê bình (chưa nói là đồng ý), và thứ hai là cảm hóa được người ta.

+ Ừ thì tạm chịu anh ở mặt tôn giáo của đảng Cộng sản, nhưng về mặt chính trị: đảng nào cũng muốn có tính dân chủ, mà dân chủ lại là ở sự phê bình và tự phê bình. Nếu theo anh lý luận thì về nguyên tắc (tôn giáo) đảng Cộng sản độc đoán trong sinh hoạt đảng.

- Nguyễn Văn Trung: Nó chỉ không thể độc tài, độc đoán được khi là một đảng chính trị bình thường. Một ví dụ: kể cả trong đảng người ta cũng muốn dẹp các tổ chức "cây kiểng" như Mặt Trận Tổ Quốc đi. Nhưng khi những đối thủ của Cộng sản, những người không Cộng sản ở nước ngoài đòi dẹp thì họ không những không dẹp mà lại còn làm mạnh các tổ chức đó lên. Lại cũng là vấn đề tâm lý!
Người Cộng sản độc đoán thường nghĩ: "A! Anh là kẻ thù của tôi, anh lại dạy tôi à?" Các chuyện ở Vatican cũng như vậy. Một nguyên tắc phong Giám mục của Vatican là nếu có vị nào đó có tên trong danh sách sắp được phong mà tên đó bị lộ ra dư luận bên ngoài trước khi phong chính thức, thì lập tức vị đó bị loại ngay ra khỏi danh sách. Vatican không thể chấp nhận làm một điều như thế là vì dư luận bên ngoài mà họ phải phong chức Giám mục cho vị đó. Họ muốn hoàn toàn tự làm các việc của họ! Tôi không nói rằng việc đó là đúng hay sai, tôi chỉ ghi nhận có một sự việc như vậy. Tóm lại, muốn phê bình người Cộng sản thì phải có một tư cách nào đó, bằng không thì việc phê cứ phê và người ta sẽ không để ý.

                                                       (còn tiếp)


Thứ Tư, ngày 22 tháng 10 năm 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 110 - Văn chương..."tiền hiện đại" - KỲ 4 - “Bóng đè”…các bác !



                                        ( tiếp theo và hết)
                               
                                             
Cuộc “làm tình vô luân” xảy ra ngay sát nách anh chồng mà chàng vẫn ngủ khì. Mãi sau thức giấc, chàng mới càu nhàu :” Em thấy tháng sao không mang băng vệ sinh ? Con gái mà đoảng quá. Mau dậy thay quần áo, lau chùi tấm phản đi…”
Tuy nhiên, cô vợ cho rằng chồng mình “chứng kiến, anh vờ như không có chuyện gì. Anh cũng không còn để ý chu kỳ của vợ. Tôi chỉ vừa sạch vài ngày làm sao thấy tháng? Vả lại thứ máu loang áo Thụ, thứ máu đen đặc mặt phản, thứ máu quện bết đùi tôi không phải máu đàn bà mỗi tháng. Mà là máu tươi chảy róc từ vết thương rách toác bị đâm sâu hung bạo. Mọi người bảo tôi bị bóng đè, nhưng bóng đè chỉ là giấc mơ khi đang ngủ, còn tôi rã rời, hai đùi nhớp nháp máu trộn nước con gái.…”
Trở lại thành phố, cô con dâu nhớ cái màn đỏ bàn thờ bố chồng tới mức cô “ thay rèm cửa màu đỏ, khăn trải giường màu đỏ, bao gối màu đỏ, cố trang trí căn nhà hao hao giống một trang thờ với nhiều tấm màn đỏ.”  để vơi đi nỗi nhớ những giây phút loạn luân. Thế rồi thấm thoắt lại đến giỗ, nhưng tai hại thay , “trước hôm đi tôi bị lên một chiếc nhọt ở chỗ thật tai hại. Nó nằm gần cái đàn bà ê ẩm, đỏ tấy. Thụ thấy tôi nhăn nhó tỏ vẻ thông cảm, anh bảo tôi nếu đau quá không về cũng được, anh sẽ thưa lại với mẹ. Nhưng tôi đời nào bằng lòng, đời nào để chiếc phản trống trơn mình Thụ đêm dài. Chỗ của tôi là ở đấy. Không hiểu sao tôi thấy mình khoẻ mạnh, háo hức lạ thường.”
Nghĩ tới ngày sắp được “thông dâm” với bố chồng , cô vợ quên cả đau chỉ “bồn chồn, mong nhớ, thậm chí khát thèm cảm giác mình bị hãm hiếp trước bàn thờ tổ tiên nhà chồng, trước mặt chồng “.
Và rồi trước ngày về quê ăn giỗ, anh chồng cẩn thận khám cho vợ “ bắt tôi trần truồng dạng chân, chống tay trong phòng tắm, ghé sát cặp kính cận xem xét. Tôi sướng run lên …ngón tay anh ve vuốt dịu dàng, người tôi mềm nhũn. Nhưng anh dịu dàng lâu quá, dịu dàng tôi không chịu nổi. Tôi muốn anh bóp nát, bục vỡ, tan oà chiếc nhọt. Một lần chồng vợ đã đời để quên hết. Ngón cái của Thụ cứ chờm hỡm trước cánh cửa dang rộng ẩm sâu. Tự nhiên tôi muốn buông một câu chửi thề, chửi thề một lần trong đời. Cánh cửa tự động cài khoá. Sao Thụ không cứ thế mà làm? Cứ thế cắm phập xuống. Cứ thế khoan sâu. Sao cứ chờm hỡm đấy mà dịu với chả dàng? “
Không được chồng cấu xé như bố, cô gái lại đành phải chờ đến lúc về quê, ngủ trên giường trước bàn thờ để đến đem “ Tỳ ép mắt mũi xuống mặt phản, tôi không ngờ bóng đen nhanh đến vậy. Không rà rẫm xoa xuê, không hít hà rờ ngửi. Vừa kịp hiện ra sau tấm màn đỏ đã thẳng thừng cắm trên cắm dưới vào lòng sông. Lần đầu tiên tôi không khát nước. Gẫy gập, cắt khúc tôi trong cơn xoáy liệt. Bốc cao, phịch hạ, chèn lấp, tọng đầy, thả hút mê man. Thân thể tôi ngầy ngậy, nước tràn miệng. Lần đầu tiên tôi hưởng thú đau đớn mà thoả mãn. “
 Phải trích dẫn dài dòng như trên để thấy ông Nguyên Ngọc đã “xui trẻ con ăn cứt gà” , kích động các cây bút trẻ trắng trợn đi sâu vào đề tài giường chiếu bằng những lời tâng bốc lên mây xanh :” là đọc họ ta cảm thấy cứ như bằng trực cảm, bằng một thứ ăng ten riêng , dường như họ nhận ra được và truyền đến cho chúng ta những nghiền ngẫm sâu thẳm về con người  , về xã hội, về đất nước thậm chí về số phận dân tộc”.
Cứ theo lời ông Nguyên Ngọc, ta thử coi qua “Bóng đè”, những nghiền ngẫm sâu thẳm về con người, về xã hội, đất nước thậm chí về số phận đất nước mà  Đỗ Hoàng Diệu đã  truyền đến người đọc là gì vậy ? Thử “giải mã” bằng phương pháp “biểu tượng hai mặt cũ rích” ta thấy “cái bàn tay nhỏ nhắn” kia có thể gợi tới “đời sống” với sức mạnh và sự trong lành muôn thủa  của nó. Còn tấm màn đỏ che trước bàn thờ có thể biểu trưng cho quá khứ , cho truyền thống cách mạng của Đảng. Vậy thì đọc “bóng  đè” xin chớ có hiểu một cách thông tục là “vong linh bố chồng” hiếp ‘con dâu” mà chính là … “quá khứ của Đảng “ đè ép  lên dân tộc, là Đảng hiếp “dân”  .
Có thể những người nhạy cảm như ông Nguyên Ngọc, Châu Diên, Phạm Xuân Nguyên và những người “ăn theo”  Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu rút tỉa ngay ra được “ý nghĩa” đó và vội hô hoán lên rằng đó, cứ bảo lớp trẻ chỉ viết truyện “giường chiếu”, không, họ chỉ mượn chuyện đó để nói về thân phân dân tộc, thân phận con người đấy chứ.
Có thể như Đỗ Hoàng Diệu mong muốn :” …một đôi lúc nào đó tôi chụp một góc hang động nơi các con vật đang cắn xé lẫn nhau. Nhưng tôi muốn người đọc nhìn thấy linh hồn của những con vật ấy chứ không phải lông lá của nó…”.
Tiếc thay đọc “Bóng đè” và một số truyện khác của Đỗ Hoàng Diệu, ngay cả khi nó không bị cắt đi những câu như : «Mồ mả là quá khứ, là huân chương, là tổ quốc (…) Bây giờ đập ngay vào mắt tôi là hai huân chương liệt sĩ, một Điện Biên, một Đường 9 Nam Lào»,  người  ta thấy những “thông điệp’ cô muốn gửi gắm chỉ giống như một thứ “chửi xéo”, những ‘trái nổ” được đặt theo kiểu “gài mìn” của những người bị cấm bút dưới chế độ kiểm soát hà khắc của Đảng đối với các nhà văn miền Bắc. Họ không đủ bản lĩnh và cả dũng khí xây dựng nên những hình tượng nhân vật toát lên những thông điệp họ muốn gửi tới người đọc, họ chỉ dám “cài đặt “ nó trong một câu chuyện  hoặc “mượn xưa nói nay” hoặc “mượn loài vật nói con người”, còn ở Đỗ Hoàng Diệu mượn chuyện giường chiếu để chửi xéo…đảng cộng sản và quá khứ của nó.
Và còn lâu Đỗ Hoàng Diệu mới đạt được mong muốn như cô nói, người ta vẫn chỉ thấy “lông lá của những con vật “ còn hồn vía của chúng vẫn vật vờ cõi âm ti địa ngục nào đó.
Và cho dù Đỗ Hoàng Diệu có muốn mượn chuyện “giường chiếu” để chửi xéo đảng, muốn tả  đảng “hiếp” dân  thì cũng nên nhớ diễn tả một cuộc làm tình có khi chỉ cần đặc tả mấy đầu ngón tay người nữ bấu vào vai người nam có khi gây hiệu quả còn hơn cả đi sâu "chiếm đoạt từ đằng sau", “cắt trọn trong một cú thọc sâu”, “cương cứng thúc lên”, “cảm giác cứng cáp quệt ngang đâm vào”, “bốc cao, phịch hạ, chèn lấp, tọng đầy, thả hút mê man”, “nhồi vào"…  tỉ mỉ như những pha ái ân kích dục trong phim con heo.
Trước đây, trên trang Talawas ông Nguyễn văn Lục có một bài viết đầy hào sảng ca ngợi và bênh vực Đỗ Hoàng Diệu. Người ta có thể cảm thông với nỗi bức xúc của ông về một xã hội dưới chế độ toàn trị của Đảng cộng sản “ người không phải là người nữa”, nhưng liệu có thoả đáng không khi ông gán  cho “Bóng đè” cái phẩm chất “ Không có biên giới rõ ràng giữa cái thực và cái không thực, giữa đúng và sai. Một điều có thể không nhất thiết là thật hay là giả. Nó có thể vừa là thật, vừa là giả»  ?
Thực ra đọc “Bóng đè” người ta thấy một lối viết “cực thực” (hyperrealisme),  đi sâu vào cả “lông lá” của nhân vật chứ chẳng có gì gọi là “không thực”, “ giả” và Đỗ Hoàng Diệu “diễn dịch” cái điều cô muốn nói rất bài bản, lớp  lang, nhằm vào một đối tượng hẳn hoi chứ chẳng phải “cô viết tự nhiên, không rào đón chuẩn bị, và cũng chẳng cố ý nhằm chống đối rõ rệt một đối tượng nào như ông Nguyễn văn Lục ca ngợi .
Hiện tượng các cây bút trẻ như nhóm “Mở Miệng”, Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền Thư, Đỗ Hoàng Diệu…ngày càng đào bới rất sâu vào chuyện tình dục chỉ chứng tỏ trong một xã hội khi mọi suy nghĩ về thân phận tộc, về chế độ độc đảng, về những nguyên nhân cốt lõi của những vấn nạn quốc gia ..bị cấm ngặt thì an toàn hơn cả là viết chuyện…  ái ân. “ Bí thượng” thì “ phá hạ” – không đủ dũng cảm viết chuyện  của “cái đầu” đành lia ngòi bút xuống “hạ bộ” chứ còn biết làm sao ?
Thực ra mọi chuyện xảy ra ở xứ ta chẳng có gì là mới, chúng đều đã có ở  bên…tàu từ cả chục năm trước.   Ngay từ những năm 1980 của thế kỷ XX, để nhanh chóng tiến vào cái “hậu hiện đại” , đa số các nhà văn Trung Quốc đã bắt đầu né tránh cái cao cả, rút ra khỏi lĩnh vực tự sự hoành tráng và đúng như nhà bình luận Quách Tùng Dân ( Trung Quốc)  đã viết :” văn học đương đại Trung Quốc đã sớm mất đi năng lực nắm vững lịch sử xã hội, mất đi dũng khí đảm đương xây dựng đạo đức, từ đó cũng đánh mất sự tôn nghiêm của mình, chỉ còn biết dựa vào “ nửa thân dưới giỏi uốn éo” và tiếng rên rỉ trên giường để thu hút những ánh mắt dâm uế và khinh bạc…”  
Xưa nay “tàu sao ta vậy “ đã thành “quy luật của tự nhiên” –. Bởi thế cái hiện tượng “bóng đè” cũng chỉ là một dấu vết trên chặng đường ta lẽo đẽo đẽo đi theo sau “thằng tàu” mà thôi. Các bác thích “xui trẻ ăn cứt gà’ nên hiểu rõ điều đó để mà thận trọng khi “Mở miệng”.

                                                                                   PV


TÔI GỬI LỜI XIN LỖI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM :

Mới đây, trên STT cua một blogger loan tin Hội nhà văn VN gửi công văn đề nghị công an  "truy tố nhà văn Phạm Thành".
Tôi đã viết comment :" Sao Hội nhà văn lại đòi truy tố hội viên của mình ?Hèn nhát không bênh vực được thì im mồm, sao còn đánh anh em ? Ai là chấp hành lên tiếng đi chớ ??? Không lẽ Hội nhà văn biến thành hội mật thám à ???"
Tôi đã gọi điện cho một người có trách nhiệm ơ HNV và được biết đó là văn bản công an soạn yêu cầu Hội nhà văn CAM KẾT không được tuyên truyền, không được đưa vào diện xét thưởng tiểu thuyết " Cô hồn xã nghĩa" của ông Phạm Thành. Ông Đõ Hàng, Chánh văn phòng có ký vào bản cam kết đó
Chỉ thế thôi hoàn toàn không có chuyện Hội nhà văn gửi công văn cho công an yêu cầu truy tố nhà văn Phạm Thành.
Để rộng đường dư luận tôi gọi điện cho ông Phạm Thành . Ông trả lời :" KHÔNG ĐƯỢC ĐỌC công văn đó mà chỉ nhìn thấy chữ ký của ông Đỗ Hàng. Còn chuyên "công văn đề nghị truy tố"là do ý kiến anh cán bộ an ninh nói lại.
Vậy đã rõ, không hề có cái gọi là công văn của Hội nhà văn VN đề nghị công an truy tố nhà văn Phạm Thành.
Tôi là người chỉ tôn trọng sự thật.
Vậy xin nói lại cho rõ.
NHẬT TUẤN

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 109 - Văn chương..."tiền hiện đại" - KỲ3 - “Bóng đè”…các bác !


                                       (tiếp theo)                                               
                                                                                 


Kinh hoàng nhất là tất cả mọi người trong gia đình đều biết chuyện “loạn luân “ giữa vong linh bố chồng và con dâu  ngay bên cạnh chồng nó tức con trai ông ta mà không một ai lên tiếng phản đối.
Lúc anh chồng thức giấc, bất giác “ lưng Thụ thẳng đứng như bị điện giật khi anh mở mắt. "Em.. em.. em cởi truồng?". Đập mạnh cánh tay xuống phản trong nỗi cứu sinh, tôi choàng tỉnh, biết mình vẫn nguyên vẹn hình hài. Kéo quần lên, tôi quay lưng lại Thụ không giải thích một lời.” . Như lời cô ta thú nhận :” Không còn nghi ngờ gì, Thụ đã nhìn thấy cảnh đêm qua, Thụ biết tất cả.” Vậy nhưng anh ta không hé răng nửa lời chỉ nhìn vợ bằng đôi mắt “ hằn lên những tia máu đỏ dại cuồng”.
Cô em chồng về muộn chứng kiến chuyện loạn dâm bỉ ổi của chị dâu cũng chỉ buông “giọng nói mỉa mai kéo dài đu đượi chua đôi môi hóng hớt của Thắm xỉa xuống tấm phản, đầy tiêu ớt cay xé “.
Còn bà mẹ chồng thì khỏi nói, bà ” phẩy lia phẩy lịa nắm nhang khắp bàn thờ như điên dại ”  làm chồng bà tức “bóng đen rít lên một tiếng man rợ xoẹt ngang lửa nhang” . Bà cũng như mọi người thừa biết chuyện loạn luân đó diễn ra ngay trên cái phản thờ, lạ thay, không ai cấm đoán hoặc khuyên giải nàng tìm giường khác mà nằm đừng nằm trên chiếc phản nhầy nhụa, ô nhục ấy nữa. Và lẽ ra bà mẹ chồng phải đốt ngay chiếc phản đó, cấm con dâu không được mon men tới, lẽ ra anh chồng thôi không cho vợ thường xuyên về quê ăn giỗ mỗi tháng một lần nữa thế nữa…Lẽ ra là như vậy, nhưng không có ai có bất kỳ phản ứng nào hết, và như vậy “cô con dâu” tháng tháng cứ lấy cớ giỗ mà về ăn nằm với….vong linh bố chồng.
Tuy nhiên từ sau “vụ đó” , quan hệ vợ chồng không còn được như xưa :
“ Cuộc sống vợ chồng dần dà ngường ngượng. Thụ vẫn chăm chút tôi nhưng sự chăm chút đượm mùi sầu thảm. Chẳng còn lửa cháy, chẳng còn nồng nàn. Tôi thôi không hực lên hổ cái mỗi đêm trên người Thụ. Tôi không vồ nuốt lấy anh, hối hả rúc mặt vào trong nách anh.. Thụ cũng chẳng mấy mặn mà chuyện ái ân. Bàn tay anh thôi vuốt ve bóp nắn. Tôi cũng thôi cắn đầu lưỡi Thụ có mùi cỏ đắng. …“
Tuy nhiên mặc cho anh chồng nguội lạnh vậy, cô vợ vẫn không biết thế nào là liêm sỉ , ban đêm. “Tôi thấy vú tôi nở ra trong đêm tối, nở lớn như một đoá vạn thọ bất chợt bung cánh, to bằng một cái bát. Thân thể tôi giống một quả mít tố nữ ngậy thơm đợi bổ đôi. Lẫn trong thao thức, tôi nhớ tấm huân chương liệt sĩ Điện Biên lấp lánh, huân chương Đường 9 Nam Lào sáng choang động đậy. Đùi tôi thèm được rát rẫy mồ hôi, bụng thèm cảm giác cứng cáp quệt ngang đâm vào. Tôi biết như thế là tội lỗi, nhưng rồi lại tự nhủ đó là một thứ tội tổ tông mà chẳng ai có quyền chê trách. “
Thèm khát cả da thịt của con trai  lẫn vong hồn của bố mà nàng  lại cho rằng  “ chẳng có gì đáng chê trách”, “ đó là một thứ tội của tổ tông “ thì thật nực cười.
Trong Thiên Chúa giáo, “tội tổ tông” (Original sin) thường ít được  nhắc tới như là một tội “ham mê sắc dục”.  Đỗ Hoàng Diệu dùng “ tội tổ tông” bào chữa cho cái “máu dê” của cô gái thì thật là…nói lấy được khiến người ta nghi ngờ chẳng biết “nữ văn sĩ” có hiểu thế nào là “tội tổ tông” không ? Suy cho cùng cái bản tính dâm dục của cô kia may lắm là do bố mẹ truyền lại chứ tổ tiên nào gây ra cái đó ?  Chuyện tầm phào như vậy mà ông nhà văn Nguyên Ngọc bốc lên như người nói mớ :
bằng một thứ ăng ten riêng , dường như họ ( Đỗ Hoàng Diệu) nhận ra được và truyền đến cho chúng ta những nghiền ngẫm sâu thẳm về con người  , về xã hội, về đất nước thậm chí về số phận dân tộc mà chính họ về luận lý cũng không nói ra cho rõ được.”
“Những nghiền ngẫm sâu thẳm về con người, về đất nước, về số phận dân tộc” phải là những nghiền ngẫm về vai trò của Đảng cộng sản và thân phận của dân đen trong bảy thập kỷ qua chứ đâu phải ở một vụ thông dâm tưởng tượng giữa con dâu và bố chồng ? Nếu cái vụ “thông dâm” đó là hệ quả của sự xuống cấp đạo đức do Đảng cộng sản gây nên thì cái “đường dẫn” quá mờ nhạt và yếu ớt khiến người ta khó mà  đi tới được kết luận đó.
Thế rồi lại đến ngày giỗ, cô con dâu lại “ mơ hồ mong chờ, phập phồng theo tiếng nghiến đường ray với bãi tha ma chập chùng. “. Nhưng về quê lần này, bà mẹ chồng không còn ưu ái như trước, ngược  lại còn bóng gió  :”
“Lấy chồng theo thói nhà chồng, mọi thứ đều có lễ nghi, trên dưới, cứ thế mà làm. Chị làm khác sẽ rước hoạ vào thân, tôi nói trước."
Tuy nhiên “giọng nói sắc ngọt của mẹ chồng “ khó lọt được vào tai cô con dâu vì cô đang “ Hân hoan hạnh phúc …Trưa nay nó vọng rõ mồn một, thấu tim óc đứa con gái đang nuôi những vực thẳm khổng lồ trong mình chẳng khác nền trời không xanh lồng lộng cũng đang nuôi những tảng mây tối sáng lừ đừ. “ . Nghĩa là cô đang mong chờ được ngủ với bố chồng mặc xác xung quanh . Chồng thì “nhìn tấm màn đỏ bất động đang rang lửa. Bao nhiêu nhang thắp lúc nãy cháy cằn, tàn tro giữ nguyên dựng đứng như hình chĩa ngọn chông, trơ khấc tàn bạo.”. Mẹ chồng  thì “Tia liếc xéo từ căn buồng mẹ chồng tôi bùng rát khuôn mặt, tôi ngoái đầu, chỉ là hai cánh cửa khép im lìm. Những cái liếc xéo lởm chởm nguyền rủa của bà hơn một hôn mê, một thôi miên hoà lẫn tiếng xoong chảo cô út vùng vằng ném đập ngoài giếng dìm xuống nước chìm ỉm trong nhiệt độ tăng cao và chiếc quạt tai voi xoay lấc láo.”
Nếu như tất cả mọi người dồn cái bực bội , khinh ghét ấy vào trong một hành động rất đơn giản : “ sắp xếp cho cô con dâu ngủ chỗ khác, không nằm trên cái phản thờ ấy nữa” thì rất hợp lý và…hết chuyện. Vậy nhưng không, mọi người vẫn phải theo ý xếp đặt của …Đỗ Hoàng Diệu  để cô con dâu ngủ trên phản thờ ấy làm trò loạn luân. Đây là một lỗ hổng lớn trong truyện ngắn.
Không ai ra mặt  phản đối nên cô con dâu ngang nhiên giữa trưa cứ ngự trên phản thờ chờ “bố chồng” “ trong tư thế ưỡn ngửa, tôi trơ cứng bất động. Đám mây nằng nặng trôi qua khoảnh sân làm tối sầm gian nhà, tối sầm bức màn đỏ tôi đã kéo che những nén nhang cháy quằn quại. “
Và rồi “mơ” đã biến thành “thực”:
“ Sau bức màn đỏ, bóng đen thản nhiên bước ra. Lần này hiện rõ hình hài con người. Tôi không còn sợ hãi mà nghênh mặt ngắm nhìn. Nó mang trong mình dáng hình của một lão già Trung Quốc nào đó đầy quyền uy chập chờn trên cái nền lát gạch tàu. Lão Tàu xa xăm, bí ẩn, vừa đen tối vừa có sức hút lạ kỳ, quyến rũ khác thường, vừa giông giống bố chồng tôi. Tôi chăm chăm theo dõi mà vẫn phân định bên ngoài mây xám đã quệt qua khoảng sân, hắt thứ ánh sáng âm âm xuống lũ cây cối, và chỉ cách vài thước, mặt trời đang hực nắng nhựa đường.”
Vào cuộc mây mưa với “bố chồng”, lạ thay cô con dâu vẫn còn “triết luận” về cái phản thờ :
“ Phản này Thụ nói có từ lâu lắm, dễ đã bảy tám đời ngủ nghê, ăn uống, sinh con đẻ cái và khâm liệm. Tấm phản mang quá khứ của gia đình Thụ, xa xôi, chất chồng. Còn tôi, hiện tại, một đứa con dâu đĩ thoã đang ưỡn ngửa căng rát đón chờ.
Và rồi cái cảnh “loạn luân” độc nhất vô nhị trong lịch sử được mô tả chi li, tỉ mỉ khiến người ta liên tưởng tới trường phái :”thái hiện thực” (hyperréalisme) trong hội hoạ :
Bóng đen đã đứng ở khoảng giữa hai chân tôi tách rộng. Từng đường nét trên gương mặt lạnh lùng không hề xa lạ hiện rõ. Sao mà giống Thụ đến thế. Rõ ràng là Thụ. Chân Thụ đã rơi khỏi đùi tôi tự lúc nào giống thả cho tôi tự do đối mặt bóng đè.. Lúc đôi tay quờ xuống rà rẫm, tôi biết trước chiếc bóng muốn gì, thứ mà mọi đàn bà trên thế gian khi nằm ngửa đều biết. Tôi dang rộng chân lúc nghe tiếng ho buồng trong dội lại. Tiếng ho càng lớn tôi càng dang rộng chân như muốn thách thức. Chính tôi cũng không hiểu vì sao mình có thể dang chân trong lúc tứ chi bất động, muốn vùng dậy mà không được. … Hai bàn tay thả xuống mạnh bạo, riết róng, hơi thở dập dồn. Nó luồn sâu bóp từng mạch máu chảy sôi huyết quản con gái đôi mươi. Gương mặt sà sát vùng cổ như muốn hút sức sống tôi căng rứng. Rồi lồng ngực bỏng rát, tôi vỡ vụn. Nó đang banh trái tim tôi ra. Tôi hét, tôi vùng vẫy, tôi van xin, hổn hển, oằn oại rên rỉ.. Bóng đen tảng lờ. Hai bàn tay bạo lực hung hãn khoét sâu, ngoáy vòng. Tôi điên đảo, đau đớn, nộ cuồng rồi tôi cười gằn thoả mãn với ý nghĩ mẹ chồng tôi cũng đã nằm trên tấm phản này cũng đã dang chân cho nó ngoáy vòng….”
Thật chẳng khác gì những câu chuyện về sex trên các trang “coithienthai”,” quanmongmo”, “ gaique”…nhan nhản ở trên NET.
                                                                                      ( Còn tiếp)


Thứ Ba, ngày 21 tháng 10 năm 2014

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 34

                                                         (tiếp theo)

   
Cái gì đến thì sẽ đến, một buổi chiều bọn lính lệnh chúng tôi tập họp hết tất cả mọi người ngồi chờ ở giữa sân trại. Lát sau thì ông Aleck đến cùng một nhóm khá đông người và ông báo tin vào sáng ngày mốt, chúng tôi sẽ phải chuyển xuống cảng Johore. Một sĩ quan hải quân đứng gần bên ông Aleck, tiếp lời: " Một ghe to hơn chiếc cũ, đầy đủ gas chạy máy cùng lương thực, nước uống và trước khi khởi hành, quý vị có thể kiểm tra tình trạng máy móc. Tôi bảo đảm ghe rất tốt, có cả một máy bơm nước nữa ".

Nghe rõ những lời thông báo của họ, dù đã tiên liệu từ trước nhưng cả đám chúng tôi vẫn thẫn thờ trong im lặng.

- Thưa ông, tụi tui phải rời trại và sau đó sẽ ra khơi trở lại bằng chiếc ghe mới từ cảng Johore? Tám Kiệt thay mặt cả đám, hỏi cho chắc ăn.

Ông Aleck gật đầu xác nhận, rồi nói:

- Để an toàn, chúng tôi sẽ giúp quý vị bằng cách kéo chiếc ghe từ cảng ra biển lớn, sau đó quý vị sẽ tự tiếp tục chuyến đi.

- Ông bảo tự tiếp tục chạy ghe, vậy chúng tôi sẽ đi đâu trong cái đại dương bao la? Chúng tôi trốn nạn Cộng Sản, tìm tự do, ghé vào đây rồi bây giờ ông lại bảo chúng tôi tiếp tục đi... đi nữa. Các ông có biết Cộng Sản như thế nào không? Sao các ông không hiểu cho hoàn cảnh, còn đẩy chúng tôi đi tiếp? Ông Phát to giọng bực tức, chất vấn.

Thấy vậy, hết ông Aleck rồi đến các sĩ quan khác thay nhau trả lời rằng họ biết chúng tôi đào thoát để tìm tự do, đã ghé vào cảng Kelang và vì vậy nên được cho tạm dung ở đây. Hiện thời vì Bidong và Sungei Besi quá đông người, không thể nhận thêm nên họ phải kiếm một ghe mới khác, mong chúng tôi thông cảm. Điều quan trọng khi xuống ghe đó, chúng tôi sẽ không được quay trở lại Malaysia nữa. Ông Thăng khi nghe vậy, hỏi liền:

- Johore gần Singapore, ông nghĩ chúng tôi chạy ghe vào đó có được không?

- Tùy quý vị nhưng từ lâu rồi thì Singapore không nhận người Việt Nam, thêm nữa vùng biển gần cảng Singapore có rất nhiều tàu lớn nên có thể làm chìm ghe quý vị nếu chạy gần. Theo tôi, quý vị nên tránh cập bến Singapore. Một người trong đoàn ông Aleck, trả lời.

- Vậy thì chúng tôi sẽ tiếp tục đi đâu để gặp trại tị nạn? Ông Phát lập lại câu hỏi.

- Tốt nhất thì quý vị nên hướng đến Indonesia và nhớ đừng tiết lộ gì kể từ lúc vào Kelang, thời gian tạm dung ở đây cũng như chuyến đi sắp tới tại Johore. Trước giờ xuống ghe, quý vị sẽ phải mặc áo phao cứu sinh vừa với kích thước từng người. Một sĩ quan hải quân kết thúc câu chuyện.

Sau đó, các nhân viên hội thiện Hồng Nguyệt tản ra, lăng xăng khám sức khoẻ chúng tôi rồi cho mỗi người gói nylon nhỏ gồm trái cây tươi và bánh ngọt. Ai nấy thắc mắc về lời nói của viên sĩ quan, ghe mới to hơn và tốt hơn cá lớn nhưng sao lại phải mặc áo phao cứu sinh.

Ngày kế, lính gác lệnh đám nam giới chia từng toán nhỏ đi quét dọn các nơi cùng hai nhà lều, lấp hố rác và vào rừng khuân các thân cây khô về chất thành đống lớn để đốt lửa trại. Chốc lát xong việc, lính gác cho phép chúng tôi tự do đi tắm suối lần cuối, ai ai cũng một cảm giác nôn nao về chuyến sẽ đi vào sáng sớm ngày mai. Ngày qua đi thật nhanh rồi khi trời sẩm tối, thêm ba gã lính khác đi xe Jeep đến nhập bọn chung. Lửa trại bùng lên, chúng tôi ngồi xen kẽ với lính gác thành một vòng tròn khá rộng chung quanh. Gã lính Daniel chơi guitar một điệu tango vui mở màn, có người thổi sáo miệng phụ họa theo. Một thanh niên trong chúng tôi dùng hai chiếc muỗng làm đôi chập chõa hòa âm với gã lính đang gõ lên cái mũ sắt nhà binh thay cho trống. Cây guitar được chuyền tay lần lượt cho các người khác biểu diễn. Hát nhạc ngoại quốc chán thì đổi qua nhạc sến rồi ca cải lương. Và không ai ngờ, bằng cây guitar mà ông Phát lại gẩy được nhiều điệu cải lương réo rắt chung với người ca. Cải lương có nhiều bài bản bài lý cùng các loại hơi xuân hơi oán rất khó ca ngay cả với người miền Nam. Đám lính thì cũng hát hò nhạc Malaysia góp vui. Lửa trại sẽ còn tiếp tục nhưng đám lính chấm dứt sớm, lệnh cho chúng tôi đi ngủ ngay để giữ sức cho chuyến đi vào ngày mai. Gã lính Daniel lộ vẻ buồn ra mặt vì y biết sẽ không gặp những cô gái trẻ trong đoàn ghe nữa, còn chúng tôi thì hầu như ai cũng cảm thấy khó ngủ vì lo lắng. Khung cảnh trơ lại cái tĩnh mịch trong ánh sáng bập bùng của lửa trại sắp tàn.

Tiếng kèn và ánh đèn từ hai chiếc xe bus đến thật sớm khi trời còn chưa sáng rõ đã đánh thức cả trại dậy. Vì chuẩn bị sẵn nên mọi người ùa ra làm vệ sinh cá nhân rồi điểm tâm qua loa nhanh chóng, sau đó lên ngồi kín trên hai chiếc xe. Khi kiểm danh đã đủ 135 người thì hai chiếc xe bus bắt đầu từ từ lăn bánh ra khỏi trại, Daniel cùng các gã lính khác đứng cạnh gần cổng ra vào vẫy tay từ giã chúng tôi.

Mỗi chiếc xe bus đều có hai gã lính thủ súng trường M 16 đứng trấn sát ngay cạnh cửa lên xuống ở bên trong. Xe chạy chầm chậm, lắc lư trên con đường gập ghềnh hoặc tránh các vũng nước nằm ngay giữa lộ đất đỏ. Trời sáng dần, tôi thấy rõ cây rừng đan chặt chỉ cách vệ đường vài bước chân và rừng trải dài bạt ngàn khi xe bus qua những chỗ thấp như thung lũng hoặc đồi cao. Văng vẳng tiếng chim hót râm ran hòa với tiếng hộc tiếng hú của muông thú chào đón đầu ngày mới. Ra khỏi khu rừng thì hai chiếc xe bus nhập vào một xa lộ rộng rãi, đầy xe để chạy về hướng Nam. Có lúc xe bus chạy ngang qua những đoạn đường trồng toàn cọ dầu tương tự cây dừa với chùm trái chín đỏ bên thân sau kẽ bẹ lá. Hàng cọ dầu thẳng tắp trồng thành rừng như cao su bên quê nhà, trái dùng để ép lấy dầu thực phẩm. Chúng tôi vượt qua các khu đô thị sầm uất với những công trình xây dựng rất đẹp, những thánh đường Hồi giáo với tháp cao riêng biệt hoặc nhiều khu dân cư vùng ngoại ô. Trông thấy phố xá đông người với các tòa nhà cửa kiếng bóng lộn bên dòng xe cộ mới thấy bên quê nhà đã bị đứng khựng lại từ nhiều năm. Chỉ mới đến các thành phố miền Nam Malaysia thôi đã như vậy thì ở thủ đô Kuala Lumpur chắc chắn còn đẹp và phồn thịnh hơn nữa. Đến một thành phố, hai chiếc xe bus ngừng sát cạnh bên vệ đường, gần những tiệm ăn và các cửa hàng thương mãi. Lệnh buộc chúng tôi phải ngồi yên trên ghế, đám lính gác rời xe đi lo công việc. Xe bus ngưng máy nằm yên bên đường, vài người mở hết cửa kiếng ra cho mát. Khách bộ hành địa phương đi qua đi lại, tò mò nhìn vào xe bus rồi một người trong số họ xì xồ tiếng Tàu. Có tiếng phụ nữ trong dẫy ghế phía trước xe trả lời và rồi hai bên trò chuyện qua lại với nhau. Người khách đó bỏ đi để rồi chỉ chốc lát sau kéo thêm các người khác đến bên hai chiếc xe bus với các thùng nước giải khát và bánh ngọt để cho chúng tôi. Họ là người Malaysia gốc Tàu Triều Châu. Người phụ nữ trên xe cho biết người khách bộ hành đó đã đi báo tin về nhóm 135 người Việt tị nạn CS chúng tôi và họ mang quà đến cho. Chúng tôi chuyển cho nhau bánh ngọt, nước giải khát từ tay những Hoa kiều xa lạ nhưng thật tốt bụng. Đi từ lúc sáng sớm, ai cũng khát khô họng nên vội mở nắp uống ngon lành. Uống chưa cạn lon nước thì đã nghe tiếng người la hét vọng tới làm những Hoa kiều hoảng hốt nhìn chúng tôi, xì xào. Đám lính gác từ đâu quay trở lại và chúng thẳng tay xua đuổi các Hoa kiều đang vây quanh hai xe bus. Những lon nước giải khát, hộp bánh ngọt còn sót trong thùng chứa đã bị đám lính lôi ra, vất bỏ tung toé trên vỉa hè đường rồi họ còn đuổi đánh các người dân địa phương hiếu kỳ đứng gần xem. " Mấy cha lính nầy dữ quá! Người ta cho bánh cho nước uống chứ có làm quái gì đâu mà cấm ", một người trong xe than. Lính gác cũng mang về hai chiếc xe bus các thùng carton cùng những lon nước lã khác của họ. Cửa xe bus được đóng lại nhanh chóng và sau đó xe chạy tiếp ra xa lộ rồi băng qua các khu dân cư thưa thớt vùng quê hoặc đi qua các thành phố sầm uất. Khi chạy dọc theo một cánh rừng cao su tương tự vùng Long Thành-Đồng Nai được một đoạn đường, hai chiếc xe bus quẹo vào lối nhỏ cạnh rừng rồi ngừng lại. Lính gác lệnh chúng tôi xuống xe nghỉ ngơi rồi họ phát cho mỗi người một gói thức ăn và một lon nước lã.

Rừng cao su ở đây, cây nào cũng có các rãnh cắt xiên bên thân và một chén nhỏ hứng mủ gài ngay dưới cùng của đường rãnh. Không biết thời xưa khi còn là thuộc địa của nước Anh thì đời sống người phu cạo mủ ở đây có giống như bên Việt Nam mình không? Có được những cánh rừng cao su như bây giờ, chắc chắn phải mất nhiều công sức và cả sinh mạng người phu cạo mủ trong những buổi đầu. Ăn uống và nghỉ ngơi được khoảng nửa tiếng đồng hồ, lính gác lệnh cho cả bọn chúng tôi trở về xe. Đêm hôm qua hầu như không ai ngủ được lại phải đi suốt từ lúc sáng sớm nên giờ đây nhiều người trong chúng tôi đã ngủ gà ngủ gật trên xe. Tôi muốn thức để nhìn cảnh vật hai bên đường cho biết nhưng không thể. Mắt đã nhíu lại và tôi đã ngủ cho đến khi tỉnh giấc vì những giọt mưa lạnh hắt vào mặt. Nhưng chỉ là cơn mưa bóng mây vài giọt rồi dứt hẳn. Tuy vậy cũng đã làm tôi tỉnh hẳn. Hai chiếc xe bus vẫn tiếp tục chạy chung với dòng xe cộ trên xa lộ dài hun hút, bên ngoài trời về chiều rồi tối dần dần. Cuối cùng, xe bus chạy vào một khu vực đèn đường sáng choang soi rõ từng dãy nhà thẳng tắp cùng những thân tàu lớn, đen đen đậu dọc theo bờ kè cạnh con đường. " Mình đang vào căn cứ hải quân Johore ", Đỉnh ngồi bên tôi thì thào. Những dãy nhà cạnh bên những con đường thẳng tắp, sạch sẽ mà rất ít người qua lại. Có lẽ hai chiếc xe bus chạy vào một khu vực kín đáo, giới hạn người và được canh phòng cẩn mật. Đến một bãi trống trải, hai chiếc xe bus giảm tốc độ và dừng hẳn. Lính gác lệnh chúng tôi xuống xe và xếp thành hai hàng trên cái sân bê tông gần ngay một bến tàu. Đèn trên các hàng cột cao chiếu sáng chói chang khiến tôi phải dùng tay che mắt khi muốn nhìn kỹ một nhóm người đang đi đến gần. Chúng tôi gặp lại ông Aleck và các sĩ quan hải quân khi trước, " Ông Thăng ông Phát đâu rồi! Mấy người Mã Lai nầy muốn nói cái gì nè ", tiếng một phụ nữ gọi lớn, thông báo.

Chúng tôi nối nhau thành một hàng dọc tiến về phía trước nơi đám lính gác chờ sẵn với một đống áo phao cứu sinh mới toanh bỏ nằm dưới đất. Mỗi người được phát một chiếc áo phao cứu sinh này. Các gã lính chỉ dẫn cách thức luồn sợi dây choàng qua hai đùi phía dưới háng từng người để cố định vị trí cái áo phao luôn luôn dính chặt vào thân mình. Ở túi ngực áo phao, có một còi hơi để thổi khi cần đến và một bóng đèn pin nhỏ sẽ cháy chớp tắt khi cái chốt nắm được giật tung ra. Lần lượt giúp từng người chúng tôi mặc áo phao cứu sinh xong, một sĩ quan hải quân nói:

- Ai cũng cần biết cách sử dụng còi và đèn để phòng khi nổi dưới biển, gặp tàu cấp cứu chạy đến gần sẽ dễ dàng biết vị trí của quý vị.

Buộc mọi người phải mặc áo phao rồi chỉ dẫn cách dùng còi và đèn báo khi thân người đang nổi dưới biển đã làm chúng tôi phải nghĩ ngợi pha chút lo lắng. Sẵn có còi hơi trong tay, vài trẻ nít cứ vô tư thổi toe toe và tắt mở bóng đèn pin để vui đùa với nhau. Đồng hồ trên tay tôi đã hơn 8 giờ tối và bầu trời thì tối đen không một ánh sao. Chúng tôi chỉ cho nhau thấy các thân ghe đậu lố nhố dưới chân cầu xa xa mà không biết chiếc nào sẽ thay cá lớn trong tối nay? Chợt ông Thăng lách đến gần chỗ tôi đang đứng, miệng nói gấp:

- Anh Tám và cậu Thuận đâu rồi? Đi ra với tôi ngay, mấy người hải quân họ muốn mình xuống xem ghe bây giờ nè. Tiếng một người khác nói với theo: " Ê mấy ông! Nhớ kiểm tra máy ghe, máy bơm nước xem coi nó có chạy ngon lành không nha ".

Tám Kiệt, Thuận cùng các ông Thăng ông Phát theo chân ông Aleck cùng các sĩ quan hải quân tiến về phía những chiếc ghe đậu ở phía dưới bờ cảng. Họ đi xuống chiếc nào trong số ghe lớn, nhỏ đang nằm im lìm đó? Trong cái áo phao cứu sinh đồng một màu cam đỏ, chúng tôi bây giờ trông ai cũng giống như ai nếu không nhìn thấy mặt của nhau. Người lớn trong áo phao lớn, trẻ nhỏ trong áo phao nhỏ. Một mùi tanh cá, mùi mằn mặn của nước biển theo cơn gió thổi hắt lên bờ về phía đám chúng tôi đang đứng chờ tin. Lát nữa đây, chúng tôi sẽ phải tiếp tục cuộc hải hành mới, một cuộc hải hành tuy không muốn mà phải đi trong lo sợ. Tôi chợt run người vì sợ, tay tôi nổi chút da gà. Bên tôi, vài người nhìn mặt thấy rõ vẻ lo âu trong yên lặng. Cầu mong chuyến đi sẽ được suôn sẻ.

Tám Kiệt cùng Thuận, ông Thăng, ông Phát quay trở lại chung với nhóm người của ông Aleck. Thuận đi đầu mỉm cười và giơ ngón tay cái hướng lên trời với chúng tôi. " Ghe, máy cùng bơm nước thì tụi tui kiểm tra thấy chạy rất tốt. Anh Tám và cậu Thuận đã xem đi xem lại thật kỹ rồi ", tiếng ông Phát nói lớn cho cả đám nghe. Tám Kiệt tiếp lời:

- Dầu chạy ghe đã được họ bơm đầy còn sơ cua thêm vài can nhựa 30 lít nữa. Ghe nầy rộng hơn chiếc cũ, máy mạnh hơn nhưng không có hải bàn vì tầu hải quân họ kéo đi theo và sẽ chỉ hướng để mình chạy tiếp. Thực phẩm và nước ngọt có đầy đủ dưới ghe, tụi tui đã xem xét kỹ lưỡng.

Ông Aleck tiến đến, đứng đối mặt với cả đám chúng tôi rồi khoa tay buộc mọi người chú ý và im lặng. Ông chậm rãi nhắc lại những cam kết của Malaysia với Cao Ủy Tị Nạn LHQ khi nhận cho chúng tôi vào tạm trú nhưng do những khó khăn nội bộ nên buộc lòng họ phải sắp xếp để làm một chuyến hải hành mới. Rồi thay mặt bộ Nội Vụ, ông mong chúng tôi thông cảm và quả quyết chuyến đi tối nay sẽ tốt đẹp. Một sĩ quan hải quân khác, thông báo:

- Lát nữa đây, tôi sẽ chỉ huy chiếc tàu kéo ghe quý vị đi ra tới biển lớn. Thuyền trưởng, tài công bên quí vị nhớ phải giữ khoảng cách an toàn ở phía sau tàu hải quân. Bây giờ, xin mời quý vị xuống ghe, di chuyển trong trật tự và im lặng.
                                           (còn nữa)