Tổng số lượt xem trang

Thứ Bảy, ngày 19 tháng 4 năm 2014

BÁC BA PHI ĐI THĂM MỸ - KỲ 104



                           (tiếp theo)

Chị Kelly Thi vỗ tay :
“ Chí lý…chí lý…Đảng xuống thuyền Noah trốn đại hồng thuỷ  phải mang theo cờ Đảng chớ ? Cờ Tổ Quốc mang làm gì ? Lúc đó thì cần gì tới  Tổ Quốc…”
“ Lão già” hùa theo :
“ Rất đúng…ngay khi nước rút, mọi người rời thuyền lên bờ, chắc chắn việc đầu tiên là Đảng phải họp đại hội bất thường để nhận định tình hình nhiệm vụ mới và bầu Ban chấp hành trung ương. Lúc đó phải dùng tới cờ Đảng rồi…”
“ Chị Kelly Thi” chợt reo lên :
“ Chết suýt nữa quên…nhớ là phải mang theo toàn bộ các văn kiện Đại hội Đảng các lần trước để xài lại trong kỳ Đại hội lần này…”
“Lão già” xua xua tay :
“ Không cần…không cần…Đại hội các kỳ trước họp khi còn toàn Đảng toàn dân, còn cả đất nước trên dẻo đất hình chữ S chạy suốt từ Bắc vào Nam. Giờ tuy nước đã rút, đất liền đã hiện ra nhưng đã biết trôi dạt vào đâu, chắc gì đã là đất nước Việt Nam. Dân chẳng có, đảng viên cũng không. Mọi thứ đều mới mẻ, lạ lẫm, văn kiện, nghị quyết đều phải viết lại cho phù hợp với tình hình mới, chứ bổn cũ soạn lại đâu có được ?”
Bác Ba Phi thấy hai người cứ thay nhau nói chuyện tào lao , lên tiếng nhắc :
“ Thôi thôi…tôi thấy hai vị cứ bàn toàn chuyện trời biển kiểu như chuyện viễn tưởng khoa học vậy …giờ ta đi tham quan chỗ khác kẻo hết ngày hết buổi …”
Chi Kelly Thi đồng tình :
“ Vậy thôi ta đi tìm hiệu phở đi…”
Bác Ba Phi ngạc nhiên :
“ Ở đây mà cũng có phở sao ?”
“ Lão già” cười cười :
“ Nói chung trên toàn nước Mỹ đâu đâu cũng có người Việt. Mà ở đâu cứ có người Việt là có…phở…”
Ba người leo lên taxi. Xe chạy khỏi khu sòng bạc phóng đi trên vùng sa mạc. Rồi ghé lại một dãy phố nhà cửa san sát. Vừa bước khỏi xe, hơi nóng đã phả tới rát cả mặt. Bác Ba Phi la lên :
“ Nóng quá…trời ơi nóng quá vậy ?”
Chị Kelly Thi cười  to :
“ Nhiệt độ sa mạc mà…ban ngày nóng 45 độ, ban đêm lại lạnh dưới không độ…thôi mình chạy nhanh vào tiệm kia đi ?”
Đó là một quán phở chủ là người Việt. Bà chủ thấy khách đồng hương ghé tới , vui vẻ chạy ra đón. “Lão già” long trọng giới thiệu :
“ Xin hân hạnh giới thiệu với bà chủ. Đây là một nhân vật nổi tiếng của Nam bộ : bác Ba Phi…”
Bà chủ quán tròn mắt :
“ Bác ba Phi nổi tiếng bắt cá sấu ở rừng U Minh ?”
Bác Ba Phi vội lắc đầu quày quạy :
“ Trùng tên thôi…trùng tên thôi…tôi có tài cán gì đâu ?”
Bà chủ quán nhìn bác Ba Phi cười cười :
“ Hèn chi…chứ bác Ba Phi thiệt đã chết từ tám đời nào rồi, làm gì còn sống tới giờ mà đi thăm Mỹ. Nhưng nom bác giống bác Ba Phi lắm đó…”
“Lão già” ngạc nhiên :
“ Uả…ra chị đã gặp bác Ba Phi thiệt rồi à ? “
Bà chủ quán lắc đầu :
“ Gặp hồi nào …ông ấy chết từ lúc tôi chưa ra đời kìa. Nhưng cứ nhìn  hình qua sách báo tôi thấy bác này giống bác Ba Phi thiệt. Nom cứ như là em bác Ba Phi vậy đó…”
Chị Kellyt Thi tròn mắt :
“ Giống bác Ba Phi thiệt ghê lắm à ? Vậy bác sáng Mỹ sống chờ khi nào Holywood làm phim về bác Ba Phi nhất định họ sẽ thuê bác đóng vai chính , lúc đó bác sẽ giàu to…”
Bác Ba Phi lắc đầu :
“ Khỏi khỏi…tôi đâu có ham sang Mỹ đóng phim...”
“ Lão già” cười cười :
“ Nói cho vui vậy thôi.có đến Tết Congo Mỹ cũng chẳng làm phim về bác Ba Phi. Việt Nam còn khối nhân vật hài đặc sắc hưn bác Ba Phi nhiều ,  Trạng Quỳnh , Trạng Lợn,  Ba Giai - Tú Xuất ….bác Ba Phi đã ăn thua gì ?”
Chị Kelly Thi lắc đầu :
“ Ba cái nhân vật đó khéo chỉ gây cười cho người Việt Nam thôi…Gây cười cho thế giới để cho Holywood phải làm phim thì phải cỡ Laurel Hardy , Mesừ Hulot  của Pháp ngày xưa hoặc Mr Bean bây giờ. Chứ còn cỡ như bác Ba Phi khó mà lọt được vào mắt Holywood…”
Bác Ba Phi :
“ Bởi vậy tôi đâu có ham…”
Bà chủ quán lắc đầu :
“ Nói thế chứ bác Ba Phi cũng có nhiều chuyện đặc sắc làm phim hay lắm chớ bộ. Thí dụ như chuyện có một bữa trời nắng, bác Ba Phi xuống một cái bàu tắm, giặt áo phơi ngay trên gạc con nai mà không hay. Bác ngủ một giấc, khi dậy thì thấy một tổ ong đóng ở dưới bắp chân. Ăn hết ổ ong mật đến nửa thùng bác mới lấy áo mặc ra về. Con nai lúc đó mới vùng chạy và áo của bác phơi trên gạc nai cũng vừa khô. Rồi có một lần khác, bác Ba Phi đi trong rừng gặp một bầy heo rừng mười một con nối đuôi nhau đi hàng một . Bác muốn bắt cả một bầy mười một con, liền leo lên cây tràm, bầy heo đi tới, bác chặt từng con một giữa sống lưng, lần lượt từ con đi đầu đến con thứ mười một, chỉ chặt đứt xương, chưa chặt đứt da. Đến con thứ mười một đứng lại, bác mới chặt tiếp. Cả bầy dồn cục, con nọ xô con kia, miếng da lưng đứt nốt. Thế là bác hốt cả bầy heo….”
Bà chủ quán còn hào hứng kể cả chuyện cọp xay lúa, cây tràm và con nai…tất cả đều là giai thoại về bác Ba Phi khiến “lão già” ngạc nhiên :
“ ủa…sao chị biết rành chuyện bác Ba Phi quá vậy, hay chị là hậu duệ của bác Ba Phi…”
Bà chủ quán lắc đầu :
“ Tôi không phải con cháu bác ba Phi, tôi chỉ là đồng hương ở huyện Trần văn Thời, U Minh hạ với bác thôi. Quê tôi ngay từ bé ai chẳng nghe và thuộc lòng những  câu chuyện về bác Ba Phi.  Mà thực ra quê chính của bác là ở Đồng Tháp kìa, lớn lên  nghèo quá phải đi làm thuê nên mới trôi giạt vào U minh khai phá đất đai ở đó…”
Rồi bà cười cười quay sang bác Ba Phi :
“ Thế còn bác Ba Phi này quê ở đâu ?”
Bác Ba Phi thật thà :
“ Tôi quê gốc Tây Ninh nhưng rồi cũng trôi giạt xuống  Đồng Tháp , Long An. Tôi sang đây thăm con gái lấy chồng  Mỹ…”
Bà chủ quán vui vẻ :
“ Hoá ra là vậy. Nhưng gặp bác tôi có cảm giác như gặp bác Ba Phi thiệt đó. Đúng chất Nam bộ rặt….”
Dù biết bác Ba Phi không phải thứ thiệt nhưng bà chủ quán vẫn hết sức vồn  vã mời cả ba người ở lại ăn cơm để bà được hàn huyên trò chuyện với người Việt không có hằng ngày bà chỉ toàn tiếp xúc với Mý , Nhật bổn, Trung Quốc với Hàn Quốc. Bà nói :
“ Lâu nay rất thèm được một bữa nói chuyện toàn với người Việt. Nhất hôm nay lại hân hạnh gặp bác Ba Phi là một nhân vật dân gian của Nam bộ mà tôi rât quý mến. Bởi vâỵ nhất định phải giữ quý vị lại trò chuyện một bữa…”
Bác Ba Phi  thấy bà chủ quán nhiệt tình quá, không nỡ từ chối nên đành nhận lời. Chị Kelly Thi vỗ tay :
 ‘ Hay quá…không ngờ lại có cuộc gặp mặt đòng bào đồng chủng ở ngay giữa sòng bac Las Vegas trên đất Mỹ…”
Bà chủ tiệm giao hết việc bán hàng có hai cô giúp việc người Mễ rồi mời cả ba người vào phòng khách bên trong. Giống như mọi phòng khách sang trọng khác, cũng một bộ salông bọc nỉ to tổ chảng, nhưng chiếc ghế vây quanh, một chiếc đàn piano trong góc phòng. Một tủ ruơụ với nhũng chiếc ly pha lê sáng bóng, những chai ruơụ đủ loại nhãn mác đăt tiền. Những chậu cây thông kiểng trong góc phòng . Kệ sách với những bộ sách lớn đóng bìa da sáng choang….Một phòng khách giống bao phòng khách khác của người Việt trên đất Mỹ , chỉ khác trên tường treo một bản đồ Việt Nam to bằng cả chiếc chiếu với những chủ thích tinh vi tới tận địa giới tỉnh.
“ Lão già” ghé mắt xem xét bỗng chốc kêu lên :
“ Bản đồ này chị lấy đâu ra ?”
Bà chủ quán vui vẻ :
“ Tôi xin được từ một cô làm thiện nguyện từ Việt Nam về.”
“Lão già” cao giọng :
“ Tấm bản đồ này thực ra không có vẽ hai quần đảo Trường Sa va Hoàng Sa. Ai mới vẽ thêm vào vậy ?”
Bà chủ quán cười tươi tỉnh :
“ Thì tôi vẽ chứ ai ?”
“Lão già “ trố mắt :
“ Chj vẽ à ? Chị nghĩ sao lại vẽ thêm vào vậy ?”
Bà chủ quán gịọng tỉnh bơ :
“ Còn nghĩ sao nữa ? Trường Sa và Hoàng  Sa của nước mình thì phải vẽ vào chớ mới đầy đủ chớ ?”
Chị Kelly Thi xen vào :
“ Ra bà ở tận góc trời toàn Mỹ trắng với Mỹ đen này mà vẫn  bày tỏ lòng yêu nước kia à ?”
Bà chủ quán cười cười :
“ Thì dù sống ở đâu mình cũng vẫn là người Việt Nam chớ ? “
“Lão già” trợn mắt :
“ Nhưng đất nước Việt Nam có còn của dân Việt Nam nữa đâu, nó bị cộng sản Việt nam chiếm đoạt hết rồi…”
Bà chủ quán lắc đầu :
“ Vậy các quý vị không nhớ lời cá cụ ta nói à ? “Quan nhất thời, dân vạn đại “. Trào cộng sản hay trào cộng gì đi chăng nữa cũng chỉ nhất thời thôi. Chỉ có đất nước Việt Nam và người Việt Nam là còn tồn tại mãi thôi…”
Chị Kelly Thi ngắt lời :
“ Tại chị ở đây không gần Quận Cam hay San Joses nên ít thông tin . Ngày nay cộng sản Việt Nam đang bán nước cho Trung Quốc. Nay nó chiếm Hoàng Sa, mai nó chiếm Trường Sa , rồi nó đang lăm le đòi cả đảo Bạch Long Vỹ cả vịnh Bắc Bộ nữa kìa. Rồi trên đất liền thì nó chiếm biên giới, Tây Nguyên…chăng bao lâu nữa nước ta lại trở lại thời Bắc thuộc ngày xưa kìa…”
Bà chủ quán cười cười :
“ Những chuyên đó tôi có biết chớ. Mặc dù ở cái xó xỉnh này nhưng qua internet tôi vẫn thường xuyên update được tin tức. Chính vì thằng Trung Quốc đang lăm le xâm lấn Việt Nam nên tôi mới vẽ thêm hai đảo Trường Sa và Hoàng Sa vào bản đồ này đấy. Mình xa Tổ Quốc không tham gia đóng góp gì được để chống ngoại xâm, thôi đành cứ làm những việc nho nhỏ như vậy thôi…”

                                                                (còn tiếp)
                                          


Thứ Sáu, ngày 18 tháng 4 năm 2014

PHẠM THẮNG VŨ : Con sóng dữ ( KỲ 4)



                          (tiếp theo)

Tôi và Dũng làm quen được với Ánh Phương và Mỹ An, hai cô gái trẻ trong chuyến đi Mũi Nai. Ánh Phương 26 tuổi còn Mỹ An mới 24. Cả hai đều độc thân và cũng mới làm bạn với nhau từ lúc lên xe bus. Tôi cặp kè với Ánh Phương còn Dũng với Mỹ An như những cặp nhân tình của chuyến du lịch. Chúng tôi đi ăn uống lai rai rồi đi lòng vòng trong những con phố nhỏ của Hà Tiên. Có lúc ngồi bên nhau, làm vẻ tâm tình trong các quán cà phê để chờ 7 giờ tối sẽ về lại xe bus. Lúc ở Mũi Nai, tôi thấy thằng Minh và hai người bạn nó ngồi nhậu trong một quán sát bờ biển. Minh đã mời tôi ngồi vào bàn, đưa ly bia cho tôi rồi nói: " Uống lai rai với tụi em cho vui anh Vũ, em đâu dè có anh trong chuyến này luôn. Anh em mình cùng bên nhau nghe anh ". Tôi cười, gật đầu đồng tình rồi từ chối: " Anh không uống bia được Minh. Uống vô chút xíu say liền, nhậu sương sương thôi... còn giữ sức nữa đó ". Tôi nhắn nhủ với cả bọn.

- Anh Vũ biết không, nhà em ở Quận 10 Sài Gòn. Thầy-U em người Bắc đạo Phật di cư từ 1954. Anh trai em đang sống ở Úc, em đi hôm nay lần thứ ba đó anh, các lần trước đi không được lại phải quay về. May không bị bắt. Anh trai em chỉ đi có một chuyến lại thoát. Ánh Phương nói với tôi.

Nhìn khuôn mặt Ánh Phương. Cô gái này đẹp thật, da lại trắng hồng, lời ăn tiếng nói ra vẻ con nhà hiền lành. Bản thân tôi đã ba mươi ba tuổi mà vẫn chưa lập gia đình. Nếu Ánh Phương là bạn tình của mình thì hay biết bao! Tôi lại nghĩ nếu mình có người yêu như Ánh Phương, liệu có dám cho nàng đi vượt biên không?

Khi chúng tôi quay trở về bến xe thì nhóm tổ chức đã thay xe cũ bằng một xe bus khác lớn hơn. Họ đã nhét thêm cả chục người khách mới ngồi sẵn trên xe từ lúc nào. Tôi và Ánh Phương chọn chỗ ngồi nơi dãy hai ghế sát cạnh cửa lên xuống ở phía sau xe. Lần lượt từng người khách quay về bước lên xe. Xe chật kín, hết ghế trống mà khách còn đứng ngồi lổn nhổn ở lối đi giữa xe. Tôi nhẩm tính trong đầu, với 10 hàng ghế mà mỗi hàng 5 người rồi thêm 4 ghế phía trước gần tài xế và 6 ghế cuối, ít nhất phải có 60 khách vượt biên trong chuyến đi đêm nay. Cá lớn đón chúng tôi dài rộng cỡ nào? Có bằng chiếc ghe năm xưa tôi đi hay nó nhỏ hơn? Bây giờ đã gần 8 giờ tối, xe bus bắt đầu lăn bánh ra khỏi bến và chạy về hướng Rạch Sỏi. Tôi nhìn ra hai vệ đường, đèn nhà dân hắt ra soi rõ những cây dừa mọc sát mặt lộ. Đây đó vài trẻ em đùa giỡn trước cửa nhà. Một tiệm cà phê lác đác người ngồi ở các bàn trống. Qua hết dãy nhà, xe đi vào vùng cây cối bãi bồi gần biển. Cảnh vật hiện lờ mờ như là bụi cây đước, một bãi bùn hay là bờ đất tiếp giáp với lề đường. Xe chạy đều đều khá lâu thì rẽ trái vào một con đường nhỏ rồi chạy thêm một đoạn ngắn nữa thì tắp vào một khu vườn. Xe tắt máy dừng hẳn. Cây trong vườn xum xuê như rừng nhưng quá tối, tôi không biết loại cây gì.

- Chúng ta phải chờ ở đây. Yêu cầu mọi người ngồi yên. Tiếng người lơ nói khá to trong xe.

Mọi người giữ im lặng. Thỉnh thoảng có ánh đỏ chớp lên từ đầu một điếu thuốc lá của ai đó. Tôi bảo Ánh Phương: " Em có mệt thì nhắm mắt ngủ đi, họ nói thế thì chắc mình phải chờ khá lâu ", thực sự thì cơn buồn ngủ đã làm mắt tôi nhíu lại. Tôi và Ánh Phương ngủ ngồi trên ghế xe cả tiếng đồng hồ thì choàng tỉnh khi nghe tiếng xe Honda từ xa vọng lại. Ánh đèn hai chiếc Honda đến gần. Cả thẩy bốn người tất cả. Một người trong bọn mặc sắc phục công an. Ba người còn lại, có kẻ tay vung vẩy cây súng AK47. Tôi nói khẽ với Ánh Phương: " Công an, chết mồ rồi Phương ơi! " Tim tôi đập thình thịch. Ánh Phươnh lộ vẻ thất sắc, tay nàng nắm lấy tay tôi run run. Chúng tôi đã vào rọ của công an? Bất chợt cánh cửa xe bật mở, tài xế và hai người lơ nhẩy xuống cùng nhập vào bọn bốn người mới đến. Tôi nghe rõ tiếng của anh Thành. Cả bọn ngồi bàn bạc trong chốc lát rồi một xe Honda chạy đi trước, kế tiếp chiếc xe bus. Ở một khoảng khá xa, chiếc Honda còn lại chạy bọc sau cùng .

Bây giờ tôi và Ánh Phương cũng như khách trên xe buýt mới hoàn hồn bớt lo. Chuyến đi có công an-du kích bán bãi như lời nhóm tổ chức đã nói. Một làn gió mát thổi vào mặt làm tinh thần tôi phấn chấn vì nghĩ đến sự an toàn tối nay. Ánh Phương nói: " Ban nãy em sợ muốn chết đó anh Vũ. Rủi họ không cùng phe mình, không biết em sẽ làm sao nữa? " rồi nàng cười vui vẻ.

Xe tiếp tục chạy ngược về hướng Hà Tiên và sau cùng ngừng lại sát cạnh bên vệ đường. Chỗ nầy vắng vẻ không một bóng người qua lại. Chúng tôi được lệnh xuống xe ngay lập tức và nối đuôi nhau theo ánh đèn pin của một người dẫn đường đi phía trước. Cả bọn yên lặng, đi êm ả trên các bờ đất trong đêm tối tĩnh mịch. " Đây là Vàm Rầy ", tiếng người thì thào trong bóng tối. Khách vừa xuống hết, xe bus liền biến mất trong bóng đêm. Chúng tôi rồng rắn đi với nhau cho đến cuối bờ đất thì chân bắt đầu đặt xuống một bãi sình. Tôi và Ánh Phương bước lõm bõm gần bên nhau chung với các người khác. Thêm một ánh đèn pin nữa lúc chớp lúc tắt xuất hiện ở phía trước xa xa. Chúng tôi lần từng bước về hướng ánh đèn pin. Đến nơi, đoàn người được phân tán ra thành từng nhóm nhỏ, ngồi nấp ngay sát cạnh những đám cây mọc trong vùng đất sình. Dũng, Mỹ An cùng tụi thằng Minh bây giờ đang ở đâu trong các bụi cây nơi mép biển? Trăng khuya bắt đầu mọc, soi ánh sáng vàng vọt leo lét trên toàn vùng. Nước triều đang từ từ dâng lên. Đứng ở trên mặt đường lộ bây giờ, không ai ngờ ngay dưới chân những bụi cây sát biển này đang có cả một nhóm người ẩn nấp để chờ vượt biên. Nước triều dâng mỗi lúc một cao hơn, chúng tôi vẫn ngồi yên trong nước biển. Đến lúc chúng tôi phải đứng lố nhố vì không thể ngồi được nữa thì một cái xuồng ba lá nhỏ xuất hiện. Ghe chèo nhè nhẹ đến gần chúng tôi. Tiếng đàn ông ngồi trên xuồng hối thúc chúng tôi lội ra ngay. Tôi nắm tay Ánh Phương cùng bước lội từng bước về phía cái xuồng. " Đừng leo lên, chỉ bỏ túi xách thôi. Anh chị bám theo xuồng này để ra ghe ", tiếng đàn ông trên xuồng nói. Tôi vất túi xách lên xuồng, tay bám và chân thì bước theo từng bước một. Ánh vàng vọt của trăng non, tôi thấy thấp thoáng một bóng một chiếc ghe nhỏ xa xa. Nước bắt đầu đến ngực rồi cổ. Chân tôi có lúc bước hụt xuống một hố khá sâu. May là trồi lên kịp. Ánh Phương tay bám chặt vào vai tôi. Sau cùng cả hai đến được sát bên ghe. Người đứng trên ghe cúi xuống nắm tay từng người dưới nước kéo lên. Đến lượt Ánh Phương, nàng cố gắng hết sức cũng không thể đưa tay tới được người trên ghe. Tôi phải giúp nàng bằng cách nhắm mắt, hụp hẳn xuống dưới nước và ôm thắt lưng nàng đẩy phụ lên. Lần đầu tiên tôi chạm vào thân thể Ánh Phương. Xong lượt nàng, đến lượt tôi lên được mặt sàn ghe. Tôi nhìn thật kỹ thân ghe, đúng nó nhỏ hơn chiếc ghe tôi vượt biên trong lần trước. Một gã đàn ông khác đã ấn tôi nhẩy xuống khoang trống. Không lẽ cá lớn đây thật sao? Tôi phân vân tự hỏi. Người mỗi lúc được nhét thêm xuống khoang chiếc ghe. Hơi nóng từ thân người hoà với mùi dầu gió xanh toả ra nồng nặc. Tuy trông không rõ mặt nhau trong bóng tối nhưng ai cũng biết khoang ghe đã chật cứng người. Ai ngồi đâu yên đó, không thể cục cựa được. Ánh đèn pin chợt loé lên từ cửa khoang và khuôn mặt của anh Thành hiện ra. Anh hỏi tên từng người khách cùng mật mã an toàn. Tôi nghe tiếng của Dũng, Mỹ An rồi Minh và Ánh Phương trong khoang ghe. Khi anh Thành vừa xong lượt tôi, tiếng một người vặn hỏi:

- Ê! Thành. Ghe nầy ghe taxi hay cá lớn vậy... Người đầy nhóc cả rồi?

- Taxi thôi. Nhỏ xíu vầy sao mà đánh chuyến được. Yên tâm đi đại huynh. Cá lớn chờ ngoài khơi kìa. Anh Thành quả quyết rồi sau khi lấy mật mã xong xuôi, anh chúc mọi người thành công trong chuyến đánh đêm nay trước khi theo xuồng ba lá để quay vào bờ. Đêm đó, nửa khuya về sáng của một ngày cuối tháng 5-1990.

Ghe nổ máy rồi tấm nắp cửa khoang đã được đậy lại và qua chuyển động của thân ghe với làn nước bên ngoài, tôi biết là ghe đã khởi hành. Trong khoang hầm tối đen, tiếng người niệm Phật lầm thầm chung với tiếng người khác thở dồn dập. Chợt tiếng người đàn ông khi nãy đã vặn hỏi anh Thành vang lên: " Họ đánh bằng ghe này thật rồi bà con ơi, ai không tin cứ chờ thì biết ... Taxi gì mà tập trung hết tất cả khách vào đây ". Ông ta nói nhưng không một người nào lên tiếng trả lời. Tiếng máy ghe cứ chạy đều đều êm ả như vậy và tôi ngủ thiếp đi không biết bao lâu thì tỉnh dậy. Bây giờ trời đã sáng. Có người nào đó hỏi giờ thì được người khác trả lời là 8 giờ 15 phút sáng rồi. Dù ánh sáng ban ngày hắt từ khe hở cửa khoang và từ phía máy ghe nhưng tôi vẫn không thấy Ánh Phương, Mỹ An, Dũng và Minh. Chung quanh tôi bây giờ chật cứng người dù có muốn xoay chân, đảo người cho bớt mỏi cũng không thể. Sát cạnh tôi là một phụ nữ với mái tóc dài thỉnh thoảng gục đầu vào người tôi. Tôi biết chị này đang cơn say sóng. Vẫn còn tiếng người nôn oẹ đây đó trong khoang. Tôi nhắm mắt lại vì mệt vì mũi tôi khó chịu với mùi thức ăn người ói ra pha trộn với mùi dầu máy ghe, mùi dầu xanh con Ó, mùi hơi người và cả mùi nách nữa ... Cảm giác nôn nao trong người bắt đầu đến với tôi. Tôi muốn ói và cổ đã ợ hơi vài lần. Tôi ngẩng đầu lên cố chống lại cơn ói nhưng rồi biết mình không thể. Gục đầu xuống tôi bắt đầu ói ngay vào quần áo của mình. Thể xác mệt mỏi khiến tôi ngủ rồi lại chợt thức mà không biết thời gian trôi qua bao lâu và tự hỏi ghe chạy đến đâu rồi lại ngủ tiếp sau đó. Cứ như vậy cho đến khi có tiếng mở cửa hầm kèm theo nghe tiếng người nói mình ra khỏi hải phận Việt
Nam rồi. Hé mắt nhìn lên, tôi thấy một mặt người lem luốc đầy dầu mỡ. Người đàn ông này mở rộng cửa hầm, cúi đầu sát xuống nhìn vào đám người chúng tôi rồi anh ta nở nụ cười nói:

- Bà con mệt dữ ha... Ráng chịu đựng đi nghen, có đồ ăn và nước đây, ai có khát có đói thì lấy dùng nha. 

Mấy đòn bánh tét, vài xâu củ sắn và hai bình nhựa đựng nước được chuyền xuống cho chúng tôi rồi nắp cửa hầm đóng sập trở lại liền.

                                (còn tiếp)

Thứ Năm, ngày 17 tháng 4 năm 2014

nhà văn NHẬT TIẾN : Thủa mơ làm văn sĩ - KỲ 20



                                               (tiếp theo)

Đối với tôi, những người như Mai Anh, Hùng Phong, Hiệp Nhân, Lê Ninh (nổi tiếng khắp giới học sinh Hà Nội chỉ vì một bài tùy bút rất hay đăng trong giai phẩm Lửa Lựu xuất bản trong một dịp Hè)..v..v.. đều là những thần tượng mà tôi mơ ước. Những thần tượng ấy không quá cao xa như Nhất Linh, Khái Hưng, Trần Tiêu, Nguyên Hồng… mà lại gần gụi như tôi vì thấp thoáng cũng có bóng dáng của tôi trong đó. Họ cũng như tôi đều còn là những cậu học sinh còn đang cắp sách đến trường nhưng đã ôm trong lòng tất cả nỗi say mê, và mang trong tim một hoài bão thiết tha, một ước mơ cố đạt thành. Đó là Mơ Làm Văn Sĩ !

Vào thưở còn cắp sách đến trường, số người mơ ước trở thành văn nghệ sĩ rất đông. Hà Nội ngày xưa, với tâm trạng bình thản, khung cảnh nên thơ thay đổi bốn mùa, khi vào hạ có hoa Sấu lấm tấm giải trắng mặt đường, buổi sơ Thu lá úa bắt đầu trải vàng trên lối đi để lại những cành trơ trụi in khẳng khiu trên nền trời đầy mây xám. Từng giải mưa Xuân, từng tiếng ve Hạ, từng vạt nắng Thu hay những luồng gió Đông rì rào đập trên cánh cửa le lói ánh sáng của những căn phòng ấm áp, tất cả đã gợi lên trong lòng mọi người biết bao cảm hứng.

Chúng tôi đã làm văn nghệ một cách say mê trong những khung cảnh đó. Chúng tôi đã tạo dựng cho thế giới học trò một bầu không khí của thơ, của văn, của nhạc đầy tính chất học trò. Ồn ào rộn rã thật đấy nhưng không khỏi có những vấp váp, vụng về thật dễ thương. Một trong những  kỷ niệm đáng ghi nhớ về sự vụng về ấy là tờ giai phẩm Hồng Hà do Mai Anh và Trần Đỗ chủ trương (anh Trần Đỗ tên thật là Trần Xuân Mỹ,  bây giờ là giáo sư Sử Địa ở các trường tư lớn ở Sài Gòn).

Giai phẩm Hồng Hà là một ước mơ đã thể hiện của những cây bút học trò. Chúng tôi mơ ước thực hiện những công trình như những bậc đàn anh đi trước : ra báo, in tác phẩm, lập Văn Đoàn và ấn hành Giai Phẩm. Có lẽ việc ấn hành giai phẩm là một công việc tương đối dễ làm nhất. Vì giai phẩm có tính cách tổ hợp, lại không phải là một công việc trường kỳ. Nó chỉ là một công trình gom góp tác phẩm của nhiều người rồi in ra trong một dịp đặc biệt nào đó.

Riêng giai phẩm Hồng Hà còn là nơi qui tụ những tác phẩm của các cây bút học trò, không phải là chuyên nghiệp, tất cả đã tự viết lấy, thực hiện lấy, lo lắng lấy như một nụ hoa đầu mùa trổ lên giữa khu vườn đầy hoa thơm cỏ lạ của những bậc đàn anh đi trước.

Tòa soạn của giai phẩm Hồng Hà đặt ở nhà anh Trần Đỗ, phố Hàng Bát Sứ Hà Nội. Ròng rã hơn hai tháng trời đôn đáo bằng tất cả lòng hăng hái của những tín đồ, ước mơ đã thể hiện. Tờ giai phẩm đã hình thành với những bài vở thu thập được từ hầu hết của các cây bút học trò. Một ngàn tờ bích chương to bằng trang nhật báo được đem dán khắp các đường phố.

Hồng Hà ! Hồng Hà ! Hồng Hà ! Đi đâu cũng thấy hai chữ Hồng Hà đập vào mắt, ở cột đèn., ở gốc cây, ở tường phố. Hàng Bông, hàng Gai, hàng Đào, Hồ Hoàn Kiếm, đền Ngọc Sơn. Và dĩ nhiên là còn ở khắp các trường trung học.

Nhưng như đã trình bầy ở trên, chúng tôi chỉ là những tay mơ mới chập chững bước vào nghề. Chúng tôi đã để lại trên đường đi đầy rẫy những sơ sót. Từ cách tổ chức đến kỹ thuật trình bầy, ấn loát, phát hành và ngay đến cả vấn đề luật lệ nữa.

Khổ sở nhất là về tấm bích chương quảng cáo. Thay vì xài giấy mầu, chúng tôi đã cho in trên giấy báo thông thường. Thay vì có in chêm mầu xanh, đỏ thì chúng tôi chỉ cho chạy toàn mầu mực đen (tiết kiệm mà !). Thành ra những tờ quảng cáo của chúng tôi đã vi phạm luật lệ hiện hành. Vâng, theo luật lệ về bích chương của tư nhân muốn phổ biến công khai thì phải in có mầu thay vì chỉ toàn đen với trắng. Hai mầu đen với trắng thuần túy thì chỉ để dành cho những thông tư, thông cáo dán nơi công cộng của nhà nước.

Thế là những tờ quảng cáo còn thơm mùi giấy, còn lấp lánh ánh mực mà chúng tôi đã khổ công chia nhau đi dán ở mọi nơi, chưa qua được 24 giờ thì đã có lệnh phải cấp tốc triệt hạ vì nó không phải là Thông Tư, Thông Cáo của nhà Nước !  Thật không còn gì cay cú cho bằng khi chúng tôi lại phải chia nhau đi xé xoàn xoạt những sản phẩm tinh thần mà chúng tôi đã từng ấp trong lòng từ bao nhiêu ngày qua, từ lúc cái ý định ra Giai Phẩm nẩy sinh ở trong đầu.

Các cụ ngày xưa thường nói "chưa đỗ ông Nghè đã đe hàng Tổng", câu đó thật đúng. Hôm mới lấy tấm bích chương ở nhà in về, cả nhóm đã kéo nhau đi ăn mừng, bàn tán ỏm tỏi về niềm sung sướng, hãnh diện khi nghĩ đến tấm bích chương hẳn sẽ gây xôn xao trong giới văn nghệ và người dân Hà Thành khi nó được dán lên. Thế mà bây giờ chúng tôi phải cắn răng mà xé đi. Xé và xé ! Thật không còn gì cay đắng cho bằng, vì cứ thà xé ngay tim, gan, phèo phổi gì đó của chúng tôi đi có lẽ cũng còn đỡ đau hơn nhiều. Hóa ra làm văn nghệ tay mơ là như thế đó.

Nói đến tay mơ thì phải nói là tôi cũng đã "mơ" nhiều. Ở đời có nhiều cái dại nhưng chẳng cái dại nào giống cái dại nào. Nhân đây, tôi lại kể thêm về một kỷ niệm đáng nhớ về "cái dại" mà tôi cũng đã từng trải qua. Đó là thời gian tôi hợp tác với anh Đặng văn Ngữ (anh Ngữ bây giờ hiện ở trong Nam nhưng hơn mười lăm năm nay tôi chưa gặp lại) để tổ chức một chương trình gọi là "Chiếu bóng chiều thứ Bẩy" cho học sinh cùng trường (trường Nguyễn Trãi, trước có tên là Chu văn An - Hà Nội), và cả các trường khác.

Hồi đó, đối với những học sinh nghèo, đi coi ciné là một chuyện xa xỉ mặc dầu giá vé hạng Ba (hạng chót) có đắt nhất cũng chỉ 15 đồng một vé. Đó là kể những rạp hạng sang như rạp Philharmonique ở Bờ Hồ, Ciné Club hay Eden ở  phố Tràng Tiền, Majestic ở phố Đồng Khánh, hay Ciro’s hình như ở gần đầu Phố Huế. Còn những rạp bình dân hơn như rạp Moderne ở phố hàng Quạt, rạp Olympia ở chợ hàng Da thì giá vé hạng ba chỉ có 8 đồng.

Thành ra suốt mấy năm còn học ở tiểu học, rất ít khi chúng tôi được vô rạp chớp bóng để coi "nguyên một phim". Thông thường thì chúng tôi chỉ là khán giả thường trực của phòng Thông Tin Pháp ở phố Tràng Tiền. Cứ tới giờ chiếu phim là chúng tôi đứng chầu ở cầu thang lối dẫn lên lầu để khi sợi dây thừng ngăn lối lên được mở ra là chúng tôi ùa lên coi. Hôm nào chen chúc đông quá thì nhân viên trực, thường là một ông Tây, đứng trên cầu thang chỉ mặt từng người để cho vào. Ai không được “chỉ” thì coi như bị loại, mặt mũi tiu nghỉu ra về. Mà nào có phải chen chúc để coi những phim gì hay ho cho cam. Tất cả chỉ toàn phim thời sự của hãng Pathé hay tài liệu nói tiếng Tây thôi. Tụi tôi nghe cũng hiểu lõm bõm đấy, nhưng chủ yếu là coi…hình !!

Ngoài ciné coi "chùa" ra, chúng tôi cũng hay lui tới các rạp hát như rạp Đan Thanh ở phố Hàng Quạt, rạp Kim Phụng ở phố Hàng Bạc hay Nhà Hát Lớn ở gần Nhà Bác Cổ. Đi coi rạp Kim Phụng thì chỉ mất có 3 đồng, đó là tiền dúi cho người soát vé sau khi buổi hát đã trình diễn gần hết…hai màn đầu! Thường thường mỗi buổi diễn bao gồm 3 màn, nếu vô rạp vào lúc màn hai sắp hạ thì kể như đã tàn cuộc. Nhưng nghèo mà vẫn ham, vả lại cần chi cốt chuyện, miễn cứ vô để được coi phông cảnh, cung cách trang trí sân khấu, y phục diễn viên và nhất là được nhìn tận mắt các tài danh như Kim Chung, Kim Liên, Ái Liên, Ái Loan, Bích Hợp, Huỳnh Thái, hề Tư Vững…Ôi chà ! Như thế cũng là quá đủ !

Riêng Nhà Hát Lớn thì chỉ sinh hoạt nhộn nhịp vào mùa Kịch khởi sự từ mùa Thu trong năm. Xem kịch Nhà Hát Lớn, bọn học sinh tiểu học chúng tôi cũng không mất tiền, vì không hiểu sao, cứ mỗi khi màn Ba bắt đầu khởi sự thì người soát vé biến đi đâu, cửa cứ mở tự do cho ai muốn vào thì vào. 

Còn ai vào đấy nữa ngoài lũ nhóc tì chúng tôi ! Thôi thì cả lũ tự do như gió trời, vượt qua được hai cánh cửa sắt là chúng tôi leo tuốt lên lầu ba, ngồi bảnh chọe trên những hàng ghế gỗ thường được mệnh danh là "chuồng gà" để coi cọp. Gặp những hôm khán giả đông quá, chuồng gà cũng hết chỗ thì chúng tôi tìm các hàng cột để dựa lưng coi "đứng". Hoặc giả bầu không khí có ngột ngạt quá, mồ hôi mồ kê đổ ra nhễ nhại (hồi đó đã làm gì có máy lạnh) thì chúng tôi kéo nhau đi khắp các vòng hành lang của ba tầng lầu để sục sạo vô các phòng để phông cảnh, phòng hóa trang, phòng chứa các dụng cụ gần như phế thải. Cứ đi đến đâu là chúng tôi lại đập cửa rầm rầm, la hét, gọi nhau í ới tới đó.

Chính trong bầu không khí "vui vẻ quá" đó, tôi đã được xem những vở kịch nổi tiếng như Tâm Sự Kẻ Sang Tần, Bông Hồng Dại, Tiếng Trống Hà Hồi …và đặc biệt là vở Lôi Vũ của Tào Ngu dài tới 5 màn, kéo buổi diễn từ 3 giờ chiều đến 11 giờ khuya mới chấm dứt. Khán giả đi coi phải mang theo bánh mì để ăn trong giờ giải lao gọi là Entr'acte.

                                                                (còn tiếp)

Thứ Tư, ngày 16 tháng 4 năm 2014

YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU - KỲ 125



                                       (tiếp theo)

Trong lúc này vừa ngồi dưới  chân giường bóp chân cho bà ông vừa nhớ lại  màn kịch kinh hoàng ông mới trải qua lúc tối. Hoá ra thằng thành uỷ viên, bố của đứa con gái xấu số đã chết thảm dưới bàn tay thằng con hờ của ông đã ngấm ngầm đặt kế hoạch điều tra mưu hại ông. Mặc dầu ông đã theo bà chỉ dẫn , tìm mọi cách , bịt hết mọi đường để thằng đó hết đường mò tìm. Ông đã cho người sang bên công an điều tra yêu cầu “đóng án”, kết luận cô gái bị mất tích một cách bí ẩn, không để lại bất kỳ một dấu vết nào. Ong cũng đã nhờ ông Bí thư thành uỷ và bà Kiểm tra thành uỷ dàn xếp với bố cô gái để cho vụ án này chìm xuồng, sau đó sẽ xoá tội cho hắn ta  cái tội nhận tiền bảo kê cho các vũ trường mở cửa suốt đêm và chứa chấp bọn bán thuốc lắc. Sau khi cho chôn xác cô gái và tên bảo vệ khỉ đột, ông đã tống thằng Hàm vào Sàigòn ở nhà người thân trong đó và  lập kế hoạch khá chu đáo để mọi chuyện  lặng lẽ chìm xuồng. Ông không thể ngờ rằng lão thành uỷ viên bất chấp mọi nguy hiểm dám đương đầu với cấp trên, sẵn sàng chịu mất ghế, thậm chí chịu tù đầy để tiến hành vạch trần cái chết bí ẩn của con gái lão. Ông nhớ rõ mồn một nét mặt “quyết tử” của gã thành uỷ viên khi nổ phát súng đầu tiên đương đầu với ông :
“ Báo cáo anh…tôi có bằng chứng đồng chí Bí thư thành uỷ nói chính miệng anh nói ra con gái tôi đã chết …”
Lúc đó ông Sáu Thượng đã cười hà hà :
“ Chính miệng tôi nói ra và anh có bằng chứng ? Ai làm chứng cho anh ? Cô Kiểm tra thành uỷ này hả ?”
Bà Kiểm tra thành uỷ lúc đó đang còn hoảng sợ về thái độ bất ngờ của ông thành uỷ, nghe ông hỏi sợ cuống, níu cả lưỡi :
“ Báo cáo anh…không…không ạ…tôi có nghe đồng chí Bí thư thành uỷ nói gì đâu ?  Báo cáo anh…tôi ..tôi tuyệt đối là không có dính dáng gì tới đồng chí này ạ…”     
Ong Sáu Thượng lúc đó hất hàm :
“ Anh thấy chưa ? Khắp cái Đảng bộ này tôi đố anh tìm được người nào chịu  làm chứng cho anh đấy. Tôi đố đấy…”
Onag Thượng hoàn toàn tự tin vào điều ông nói bởi đúng như vậy, dẫu có cả trăm cán bộ , đảng viên được nghe ông Bí thư thành uỷ nói chuyện đó , chắc chắn sẽ không tìm ra bất kỳ ai dám đứng ra làm chứng chống lại ông. Tính cầu an đã làm mất đi tính trung thực , tinh thần trách nhiệm với cộng đồng của những người vẫn vỗ ngực  “ từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ” . Hình như đã hiểu ra điều đó, gã thành uỷ cười nhạt :
“ Anh nói đúng, khắp cái Đảng bộ này sẽ không kiếm đâu ra một đồng chí nào dám đứng ra làm chứng chống lại cấp trên. Ngày nay Đảng ta là thế mà, bao che cho nhau để cùng tồn tại , để hè nhau cùng cướp , cùng bốc hốt công quỹ để sống phè phỡn trên lưng người dân đã thành một đặc điểm cơ bản của đảng ta trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước này…” 
Lúc đó , ông Thượng trợn mắt quát to :
“ Nói láo, anh nói láo,anh đã trở thành một tên phản bội lại lý tưởng của đảng, ngày mai tôi sẽ ra lệnh khai trừ anh ngay lập tức…”
Ong thành uỷ cũng chẳng vừa, ông cũng trừng mắt quát lại :
“ Anh cứ khai trừ tôi đi, tôi sẵn sàng ra khỏi cái đảng thối nát của anh. Nhưng anh phải cho tôi biết con gái tôi chết ra sao ? Xác nó hiện chôn ở đâu ?”
Câu nói cuối cùng của người thành uỷ viên “ Anh phải cho tôi biết con gái tôi chết ra sao ? Xác nó hiện chôn ở đâu ?” làm ông ớn lạnh. Đó, toàn bộ vấn đề là ở chỗ đó. Cái thằng con hờ mất dậy đã gây cho ông bao nhiêu phiền toái, bao nhiêu rắc rối. Không biết bao nhiêu đơn từ đã bay như bươm bướm về văn phòng của ông kể tội gian dâm, giựt dọc, cướp ngày của nó. Có lần ngay giữa một sòng bạc nó dám liều mạng rút súng bắn bị thương người cầm cái để công an phải can thiệp và giải cứu nó bằng cách tống khứ nó đi du học nước ngoài. Được một thời gian êm êm, nó lại mò về nước đập phá ở các vũ trường hết Hà Nội lại tới Sàigòn, Đà Lạt...không còn kiêng nể ai. Ối chao ôi, nếu không nể mặt con mẹ nó – tức bà vợ ông hiện nay thì ông chỉ cần búng khẽ một cái là đời nó đi tiêu.
Ông Sáu Thượng cứ ngồi cuối giường bóp chân cho vợ mà suy nghĩ lan man. Thật nằm mơ cũng không thể tưởng tượng người đàn bà phì nộn đầy quyền biến, quỷ quyệt và độc ác nằm kia lại là cô du kích đường  5 nhí nhảnh và gan dạ ngày nào. Không hiểu kiếp trước ông  nợ nần gì bà mà gần suốt cuộc đời ông đã dính chặt vào  bà khiến mọi cố gắng thoát ra đều vô ích.
Hồi đồng chí cán bộ cấp cao mới chết, sau lễ tang trọng thể trở về, bà bỗng dưng như biến thành người khác. Mặc dầu mới ngoài 30, thân thể vẫn săn chắc như con gái, nhưng năm thì mười hoạ, bà mới ban phát cho ông ân huệ được thoả thuê . Tuy nhiên  đó là chuyện hy hữu, còn thường thường, mặc ông nài nỉ, van xin, có khi giận dỗi, vật mình mẩy, bà cứ cuốn chặt chăn quanh người đánh một giấc tới sáng tuyệt nhiên không cho ông cơ may nào.
Lắm lúc nằm bên cạnh người vợ trơ trơ như tượng gỗ, ông muốn gào thét, đập phá nhưng vô ích, ông càng đòi hỏi bà càng lạnh lẽo khiến có lúc ông phẫn chí, hăm doạ :
“ Nếu cô không thực hiện nghĩa vụ làm vợ, tôi sẽ tìm cách giải quyết ở chỗ khác ...”
Nghe ông nói, bà cười khẩy vào mặt ông :
“ Ghê nhỉ, ông mà cũng dám đòi cái quyền làm chồng kia đấy. Nhưng ông thử xét coi, từ ngày lấy tôi ông có đáng mặt làm chồng không ?”
Ông Sáu Thượng tím mặt, bị vợ đánh vào đúng chỗ hiểm nhất, ông đành im thít không còn biết nói sao. Cũng như mọi lần, ông cố nuốt nỗi nhục vào đáy lòng, nhưng khác với những lần trước ông ngấm ngầm tìm cách trả thù. Được, nếu mày không còn coi tao là chồng nữa, tao sẽ tìm người khác làm vợ. Từ đó, ngoài mặt ông vẫn vui vẻ với vợ và đứa con trai hờ, nhưng thâm tâm tìm cách trả thù. Lúc này chẳng hiểu vợ chạy chọt, quan hệ ra sao, đang từ Vụ trưởng ông nhảy tót lên Phó Ban quyền nghiêng thiên hạ, cán bộ các tỉnh về trung ương công tác, anh nào anh nấy thậm thụt mang tới biếu vợ ông toàn những sơn hào hải vị mà ngay đến trong Cửa hàng Tôn Đản là nơi dân gian thường gọi là “chợ vua quan” cũng chẳng có được. Tất nhiên lộc bất tận hưởng, có lần một ông Chủ tịch tỉnh miền núi tới thăm và biếu ông một chiếc sừng tê giác, ông hí hửng khoe vợ :
“ Cái này quý lắm đây, để mai hỏi thằng lang Thịnh  trên phố Lãn Ông nên dùng thế nào cho đại bổ. Tôi nghe nói nó có tác dụng đại bổ thận, cải lão hoàn đồng nữa kìa. Bà phải dùng thứ này chữa cái bệnh máu lạnh cho tôi nhờ...”
Lập tức bà vợ sầm mặt :
“ Ai bảo ông là tôi máu lạnh. Có ông không làm cho tôi nóng nên được thì có. Mà đừng tưởng bở, cái sừng tê này mai tôi phải mang lên biếu anh Ba. Của quý thế này anh Ba chưa có mà mình đã có là chết...”
Bà đai giọng kéo dài chữ “chết” làm ông chưng hửng. Kể ra vợ ông nói cũng đúng, anh Ba là thủ trưởng trực tiếp của ông, tuyệt đối không được để sơ xảy chuyện gì , làm mất lòng anh Ba thì coi như tiêu tùng sự nghiệp.
Tuy nhiên ý kiến của vợ làm ông ngờ vực. Tại sao cô ta lại nói “mai tôi phải mang lên biếu anh Ba” chứ không phải là ông ? Sự ghen tuông như con rắn ngủ yên trong lòng ông từ lúc đồng chí cấp cao chết bất đắc kỳ tử trên bụng vợ ông nay lại ngóc đầu lên phun phè phè. Thôi chết rồi, thảo nào bấy lâu nay cô ta lạnh lùng, sắt đá với ông như vậy. Hoá ra nó đã kịp bắt mối với thủ trưởng của ông từ  lúc nào ông đâu có hay. Tuy nhiên ông chỉ phỏng đoán vậy thôi chứ làm sao bắt được tay day được  trán  ?
Một hôm vợ ông đi đâu về rất khuya, vứt ví xách tay ở ngay đầu giường rồi chạy vào phòng tắm. Ông chờ cô mở nước ào ào  mới lén mở ví  xách của vợ ra coi. Bất chợt ông muốn xây xẩm mặt mày. Gì thế này ? Giữa cái đống phấn son, gương lược, ông phát hiện ra một hộp bao cao su OK . Chà...nhất định thứ này cô ta  không dành cho ông rồi. Vậy chắc dành cho thủ trưởng của ông hẳn thôi. Thảo nào mà những ngày gần đây, mỗi lần vào phòng của thủ trưởng để báo cáo công tác, anh Ba vừa nghe vừa nhìn ông bằng ánh mắt rất lạ. Vừa như thương hại lại vừa như riễu cợt. Hoá ra là thế...Ông tối sầm  mặt, muốn đạp cửa phòng tắm chạy vào băm vằm mổ xẻ con vợ hư hỏng nhưng rồi ông lại run bắn lên khi nghe vợ gọi và cuống quít chạy đi tìm chiếc khăn tắm để trong tủ.
 Lúc tắm xong, cô ta soát lại ví  xách tay thấy có dấu vết lục soát, sầm mặt :
“ Lúc nãy ông có lục ví tôi không ?”
Ông chối phắt, vờ kinh ngạc :
“ Cô để ví ở đâu làm sao tôi biết được ? Thế có mất gì không ?”
Cô lườm ông rồi chẳng nói chẳng rằng cô lấy chăn cuốn chặt lấy người rồi như mọi khi cô nằm  xa  ra khỏi ông và chẳng mấy chốc đã chìm vào giấc ngủ . Ông thức một mình trong đêm , trằn trọc với ý nghĩ sẽ phải trả thù con vợ mất .
Và một dịp cho ông trả thù vợ đã tới không bao lâu sau đêm đó.

                                   (còn tiếp)


Thứ Ba, ngày 15 tháng 4 năm 2014

HẺM BUÔN CHUYÊN- KỲ 154 : Hoen ố…tử thi !!!



                                

Đêm qua chắc ít ngủ, sáng nay cô Phượng cave mãi gần trưa mới ra quán,măt mũi bơ phờ nhưng lại  tươi rói, tay lủng lẻng chiếc nhẫn tổ chảng, lấp lánh ánh hạt xoàn làm thằng Bảy xe ôm tròn xoe mắt trầm trồ :
“ í trời ơi, chị Phượng lúc này dzô mánh dữ a ? Bồ Hà nội mới vào đã “bắn” luôn cho hạt xoàn to tổ mẹ. Kỳ này cụ ra Hà Nội xin cụ để lại cho chị cái xe “tam tài”  thì  tỷ rưỡi nắm trong tay là cái chắc , ngang  trúng số .”
Cô Phượng cave lắc quày quạy :
“ Tầm bậy , xe ảnh là xe biển xanh, xe cơ quan mình rớ vào đâu có được …”
Thằng Bảy xe ôm cãi :
“ Biển xanh đổi sang biển trắng mấy hồi. Quyền thế trong tay , việc gì cũng  nhỏ như con thỏ…”
Chị Gái hủ tiếu thắc mắc :
“ Xe “tam tài” là xe gì vậy mày ?”
Thằng Bảy xe ôm cười : :
“ Là xe có 3 con số đẹp . Xe của cụ mấy số đầu là 29 A tức xe Hà Nội, 3 số sau là 999 . Vậy chẳng phải “tam tài” là  gì ? Số này ở Sàigòn công an bán cả chục triệu đó…”
Ong đại tá hưu ngồi bàn bên, chõ sang nịnh :
“ Mày nói sao đó Bảy ? Đồng chí ấy đâu thèm đi biển số “tam tài” phải cả “lục tài’ ấy chớ ?”
Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :
“ Chú Ba nói gì kỳ ? Nhét cả 6 con số 9 vào một biển số thì những số khác nằm đâu ?”
Ông Tư gà nướng lên tiếng :
“ Cần gì số khác, vứt mẹ ba cái số 29A của Hà Nội đi , mình cụ chơi một biển số có 6 số 9 là được rồi. Vậy mới gọi là xe cán bộ cấp cao  chớ ?”
Thằng Bảy cười theo :
“ Đã vậy dẹp cha nó cả bảng số đi, khỏi số siếc gì rách việc. Vậy mới đúng là xe vua chớ ?”
Mấy hôm sau, thằng Bảy xe ôm đi đâu về hớt hơ hớt hải :
“ Chị  Phượng cave đâu rồi ? Phải hôm rằm vừa rồi cụ đưa chị đi chùa Bà  Bình Dương không ?”
Cô  Phượng ca ve hãnh diện :
“ Chứ còn gì nữa, ảnh cũng vào thắp nhang khấn vái sì sụp đó…”
Thằng Bảy xe ôm rút ra tờ báo quăng ra bàn :
“ Vậy nguy to rồi, thằng phóng viên báo này chụp được hình đít xe của cụ rõ mồn một cả biển số rồi đưa lên báo nè …”
Rồi nó đọc lem lẻm làm làm ông  Tư Gà nướng gạt ngang :
“ Thôi thôi , mày có phải cái đài phường đâu mà đọc ra rả vậy mày ? Cán bộ đi xe công lễ chùa có gì mà phải lên báo ?”
Gã Ký Quèn lên tiếng :
“ Ông Nguyễn Tấn Dũng đã có chỉ thị cấm sử dụng xe công vào việc riêng rồi mà. Phen này đã lên báo rồi thì cấp cao cũng chết…”
Cô Phượng ca ve lo lắng :
“ Vậy rồi có sao không ? “
Ông Tư gà nướng la lên :
“ Sao với trăng gì, muỗi đốt sừng trâu, ba cái thằng báo chí này cụ chỉ ho một cái là tụi nó són đái ra quần…”
Ong đại tá hưu hùa theo :
“ Đúng đó…ông Tư có lý lắm . Thành ủy đã nhận định tuy báo chí  góp phần khẳng định lập trường chính trị đúng đắn của Đảng, Nhà nước,tạo  thống nhất trong nhận thức toàn dân nhưng còn nhiều yếu kém, khuyết điểm lắm. Như cái việc chụp hình xe đi chùa của lãnh đạo đó. Thằng phóng viên nào to gan thế ? Nó không hiểu được hiện nay ta cần phải ráo riết đấu tranh trên mặt trận tôn giáo chống lại âm mưu của bọn phản động à ? “
Bà tổ trưởng hùa theo :
“ Đông chí ấy có đi chùa thì cũng là để chứng tỏ Nhà nước ta phát huy tự do tín ngưỡng , tôn trọng tự do tôn giáo chứ có phải…có phải…”
Nói tới đây bà cà lăm làm thằng Bảy xe ôm phì cười  :
“ Có phải sao hả bà  ?’
Bà tổ trưởng  im thít , gã Ký Quèn cười hi hì ::
“ Có phải đưa gái đi lễ chùa đâu …”
Cả quán phá ra cười , ông đại tá hưu cuống quít :
“ Đó là thằng Ký Quèn nói đấy nhá, tuyệt đối tôi không có nói vậy đâu. Cô Phượng cave yên tâm, bố bảo thằng Tổng biên tập báo cũng chẳng dám mó dế ngựa…”
Quả nhiên hôm sau, cô Phượng ca ve đi đâu về, mặt mũi tưng bừng hớn hở :
“ Êm rồi…êm rồi…”
Chị Gái hủ tiếu lên tiếng  :
“ Chuyện gì vui dữ vậy cô Phượng…”
“ Ảnh đi xe khác rồi…xe còn xịn hơn xe trước. Mà còn đổi sang biển số thành phố Hồ  Chí Minh nữa kìa …”
“ Vẫn số “tam tài” chớ ?”
“ Tất nhiên vẫn số “tam tài” rồi , chuyện nhỏ như con thỏ…”
Vừa lúc đó gã Ký Quèn bước nhăn nhó :
“ Lại có thằng thắt cổ tự tử ở dồn công an kìa…”
Chị Gái hủ tíu rụng rời :
“ Í mèn ôi…ở đâu vậy ?”
Gã Ký Quèn giận dữ :
“Em Đỗ Văn Bình thắt cổ tự tử trong nhà tạm giữ của công an huyện Hòa Vang - Đà Nẵng ngay sau hi bị bắt . Tự tử đéo gì mười đầu ngón tay bị tụ máu, vùng lưng và đùi bị bầm tím….”
Ông Tư Gà nướng :
“ Vậy rồi công an nói sao ?”
Gã Ký Quèn :
“ Nó bảo Bình chết là do treo cổ tự vẫn, không có chuyện bức cung hay nhục hình. Những vết bầm tìm trên cơ thể nghi can này là do “hoen ố tử thi”…
Cô Phượng ca ve nổi cáu :
“ Hoen ố tử thi là cái đéo gì…có mà hoen ố cái danh dự của tụi nó ấy…”
Ông đại tá hưu đập bàn :
“ Con cave kia…sao mày dám bảo danh dự của công an hoen ố hả ?”
Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :
“ Chị Phượng cave sai rồi. Công an có danh dự đéo đâu mà hoen ố…”
Cả quán cười ồ. Trừ ông đại tá hưu và bà tổ trưởng.
16-4-2014



Thứ Hai, ngày 14 tháng 4 năm 2014

BÁC BA PHI ĐI THĂM MỸ - KỲ 103

                  (tiếp theo)



Bác Ba Phi lên tiếng :
“ Không được ..không cho quân đội lên thuyền, mai mốt nước rút thằng Trung Quốc  sang cướp đất thì sao ?”
“Lão già” cười lớn:
“ Ha ha…bác ba Phi cũng lo lắng đến vận mệnh đất nước kià ? Lâu nay tôi cứ ngỡ bác “mắc kê nô” – mặc kệ nó muốn ra sao thì ra …”
Bác Ba Phi cười cười :
“ Thì tôi vẫn y vậy, có gì khác đâu ? Mình là phận phó thường dân , việc đại sự quốc gia thôi cứ để mấy ông lớn lo với nhau cho khoẻ cái thân mình…”
Chị Kelly Thi bật cười :
“ Đúng là bắt không được tha làm phép…bác là dân thường dù có muốn tham gia vào đại sự quốc gia mấy cha cũng không cho …bác cứ liều thò đại tay vào lập tức bị chặt liền…”
Bác Ba Phi lắc đầu :
“ Chị nói thế nào ấy chớ, ở nhà tôi coi tivi vẫn thường thấy mấy cha lên đài kêu gọi nhân dân đóng góp vào dự thảo hiến pháp kìa …”
“Lão già” cười :
“ Bác cũng tin vào cái trò bịp ấy à…”
Bác Ba Phi :
“ Không tin sao được, hồi ở nhà tôi cũng được ấp mời dự một buổi góp ý cho hiến pháp mà…”
Chị Kelly Thi cười cười :
“ Vậy bác còn nhớ hiến pháp nói gì không ?”
Bác Ba Phi lắc đầu quày quạy :
“ Cứ nghe mấy ông cán bộ ấp đọc hết các giấy tờ cũng đã ù cả tai rồi sao mà nhớ ?”
“ Lão già” nhắc :
“ Thì quay đi quay lại có nhiêu đó thôi gì mà không nhớ. Này nhé, điều 4  Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối xã hội Việt Nam, đưa dân ta theo con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội , con đường duy nhất bác Hồ đã chọn cho nhân dân ta…đúng vậy không ?”
Bác Ba Phi gật lia lịa :
“ Đúng đúng…đúng y vậy đó…mà sao ông ở bên này biết rành quá vậy …rành còn hơn cả người trong nước nữa kìa…”
“ Lão già” cười  lớn :
“ Thì cứ mở tivi Việt Nam ra là nghe ra rả có nhiêu đó thôi  sao mà không nhớ…”
Chị Kelly Thi lên tiếng :
“ Bác được mời họp vậy có đóng góp ý kiến nào không ?”
Bác Ba Phi lắc đầu :
“ Thì tôi đã nói rồi…nghe mấy cha đọc đã ù cả tai, hoa cả mắt rồi, còn biết gì mà góp ý…Thôi cứ để trên người ta lo tuốt luốt cho mình nhẹ xác…”
“Lão già “ cười cười :
“ Đó…đó chính là tâm lý dân tộc ngày nay đấy. Mà tôi nói thật…nếu có góp ý thì bác có dám nói tôi không đồng ý đi theo con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội vì cứ phải xếp hàng cả ngày như hồi mấy ông mới vô Sàigòn…bác có dám phát biểu  vậy không ? Phát biểu vậy nó còng tay bác liền…đúng không ?”
Bác Ba Phi gật gật :
“ Chết chết …góp gì thì góp…giả tỉ như góp các đồng chí uỷ ban xã chưa quyết liệt chỉ đạo phong trào xây dựng ấp văn hoá hoặc là  phong trào học tập theo gương bác Hồ vĩ đại ở ấp ta chưa thật sôi nổi…đó góp ý vậy thì được…còn nói như  “lão già” đây đòi góp ý không đi theo con đường bác Hồ đã chọn là xây dựng chủ nghĩa xã hội thì có mà chết…chết…mấy ông cựu chiến binh sẽ kéo tới nhà tôi hỏi thăm liền…”
“Lão già” cười lớn :
“ Bác Ba Phi nói đúng đấy.  Bây giờ ai dám nói ngược lại chủ trương chính sách của Đảng chính phủ lập tức cựu chiến binh với đám lưu manh đầu đường xó chợ kéo tới chật nhà gây sự liền, đám này Đảng và Nhà nước gọi là “quần chúng tự phát “ đó. Kiểu như trước đây “quần chúng tự phát” kéo tới nhà ông Phạm Hồng Sơn hỏi tội sao dám viết bài đòi đa nguyên đa Đảng đó…”
Chị Kelly Thi xua xua tay ;
“ Thôi thôi dẹp chuyện đó…bàn tiếp cái vụ đưa ai lên thuyền Noah của Việt Nam khi biến đổi khí hậu gây đại hồng thuỷ đi…”
“ Lão già” gật gật :
“ Thôi được rồi…tôi đồng ý với bác Ba Phi nên đưa một anh bộ đội lên thuyền để sau này còn ngăn thằng Tàu không sang xâm chiếm nước ta …”
Chị Kelly Thi bật cười :
“ Cái lúc đó trời đất mênh mông…sông núi đảo lộn…biên giới lãnh thổ xoá nhoà…biết đâu là đất tàu đâu là đất ta nữa mà lo thằng tàu nó xâm lược ?”
“ Lão già” xuê xoa :
“ Vậy thì được rồi…ta cứ cho lên thuyền anh bộ đội…biên phòng vậy …Đúng rồi…bộ đội biên phòng suốt ngày nằm ở biên giới nên nhớ rõ chỗ nào đất tàu, chỗ nào đất ta để mà bảo vệ lãnh thổ…”
Chị Kelly Thi vỗ tay :
“ Vậy là xong mục chọn người rồi, giờ đến mục chọn vật và con vật. Đưa con gì, cái gì lên thuyền đây ?”
“Lão già “ cười cười :
“ Ngày xưa ông Noah đưa lên nào voi, nào hươu cao cổ , nào ngựa, rồi rùa, chim câu lẫn quạ nữa…còn ta bây giờ lấy đâu ra hươu cao cổ với rùa…dân nhậu nó cho lên đĩa cả rồi…”
Chị Kelly Thi chợt reo lên :
“ Được rồi…được rồi…tôi nhớ ra rồi…việc này phải hỏi ý kiến đồng chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh . Chả là ngày xưa  đi vi hành xuống địa phương, tới tỉnh nào đồng chí Nông Đức Mạnh cũng hỏi thế mạnh của tỉnh ta là “cây gì”, “con gì”. Ta cứ theo ý kiến đồng chí Nông Đức Mạnh đưa hết “thế mạnh” ấy xuống thuyền là OK rồi…”
“Lão già” cười lớn :
“ Nếu vậy thì phải đưa xuống thuyền con “cave” và cây vàng “4 số 9” rồi….”
Bác Ba Phi cau mặt :
“ Rõ chuyện tầm phào…đã đi trốn đại hồng thuỷ có ai còn muốn chơi gái  nữa. Rồi cả vàng 4 số 9 chợ  búa đâu mà tiêu ?”
“Lão già” chịu thua :
“ Nói giỡn chơi thôi.Ai lại đưa “cave” với vàng xuống con thuyền Noah của dân tộc bao giờ,. Nhưng có điều muốn đưa gì thì đưa nhưng nhất thiết ưu tiên số 1 phải là…”
Chị Kelly Thi cướp lời :
“ Lại rượu chứ gì ? Thôi đi ông, người Việt Nam sống sót sau trận hồng thuỷ là  tuyệt đối không có uống rượu đâu đấy …”
Bác Ba Phi lo lắng :
“ Không được…không được …15 quý vị trong Bộ chính trị , 160 quý vị Uỷ viên trung ương Đảng ngày nào cũng tiệc tùng , đãi đằng, ngày nào cũng nốc rượu tây cả chục triệu một chai lận, giờ không có rượu cho mấy chả  chịu sao thấu ?”
“Lão già” bật cười :
“ Có lý…bác Ba Phi nói vậy rất có lý nhưng rượu chưa phải thứ ưu tiên số 1. Tôi muốn hỏi hai vị mặt hàng gì cần đưa xuống thuyền trước tiên…”
Bác ba Phi nhanh nhẩu :
“ Lúa giống chứ gì ? Phải rồi, nước rút thì phải cấp tốc trồng lúa ngay không thì chết đói…”
“Lão già” lắc đầu :
“ Hạt giống lúa cũng cần nhưng chưa phải số 1…”
Chị Kelly Thi đoán :
“ Vậy là cái xe hơi đúng không ? Phải có xe hơi để chuyên chở các quý vị lãnh đạo Đảng chớ ?Không thì họ di chuyển bằng gì ?”
“ Lão già “ cười hềnh hệch :
” Ô tô cũng cần nhưng chưa phải cái cần nhất…”
Bác Ba Phi lại đoán :
“ Nếu vậy chắc là cái điện thoại di động ? Đúng rồi, có điện thoại di động các quý vị lãnh đạo Đảng mới liên lạc được với nhau để mà tái thiết đất nước sau cơn hồng thuỷ chớ ?”
“Lão già” lắc đầu cười hềnh hệch :
“ Không không….điện thoại di động cũng là cái thiết yếu nhưng chưa phải cái số 1…”
Chị Kelly Thi đoán :
“ Vậy chắc là cái “còm-piu-tơ” rồi đúng không ?”
Bác Ba Phi tròn mắt :
“ Mang cái đó xuống làm gì ? Cứ nhìn những người dự định đưa xuống thuyền liệu có ai sử dụng được cái máy đó…”
“ Lão già” cười  phá :
“ Bác Ba Phi nói đúng đó. Cứ nhìn vào thành phần xuống thuyền toàn là Bộ chính trị với Trung ương Đảng, liệu có mấy ông biết sử dụng “com-piu-tơ”. Còn lại công nhân với nông dân cả đời có biết cái bàn phím là cái gì . Mang “com-piu-tơ” xuống tổ nặng thuyền, trước sau cũng vứt …”
Đến lượt bác Ba Phi đoán :
“ Tôi biết rồi…phải mang một thứ xuống thuyền không thì mai sau mai một mất…”
Chị Kelly Thi cười cười :
“ Chắc bác muốn nói bộ quần áo bà ba, đặc sản của Nam Bộ chứ gì ?”
Bác Ba Phi lắc quày  quạy :
“ Không không …không phải bộ bà ba…mà chính là…mẻ ?”
Chị Kelly Thi kinh ngạc :
“ Bác nói gì kỳ vậy ? Mẻ ấy à ? Người Bắc hay dùng mẻ nấu canh cá dấm ấy à ?”
“Lão già” gật gù :
 “ Có lý…mẻ cũng là một sản vật đặc biệt. Không có mẻ thì sao nấu được giả cày, canh rấm cá.  Đúng đúng, mang mẻ xuống thuyền để mai sau còn nấu các món quốc hồn quốc uý…”
Bác Ba Phi lắc đầu :
“  Không phải để nấu giả cày, dấm cá mà là để chấm thịt trâu luộc…Ở quê tôi dân nhậu khoái nhất món này…”
Chị Kelly Thi kêu lên :
“ Oh My God…con trâu phải để kéo cày chứ ? Mang luộc chấm mẻ lấy gì mà cày ruộng ?”
Bác Ba Phi cười hềnh hệch :
“ Ở quê tôi trâu lên đĩa hết rồi. Nhất vùng Thốt Nốt. Ai về đó mà chưa dùng  qua món thịt trâu chấm mẻ thì coi như chưa đến đó…”
“Lão già” xua xua tay :
“ Thôi thôi không bàn tới những thứ lặt vặt ấy nữa…Tôi muốn nói tới cái tối cần thiết, quan trọng nhất trong các thứ quan trọng kia…”
Chị Kelly Thi sốt ruột :
“ Cái gì mà quan trọng ghê gớm quá vậy ?”
“Lão già” cười hềnh hệch :
“ Thì…hài cốt…bác Hồ chứ còn gì nữa ? Chạy trốn hết cả xuống thuyền để hài cốt bác Hồ lại ngập trong cơn hồng thuỷ thì còn gì là Đảng ta nữa ?”
Chị Kelly Thi vỗ tay, reo lên :
“ Đúng đúng…con thuyền Noah của Việt Nam nhất định phải mang theo hài cốt bác Hồ và cả Bộ tư lệnh bảo vệ lăng bác nữa chớ ?”
“ Lão già” thất kinh :
“ Oi trời trời…đưa cả Bộ tư lệnh bảo vệ lăng xuống thuyền thì phải đóng thêm cả chục con thuyền Noah nữa may ra mới  chở nổi…”
Chị Kelly Thi cười  cười :
“ Ừ nhỉ…chỗ đâu mà chứa nổi cả Bộ tư lệnh vậy. Thôi thì cứ giao hài cốt Bác cho 15 đồng chí trong Bộ chính trị thay nhau ôm giữ là chắc ăn nhất…”
“ Lão già” cười  to:
“ Chưa chắc đâu ạ…lúc đó ông nào ông nấy vali lớn va li nhỏ, nào vàng, nhẫn, hột xoàn, bụng dạ đâu mà lo ôm hài cốt bác Hồ. Giao cho mấy ông giữ , lại sợ có khi mấy ông liệng xuống nước cũng nên…”
Bác Ba Phi cau mặt :
“ Sao các vị cứ nghĩ xấu cho mấy ông lãnh đạo vậy. Hài cốt bác Hồ là linh hồn, là vật tối linh thiêng của đảng , đời nào mấy ông ấy dám vứt xuống nước. Cùng lắm khi thuyền nặng quá thì mấy ổng vứt hết va li đựng vàng bạc, hột xoàn đi chứ có đời nào dám vứt hài cốt bác Hồ…”
‘ Lão già” phá ra cười :
“ Ha ha…. Hãy đợi đấy…”
“ Chị Kelly Thi” xua xua tay :
“Thôi thôi…kết thúc chọn lựa những thứ cần phải mang xuống con thuyền Noah của Việt nam khi có đại hồng thuỷ do biến đổi khí hậu được chưa ? Hai bác thử nhớ coi còn cần mang theo cái gì nữa không ?”
“ Lão già” chợt nhớ ra, vỗ trán :
“ Chết chết …suýt nữa thì quên…Mang bao nhiêu thứ xuống thuyền mà quên mất …cái cờ. Mai kia nước rút, đổ bộ xuống vùng đất nào thì cắm cờ mà xí phần lãnh thổ chớ ?”
Chị Kelly Thi gật gật :
“ Cờ thì phải mang theo xuống thuyền rồi. Có điều là mang theo cờ vàng ba sọc đỏ hay là cờ đỏ sao vàng đây ?”
“ Lão già” cười rinh rích :
“ Tất nhiên là cờ đỏ sao vàng rồi. Mang cờ vàng ba sọc xuống thuyền để Bộ chính trị với Ban chấp hành trung ương bỏ thuyền lên bờ hết cả à ?”
Chị Kelly Thi cười  phá :
“ Không dám bỏ thuyền lên bờ đâu ạ. Cái lúc đó nước dâng ầm ầm, ông nào ông nấy ôm chặt lấy thuyền chứ bụng dạ đâu mà nhìn thấy cờ vàng ba sọc lại nhảy khỏi thuyền bao giờ ? Còn lâu ạ…”
“lão già” đồng tình :
“ Chị nói đúng…vậy thôi ta không mang cờ vàng ba sọc đỏ và cũng chẳng mang cờ đỏ sao vàng xuống thuyền nữa. Cứ mang cờ búa liềm công nông xuống là chắc ăn nhất…chẳng có ông nào dám vứt xuống…”

                                (còn tiếp)




Chủ Nhật, ngày 13 tháng 4 năm 2014

nhà văn NHẬT TIẾN : Thủa mơ làm văn sĩ - KỲ 19


                                       (tiếp theo)

Trong những ngày đầu họp Nhóm, ở tiết mục này còn có phần bình tác phẩm của mỗi thành viên để anh em cùng nêu nhận xét. Nhưng chỉ thi hành được có 2 tuần là chúng tôi phải dẹp ngay, lý do dễ hiểu là sau khi bình lên thể nào cũng có những vụ cãi nhau ỏm tỏi. Tác giả thì cho là văn, thơ của mình thâm thúy, sâu sắc, kẻ "phàm phu" đọc không hiểu, người phê bình thì lại sử dụng toàn ngôn ngữ "móc máy" dễ khiến người nghe nổi nóng. Thế là giận nhau, nếu không khéo dàn xếp thì Nhóm có thể tan vỡ mau chóng như bọt xà phòng.

Tôi cón nhớ một lần, Nhóm bình lên bốn câu thơ của Tắc:

"Tôi chờ em dài đường đời tám hướng
Bóng kinh kỳ, ôi ngập ngụa kiêu sa
Em ở đâu, chừ bây giờ buồn hay sướng
Có nhớ tôi, kẻ cô lữ xa nhà…

Một cuộc chất vấn loạn xà ngầu sau đó xẩy ra :

- Sao lại tám hướng ? Ngoài Đông, Tây, Nam, Bắc ra, còn có hướng nào nữa ?

 Mặt Tắc đỏ lên vì tức tối. Gã cãi lại một cách khó khăn vì cơn tức đã dâng đầy lên cổ:

- Đọc thơ mà hạch xách như bố người ta, thế thì còn văn nghệ cái cóc khô gì nữa !

- Nhưng văn nghệ gì thì cũng phải có lý chứ. Phi lý quá sẽ trở thành phi văn nghệ rồi còn gì.

Tắc vụt nghĩ ra câu trả lời bèn cười khẩy :

- Ngoài Đông, Tây, Nam, Bắc ra thì còn Đông Bắc, Tây Bắc, Đông Nam, Tây Nam nữa, cả thẩy là tám hướng có được không ?

Anh kia đuối lý nhưng cũng cười chế giễu:

- Hờ…hờ…thế là cùng khắp cả ….(lấy giọng ngâm)  Tôi chờ em dài đường đời cùng khắp mọi nơi..

Tắc cáu sườn lắm, định phá bĩnh không chơi họp nhóm họp nhiếc gì nữa, nhưng tôi đã vội vã can thiệp :

- Tả đường đời mà nói tám hướng là rõ rồi đấy chứ. Người ta còn nói đường đời muôn ngả, nếu lại hỏi muôn ngả là những ngả nào thì bố ai có thể trả lời được. Thôi ! Câu đầu thế là hay rồi. Mà chữ "dài đường đời" mà cậu Tắc dùng ở đây là "mới" lắm đấy nhé. Cũng như ông thi sĩ nào đó đã dùng chữ "vàng lá mơ bay" chớ không dùng "lá mơ bay vàng" nghe nó nôm na, phi văn nghệ làm sao.

Tắc được tôi khen nở cả mũi nên cơn giận cũng nguôi ngoai. Nhưng cái hoạn nạn này chưa qua thì cái khác đã tới. Anh bạn nhóm viên của tôi lại phang thêm cho Tắc một chùy nữa :

- Bóng kinh kỳ ngập ngụa kiêu sa ! Sáo còn hơn sáo vịt nữa. Nhưng thôi, cũng cho là được đi. Nhưng còn câu thứ ba thì không thể chấp nhận được. Cái gì mà  "Em ơi em ở đâu, bây giờ buồn hay sướng.

Tôi nhắc anh ta :

- Em ở đâu, không phải Em ơi em ở đâu

Anh chàng cười rồi nhắc lại :

- Ờ.. thì ..Em ơi ở đâu bây chừ buồn hay sướng. Buồn thì phải đi với vui, chớ đâu lại có buồn đi với sướng.

Tắc cãi lại:

- Được chứ sao không. Thơ mà, chứ đâu phải tội phạm mà hoạnh họe đòi cái này, cái kia.

Tôi cũng đỡ lời Tắc :

- Mấy lỵ ở trên là tám hướng thì ở dưới phải là buồn hay sướng thì mới hợp vận chứ. Sửa thành buồn hay vui thì còn vần với vì gì nữa.

Phần bình thơ cứ cái kiểu móc họng nhau đó kéo dài làm Tắc sùng quá hất tung cả bản thảo rồi vùng vằng:

-  Đếch chơi với các cậu nữa. Văn nghệ chó gì mà cứ lôi ra bắt bẻ như vạch lá tìm sâu thì bố ai mà chịu được.

Phiên họp nhóm suýt vì cái màn giận lẫy ấy mà tan vỡ. Rất may là tôi vuốt ve được tự ái của Tắc kịp thời và dàn hòa bằng những chuyện pha trò tuy vô duyên nhưng cũng làm nhẹ được bầu không khí đang căng thẳng. Tắc bằng lòng ở lại nhóm với điều kiện là  bỏ cái mục bình thơ đi. Anh  hậm hực nói :

- Nếu còn bình thơ thì thà ở nhà đem đàn ra gẩy tai trâu còn sướng hơn.

Thế là món "bình tác phẩm"  trong buổi họp Nhóm bị xóa tên trong chương trình nghị sự.
Tiết mục sau cùng của buổi họp là trần thuyết cho nhau nghe về tác phẩm của các nhà văn đi trước. Chúng tôi có lệ là cứ mỗi buổi họp, mỗi thành viên phải trình bầy về một  tác phẩm cũ hoặc mới xuất hiện trên thị trường. Công việc này đòi hỏi các nhóm viên phải đọc nhiều, tập nhận xét, phân tích và đưa ra những ý kiến cá nhân đối với tác phẩm.

Tôi còn nhớ trong các buổi họp này, tôi đã trần thuyết về tác phẩm của Ngọc Giao, của Sao Mai, của Nguyễn Minh Lang, của Hoàng Công Khanh..v…v…là những nhà văn thường xuyên góp mặt trên báo chí hồi đó.

Trong số những tác phẩm được đem ra mỏ xẻ, tôi còn nhớ cuốn gây được sôi nổi nhất là cuốn Linh Hồn Ngọc của Hiệp Nhân. Cuốn này gây sôi nổi không phải vì nội dung của nó quá hay hoặc quá dở nhưng là vì tác giả của nó chỉ là một cậu học sinh mới bước vào năm đầu của bậc Trung Học Đệ Nhị Cấp! Vào thời kỳ đó, đang còn cắp sách đến trường mà có truyện dài in ra là cả một hiện tượng lạ. Anh chàng Hiệp Nhân này đã gây sôi nổi vì đã làm được chuyện đó.

Cuốn truyện dầy gần 200 trang, ấn loát đẹp đẽ, khi mới phát hành Hiệp Nhân có tặng thầy Nguyễn Uyển Diễm  một bản. Thầy Nguyễn Uyển Diễm hồi đó cùng hiền nội của thầy là nữ sĩ Mộng Sơn (người có tác phẩm Vượt Cạn vừa phát hành) đang chủ trương nhà xuất bản Vỡ Đất, trụ sở hình như đặt ở Phố Hàng Bát Đàn. Thầy dạy môn Quốc văn ở hầu hết các trường tư lớn ở Hà Nội. Thầy lại là người rất sốt sắng và cởi mở. Bởi vậy khi nhận được sách biếu, thầy đem đi giới thiệu cùng khắp các lớp. Thầy nói đại ý là đã được tác giả cho xem cuốn sách từ khi nó còn là bản thảo. Thầy khuyên tác giả rằng nó còn nhiều khuyết điểm, nên sửa chữa. Nhưng tác giả "hơi vội" đã cho in ngay. Tuy nhiên đó là bước đầu của một cây bút đầy nhiệt thành nên nó rất đáng khen ngợi và đáng khích lệ.

Bọn lau nhau chúng tôi thì cứ tròn xoe mắt lên mà nhìn cuốn sách với tất cả lòng khâm phục. Đối với chúng tôi thì dù là vội, dù là có khiếm khuyết cần sửa chữa, nhưng tác giả của nó đã dầy công "khuậy" được từng ấy trang (gần 200 trang in, đâu phải là chuyện chơi !), lại in được ra thành sách, thế là "chúa" quá đi rồi. Dưới mắt chúng tôi, anh chàng Hiệp Nhân bỗng trở thành một nhà văn thứ thiệt, có tác phẩm bán trên thị trường, tức là đã ngoi chễm chệ lên bàn Nhất chứ không phải bàn Nhì lem nhem chỉ in bài trên mặt báo như bọn chúng tôi.

Chẳng hiểu về sau Hiệp Nhân lời hay lỗ, lỗ thì lỗ bao nhiêu, nhưng công trình đó đã vượt quá xa tầm tay của chúng tôi rồi. Bởi nội cái việc bỏ ra cả ngàn bạc để in thành sách đã là một chuyện kinh khủng đối với lũ mạt rệp như bọn tôi. Mỗi ngày, riêng tôi chỉ có ba đồng để ăn sáng. Tôi chỉ ăn có một đồng xôi để dằn bụng. Còn hai đồng thì để mua thuốc lá phì phèo. Ôi chà, làm sao mà có thể để dành tới bạc ngàn để in sách được.

Cũng còn một con đường khác có thể in được tác phẩm (nhưng rất hiếm hoi). Đó là con đường bán tác phẩm cho nhà xuất bản Chính Ký ở đường Sinh Từ, gần chợ Cửa Nam, Hà Nội. Vào thời kỳ đó, nhà Chính Ký hầu như là một nhà xuất bản duy nhất dám in tác phẩm của các cây viết mới đang chập chững vào nghề, theo tính cách cứ in một cuốn của nhà văn nổi tiếng thì lại chen vào một cuốn của cây bút mới thuộc toàn giới trẻ như Nguyễn Đông Tây, Anh Quân, Thanh Hữu, Hùng Phong, Vũ Mai Anh..v..v… Đáng kể nhất là Vũ Mai Anh, một cây bút còn hoạt động cho đến bây giờ.

Hồi đó Vũ Mai Anh mới chỉ là một cậu học sinh lớp đệ Ngũ của trường Chu văn An, nhà ở phố Hàng Đồng, gần Cửa Bắc Hà Nội. Mai Anh say mê văn nghệ có thể nói còn hơn bất cứ một người nào khác. Cặp táp của anh lúc nào cũng dầy cộm từng xấp bản thảo. Có bản đã viết xong, có bản  đang cho in giở giang trên báo. Đã thế lại có bản vừa khởi sự viết được vài chục trang. Tổng số tác phẩm của Mai Anh vào lúc đó đã lên tới 4, 5 cuốn. Toàn là truyện dài chữ li ti như con kiến, nội dung cũng toàn là những chuyện tình với tựa đề thật ướt át như Duyên Kiếp, như Phũ Phàng..v.v..

Quyển Duyên Kiếp đang được đăng từng kỳ trên báo Hồ Gươm của bác sĩ Bùi Cẩm Chương. Quyển Phũ Phàng chưa in trên báo nhưng lại được nhà Chính Ký in ra thành sách. Cuốn sách dầy hơn 200 trang, bìa in Litho đủ mầu tuyệt đẹp không thua gì in Ốp-sét bây giờ. Hình bìa vẽ một thanh niên thật bảnh trai đang ngồi ôm mặt bên một nấm mồ. Trên nấm mồ có hương bay nghi ngút, có bia đá đề tên thiếu nữ, xa xa có những giải mây bay lờ lững thấp thoáng qua mấy nhánh thông gầy. Mộ xanh, cỏ úa, vẻ mặt người bi ai, rầu rĩ, cảnh trí nom thật …phũ phàng !

Cuốn sách bán rất chạy. Có lẽ là chạy nhất trong những cuốn của các tác giả mới ra lò. Mai Anh vụt nổi như sóng cồn trong đám văn nghệ trẻ như chúng tôi. Và chúng tôi cũng đọc Mai Anh với tất cả say mê vì văn của anh vững chãi, già dặn, có dáng dấp, kiểu cách rất hợp với không khí văn chương bình thản hồi bấy giờ.

                                (còn tiếp)