Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, ngày 30 tháng 10 năm 2014

nhà văn NHẬT TIẾN : THỀM HOANG - KY 14


                                          (tiếp theo)

Ích cầm lấy tiền rồi trở ra giếng nước. Đến gần trưa, nó tót sang tìm bác Tốn. Lúc này bác đang ngồi tần mần bứt những cọng rơm ở dưới chiếu. Thấy tiếng động bác ngẩng lên nhìn về phía cửa, hai hàm răng của bác nhe ra trắng nhởn:
"Ai đấy?"
Ích đáp:
"Ích đây!"
"À! Đi đâu thế mày?"
"Bác không đi đánh cờ à?"
"Cờ quạt gì! Đau lưng bỏ bố đi..."
"Hút thuốc lào thì có khỏi không?"
Bác Tốn ngồi xích vào trong, nhường chỗ cho nó:
"Sao lại hút thuốc lào?"
"Thế mới bí mật quân sự chứ! Mất gì đây nói cho mà nghe!"
"Nghe cái gì?"
"Thì mất gì cho đây cái đã.”
"Thôi đi, xin ông! Hôm qua ông đã xơi của nhà con hai đồng bánh mì giò rồi! Lần này đếch chơi dại nữa.”
Ích đáp:
"Ờ! Được rồi nhé! Rồi đừng có mà hỏi nữa. Đây có chuyện cô Huệ hay bỏ xừ đi.”
Mặt bác Tốn nghếch lên:
"Chuyện gì của cô Huệ?"
Ích nháy:
"Thì bỏ gì ra đây đã nào!"
Bác Tốn nhe răng ra cười, cái cổ đưa hẳn về phía trước:
"Thôi! Năm cắc bò khô đấy!"
"Năm cắc chả bõ dính răng.”
Bác giẫy nẩy lên:
"Biết thế chó nào là dính được răng. Cái mồm nhà ông thì dễ phải hàng kí lô mới bõ chắc!"
Ích đáp:
"Chả cần kí lô thì cũng phải hai tì!"
"Thôi một tì đi! Một tì thì đã mất bố nó với nhà ông gói thuốc lào rồi.”
"Ôi, cần gì! Cô Huệ còn định cho nhà bác cả phong kia mà!"
Bác Tốn kêu lên:
"Ái chà! Sang nhỉ! Nhưng sao lại thế?"
"Thì đã bảo có khô bò đã mà!"
Bác Tốn đáp:
"Thôi đếch cần cậu nữa. Cậu phun bố nó ra cho tớ biết rồi. Cô Huệ trả nợ cái khoản hộp bánh hôm nọ bằng phong thuốc lào chớ gì! Cái nhà cô ấy hay thật! Chỉ vẽ chuyện.”
Ích túm lấy áo bác Tốn lắc mạnh:
"Còn nữa! Chưa hết đâu! Chuyện này còn hay hơn!"
"Bịa!"
"Đây thèm vào bịa! Rõ ràng buổi sáng nay mà.”
Bác Tốn gật gù:
"Ừ, thế thì được! Bằng lòng hai tì. Hai tì là kể hai chuyện đấy nhé!"
"Chuyện trước bác biết bố nó rồi còn gì!"
"Thế cô ấy bảo sao?"
"Bảo lần trước cô ấy ốm, bác tử tế mang cho bánh thì bây giờ mua thuốc lào biếu bác.”
Bác Tốn hỏi:
"Có thế thôi à?"
Ích đáp:
"Thế thôi chứù còn cái đếch gì nữa.”
Bác Tốn cười hề hề. Vớ lấy cái điếu cầy treo ở bên cạnh, bác hỏi tiếp:
"Thế còn chuyện thứ hai?"
"À, chuyện thứ hai là chuyện cô Huệ lấy Tây!"
Bác Tốn khựng hẳn người lại. Vẻ mặt bác hơi tái đi, nhưng chợt nghĩ ngay ra là thằng Ích hay đùa nên bác nhoẻn một nụ cười:
"Ấm ớ chưa! Tây đếch ở đâu ra mà lấy.”
Ích gân cổ cãi lại:
"Thật mà! Thì chính cô ấy nói ra mà!"
"Vậy thì cô ấy phịa chuyện với nhà ông rồi! Tây Tầu nào quen cô Huệ. Mà cô ấy mù tịt có biết chữ nghĩa nói năng gì đâu mà đòi lấy nhau.”
"Ấy thế mà lại cứ lấy đấy. Không lấy thì làm sao có cả ảnh con người ta nằm trong túi!"
"Ảnh của ai?"
"Bác rõ vớ vẩn, của Tây chứ của ai.”
"Tây thật không? Thôi! Khéo bố mày lại trông nhầm nhà ông nào rồi!"
"Vô lý! Cháu tinh mắt thế này mà lại bảo trông nhầm. Rõ ràng như ảnh tài tử trong ci nê ma, thì sao lại không Tây được.”
Mặt bác Tốm hơi sạm lại. Bác nuốt một cục nước miếng đang nghẹn trong cổ họng và cất giọng hỏi một cách khó khăn:
"Thật à? Tây trắng hay Tây đen?"
"Trắng!"
"Già hay trẻ?"
"Trẻ măng!"
Giọng bác bắt đầu chua chát hơn:
"Sướng nhỉ! Béo hay gầy?"
"Béo!"
"Tóc xoăn không?"
"Bác nói như bố chó xồm ấy. Tóc Tây mà không xoăn!"
"Vậy đích thị là Tây rồi! Giầu phải biết đấy nhé!"
Ích đáp:
"Đứt đuôi đi rồi. Chả thế mà tự dưng cô ấy lại gọi cho hẳn cháu hai đồng, lại cho bác cả một phong thuốc lào nữa.”
Bác Tốn nói như muốn khóc:
"Tao đếch thèm lấy!"
Ích ngạc nhiên:
"Ô hay! Sao lại dại thế?"
"Thì đã bảo không là không mà! Cần đếch gì dại với khôn.”
"Thì cứ lấy đi rồi cho cháu!"
"Gớm! Mày nói như bố chó xồm ấy! Tao mà lại đi lấy của Tây.”
"Thôi! Thế là nhà bác nổi cơn ghen rồi.”
Bác Tốn phát bẳn lên:
"Ghen đếch tao đây này! Mấy lại tao có mê đâu cơ chứ.”
"Không mê mà dạo trước lại bảo mê đứt đuôi đi rồi!"
Bác Tốn cười hềnh hệch:
"Nói thì nói thế chứ. Chả có bao giờ tao thèm mê ai đứt đuôi đi được.Thôi mày lấy cái đàn ra đây, tao hát cung văn cho mà nghe.”
Ích vỗ tay:
"Phải đấy! Bác hát cung văn thì phải biết.”
Trong khi Ích bắc ghế trèo lên vách lấy cây đàn thì bác Tốn châm lửa, hút thuốc lào sòng sọc. Hai bên má bác hóp lại, đôi lông mày díu vào nhau. Vầng trán cao và rộng của bác nổi rõ lên những đường gân xanh nhằng nhịt. Lúc bác rời cái điếu ra thì mặt bác ngây đi, cặp mắt nhắm nghiền lại, những sợi khói xanh lơ quyện lấy khuôn mặt khắc khổ, phong trần, rồi bay toả lên cao. Lúc ấy Ích đã ôm cây đàn lại gần. Nó dùng ngón tay bật lên mấy sợi dây. Âm thanh rung trong bầu gỗ làm bác Tốn quay lại mỉm cười. Hai hàm răng trắng nhởn nhe ra như răng ngựa. Bác đưa cổ ra đằng trước, lắc mấy cái cho bắp thịt dưới hàm giãn ra rồi bác đón lấy cây đàn, thử dây và bắt đầu cất giọng:
"Tình tang ơi!
Cổ tay em trắng, trắng mà lại tròn
Em để cho ai gối... ấy mà... mòn... mà mòn một bên...
Ới tình tang ơi..."
Ích kêu lên:
"Không! Không chơi hát nhảm. Bác hát những bài lên đồng nghe khoái hơn.
Bác Tốn hướng mặt về phía nó mỉm cười. Bác có cảm giác như lòng bỗng nhẹ vơi đi khi có âm thanh của tiếng đàn. Tay bác búng rất ròn một nốt thật cao. Rồi bác gẩy tiếp theo và cất giọng lên đồng:
"Ới a...ới a...
Cô Bé về đồng..
Cô Bé về đồng...
Cô bận áo lục
Cô chít... chít... à... chít chứ cái khăn hồng.
Cô cài trâm bạc ấy chứ... trâm bạc... cho bồng mấy sợi tóc mai.
Ý... y
Lủng lẳng trên vai...
Ý y... lủng lẳng trên vai
Giỏ hoa cô xếp thật tài
Cưỡi mây... mà đạp gió... ý y...
Cưỡi mây mà đạp gió... ý y...
Cô đi đôi hài xanh xảnh xành xanh.”
Thằng Ích giúi cái cọng rơm vào tay bác:
"Đây nè! Cô thưởng cho đây nè!"
Bác Tốn khoái chí, rung đùi hát to hơn:
"Đệ tử vui mừng...
Ý a... mà đệ tử vui mừng
Nghe cô chẳng quản... nghe cô chẳng quản ý a...
mưa gió bão bùng... mà... cô tới đây Rượu đây, cô uống... mời cô uống cho say...
Mà... sa lông cô ngự... ý y... báo này để cô xem.
Sắp hàng là đệ tử hai bên
Sắp hàng là đệ tử hai bên,
Nghe cô kể truyện ý ý... kể chuyện săn trên... trên miệt rừng...
Súng tây cô bắn đùng đùng...
Ới a... súng tây cô bắn đùng đùng...
Cô gầm... cô rít... oai hùng... oai thật là oai...“
Bác Tốn ngâm dứt giọng thì hạ cây đàn xuống, vớ lấy bát nước chiêu một ngụm. Ích vỗ tay:
"Hay nhỉ! Ai dạy mà bác biết những điệu hát lạ thế?“
Bác Tốn cười hề hề:
"Thì nghề chính cống bà lang trọc mà lị. Ngày xưa tao mê một cô gõ phách. Cô ấy còn hát hay bằng mười tao kia. Lại đẹp không chê được.
"Bây giờ cô ấy đâu rồi?“
"Tây nó bắn chết rồi.”
Ích xuýt xoa:
"Ui chao. Lại thế nữa?“
"Hồi ấy đi hát ở đền nào cô ấy cũng rủ tao đi. Tiền thu vào vô khối, lại no nê, nhưng tao thì chỉ mê có mỗi hai con mắt của cô ta thôi.”
Ích hỏi:
"Mắt cô ấy làm sao?“
"Mắt tình bỏ bố đi!“
Ích tủm tỉm cười:
"Hay nhỉ! Mắt tình khác mắt thường thế nào hả bác?“
Bác Tốn bật cái đóm trên mấy đầu ngón tay:
"Đếch ai mà nói được. Tình là tình chứ biết tả làm sao.”
"Thế rồi hai người có... gì nhau không?“
"Gì gì?“
"Gì ấy!"
Bàn tay của bác dúi khẽ vào bụng thằng Ích:
"Bằng từng đây mà gớm nhỉ! Nhà ông thì biết cái chó gì mà nói!“
Ích cãi:
"Biết chứ sao lại không!“
Bác Tốn cười rinh rích:
"Ái chà hăng nhỉ! Ngữ này về sau dê phải biết.”
"Bác nhảm nhí bỏ bố đi. Cháu thì còn xơi!“
"Thật không?“
"Thật!“
"Năm nay mày lên mấy?“
"Cháu mười hai!“
"Úi! Mười hai tốt rồi. Ngày xưa ở làng tao khối người lên tám đã có vợ rồi.”
Ích kêu lên:
"Bác nói phét!“
"Kìa! Thật mà! Đây mà lại có thèm nói phét với nhà ông nữa. Có vợ rồi mà còn đái dầm ra vợ nữa kìa.”
Ích trèo phắt ngay lên cổ bác Tốn, đè xuống:
"Bác nói như bố chó xồm ấy! Có mà vợ nó "phút" cho.”
Bác Tốn vừa gỡ Ích ra vừa cười:
"Phút" thật ấy chứ. Nó lôi cu cậu ra đầu hè, vừa xi nó vừa chửi.”
"Nhà bác này hôm nay nói phét không chê được. Đây đếch thèm nghe nữa đâu.”
Bác Tốn giả bộ giận dữ:
"Thì đấy mày về hỏi dượng mày xem. Có mà ối ra!“
"Thôi đi! Bác lại xui dại cháu. Hỏi ông ấy những chuyện ấy, ông ấy đánh vỡ đít.”
"Dượng mày vẫn ác thế đấy à?“
Ích gân cổ:
"Còn ngôn gì nữa. Dạo này ở nhà chán thấy mồ. Hơi một tí thì cái lão ấy rút guốc chực phang rồi.”
Bác Tốn chép miệng:
"Thế u mày không can được à?“
Ích thở dài:
"U cháu thì nói làm đếch gì. U cháu còn nhát hơn cả cháu nữa.”
"Chả phải nhát đâu. U mày nhường!“
Ích cãi:
"Nhường đếch gì! Tiền vốn, tiền lãi, lão ta moi móc đi đánh bài cả mà lại bảo nhường.”
"Chết! Đánh thế rồi lấy gì mà sống?"
"Thế đấy! U cháu thì suốt ngày than thở rằng sắp chết đói đến nơi.”
Bác Tốn không nói tiếp, ngồi im lặng trầm ngâm. Ích đang vui, nét mặt cũng trở nên buồn thỉu lại. Nó hình dung đến khuôn mặt xanh rờn và hốc hác của u Tám. Buổi chiều ở nhà, sau bữa cơm thật là buồn thảm. Dượng Tám đi chưa về, mâm cơm để phần nằm chỏng chơ trên phản gỗ. U Tám ngồi quạt muỗi âm thầm trong một góc tối. Ngọn đèn hoa kỳ leo lét trên bàn thờ soi sáng nửa mặt phía ngoài của u. Má u hóp lại. Hai mắt sâu, đen và thâm quầng. Mớ tóc quấn hờ hững ngang đầu lệch nghiêng đi, những sợi tóc xổ ra, rũ xuống cái cổ gầy vêu vao. Hôm nào u cũng ngồi yên ở chỗ đó, tay phe phẩy cái quạt hay bóp nắn những vết thâm tím mà dượng Tám đánh u như đòn thù. Ích cũng không biết u nghĩ gì về chúng nó, mà chúng nó cũng không muốn hỏi. Vì u đối với anh em Ích thật hờ hững và thản nhiên, ít khi u tỏ được một cử chỉ âu yếm hay săn sóc tới hai anh em nó. Cũng vì thế, Ích ít hay thăm hỏi đến u. Lúc bắt đầu đi hát thì nó chỉ nói gióng với cái Ngoan:
"Tao đi đây nhé!“
Ngoan đang ngồi ghếch cằm lên ngưỡng cửa. Nó cũng không đáp mà chỉ giương mắt nhìn Ích. Ích biết nó cũng chán ngán như mình. Những lúc như thế Ích thấy sự đi hát với bác Tốn thật là thần tiên. Nó quên hết những hình ảnh buồn nản ở nhà. Cảnh vật trên phố hôm nào cũng như hôm nào, nhưng đối với nó có một sức quyến rũ lạ lùng. Nhất là lại thêm bác Tốn để mà nói dóc thì vui phải biết. Nhiều hôm trời mưa vắng khách, Ích kéo bác Tốn ngồi dưới mái hiên nghe tiếng nước vỗ rào rào trên ống máng. Lòng Ích thấy thanh thản vô cùng. Nó không phải bận tâm điều gì về dượng Tám. Hình ảnh của u và em Ngoan không gợi cho nó sự hằn học, tức tủi. Lúc ấy Ích chỉ khoái chuyền nhau với bác Tốn điếu thuốc lá cháy đỏ trong bóng tối. Hai bác cháu cười rúc rích với nhau. Ích nói:
"Hút thuốc lá khoái thật!“

                                                    (còn tiếp)

Thứ Tư, ngày 29 tháng 10 năm 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 116 - TRÁI TIM EM VẪN ĐẮM SAY...

                   
   
  “My hearth will go on...”- trên màn hình vi tính kê giưã căn buồng nhỏ có chạy dòng chữ  lấy trong bài hát trong phim Titanic.Tôi bật cười :
  “Gớm sao ông bà lãng mạn thế ?”
Nguyễn Quang Thân rời chiếc máy vi tính quay sang tôi :                       
“ Không lãng mạn sao sống với nhau được cho tới tận bây giờ...”
“ Sao ông yêu...lâu thế ? Dễ phải đến mười mấy năm rồi?’
Nguyễn Quang Thân bấm đốt ngón tay :
“ Mười bảy năm ba tháng mười một ngày...”
“ Vậy là ông tính từ cáingày khai mạc Trại sáng tác Vũng Tàu ?”
“Trừ đi một tháng bởi vì Dạ Ngân tới trại đúng hẹn còn mình trễ một tháng.”
Tôi còn nhớ hồi đó đang dự trại viết Vũng tàu,một hôm vưà đi bơi về,thấy Nguyễn Quang Thân đang ngồi ở sân Niết bàn tịnh xá (Vũng Tàu) bên cạnh chiếc vali và chiếc máy chữ cổ lỗ,vài anh chị em biết tiếng nhà văn Nguyễn Quang Thân đã xúm quanh hỏi han.Tôi không được chứng kiến “ tiếng sét”đã nổ ra giưã hai người như thế nào,chỉ thấy một tháng sau Nguyễn Quang Thân rủ tôi đi chơi rừng dương và lúc nằm dài trên bãi cát trắng ngắm nhìn không chán mắt những đợt sóng xanh,anh thổ lộ :
“ Tao vưà tìm ra một nưả kia cuả mình...”
Tôi trố mắt :
“ Ai thế ?”
“ Bí mật...”
Nhưng rồi cái “bí mật’ ấý chẳng giữ được lâu,vả lại cũng chẳng việc gì phải dấu,chuyện “ông nọ bà kia” trong một trại viết gồm toàn các ông bà viết văn thì cũng chẳng có gì là ghê gớm,vả chăng nghe nói cả NQT và Dạ Ngân đều đang ‘trục trặc gia đình”.Thế là tôi bỗng trở thành cái bồ để  NQT trút vào đó đủ các thứ chuyện vặt vãnh cuả một tình yêu đến muộn.
Vốn chỉ viết văn xuôi,bỗng dưng NQT làm cả thơ nưã.Anh đọc tôi nghe một bài đại ý “anh nằm lên em...em nằm lên quả điạ cầu...” làm tôi cười bò.Hoá ra dẫu có khôn ngoan tỉnh táo đến đâu chăng nưã,khi yêu anh nào cũng mắc chút dở hơi.
Trại viết Vũng Tàu hồi đó nổi tiếng quậy phá,Ban lãnh đạo gồm nhà văn Huy Phương,nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh chỉ lo quản lý tư tuởng trại viên cũng đủ mệt ,thời giờ đâu để mắt tới những chuyện tình ẩm ương.Bởi  thế  chàng và nàng cứ công khai cặp tay nhau đi chơi dài dài suốt trong 3 tháng trại viết.Chiếc máy chữ vật bất ly thân cuả Nguyễn Quang Thân nằm gỉ trong góc nhà chẳng ra được chữ nào.Tôi nói đuà với NQT khi giải tán trại:”
Ong mất muà chữ nhưng lại được muà...tình.Thế là lãi...”.
Và chẳng riêng gì NQT,theo gương anh,nhà thơ Trần Mạnh Hảo cũng cặp một em tên  Anh,vài ngày sau nhà văn Nhật Tuấn cũng dẫn một em giáo viên ra rừng dương cùng picnic với Dạ Ngân-Nguyễn Quang Thân.
Tuy thế chỉ có NQT mất muà chữ thôi,còn mọi người vẫn gặt cả...hai muà.Bởi lẽ đi chơi chán về,Trần Mạnh Hảo và Nhật Tuấn lại lôi cái máy chữ ra hành hạ,chỉ có NQT suốt thời gian đó chỉ làm được dăm bài thơ tặng...Dạ Ngân và tất nhiên người “được” nghe đọc sau đó là tôi,trong đó có một bài NQT lấy tưạ tây :”Dans l’eau” dịch nôm na là “trong nước” kể chuyện yêu nhau ở đó.
“ Này ông ơi,cái bài “Dans l’eau” ông làm hồi đó sau có in được không ?”
NQT đang cắt tiết vịt  ở góc bếp,cười ré :
“ Thằng này nhớ dai ghê.Tao không thèm,ai lại đi bán kỷ niệm tình yêu bao giờ ?”
“ Ghê  nhỉ,thiêng liêng quá nhỉ,nhưng mà tôi phải công nhận ông bà yêu nhau...lâu thật,đáng đưa vào Guiness Việt Nam...” 
          Quả thực sau khi trại sáng tác Vũng Tàu bế mạc,những cuộc tình dọc đường cuả Trần Mạnh Hảo,Nhật Tuấn cũng bế mạc theo,chỉ riêng có Nguyễn Quang Thân và Dạ Ngân là dắt tay nhau đi vào một cuộc trường chinh đầy phiền muộn để giành được ‘chính danh” trở thành vợ chồng.
Mãi tới hơn ...mười năm sau,nghe tin hai người làm hôn lễ,tôi ở xa đánh điện mừng :”thắng lợi này thật là to lớn...”.
Lúc này Dạ Ngân đã ra Bắc học trường viết văn Nguyễn Du,Nguyễn Quang Thân cũng “cáo quan” văn nghệ Hải phòng để về xây dựng tổ ấm tại Hànội.Bằng cách gom góp đủ các thứ nhuận bút,hai người đã mua được một căn hộ nhỏ xíu,có cái balcon trải vưà đúng bốn chiếc chiếu  NQT đã biến nó thành “vườn thượng uyển” có sỏi rải ở dưới chân,có bàn đá và có cả võng dù nằm hóng gió.
        “ An ở ngoài sân hay trong nhà đây ?”
Dạ Ngân bưng điã tiết canh vịt từ dưới bếp lên.Tôi khen NQT sáu mươi mấy mà nom vẫn như...thanh niên và cứ cái đà sống này còn lâu ông mới “hưu” chuyện vợ chồng.Dạ Ngân cười sung sướng :
“ Mất công mất sức chăm lo cho ổng ấy kỹ càng lắm mới được thế đó...”
Tôi băn khoăn :
“ Nhưng...lương hưu cuả ông âý làm sao đủ sống ?”
“ Hai đưá sống chủ yếu bằng nhuận bút ...”
Tôi ngạc nhiên :
“ Bằng nhuận bút ? Nhưng sách có bán được đâu ...”
“ Tụi mình viết báo.Anh cứ mở máy vi tính cuả anh Thân ra coi,toàn là các bài báo với số FAX cuả các thứ báo trung ương và điạ phương.”
Hoá ra viết báo không những sống được,còn tích cóp mua nổi chiếc Chaly nhỏ chở nhau  ngược xuôi trên phố phường Hànội và nhất là còn có tiền khoản đãi bạn bè từ phương xa tới.
Dạ Ngân mời chúng tôi ngồi quây quần quanh chiếc bàn nhỏ bày những điã tiết canh và thịt vịt chặt rất khéo.Tôi xuýt xoa :
“ Xem ra Dạ Ngân làm dâu xứ Bắc rất là hợp.Nấu nướng thế này,mẹ chồng khó tính mấy cũng phải chịu...”
Dạ Ngân cười ngặt nghẽo :
“ Anh Thân nấu cả đó,mình chỉ có ngồi...bóc hành coi mèo thôi...”
Chúng tôi cụng ly chúc cho hai bạn trong thời buổi kinh tế thị trường vẫn tìm ra được một nưả kia cuả chính mình để có một tình yêu thật đẹp.
“ Thế còn văn chương ?”
Sau cùng tôi cũng nói ra được băn khoăn cuả riêng mình.Nguyễn Quang Thân cười hể hả :
“ Vẫn viết chứ .Dạ Ngân đã xuất bản một tập truyện ngắn,còn mình có tiểu thuyết “Ngoài khơi miền đất hưá” mới được tái bản  ra...tiếng Pháp...”
Tôi nói Dạ Ngân là một trong rất ít cây bút nữ  rất đậm chất Nam bộ, hy vọng rằng dù có làm dâu xứ Bắc,chị vẫn phát huy được thế mạnh trong văn chương cuả chính mình.


                                                                                                  5/1998
    
                   


Phỏng vấn Giáo sư NGUYỄN VĂN TRUNG: - KỲ 2

                 “Không ở chế độ nào tôi làm người đối lập!”  

                                                            ĐỖ QUYÊN thực hiện



+ Chúng ta thử chọn một đề tài thời sự cho việc phê này: gần đây, trước Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VIII người ta muốn có góp ý của nhiều tầng lớp. Thì cứ xem đây như một "kỹ thuật" của họ. Nếu ai đó có muốn đóng góp ý kiến thật sự thì nên làm thế nào? Cá nhân anh có cách góp ý ra sao?

- Nguyễn Văn Trung: Cũng tùy... Ở trong nước, theo tôi khi đã hỏi chính thức và công khai như vậy thì chẳng có ai nói hoặc có nói cũng phất phơ cho xong. Ở trong nước chưa có sự trao đổi thật sự. Bởi vì ai ai cũng biết mọi cái rồi cũng có nơi định rồi. Chưa có gì dân chủ và thật sự đổi mới cả! Tôi không bao giờ góp ý kiến, không bao giờ lên tiếng ở những dịp như vậy.

+ Hai mươi năm nay chẳng lẽ anh không lên tiếng ở trong nước?

- Nguyễn Văn Trung: Tôi chỉ lên tiếng khi người ta hỏi ý kiến riêng tôi. Khi đó tôi đã nói rất thành thật và thẳng thắn. Các ông ấy cũng muốn nghe tôi nói, vì họ biết dù tôi phê rất mạnh nhưng không phải là để “chửi” họ. Thật ra không phải lúc nào người cầm quyền ở bất kỳ đâu cũng thích nghe những lời nịnh hót.

+ Và "Nhận Định - VII" là tuyển tập các góp ý cá nhân như thế của anh. Anh dự định phổ biến tập sách này ra sao?

- Nguyễn Văn Trung: Tình hình đất nước và tình hình của đảng Cộng sản Việt Nam cũng nát ra cả rồi. Tôi muốn ít ra nó cũng được phổ biến trong nội bộ đảng Cộng sản, trong các viện nghiên cứu, các trường đại học. Đó là mong muốn trước nhất. Cũng có thể phổ biến nó trong dư luận chung, nhưng tôi muốn nói với điều kiện nào đó.
Bởi vì thái độ của tôi là gì? Thái độ đó là tôi muốn nhìn thực tế từ bên trong và tôi nói ra với tất cả sự đau xót. Dù tôi chẳng phải là một “thằng cha” Cộng sản gì cả, nhưng tôi nhìn Cộng sản như một người có tôn giáo nhìn nhận: tôi coi Cộng sản như mặt trái của Thiên Chúa giáo như ở bài viết "Cộng sản, người anh em thù địch" (Nhận định - VII). Tôi phê bình Cộng sản như phê bình chính mình, như một người Thiên Chúa giáo có trách nhiệm trong chuyện này. Họ có liên hệ như một người anh em thù địch với tôi, thì tôi không thể chửi họ được, không thể diệt họ được. Tôi coi người Cộng sản là anh em của tôi vì cùng chung một nguồn, một giới nhưng do những lỗi lầm, thiếu sót và phản bội giữa những người anh em mà một người anh em bỏ đi, rồi sau đó tìm cách chống lại những anh em cũ mà họ coi là thù địch và không hay biết gì về mối liên hệ xa xưa. Chính những người anh em kia cũng coi người anh em bỏ đi là thù địch. Đến một lúc nào đó những người anh em ở lại sẽ nhận ra người anh em ly khai là anh em của mình, như Berdyaev đã chỉ ra. Người có tôn giáo như chúng tôi chỉ có thể chứng minh, làm chứng. Chúng tôi phải sống như thế nào để người Cộng sản thấy được vấn đề. Kể cả anh không là Kitô giáo, anh không là tôn giáo nào nhưng anh cũng phải thể hiện thái độ trí thức của anh để người Cộng sản chấp nhận được sự phê bình. Lập trường của tôi trong việc phê bình đảng Cộng sản rất rõ ràng như vậy.
Tôi cũng muốn những người không có tôn giáo nhìn thấy khía cạnh tôn giáo của đảng Cộng sản. Ngay cả bên Âu châu cũng phải mất cả thế kỷ cho thời gian thù địch đó. Người ta có thể bực tức rất nhiều Kitô giáo nhưng có mấy ai nỡ chửi đâu, dù có nhiều ông Cha cố làm sai trái. Vì người ta không muốn động đến tập thể người Công giáo gồm rất nhiều những người Công giáo bình dân. Còn với đảng Cộng sản tại sao người ta cứ chửi nó thả dàn như vậy? Đó là vì người ta chỉ nhìn thấy khía cạnh chính trị, chính quyền mà không nhìn ra mặt tôn giáo, tín ngưỡng của đảng này. Đa số các đảng viên Cộng sản thì ăn cái giải gì, chỉ có mấy “thằng cha” ở trên Trung ương là tào lao thôi! Tại sao người ta không tôn trọng các đảng viên ở dưới mà cứ chửi họ thả cửa?

+ Đấy là anh muốn nói đến những người phê phán có trình độ. Nhưng đại đa số người dân không hiểu biết sâu rộng đến thế, họ chỉ biết một điều, ví như, “đảng Cộng sản là một tổ chức có sai lầm, phải phê phán triệt để”.

- Nguyễn Văn Trung: Cách tiếp cận đã không đúng thì người Cộng sản sẽ không chấp những lời phê phán ấy.

+ Các lãnh tụ Cộng sản có nghĩ được như điều anh vừa trình bày không?

- Nguyễn Văn Trung: (Bật cười) Tôi không biết, cái đó thì anh phải hỏi họ chứ!

+ Thế ngoài tư cách là một tín đồ Kitô giáo, anh có phê bình đảng Cộng sản như là một người Mácxít không?

- Nguyễn Văn Trung: Không! Không bao giờ tôi là người Mácxít cả, cũng chẳng phải theo Cộng sản gì cả!

+ Ở một bài viết anh có nói mình từng là một người “cấp tiến cánh tả”...

- Nguyễn Văn Trung: Khi đi vào chủ nghĩa Marx tôi thấy có nhiều điểm Marx nói là giá trị phổ biến của nhân loại chứ không phải của đảng Cộng sản. Cần phải phân biệt rằng nghiên cứu và chấp nhận một số luận điểm của Marx thì đâu đã là người Mácxít!

+ Trong Lời Nói Đầu của cuốn "Nhận Định - VII" anh cho rằng sự sụp đổ của các chế độ ở Liên Xô cũ và Đông Âu, sự tan rã phong trào Cộng sản quốc tế không có nghĩa là chủ nghĩa Marx lỗi thời và xu hướng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn phá sản, rằng thực ra chỉ cái gọi là "xã hội chủ nghĩa thực tế" dựa trên chủ nghĩa Stalin và Lênin tan rã. Và anh vẫn còn mong muốn xây dựng một thứ "chủ nghĩa xã hội không Cộng sản" như anh từng ấp ủ từ những năm 1950. Cho đến ngày hôm nay anh vẫn còn giữ các ý kiến như ở trong Lời Nói Đầu đó không?

 - Nguyễn Văn Trung: Vẫn giữ chứ! Xét về phương diện lịch sử, chính cái chủ nghĩa xã hội không Cộng sản mà chúng tôi hằng tin có nguồn gốc tôn giáo hơn cả. Bên Nga có các đại diện của chủ nghĩa này như Vladimir Solovyov, nhất là như Nikolai Berdyaev, ở Âu châu điển hình là Emmanuel Mounier. Đây là chủ nghĩa xã hội dựa trên các giá trị tôn giáo và siêu nhiên. Khi hướng này bị Lênin gạt ra, Berdyaev bỏ nước Nga sang Tây Âu không phải để chống Cộng mà để gây dựng tiếp xã hội chủ nghĩa không Cộng sản này ở Tây Âu. Lúc còn là sinh viên ở Pháp từ những năm 1950-1955 nhiều anh em sinh viên Việt Nam chúng tôi đã theo nhóm này. Về thời điểm mà nói đáng ra bây giờ sau khi chủ nghĩa xã hội duy vật Stalin sụp đổ là lúc trở về chủ nghĩa xã hội không Cộng sản. Bên Nga cũng có nhiều người nhắc đến chuyện này, nhắc đến Berdyaev. Nhưng thực tế lại đi theo sự tiến triển xã hội khác hẳn dựa trên chủ nghĩa tư bản để tiến đến một xã hội tiêu thụ.
Tâm tình của người dân ở Tây phương không có giá trị tinh thần gì cả. Tôi hy vọng đến một ngày nào đó người ta sẽ trở về với chủ nghĩa xã hội không Cộng sản, vì con người không thể nào không hướng thượng được. Người tôn giáo cũng chấp nhận rằng về bản chất chế độ tư bản là không chấp nhận được. Dạo đó vào quãng năm 1980 gì đó Đức Giáo hoàng, tức Pope John Paul II bây giờ, đã cho ra một lá thư chung có câu như vậy. Các nước tư bản giẫy nảy cả lên, kêu rằng Giáo hoàng là người thân tả. Đấy là đường lối của Giáo hội Vatican chứ đâu phải riêng của ông Giáo hoàng! Về bản chất lý tưởng của tôn giáo, chủ nghĩa Cộng sản bắt nguồn từ Kitô giáo cùng với ba nguồn gốc khác mà chính người Mácxít vẫn thừa nhận, và phong trào Quốc tế Cộng sản ra đời từ một trong các nguyên nhân là sự sai trái của Giáo hội Kitô giáo.


II. TỤC HÓA ĐẢNG VÀ THỂ CHẾ HÓA CHỨC NĂNG TRÍ THỨC

+ Đỗ Quyên: Trong hai bài viết đã nhắc ở trên, anh có đề nghị (nghe qua có vẻ đơn giản) rằng chỉ cần tục hóa đảng Cộng sản và thể chế hóa chức năng của trí thức đảng viên.

- Nguyễn Văn Trung: Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay thực chất chưa thay đổi. Chẳng qua là do tính chất tôn giáo như đã nói. Để chống nó ở điểm độc tài, chuyên chế? Bất cứ một tôn giáo nào, hay một ý thức hệ nào mang tính chất tôn giáo, muốn thực hiện lý tưởng "giải phóng" hay "cứu rỗi" của mình mà lại bằng quyền hành hay bạo lực thì ý tưởng tốt đó đã bị trở thành xấu, tội ác. Nếu anh làm việc bác ái, anh cầu nguyện... cho lý tưởng của anh thì không sao. Chính Kitô giáo đã là một ví dụ lịch sử qua các vụ tàn sát, kết án, thiêu xác... những kẻ dối đạo. Đảng Cộng sản có ý tưởng tốt là giải phóng con người nhưng lại cho rằng với ý tưởng tốt thì có thể dùng mọi phương tiện, kể cả bạo lực, để thực hiện. Cái đó là không được và không thể được! Tục hóa đảng không phải là ý kiến của riêng tôi mà là của nhiều người từ trước. Ở Pháp, từ 1960 ông Cartier, người thiên tả, trong cuốn sách về Stalin đã viết: "Il faut casser le communisme " (Cần phải tục hóa đảng Cộng sản). Tức là muốn đảng Cộng sản lột xác, điều cốt yếu phải từ bỏ việc coi đảng như là một đấng tối cao, như là một tổ chức tôn giáo. Thế là động chạm đến nền tảng rồi đó!

+ Tức là bỏ chuyên chính vô sản?

Nguyễn Văn Trung: Bỏ! (Cười) Nhưng tôi không viết thẳng ra như vậy. Tục hóa đảng còn có nghĩa là trở lại quan niệm coi đảng là của những con người và chỉ của những con người mà thôi. Đảng của những con người đó phải dự tính một chương trình chính trị xã hội có thể được thực hiện ở đời, một cuộc đời không bao giờ sẽ là thiên đàng dưới đất. Được như thế thì lãnh tụ của đảng không còn như là đấng tối cao, đảng không còn được coi như là Thiên Chúa. Mọi lời nói phê phán, hoài nghi không bị coi như là tội chính trị. Tương tự như bên Thiên Chúa giáo, tất cả mọi tội xúc phạm đến con người dù rất nặng đều cũng được tha thứ, chỉ trừ một tội không thể tha thứ được là xúc phạm đến Đức Chúa Thánh Thần, là không tin vào lời của Chúa.
Muốn có một đổi mới thích nghi lúc này đảng Cộng sản Việt Nam cần tiến hành một thứ “Đại hội đảng chỉ bàn về đảng”, giống như cộng đồng Vatican II đã từng làm. Ở đại hội kiểu này chính những người trí thức trong đảng mới có danh nghĩa và khả năng tham dự vì họ thấu hiểu thực trạng bên trong đảng.

+ Đó là một biểu hiện của thể chế hóa chức năng trí thức hay sao?

- Nguyễn Văn Trung: Quy luật chung cho mọi tập thể xã hội là không thể nào không có sai trái vấp ngã nên phải có những người phê phán, nói những lời cảnh giác: "Này, đi như thế là có thể bị lạc, bị sai đấy!" Chính giới trí thức là người hiểu biết nhất trong tập thể đó làm việc cảnh giới này. Và họ còn phải có lương tâm nữa, họ nói những lời cảnh giới đó không phải là vì quyền lợi cá nhân, cũng không phải vì nể sợ quyền lực. Tôi gọi người trí thức vừa là ý thức, vừa là lương tri của xã hội. Người ta sẽ tin ở trí thức vì người trí thức không phải là người làm chính trị. Theo tôi, đảng Cộng sản trên thực tế không có người trí thức hiểu theo nghĩa đó, mà chỉ có các chuyên viên. Nhưng về hình thức vẫn có rất nhiều trí thức có trình độ và có lương tâm ở trong đảng, chỉ có điều là chức năng trí thức của họ chưa được nhìn nhận, chưa được thể chế hóa. Thế cho nên đảng mới “chết”! Ngoài việc người trí thức trong và ngoài đảng được quyền cảnh giới việc lãnh đạo của đảng, họ cần được phê phán tất cả những vấn đề của xã hội. Những điều đó phải được thể chế hóa như một sinh hoạt bình thường của đảng, chứ không phải chỉ có thể phát biểu trong chỗ riêng tư tâm tình, hoặc không phải "liều mình mà chết để nói ra sự thật" như hiện nay.

+ Trong các phê phán của, tạm gọi là, “các trí thức trong đảng” thì của ai theo anh là hợp?

- Nguyễn Văn Trung: Tôi cho rằng các phê phán của ông Trần Độ là được.

+ Còn của ông Lữ Phương?

- Nguyễn Văn Trung: Không!

+ Và của các ông Nguyễn Hộ, Nguyễn Văn Trấn?

- Nguyễn Văn Trung: Cả hai ông đó tôi cũng không cho là được!

+ Rồi như ông Hoàng Minh Chính?

- Nguyễn Văn Trung: Vấn đề nó như thế này... Thế nào là người Cộng sản chân chính? Trường hợp ông Hoàng Minh Chính bị đày đọa bao nhiêu năm trời, theo tôi đấy là chuyện đấu tranh nội bộ giữa các ông ấy với nhau thôi. Khi ông Chính chống đảng thì ông đang đứng ở phe Liên Xô có quyền hành. Nếu ông Hoàng Minh Chính dạo đó cầm quyền thì chắc cũng chẳng khác gì, cũng là đường lối Mácxít-Leninnít mà thôi! Là người Cộng sản ông Chính phải tin rằng dạo đó không thể có tòa án để xử lý ông trong vụ án Xét lại được. Sau này, qua thời cởi mở, Tây phương nó biết chuyện rồi ông mới đưa ra vấn đề mới thì tôi thấy ông mâu thuẫn với chính mình.

+ Thế còn với các phê phán của ông Nguyễn Kiến Giang?

- Nguyễn Văn Trung: Tôi muốn nói chung chung thế này. Với các vị đó về tư cách con người và về sự chịu đựng của họ thì là một chuyện, nhưng nay họ dựa vào dư luận Tây phương để phê bình đồng chí của mình thì tôi thấy có gì đó không xuôi. Vì đó là chuyện tranh đấu đường lối có tính nội bộ chứ họ chưa ra khỏi đảng đó...
Ý tôi muốn nói rằng, mặc dù là nạn nhân của vụ án Xét lại, nhưng trong các phê bình có tính chất lý thuyết của mình ông Nguyễn Kiến Giang đều không nhắc lại chuyện cũ đó. Tôi cũng thấy rằng các bài của ông Giang không có gì thù hằn như những người khác. Những gì ông Giang phê phán tôi thấy là đúng cả, nhưng thật ra không thiết thực. Riêng tôi rất muốn ông Nguyễn Kiến Giang hãy viết về các chuyện khác giúp mọi người hiểu rõ hơn về đảng Cộng sản Việt Nam. Ví dụ, ông có thể nói rất rõ những điều đã làm cho người Cộng sản vô cùng đau xót, tức là về các lớp chỉnh huấn thời xưa mà ông tham dự. Chính sự chỉnh huấn ấy đã làm cho những người đảng viên không còn tình người khi họ tự nhận các tội họ không hề có. Ông Giang có lần đã tâm sự với tôi như vậy. Anh nhớ xem các loại chuyện như thế đến nay đã có ai nói chưa? Ông Tô Hoài chỉ mới nói sơ sơ có tính văn nghệ thôi. Chúng ta đã hiểu thế nào là chỉnh huấn của đảng Cộng sản chưa? Những đảng viên cảm nghĩ về nó ra sao? Tôi thấy điều này mang đặc tính y chang như ở Kitô giáo vậy. Vì đó là một kỹ thuật thú tội của con chiên. Người đảng viên thấy mình có tội với đảng, cũng như người Kitô giáo có tội với Thiên Chúa. Vì thế đảng, như giáo hội, sẽ không bao giờ sai lầm. Còn người đảng viên thì sai lầm, vì thế đảng luôn luôn đúng kể cả khi sai lầm. Còn người đảng viên thì sai lầm kể cả khi anh ta đúng. "Mặc cảm tội lỗi" của tín đồ Kitô giáo cũng có ở người đảng viên Cộng sản như thế đấy! Và có vậy đảng mới "cứu rỗi" đảng viên được.
                                   (còn tiếp)

Thứ Ba, ngày 28 tháng 10 năm 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 115 - Hội nhà văn của nước ta - KỲ 26


                                 Như con Trâu chết .

            ( tường thuật Hội nhà văn Việt Nam ăn Tết con Trâu)

   Còn vài ngày nữa tiễn con Chuột về năm cũ, đón con Trâu về...ăn Tết. Chỉ có điều năm cũ sắp qua là Con Chuột nhắt hay con Chuột cống, năm mới sắp tới  là con Trâu vàng  hay con Trâu...chương lại là cả một vấn đề gây tranh cãi. ?  Thực ra, cả cái đất Hà Nội kể luôn cả phần mới mở rộng, chẳng ai thắc mắc ẩm ương như vậy, duy chỉ mấy anh chị  tại văn phòng Hội nhà văn Việt nam ở phố Nguyễn Đình Chiểu Hà Nội  “rỗi hơi” nên gân cổ cãi nhau.
Đứng về phe “chuột nhắt” “trâu vàng” có bà tài vụ, chị kế toán, phe “chuột cống” “trâu chương” có ông Ban công tác Hội viên, bà Ban nữ công...Hai phe cãi nhau suốt từ sáng tới trưa , bất chợt đồng chí Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội từ đâu chạy vào, mặt mũi đầy khẩn trương :
“ Họp...họp gấp...ôi chết chết...tết nhất tới nơi rồi mà cứ ngồi dãi thải cả ra thế kia có chết không ?”
Thế là ông triệu cả văn phòng tới họp bàn về cuộc gặp mặt tất niên Ban lãnh đạo Hội nhà văn. Bà Chánh văn phòng phát pháo đầu tiên :
“ Tôi đề nghị năm nay ta họp hẹp thôi, trong Ban chấp hành thôi.”
Ban chấp hành toen hoẻn có 5 vị, họp vậy thì đáng bao nhiêu, anh em chấm mút vào chỗ nào, lập tức bà con nhao nhao phản đối. Hăng hái nhất là ông Trưởng ban công tác hội viên. Ông nói :
“ Mở rộng...tôi đề nghị họp mở rộng tới các thủ trưởng các cơ quan cấp 1, cấp 2...”
Hoá ra Hội nhà văn VN tuy toen hoẻn có 700 ông bà hội viên nhưng cũng tổ chức thành các cơ quan cấp 1, cấp 2, cấp 3...nghe oách ngang một cái Bộ như Bộ văn hoá & thông tin , Bộ thể thao & du lịch. Chỉ có điều đồng chí Bộ trưởng “Bộ Nhà văn” là nhà thơ Hữu Thỉnh chắc  còn xa lắm mới leo lên được cái ghế Uỷ viên trung ương Đảng như các Bộ trưởng khác nên “Bộ Nhà văn” bất quá cục chỉ ngang cấp Cục , Vụ, Viện...
Nghe xong các ý kiến đối đáp, ông Chủ tịch Hội “quyết” ngay một buổi gặp gỡ tất niên mời cả Ban chấp hành lẫn các ông bà Tổng, Phó Tổng các báo , Giám đốc, Phó Giám đốc các cơ quan xuất bản, Trường, Trại  trực thuộc Hội – tóm lại là một cuộc gặp gỡ cuối năm có tính chất liên hoan tất niên sau một năm vô cùng vất vả và cực nhọc trong việc phân bổ bổng lộc của Đảng Nhà nước cho cả ngàn hội viên nhất năm nay kinh tế khó khăn, phần giành “nuôi” các nhà văn có phần eo hẹp hơn mấy năm trước.
Cuộc họp tối quan trọng như vậy nên đồng chí Chủ tịch Hội Hữu Thỉnh, rút ngay “nhà thơ” Trương Vĩnh Tuấn, Phó Tổng Biên tập báo Văn Nghệ Trẻ sang  trực tiếp chỉ đạo việc tổ chức.
Trương Vĩnh Tuấn vốn là nhân vật Thanh Cấu trong “Vết sẹo và cái đầu hói, được nhà văn Võ Văn Trực mô tả trong một chuyến đi nghỉ mát của báo Văn Nghệ như sau :
“ Cấu được Quách Quyền Lực giao cho làm tổng chỉ huy cuộc đi nghỉ mát này. Theo lệnh của Cấu từ mấy hôm trước, các cô và các cháu ở phòng Hành chính trị sự đến sớm nhất, chuẩn bị các công việc hậu cần: bia, nước ngọt, thuốc đau bụng, thuốc cảm, dầu gió, giấy vệ sinh, bánh mì ba tê… Cấu rất hiểu ý của thủ trưởng, lo toan chuyến đi nghỉ mát này thật hoàn bị như một chiến tích của mình. Cấu đến Viện tuy có muộn hơn nhân viên, nhưng bắt tay ngay vào việc điều hành từ phút đặt chân vào cửa:
- Mọi người đến đầy đủ chưa ?
Tiếng “thưa” dạ ran lên :
-  Thưa thủ trưởng, đủ rồi ạ .
Với chiếc cặp đen trên tay, chân đi đôi giày sáng bóng, Cấu xấc xáo vào phòng trong,ra phòng ngoài, vào phòng kho, đôn đốc ầm ĩ :
- Xếp mấy két bia vào một nơi !
- Xếp mấy thùng nước ngọt vào một nơi.
- Bánh mì batê cho vào túi nylông sạch sẽ . Giấy vệ sinh để riêng ra , không để lẫn vào banh mì batê.
- Các loại thuốc dự phòng cảm gió , ỉa chảy để hẳn ra một túi. Cơ quan văn hoá phải có nếp sống văn hoá , phải có thái đố ứng xử văn hoá , phải có động tác ngoại giao văn hoá .
 Tiếng giày cộp cộp của Cấu đi đến đâu thì mồm Cấu phát ra tiếng quát tháo đến đấy. Đi hấp tấp quá, Cấu vấp phải két bia, suýt ngã lăn vào chân tường:
- Đ. mẹ đứa nào để két bia vô văn hoá thế này?”
Rút kinh nghiệm năm ngoái các đại biểu uống bia chai dễ đập vỏ lên đầu nhau nên năm nay đồng chí “duyệt” cho uống bia lon. Quà Tết năm nay cũng gọn nhẹ. Không cặp sách, sổ tay, bút BIC như mọi năm, cứ dồn hết cả vào phong bì cho gọn nhẹ.
Tuy nhiên quan trọng nhất là nội dung cuộc gặp gỡ phải chuẩn bị cho thật kỹ. Sơ sẩy để mấy thằng nhà văn rượu vào lời ra nói nhăng nói cuội là…chết với tuyên huấn.
Thế là đồng chí , Phó Tổng biên tập báo Văn Nghệ Trẻ xác định ngay với ông Chủ tịch Hội  nội dung cuộc gặp là “ mừng công”, tổng kết thành tích là chính.  Bởi vậy chủ yếu liên hoan “văn nghệ cây nhà lá vườn” trong đó ngâm thơ chiếm phần lớn. Tất nhiên ai ngâm thơ, ngâm bài gì đều phải được đồng chí Chủ tịch Hội duyệt trước và phải quy định  không được ngâm những bài thơ  động chạm tới chuyện “nhạy cảm” như Trung Quốc xâm lấn biển Đông hoặc “ai đứng đằng sau Huỳnh Ngọc Sĩ trong vụ PCI ăn tiền của Nhật “.
Chuẩn bị đầy đủ, chi tiết vậy rồi , ấy thế mà khi vào cuộc gặp gỡ tất niên, bia  cứ nốc ào ào mà không một quý vị đại biểu nào đăng ký đọc thơ mới chết chớ. Đã vậy câu chuyện trên bàn nhậu lại cứ rào rào xoay quanh những chuyện vô cùng nhạy cảm , vô cùng thời sự như việc tán phát trên mạng hồi ký chính trị “ Đi tìm cái tôi đã mất” của nhà văn Nguyễn Khải.
Một bà sồn sồn cất giọng Nam bộ :
“ An cháo đái bát. Nguyễn Khải ăn nhiều bổng lộc vậy mà quay cổ chửi các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước là nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói không biết xấu hổ, không biết run sợ vì người nghe không có quyền hỏi lại…”
Một ông tuổi ngoại 80 áng chừng là nhà văn lão thành  phều phào :
“ Cái thằng khốn thế . Là nhà văn nhận giải thưởng văn học Hồ Chí Minh mà dám phát biểu dân tộc ta vừa thoát ách thực dân thì bị tròng ngay vào cổ cái chủ nghĩa cộng sản đã mất hết sức sống. Nói vậy là phản động rồi còn gì…”
Một ông trắng trẻo dáng nho nhã thư sinh, đứng lên xua xua tay :
“ Chưa ăn thua gì . Hồi ký Nguyễn Khải chưa ăn thua gì. Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh mới kinh. Lão này dám viết hẳn một chương bôi xấu Chủ tịch Hồ Chí Minh . Lão kể  nữ du kích Nguyễn thị Hằng hồi đó là một cô gái quê rất trắng trẻo, cao ráo được Bác gọi tới trò chuyện. Lần đầu tiên ra Hà Nội, đi đâu cũng có một anh cảnh vệ hay công an đưa đi. Hành trình qua rất nhiều chặng. Đến mỗi chặng, anh dẫn đường lại bảo, cô chờ ở đây, người khác sẽ đưa đi tiếp. Chặng cuối cùng, anh dẫn đường nói, cô ngồi đây, Bác xuống bây giờ. Một lát ông Hồ tới. Ông không hỏi han gì về thành tích chiến đấu của Hằng mà lại hỏi : “Cháu có buồn đi tiểu, Bác chỉ chỗ cho mà đi”. Viết vậy khác nào tố cáo bác Hồ bị ẩn ức sinh lý nặng, đầu óc quẩn quanh có mỗi “cái đó” của cháu gái thôi à ?”
Bà sồn sồn lại chen ngang :
“ Nguyễn Đăng Mạnh còn viết về Nông thị Xuân bồ của bác Hồ bị giết chết dã man. Lão dám khẳng định gần đây có người điều tra ra vụ việc này rất tỉ mỉ, rõ ràng, và công bố cụ thể trên internet: cô Xuân bị thủ tiêu vì hai lý do: một là cô đòi chính thức hoá: điều này phải do Đảng quyết định, mà Đảng thì không thể chấp nhận. Hai là cô bị Trần Quốc Hoàn hãm hiếp nhiều lần. Hoàn tuy đã đe doạ cô, nhưng vẫn sợ bị cô tố cáo. Hắn sai Tạ Quang Chiến đập chết, rồi ban đêm, đặt xác cô ở quãng đường từ Nhật Tân đi Chèm, bố trí một xe ô tô cán lên, tạo ra một vụ tai nạn giao thông giả. Còn ba chị em cô Xuân là ba chị em họ. Một cô tên Nguyệt, một cô tên Vàng. Hai cô này cũng bị thủ tiêu vì đều biết chuyện. Nguyệt mất tích, không rõ bị thủ tiêu ở đâu. Còn cô Vàng thì bị đập chết và quăng xác xuống sông Bằng Giang, Cao Bằng….”
Lúc này ông Chủ tịch Hội mới la lối :
“ Oi chết chết…Giáo sư tiến sĩ, Nhà giáo nhân dân mà lại bôi bác Hồ chủ tịch xấu xa đến vậy khác gì bọn chống đối ở hải ngoại . Báo chí của Hội ta phải phê phán thật kịch liệt…”
Đồng chí  Phó Tổng biên tập báo Văn Nghệ Trẻ vội vàng lên tiếng :
“ Các đồng chí yên trí, tôi đã cho đăng một loạt bài phê phán lão giáo già này rồi. Toàn loại chiến sĩ trung kiên trên mặt trận bảo vệ tư tưởng của Đảng cả thôi . Như đồng chí Mai Quốc Liên ở Sàigòn, đồng chí Nguyễn văn Lưu ở Hà Nội và cả đồng chí nguyên lãnh đạo văn hoá tư tưởng cũng viết bài phê phán.”
Đồng chí Chủ tịch lắc đầu :
“ Phê mà giấu mặt hết, dùng bút hiệu thì ăn thua gì. Bảo các ông ấy ký tên thật ta sẽ tăng gấp đôi nhuận bút…”
Vừa lúc đó một em gái tên Chanh hay Cốm gì đó chạy tới ghé tai ông , Phó Tổng thì thào . Ong này nghe xong há hốc miệng , kêu to ba tiếng :
“ Bố láo…bố láo..bố láo…”
Cuộc họp bỗng im bặt, các cặp mắt đổ dồn vào ông chờ đợi một sự kiện  chắc rung trời chuyển đất mới la lớn đến vậy. Chờ cho mọi người há hết cả miệng ra đợi như chim con đợi mẹ mớm mồi, mới dằn giọng :
“ Hai giờ đêm qua, ông nhà văn Nguyễn Khắc Phục đã đưa lên mạng thư ngỏ gửi các bạn trẻ trong nước kêu gọi chống Trung Quốc…”
Ong Chủ tịch Hội tái mặt :
“ Thôi chết, chết …thằng cha này năm ngoái đã viết thư ngỏ gửi nhà văn Trung Quốc về vụ Hoàng Sa- Trường Sa rồi…”
Ong Phó Tổng Văn Ngệ Trẻ :
“ Năm nay nó  lại viết thư ngỏ nữa. Mà lần này quyết liệt lắm. Nó dám chửi Trung Quốc :” Về bản chất và tham vọng bất chính, những kẻ đòi "dậy Việt Nam" năm 1979 và những vị hôm nay trịnh trọng rêu rao những lời đường mật về "16 chữ vàng" và "4 tốt" là một đồng một cốt. Khác chăng chỉ ở  cách thức, giọng điệu, diễn xuất, càng ngày thói đạo đức giả và thủ đoạn càng tinh vi, nham hiểm và tàn độc hơn….”
Ong Chủ tịch hội vội vã cắt ngang :
“ Thôi thôi không trích dẫn nữa. Lỡ đến tai các đồng chí Hồ Càn Văn , đại sứ Trung Quốc thì bỏ mẹ cả đám.”
Ong Phó Tổng Văn Nghệ Trẻ lên tiếng :
“ Tôi đề nghị báo Văn Nghệ Trẻ lẫn  báo Văn Nghệ Già mở một đợt phê phán Nguyễn Khắc Phục phá hoại 16 chữ vàng, phá hoại tình hữu nghị núi liền núi sông liền sông giữa Trung Quốc và Việt Nam…”
Lập tức hàng loạt cánh tay giơ lên hô to :
“ Tôi viết…tôi xung phong viết…”
Người ta nhận thấy các đồng chí trong Ban chấp hành, các đồng chí thủ trưởng các cơ quan cấp 1 của Hội nhà văn đều hăng hái giơ tay. Còn lại đồng chí nào không giơ tay thì đều im thin thít. Bia và đồ nhậu lại tiếp tục bưng ra. Đồng chí Chủ tịch Hội Hữu Thỉnh nâng lý chúc mừng :
“ Nào năm mới chúc mừng tình hữu nghị Việt Nam – Trung Hoa đời đời bền vững, đời đời phát triển như con Trâu…à à…con Trâu Kỷ Sửu…”
Trong bàn tiệc bất chợt có ai đó nói nho nhỏ :
“ Như con Trâu…chết chương phềnh phềnh…”
Cả bàn tiệc bỗng cười ồ. Đồng chí Chủ tịch Hội nhà văn Hữu Thỉnh tái mặt, vội vàng để ngón tay lên miệng “suỵt suỵt” rồi rón rén bước ra cửa ngó nghiêng coi có bị ai nghe lén . Lúc quay vào bàn tiệc đồng chí lớn tiếng :
“ Chuyển sang phần văn nghệ, tôi đề nghị toàn Ban chấp hành và các cán bộ lãnh đạo Hội đồng ca một bài mừng năm mới. Nào hai ba…“ Việt Nam Trung Hoa núi liền núi sông liền sông…mối tình hữu nghị sáng như vầng đông…”
Tất cả các quý vị đại biểu đều hát rõ to. Vị nào không nhớ lời bài hát cũng  ngoác miệng ra mấp máy tỏ vẻ ta đây cũng hát hăng hái lắm đây. Duy nhất có một nữ uỷ viên Ban chấp hành là nhà văn Phan thị Vàng Anh là ngồi im không chịu  hát. Khi được chất vấn tại sao không biểu lộ tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản với Trung Quốc, nữ đồng chí này sốt sắng trả lời :
“ Tôi không hát nhưng tôi sẽ ngâm thơ. Tôi sẽ ngâm thơ của bố tôi, thi hào Chế Lan Viên :
“ Bác Mao nào ở đâu xa ?
Bác Hồ ta đó chính là bác Mao…”
Cử toạ vỗ tay rầm rầm. Buổi tiệc tất niên của Ban lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam vậy là kết thúc.

TRÂU QUỲ


HẺM BUÔN CHUYỆN - KỲ 182 - Cái đuôi sao vẫy được…cái đầu ?




Sáng nay nổ ra sự kiện làm náo loạn cả quán. Chiếc tivi 21 inch cổ lỗ mọi ngày được thay thế bằng màn hình tinh thể lỏng LCD 35 inch to tổ chảng khiến thằng Bảy xe ôm trầm trồ :
“ Hoan hô chủ quán …ti vi này coi cải  lương ngang ngồi rạp…”
Chị Gái hủ tíu nở nang mặt mày :
“ Cái này ngoài tiệm những 15 triệu lận. Nhưng đồ xài rồi nên chỉ có 5 triệu thôi mà lại được trả góp…”
Ong Tư Gà nướng lên tiếng :
“ Ai  có lòng nhân từ vừa bán hạ giá lại vừa cho trả góp vậy cà…”
Chị Gái hủ tíu tươi cười :
“ Thì cô Ba vợ ông đại tá hưu chớ ai ? Cổ vừa sắm cái mới to tổ chảng, gấp đôi cái này nên mới bán cái cũ cho mình…”
Thằng Bảy xe ôm cười to :
“ À…hèn chi…vậy thì cái tivi này giá những 5 triệu là mắc đó…cô Ba xài cả chục năm, sắp thành đồ phế thải mà còn bán những 5 triệu lận? Mang lên Ngọc Tảo may ra nó trả  3 triệu . Đúng là cắt cổ dân nghèo ?”
Ong đại tá hưu  đập bàn quát lớn :
“ Thằng Bảy xe ôm kia ? Sao mày dám bảo vợ tao cắt cổ dân nghèo hả ? Thuận mua vừa bán chớ ? Mà tivi này tao coi vẫn còn tốt lắm mà. Mấy hôm rồi truyền hình trực tiếp quốc hội họp coi rõ lắm kìa…”
Gã Ký Quèn cười hô hố :
“ Quốc hội kỳ này họp ở hội trường Diên Hồng kia đó…”
Chị Gái hủ tíu thắc mắc :
“Hội trường Diên Hồng là cái quỷ gì ?”
Gã Ký Quèn giảng giải :
“Hội nghị Diên Hồng do vua Trần Thánh Tông triệu họp các phụ lão trong cả nước để trưng cầu dân ý, hỏi nên hòa hay chiến khi quân Nguyên  sang xâm lược nước ta . Hội nghị Diên Hồng được xem như hội nghị dân chủ đầu tiên trong lịch sử Việt Nam . Vậy mới có bài hát “ Toàn dân nghe chăng sơn hà nguy biến, hận thù đằng đằng nên hòa hay chiến ?Quyết chiến…quyết chiến…”
Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :
“ Ối mẹ ôi…đảng ta đang mạ lại 16 chữ vàng mà quốc hội lại họp ở hội trường Diên Hồng khác nào thằng nói gà thằng nói vịt.! Không lẽ mai mốt thằng Tàu nó đánh ta, ông Chủ tịch quốc hội lại hỏi :” Hỡi các đồng chí, ta nên hòa hay nên chiến…”
Cả quán cười ầm ầm. Cô Phượng cave lúc này mới lên tiếng :
“ . Bởi vậy coi quốc hội họp bằng cái tivi cũ được rồi. Coi bằng cái LCD này nó phí đi…”
Ông đại tá hưu nóng mắt :
“ Mày nói vậy là mày coi thường quốc hội hả ? Mày coi quốc hội chỉ đáng coi tivi đời cũ không đáng coi tivi đời mới phải không ?”
Cô Phượng cave vênh mặt :
“ Chứ lại không à ? Mới coi truyền hình quốc hội khai mạc muốn …ói quá ?”
Ong đại tá hưu đập bàn :
“ Con này láo…đại biểu quốc hội là người đại diện nhân dân…quốc hội là nơi tập trung cao nhất trí tuệ của toàn dân…mày coi quốc hội họp mà mày lại muốn ói là sao ?”
Cô Phượng cave giọng tỉnh bơ :
“ Thì đó…đại biểu quốc hội ngự trên những chiếc ghế sang trọng, to tổ chảng, trong khi đó các nhà báo ngồi chờ dưới chân ghế. Rõ nhục, nó đéo coi báo chí ra cái thớ gì. Nhìn phát ói…”
Ông đại tá hưu quát :
“ Coi truyền hình quốc hội họp phải coi đại biểu quốc hội phát biểu, sao lại coi ba thằng nhà báo ?”
Cô Phượng cave phù mỏ :
“ Thì đó…bà nghị Nguyễn thị Nhung đòi phải quy định đặt tên “thuần Việt” khi sinh con kìa…”
Chị Gái hủ tíu thắc mắc :
“ Tên thuần Việt là sao ?”
Cô Phương cave cười hí hí :
“ Là Lú…là Hói..là Cọp…chứ đừng Nokia…Mai-cồ…con mẹ gì ?”
Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :
“ Vậy thì phải đổi tên mẹ là…Nhung “cá dzô”..”
Ông Tư Gà nướng càm ràm:
“ Vừa rồi đại biểu Nguyễn Sỹ Cương phát biểu ở Hànội phải đút lót 8 triệu mới lấy được sổ đỏ , vậy mà ông Phạm Quang Nghi , Bí thơ Hànội chưa tin …đòi phải mở cuộc điều tra…”
Gã Ký  Quèn :
“ Chuyện đó ..éo ai chẳng biết trừ mỗi Bí thơ Hànọi là không biết…Mới rồi  cha Đỗ Văn Đương còn nói “quyền im lặng không phải là quyền của con người “ vậy khi bắt người công an cứ uýnh thoải mái chừng nào khai ra mới thôi…”
Thằng Bảy xe ôm vọt miệng chửi :
“ ĐM nó …vậy là quyền của ai , của con vật à ? Hóa ra dân ta không bằng con vật…”
Cô Phượng cave cười rinh rích :
“ Yên tâm…yên tâm…ông nghị Trần Du Lịch đã nói rồi :“Phải có quyết sách để lấy lại lòng tin của dân”
Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :
“ Dân có lòng tin đâu mà đòi lấy lại…Để thử coi tuần này họp quốc hội có dám bác dự án xây sân bay Long Thành không nào ?”
Bà Tổ trưởng giờ mới lên tiếng :
“ Xây sân bay Long Thành là chủ trương lớn của đảng để kết nối với quốc tế, sao lại bác ?”
Gã Ký Quèn cười cười :
“ Kết nối gì…chia chác phần trăm thì có. Bởi vậy thằng Thứ trưởng mới nói láo Nhật Bản cho vay vốn, lập tức đại sứ Nhật bác ngay, không khác gì nó tát vào mặt Thứ trưởng…Rõ nhục !…”
Ông Tư Gà nướng :
“ Tao nghe nói bước đầu nó chỉ xin quốc hội chủ trương thôi…”
Gã Ký Quèn gật gật :
“ Đúng rồi, nếu quốc hội thông qua, lập tức nó móc công quỹ ra 142 triệu đôla gọi là tư vấn thiết kế…tất nhiên có phần trăm chia chác trong đó…”
Cô Phượng cave cươi cười :
“ Tiền to thế quốc hội nhất định phải thông qua thôi…cái đuôi sao vẫy được cái đầu ?”
Ông đại tá hưu đập bàn quát :
“ Con Phượng cave kia, mày bảo ai là đuôi, ai là đầu hả ?”
Cả quán cười ầm ầm. Trừ ông đại tá hưu và bà Tổ trường.

28-10-2014







:










Thứ Hai, ngày 27 tháng 10 năm 2014

SÁCH MỚI : “Người đi tìm những cuộc đời ở "phía sau con chữ “



                                                                      Nhà văn   HUY THẮNG .



            Là cây bút chuyên về “chân dung các nhà văn”. Huy Thắng cảm nhận văn chương và con người theo những rung động từ trái tim. Anh trân trọng và chỉ phát hiện những mặt sáng của người “đi tìm cuộc đời phía sau con chữ :.  Trong tập này, tác giả dựng chân dung bạn bè :” Nhật Tuấn, Trúc Cương , Phajm Đình Ân, Nghiêm Đa Văn,Phùng Quán, Quang Huy…
                             Cảm ơn anh Huy Thắng đã tặng sách.


                  

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 114 - Cậu tú thi…văn.



                                   
 
 Trong cuộc thi “ Phụ nữ thế kỷ 21” toàn quốc do VTV3 tổ chức, một cô gái Tây Nguyên đẹp cỡ hoa hậu khi được hỏi :” Em có biết Trường ca Đam San không ?”  - “Dạ… không”. “ Em có biết “Đất nước đứng lên “ không ?” – “Dạ…không”.       

Sinh viên dân tộc Tây Nguyên mà không biết Trường ca Đam San  là sử thi nổi tiếng của dân tộc Eê Đê thì thật đáng buồn, nhưng không biết “ Đất nước đứng lên” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyên Ngọc  thì lại đáng …mừng, vì văn học cách mạng đã chết dần trong lòng người đọc.
Tuy nhiên, không riêng gì cô gái dự thi “ Phụ nữ thế kỷ 21”  mà ngay cả các cô tú cậu tú trong các kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học, kiến thức về văn học cũng thật đáng báo động.
Trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2006, nhiều áng văn của mấy cô cậu  đã khiến thầy cô chấm thi sửng sốt vì lỗi chính tả, suy diễn, hổng kiến thức và cả vì "viết mà không biết viết gì”.
Trong gần 1.000 bài thi vào đại học ở một Hội đồng thi Sàigòn có tới hơn 2/3 bài có chữ viết tệ hơn cả học sinh tiểu học, phần đông sai chính tả đến không thể chấp nhận. Một thày chấm thi bức xúc:
Những cô cậu này mà cũng lấy được bằng tú tài thì thật khó hiểu. Không biết giáo viên văn phổ thông chấm như thế nào mà số này qua khỏi bậc phổ thông?”.
 Có bài thi văn dài 4 trang mà thày tìm mỏi mắt vẫn không thấy một dấu chấm câu nào . Việc dùng từ sai, viết câu “què”, câu sai cấu trúc là lẽ thường. Một bài làm văn có khi sai đến gần … 100 lỗi dạng này. Truyện “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài có nhân vật Mị, được một thí sinh viết trong bài:

“Mị đẹp hơn ai hết nên rất nhiều bồ. Một hôm trời đẹp ơi là đẹp, Mị được một cậu ấm họ Lí tên là Phá Sa con ông tá điền giàu có đeo được chiếc nhẫn kim cương vào tai và cuối cùng Mị đành vui vẻ nhận và theo về nhà làm vợ luôn. Từ đó Mị sống khổ lắm như là con ngựa nuôi trong xó  bếp không ai thèm dòm tới nữa Mị đã tàn đời...
hoặc :
“ Mị về làm vợ cho nhà bá hộ, vất vả như con bò tót nên Mị trở thành một thứ quái vật, người không ra người, ngợm không ra ngợm...

Chuyện lấy râu ông này cắm cằm bà kia cũng không hiếm. Có  thí sinh lẫn lộn giữa truyện “ Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài với truyện “Chí Phèo” của Nam Cao :
Vì bất bình trước việc dụ dỗ con gái nhà lành, A Phủ đánh Bá Kiến, bị Lí Cường bắt về gạt nợ, trói đứng không cho đi chơi mùa xuân. Bọn chúng thật là dã man. Em đọc đến đây thì bất bình lắm, thương cho A Phủ và hận cha con nhà Bá Kiến.
Hoặc :
A Phủ thấy vợ mình (tức Mị) bị bọn nó hành hạ thì liền xách dao chạy thẳng đến nhà Bá Kiến, đâm chết Bá Kiến rồi tự sát cho chết luôn! (chi tiết này nói về Chí Phèo).
Nhiều đoạn văn thí sinh viết đến thày đọc cũng chẳng hiểu :
“ Xuân Diệu sinh ra sau ngày giải phóng, chứng kiến nhiều cảnh trái tai nên không chịu được. Một hôm Xuân Quỳnh sáng tác bài thơ một từ “sóng”. Đó là sự giải thoát phụ nữ của ông…”
Có lẽ bức xúc trước việc mua vé tàu lửa khó khăn, có thí sinh đã viết về hình ảnh con tàu trong bài “Tiếng hát con tàu” :
“ Chế Lan Viên muốn ngày càng có nhiều đoàn tàu chạy từ miền Nam ra miền Bắc để phục vụ hành khách, không còn xảy ra tình trạng chen lấn khi mua vé, lên tàu như hiện nay... Ông đã mơ ước thay cho nhiều người...
Khủng khiếp hơn, có bài làm từ đầu đến cuối, sáu lần thí sinh quả quyết Xuân Quỳnh là “ông”, vài chục thí sinh gọi Xuân Diệu là bà, cô, chị…Không ít bài thi bỏ giấy trắng. Cũng có nhiều bài nói nhăng nói cuội cho có chữ chứ không ra nghĩa. Một số khác xem bài thi là “diễn đàn” để bày tỏ suy nghĩ, trút cạn tâm sự của mình. Một thí sính thú thật :
 “Cô ơi! Cô đừng chấm bài này, vì em đâu có biết gì mà thi, mẹ và chị em ép em nên em mới đi thi thôi chứ em đâu có muốn”.
Lại một năm học nữa đã qua, kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông 2006-2007 đã tới. Năm nay dường như để đạt tỷ lệ học sinh đỗ cao nên Bộ giáo dục ra đề khá dễ. Bà Phạm Thuý Vĩnh , hiệu trưởng Trường tư thục Ngô Thời Nhiệm, Sàigòn cho biết :”Không hiểu sao đề thi dễ đến vậy?”, ngày 31 tháng 5 năm 2007 , tại  TP.HCM, sau khi thi xong môn văn, nhiều học sinh ở các hội đồng thi Trường Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Quí Đôn, Nguyễn Thị Diệu, Marie Curie..đã hớn hở  ra khỏi phòng thi vì đề  thi khá dễ. Tuy nhiên sau khi chấm bài các thày cô mới ngã ngửa người vì trình độ các cô tú cậu tú năm nay cũng chẳng khá hơn năm ngoái là mấy.
Đề thi “Nêu những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp văn học của Lui Aragông.”, nhiều thí sinh viết bừa rằng đó là một người Nga, sinh ra ở vùng Sông Đông cùng với Sôlôkhốp. Có thí sinh lại “nhầm” Lui Aragông với Mácxim Goócki. Hay dở khóc dở cười… trích tác phẩm của Mácxim Goócki nhưng nêu tên tác giả là Lui Aragông. Hoặc nhầm Lui Aragông với Êxênin theo kiểu: một nửa của ông này (năm sinh, năm mất), một nửa của ông kia (lai lịch, thành tựu, tác phẩm).
Một đề thi khác nêu rõ: “Nhận xét ngắn gọn về tình huống độc đáo trong truyện Vợ nhặt của  Kim Lân”, có thí sinh sau khi lan man đủ điều về tác phẩm liền “gán” ngay Vợ nhặt do nhà văn …Nguyễn Tuân viết. Thậm chí có học sinh miêu tả rất nhiệt tình về nạn đói nhưng khẳng định đó là  nạn đói năm… 2000 chứ không phải nạn đói năm 1945…
Về đề “ Phân tích vẻ đẹp người lái đò trong “Người lái đò trên sông Đà” của Nguyễn Tuân, có thí sinh viết “ Lão mới 70 tuổi nhưng trông như một chàng trai trẻ. “ hay: “bọn đá” gầm ghè”, có thí sinh lại phóng tác: “ông” lái đò trên sông Đà đã dùng hết sức bình sinh nhưng kết quả cũng chẳng có gì. “.Có thí sinh lại dùng cả văn phong truyện kiếm hiệp để viết :” : ông lái đò trên sông Đà đã dùng hết các chiêu  của mình nhưng với sự hung dữ của con quái vật, ông vẫn không đủ công lực để giải quyết nó.
Về đề phân tích cái hay , cái đẹp trong tác phẩm Việt Bắc của Tố hữu, có thí sinh nhầm lẫn tình cảm của kẻ ở người đi - chiến sĩ Cách mạng và chiến khu Việt Bắc  là tình  cảm của một cặp vợ chồng. Thế nên tình cảm riêng tư nam nữ, nỗi nhớ nhung của phụ nữ nhớ chồng khôn nguôi đã được phân tích triệt để…
Về câu “Trám bùi để rụng, măng mai để già”có học sinh viết ba lăng nhăng  như sau:
“trái” măng là những sản vật đặc sắc của núi rừng Việt Bắc. Ngoài cơm chấm muối các chiến sĩ còn được thưởng thức những “củ” trám ngọt bùi, những miếng măng luộc thơm phức của người dân Việt Bắc. Nay các chiến sĩ trở về Hà Nội, người dân Việt Bắc không nỡ ăn mà vẫn “để phần” cho các chiến sĩ cách mạng đến mức rụng cả đi.
Có thí sinh viết lung tung chuyện nọ xọ chuyện kia  : “Trong văn học VN, những tình yêu đẹp thường bắt đầu từ những tình huống kỳ lạ.Ví dụ những chuyện tình cảm của Chử Đồng Tử và Công chúa hay tình cảm mang đậm tính nhân đạo của Chí Phèo và Nguyệt (Nguyệt là nhân vật trong tác phẩm Mảnh trăng cuối rừng.”
 Có thí sinh còn bịa rằng Rừng xà nu được viết trong thời kỳ chống Pháp...
Đi tìm nguyên nhân của tình trạng các cô cậu tú quá “dốt” văn chương , một nữ giám khảo cho rằng đó là do học sinh nắm kiến thức không chắc, không chăm, hoặc học vội nên bị “lú” mặc dù chương trình  ngữ văn lớp 12 là không khó. Thêm nữa, do các học sinh quá quen ngôn ngữ đối đáp rút gọn, ngôn ngữ thoại trong chuyện tranh... vậy nên sự diễn đạt trong văn  chương biến thành không đến đầu đến đũa, cắt xén từ ngữ.
Thực ra căn nguyên của việc học sinh chán ghét môn văn là do nhà trường cứ nhồi nhét cho họ  toàn “văn chương giả”, văn chương phục vụ chính trị : kiểu như thơ Hồ Chí Minh , Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận…., tiểu thuyết của Nguyên Ngọc, Anh Đức, Nguyễn Khải….Bởi thế căn bệnh chán học văn đã trở nên trầm kha từ bao lâu nay mà vẫn không thể  chữa khỏi. Chỉ còn một tháng nữa lại đến kỳ tuyển sinh vào đại học, người ta sẽ còn được  thấy những trò lạ nữa của đám cô tú cậu tú thời nay.
 Muốn chữa căn bệnh ‘dốt văn” cho đám học sinh thời nay trước hết phải thay đổi đường lối văn hoá văn nghệ, chủ trương giáo dục của Đảng, Ban tuyên giáo, Hội nhà văn…rồi mới đến Bộ giáo dục. Đó là công việc chắc phải chờ đến khi có một Nhà nước đa nguyên, đa Đảng.

11-6-2007