Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 31 tháng 8, 2015

NHẬT TIẾN Thềm Hoang: vẫn một tráng sinh lên đường (kỳ 3)


                                                     (tiếp theo)

Tưởng cũng nên ghi lại ở đây là luôn luôn có sự cải tiến về tổ chức sau mỗi kỳ Giải Thưởng Văn Chương. Nhưng có một nguyên tắc không thay đổi là không đòi hỏi một điều kiện nào về nội dung hay hình thức của các tác phẩm. Theo tường thuật của nhà văn Nguiễn Ngu Í, Bách Khoa CXXXVIII  - 113, chủ tịch Hội đồng Giải Văn chương Toàn quốc lần thứ ba, Thu Giang Nguyễn Duy Cần đã nêu lên tiêu chuẩn lựa chọn của Hội đồng, thâu tóm trong hai chữ Văn chương có nghĩa là ý hay lời đẹp và theo ông: "Tác phẩm được chọn sẽ là phản ánh của một nền văn hoá tự do, nghĩa là không bị bó buộc trong khuôn khổ của một hệ thống tư tưởng nào, hay phải theo một khuynh hướng văn nghệ hay chính trị nào cả".   

     Sau khi phát giải, ông Lê Ngọc Trụ, đại diện cho các nhà văn trúng giải, lên phát biểu ý kiến. Ông cho rằng sự lựa chọn ngày phát giải đúng vào ngày huý nhật Nguyễn Du thật là đầy ý nghĩa, và gợi cho ông và các bạn văn trúng giải tinh thần trách nhiệm thiêng liêng, ấy là thiên chức của nhà văn đối với tiếng Việt và nguyện vọng của nhà văn đối với tiền đồ văn hóa Tổ quốc.  [Nguiễn Ngu Í, Bách Khoa CXXXVIII  - 113]

     Đây là Giải Văn chương Toàn quốc lần thứ ba và cũng là giải văn chương cuối cùng của nền Đệ nhất Cộng Hoà. Do những biến động chính trị, Giải Văn Chương của Đệ Nhị Cộng Hoà 1963-75 chỉ được phục hoạt kể từ 1966.

     Cũng nên ghi nhận thêm ở đây, chỉ trong khoảng thời gian ngắn ngủi 9 năm của nền Đệ Nhất Cộng Hoà, giới làm văn hoá đã xây dựng được nền móng vững chắc ban đầu trong sinh hoạt Văn Học Nghệ Thuật của Miền Nam. Các nhà văn nhà thơ được trao giải sau này đều là những tên tuổi lớn của 20 năm Văn Học Miền Nam như: các thi sĩ Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, các nhà văn Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Khắc Khoan, Doãn Quốc Sỹ, Võ Phiến, Nhật Tiến, Linh Bảo...


                      Lễ trao giải Văn Chương Toàn Quốc 1960-1961
nhà văn Nhật Tiến đứng thứ hai từ trái

NHẬT TIẾN VÀ VĂN HÀO NHẤT LINH

     Cuối năm 1955, qua Trương Cam Vĩnh là em nhà văn Trương Bảo Sơn, Nhất Linh nhận được bản thảo Những Người Áo Trắng cũng là tác phẩm đầu tay của Nhật Tiến. Nhất Linh nhận ra văn tài của Nhật Tiến nên đã chọn và đưa ngayNhững Người Áo Trắng cho nhà Phượng Giang xuất bản. Nhất Linh giới thiệu Nhật Tiến vào Văn Bút mà lúc đó Nhất Linh đang là Chủ tịch, và đồng thời cũng mời Nhật Tiến viết cho tạp chí Văn Hoá Ngày Nay. Mối giao tình giữa văn hào Nhất Linh và Nhật Tiến từ 1955 tới 1963 phải nói là sâu đậm.

     Năm 1963, tình hình chính trị Miền Nam cực kỳ biến động nơi các thành phố với những cuộc biểu tình tự thiêu, giữa lúc khói lửa ngập trời do cuộc chiến tranh phát động từ Miền Bắc Bắc đã lan rộng ra khắp cá tỉnh Miền Nam. Cái chết của Nguyễn Tường Tam nhà hoạt động chính trị và Nhất Linh nhà văn là một nét của thảm kịch giai đoạn đó. Đó là một phần của lịch sử.  Cái chết của nhà văn Nhất Linh thủ lãnh của Tự Lực Văn Đoàn là một xúc động lớn cho giới trẻ Miền Nam lúc đó. Người viết muốn ghi lại ở đây một chút riêng tư liên quan tới bản Di Chúc của Nhất Linh.  

      Có lẽ Nhất Linh đã chuẩn bị chu đáo cái chết của mình từ mấy tuần lễ trước. Bị theo dõi, nghĩ rằng bản di chúc của ông có thể bị tước đoạt, thời điểm năm 1963 chưa có máy photocopy, scanner, internet phổ biến như bây giờ. Nhất Linh đã viết thêm một bản di chúc thứ hai giao cho nhóm sinh viên. Lúc đó tôi đang học năm thứ ba Y khoa. Vào những ngày đầu của tháng Bảy, 1963 Nguyễn Tường Quý chở anh là Nguyễn Tường Vũ [con của ông Nguyễn Tường Thuỵ, người anh cả của mấy Anh Em gia đình Nguyễn Tường] xuống Đại học xá Minh Mạng tìm tôi. Quý chờ xe ở ngoài, chỉ có Nguyễn Tường Vũ vào gặp. Không nói gì nhiều, Vũ trao tay cho tôi một phong thư mỏng, cho biết đó là một trong hai bản di chúc viết tay của Nhất Linh: "Nhờ Vinh giữ, khi cần Vinh đưa lại". Khi Nguyễn Tường Vũ ra về, tôi đã lặng lẽ cất bản di chúc thứ hai ấy - như một chứng từ lịch sử, trong tủ sách giữa những trang bộ Từ điển Đào Duy Anh bìa cứng dầy cộm do Nxb Minh Tân, Paris xuất bản.

     Bản Chúc thư ngắn, cô đọng chỉ với 71 chữ:

    "Đời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất về tay cộng sản. Tôi chống đối sự đó và tự huỷ mình cũng như Hoà Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để cảnh cáo những người chà đạp mọi tự do."

7 tháng 7, 1963_ Nhất Linh Nguyễn Tường Tam

     Nhất Linh tuẫn tiết vào ngày 7 tháng 7 năm 1963. Chỉ một ngày sau bản tin của UPI/ United Press International do Neil Sheehan gửi đi sáng ngày 8 tháng 7, 1963 đã phổ biến rộng rãi trên báo chí thế giới:

     "South Viet Nam Eminent Writer Commits Suicide" by Neil Sheehan, "South Viet Nam's most eminent writer committed suicide today as a political protest on the eve of his trial for alledged complicity in the abortive 1960 coup against President Ngo Dinh Diem. Nguyen Tuong Tam [mispelled Pam by Sheehan] 58, who wrote under the pen name of Nhat Linh, left an eloquent testament protesting against Diem's rule. The former nationalist leader died in a hospital after taking poison. The suicise of Tam, considered Viet Nam's greatest writer of the 20th century, came at a time of growing political and religious unrest under Diem's regime. His death was expected to stir further political repercussions, particularly among the country's intellectuals... The text of Tam's short testament said: "History alone will judge my life. I will allow no man to try me. The arrest and trial of all the nationalist opponents of the regime is a crime which will force the nation into the hands of the communists."  UPI 7/8/1963


 Bản Di chúc của Nhất Linh (trái), bản tin UPI (giữa), Nguyễn Tường Vũ (phải) thập niên 1960 [nguồn: Nguyễn Tường Quý, Nguyễn Tường Thiết]

     Và như vậy là bản chúc thư thứ nhất của Nhất Linh đã tới tay báo giới ngoại quốc. Bản tôi hiện giữ không còn tầm quan trọng một-mất-một-còn như lúc Vũ trao cho tôi trước đó. Sau này, qua Ls Nguyễn Tường Bá, tôi được biết bản chúc đã được nhà báo Như Phong chuyển tay cho hãng thông tấn UPI.

     Đám tang Nhất Linh diễn ra ngày 13 tháng 7, 1963. Thành phần đưa đám ông đa số là học sinh sinh viên. Nỗi xúc động của họ đa phần hướng về cái chết của một nhà văn, trong khi các đồng chí của ông thì muốn dán nhãn cho cái chết của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam như một "tuẫn tiết chính trị". Bấy lâu, từ những thập niên 1930, Nhất Linh đã là một khuôn mặt của quần chúng / public figure về cả hai phương diện văn học và chính trị. Phần nào văn học hay chánh trị đậm nét hơn là do tâm cảnh của từng người. Tôi vẫn thấy đậm nét văn học của đám tang Nhất Linh ngày hôm đó. Bức hình chụp chân dung Nhất Linh của họa sĩ Nguyễn Gia Trí, câu đối viếng của thi sĩ Vũ Hoàng Chương với toàn tên tác phẩm của Nhất Linh:



Chân dung Nhất Linh by Nguyễn Gia Trí

"Người quay tơ, đôi bạn, tối tăm, anh phải sống chứ sao đoạn tuyệt

Đời mưa gió, lạnh lùng, bướm trắng, buổi chiều vàng đâu chỉ nắng thu"

                                         (còn tiếp)

Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2015

ĐỖ QUYÊN - Trung-Việt Việt-Trung - Truyện - KỲ 23

                                (tiếp theo)

Chưa bao giờ kể từ sau chiến tranh 1975, nhịp độ thăm viếng các đoàn quân sự cùng nghị sĩ từ Mỹ tới Đại Việt và ngược lại có cường độ dày và chất lượng cao đến vậy. Kết quả: Nói gì thì nói, hai bên đã đi những bước cuối cùng tiến tới sân chơi bình thường hóa thật sự quan hệ của hai nước đối thủ.
Khi Phó Thủ tướng Đại Việt Phạm Bình Sinh đang khoan khoái ngả giấc bồng bềnh trên tàu bay vượt Đại Tây Dương trở về quê nhà thì CSIS - cơ quan chuyên trị “cầm đèn chạy trước ôtô” cho Tòa Bạch Ốc - đã công bố báo cáo “Kỷ nguyên mới trong quan hệ Mỹ-Việt 2014”, với các điều gần đúng như khi họ nói ở thời điểm ông Phạm “chưa được đi Mỹ”, trong đó có 3 trọng điểm:
1. Mỹ cam kết Tổng thống Obama sẽ thăm Đại Việt trong năm 2015; tức là về ngoại giao: rồng lại đến nhà tôm;
2. Mỹ dần dần sẽ thừa nhận Đại Việt là nền kinh tế thị trường và từ từ sớm kết thúc đàm phán TPP; tức là về kinh tế cứ từ từ và dần dần;
3. Mỹ còn nới lỏng nữa, lỏng ơi là lỏng, rồi cuối cùng rút phựt một phát: tháo tung hoàn toàn lệnh cấm vũ khí sát thương; tức là về quân sự: ví dụ, khẩu súng Mỹ vừa trao cho Đại Việt đã có báng súng có cò súng rồi, sẽ có nòng có đạn để… phằng phằng phằng!

Ngày 8 tháng Tám.
Với tiêu đề “Bộ trưởng Phùng Quang Thành sang thăm Trung”, trang mạng của báo Quân Đội của Đại Việt, sau đó BBC (giật tít “13 tướng Đại Việt thăm Trung”) đăng tin Đại tướng Phùng Quang Thành dẫn đầu đoàn đại biểu quân sự cấp cao thăm hữu nghị chính thức Trung, theo lời mời của người đồng cấp Trung, Thượng tướng Thường Vạn Toan.
Tham gia đoàn có 12 tướng lĩnh khác: Trung tướng Bế Xuân Trương - Phó tổng Tham mưu trưởng; Trung tướng Lương Cương - Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Trung tướng Dương Đức Hoa - Tư lệnh Quân khu 3; Trung tướng Phương Minh Hoa - Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân; Trung tướng Võ Trọng Viết - Tư lệnh Biên phòng; Trung tướng Phạm Hồng Hường - Tư lệnh Quân khu 2; Trung tướng Vũ Văn Hiến - Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng; Chuẩn đô đốc Phạm Hoài Bắc - Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Hải quân; Thiếu tướng Phan Văn Tường - Phó tư lệnh Quân khu 1; Thiếu tướng Vũ Pháp Văn - Tư lệnh Thông tin; Thiếu tướng Vũ Đại Thắng - Cục trưởng Đối ngoại; và Thiếu tướng Ngô Quang Liễn - Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng.

Báo Quân Đội: “Chuyến thăm nhằm tăng quan hệ hợp tác hữu nghị toàn diện giữa quân đội Việt-Trung; bàn các phương pháp tăng quan hệ quốc phòng song phương để duy trì không khí hòa bình, ổn định, hữu nghị hợp tác giữa nhân dân và quân đội hai nước.”; và “cũng để tạo quan điểm chung về an ninh quốc tế, khu vực và mỗi nước, tiếp tục tham gia vào sự phát triển lành mạnh, ổn định dài lâu của quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt-Trung, cũng như khẳng định hợp tác quốc phòng là một trong những điều quan yếu trong quan hệ giữa hai Đảng và hai nhà nước.”

Truyền thông nhà nước của Trung hồ hởi phấn khởi ra mặt và đưa tin gần như của báo chí Đại Việt. (Chuyện không dễ thấy ở các sự kiện khác của Trung-Việt Việt-Trung).
“Trong hội đàm giữa Bộ trưởng Quốc phòng hai nước Trung-Việt tại Bắc Kinh, Bộ trưởng Thường Vạn Toan nói: giữa tình hình quan hệ Trung-Việt thay đổi tốt lành như hiện nay, việc Bộ trưởng Phùng dẫn đoàn đại biểu quân sự cấp cao thăm Trung đã chứng tỏ ý nguyện chính trị tích cực của Đảng và quân đội Đại Việt. Bộ trưởng Phùng Quang Thành nói: Đảng và quân đội Đại Việt chân thành mong tăng cường giao lưu và hợp tác với Trung, mong quân đội hai nước trở thành lực lượng nòng cốt gìn giữ hữu nghị Việt-Trung và giữ gìn hoà bình, ổn định của Đông Nam Á.

Hai bên đã đạt được 3 nhận thức chung nguyên tắc tiếp tục phát triển quan hệ giữa hai quân đội. Một, theo phương châm 16 chữ ‘Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai’ và tinh thần 4 tốt ‘Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt’, dần dần phục hồi và tăng quan hệ lành mạnh giữa hai quân đội. Hai, giữ vững đoàn kết giữa hai quân đội, cung cấp bảo đảm vững chắc để củng cố vị thế cầm quyền của Đảng Cộng sản ở hai nước, bảo vệ sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Ba, tuân thủ nhận thức chung quan trọng có được giữa lãnh đạo hai Đảng và hai nước, phát huy vị trí tích cực khi xử lý tốt vấn đề biển đảo, giữ gìn cục diện ổn định, hòa bình.”

Còn bên bờ tây Thái Bình Dương có cuộc hội thảo trong khuôn khổ Câu lạc bộ Biển Đông Cuối Tuần do giới văn nghệ sĩ Việt thành phố Vancouver phát động từ khi đẻ ra cái giàn khoan 981.

Ca sĩ kiêm MC Đỗ Đậu Xanh (dân Hải Phòng, người Việt gốc Hoa, cựu sinh viên thanh nhạc Học viện Âm Nhạc Quảng Đông) đã làm náo hoạt Hội thảo khi khai mạc bài ca “Đại Việt, Canada” 4 thứ tiếng Việt-Trung-Anh-Pháp do chính chị vừa chế tác:

“Đại Việt, Canada
Núi không liền núi
Sông không liền sông
Không chung một Biển Đông
Với tình hữu nghị chưa sáng như rạng đông

Chung Thái Bình Dương
Tắm cùng một đại dương
Tôi nhìn sang đấy, anh nhìn sang đây,
Sớm tối chung nghe tiếng Việt-Canada nói cùng

A... há….
Chung một ý, chung một lòng
Đường ta đi hồng cờ toàn cầu hóa
A... há….
Nhân dân ta ca muôn năm
Đại Việt ta, Canada tây!”     

Nội dung mở đầu chương trình Hội thảo bao giờ cũng là màn cập nhật tin tức Canada, cộng đồng hải ngoại, thế giới và tất nhiên là binh tình trong nước, được tổng quan rất tiểu tiết bởi nữ bác sĩ Elizabeth Nguyễn. Nói thành thạo 4 thứ tiếng theo thứ tự Anh-Pháp-Trung-Việt, trước cộng đồng Việt vị bác sĩ trẻ chỉ dùng thuần một tiếng Việt dù cô gái chưa một lần về quê cha đất tổ; khác với tiền bối là MC Đỗ Đậu Xanh, từng sống gần 40 năm Việt-Trung Trung-Việt, gần 30 năm Canada nhưng chỉ nói được tiếng Việt dẫu hát giỏi 4 thứ tiếng như đã nêu). Từ khi cần đối phó với giàn khoan Biển Đông nhà thiện nguyện Elizabeth Nguyễn (có cha người Tiều Châu dân chài Cà Mau hồi 1979 vô tình vượt biên khi sang thuyền hàng xóm nhậu và có mẹ y tá người thổ dân lãnh thổ Nunavut cực Bắc Canada) đã phải tạm ngưng Chương trình Cơm Có Thịt dành cho học sinh tiểu học nhà nghèo dưới mức chuẩn tại các tỉnh miền núi phía Bắc chủ yếu ở những nơi từng là chiến trường Biên giới 1979.

Sau phần Hội (còn nhiều chương trình xen kẽ như ẩm thực, mua tranh, rượu đấu giá gây quỹ, karaoke và màn chót không thể nào thiếu là nhảy đầm), đến phần Thảo:

Lão thi sĩ Vân Đồn, cựu thủ thủy Quân đội Đại Việt, nhanh nhẹn bước lên bục, có ý trình diễn bắp tay và vồng ngực để bá cáo cùng văn thi hữu tình trạng sức khỏe của lão đã tốt sau cơn bệnh. Lão thi lớn tiếng khi hướng về Họa sĩ Sông Lớn - khách rất quý đến từ thành phố Seattle biên giới Mỹ-Canada và là cha đẻ trường phái tranh Upsidownism:
“Tôi thấy nước mình cứ hay chơi ngược kiểu với thiên hạ. Trong các nguy cơ vũ lực thì quan võ thường hùng dũng, hiếu chiến; quan văn phải khôn khéo, cầu hòa. Nhưng hai thái độ của Phùng Bộ trưởng Quốc phòng và Phạm Ngoại trưởng lại theo họa phái Đảo ngược của ông Sông Lớn. Thế nên không chỉ thằng Tàu mà cả ông Mẽo cũng chả hiểu đầu đuôi xuôi ngược ra sao...”

Cựu đại úy thám báo Quân lực Đại Việt Cộng Hòa, nhà báo Việt Phóng (nickname trên FB là “Tui thấy…”) tiếp lời bằng giọng xự Huệ:

“Tui thấy… Cụ Vân Đồn có lý. Cái lý của một con dân có tổ tiên từng dựng tiền đồn khởi thủy Đại Việt ta kháng Nguyên. Song le, tui thấy chưa hẳn đảo ngược theo kiểu quan văn quan võ mỗi khi các quan ra ngoại quốc đấu khẩu. Tức là, tui thấy các vị đó được phân công, được kiểm duyệt ai nói chi ở mô, ai đi mô làm chi. Vậy thì, tui thấy trong cuộc ‘đấu hót’ này, hè hè cho gọi vui vậy nha, chúng ta hãy cùng coi kỹ phát biểu tại kỳ họp Quốc hội mới rồi của hai ông tướng bốn sao và ba sao.”

Đoạn nhà báo cựu thám báo bảo đứa cháu ngoại (cũng là thông dịch viên tiếng Huế ra tiếng Hải Phòng, Quảng Ninh và ngược lại cho ông ngoại) xòe ra màn hình tablet, rồi ông vừa đọc chậm rãi vừa diễn giải:

“Tui thấy Phùng Bộ trưởng nói bên hành lang với ký giả và các ông bà Đại biểu Quốc hội như sau: ‘Qua làm việc với Bộ trưởng Quốc phòng Trung, Thượng tướng Thường Vạn Toan, chúng tôi thống nhất với nhau phải giữ nguyên hiện trạng, trên Biển Đông phải thực hiện cho đầy đủ DOC. Khi trao đổi với bạn, nói chung bạn ghi nhận ý kiến của phía ta.’ Tui thấy, xin quý vị trong Hội thảo này lưu ý giùm tui: ông Phùng Đại tướng - chứ không phải tui, phóng viên Việt Phóng - dùng chữ ‘bạn’. Riêng tui thấy, không thể có bạn kiểu nhà tôi là nhà anh, của tôi là của anh được! Tiếp tục… Đến lúc các ông bà nghị, à các Đại biểu Quốc hội, théc méc Trung xây dựng đường băng trên đảo Gạc Ma, người đứng đầu quân đội Đại Việt chân thành chia sẻ: ‘Còn hiện nay trên biển, nói thật tình là mọi bên đều có hoạt động xây dựng của mình. Đài Loan cũng xây dựng, Philippines cũng tiến hành xây dựng đường băng, Malaysia có xây dựng và Đại Việt ta cũng có hoạt động xây dựng. Tất cả đều là các hoạt động tôn tạo, nâng cấp, mở rộng và tạo điều kiện thuận lợi cho dân chúng, cho các lực lượng đóng quân trên đảo. Tuy nhiên nguồn lực của ta còn hạn chế nên việc xây dựng quy mô chưa lớn như Trung. Tôi - tức là ông tướng Phùng chứ không phải tui, phóng viên Việt Phóng - thấy rằng, việc các nhà quan sát phán đoán hướng xây dựng của Trung để thành lập căn cứ quân sự với mục đích tấn công thì đó chỉ nên hiểu là dự báo mà thôi. Chứ đương nhiên bên nào đã xây dựng thì đó cũng thành căn cứ quân sự rồi. Chúng ta tăng cường quốc phòng là để tự vệ, khi nào buộc phải tự vệ thì chúng ta mới tự vệ’. Sau đó, tui thấy Phùng tướng quân còn ‘tâm tư’ thêm câu nữa khiến dư luận càng thêm ‘tâm tư’: ‘Riêng tôi thấy lo lắng lắm, không biết tuyên truyền thế nào chứ, hiện nay từ người già đến trẻ con đều có xu thế ghét Trung. Ai nói tích cực cho Trung là ngại. Tôi thấy, điều đó là nguy hiểm cho dân tộc Việt.’


                                           (còn nữa)

Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2015

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 87


3/

                                 (tiếp theo)

Căn nhà riêng để ở chung với nhau đó, nhân chiều thứ Sáu cuối tuần được nghỉ việc sớm hơn thường lệ, về đến barrack thì Yến rủ đi với nàng để xem cho biết. Đến trước một ngõ hẻm của khu vực zone 2 đối diện với trường Huấn nghệ Consortitum thì Yến quẹo vào. Qua khỏi các barrack lợp lá rồi những mái nhà nho nhỏ, hai đứa tôi đi đến gần cuối con đường hướng vào rừng và dừng chân trước một căn nhà có hàng rào vây chung quanh. Một hàng rào làm bằng cây rừng, đan chồng chéo cao ngang thân người phủ kín đầy mồng tơi, một loại rau người miền Bắc thường nấu canh ăn. Căn nhà bé xíu, có một giếng nước nằm mé đằng sau và mé trước nhà là một giàn dưa Tây um tùm. Yến cất tiếng gọi, một phụ nữ trạc tuổi với chị Phượng chạy ra mở cánh cổng thấp cho hai đứa tôi vào. Giàn dưa Tây như một tấm màn che tạo bóng mát cho mặt trước nhà nhưng nó đã cỗi vì chẳng còn một quả hay nụ bông nào cả. Cái nhà, đứng bên ngoài thấy nhỏ nhưng khi đặt chân vào trong thì mới thấy nó khá rộng nếu như so sánh với căn phòng của nhóm chúng tôi ở barrack. Tuy nhỏ nhưng chủ gia cũng ngăn nhà thành ba phần, phần trước là phòng ngoài có cái bàn với hai chiếc ghế đẩu cùng một cái giường đơn kê sát bên vách ngăn. Phần giữa là căn buồng có cái giường đôi cùng cái tủ gỗ nằm sát cạnh nhau và phần sau nhà là chỗ tắm giặt cùng bếp nấu nướng. Nền nhà là các tấm xi măng bể được chủ gia thu gom từ các mặt sân nhà cũ trong trại rồi mang về ken lại khá gọn gàng. Từ phần sau nhà này, qua cánh cửa nhỏ, hai đứa tôi theo chân chủ gia bước ra bên ngoài để xem thêm. Một con heo khá lớn chứa gần đầy nước mưa hứng từ mái nhà chảy xuống bằng cái máng gỗ mỏng manh. Ở một góc sân là một bụi cây bố mọc xum xuê có cành dài chạm cả vào mặt đất. Cây bố này, người miền Bắc gọi là rau đay nấu canh ăn được. Những cây rau ngót cao hơn đầu người đứng thành hai hàng cạnh các bụi mía, luống khoai mì. Các bụi xả lùm xùm che kín chân hàng rào và ở cuối vườn, ngay chỗ phần thoai thoai của mặt đất là nguyên vạt rau thơm đầy tía tô, húng, dấp cá, ngò gai... mầu xanh mầu tím pha sắc bên nhau. Mái nhà được lợp bằng giấy dầu nhựa hắc ín trộn cát mịn còn vách là các thân tre đập dập, vỏ thùng giấy carton cứng nhưng bên ngoài được bọc bằng các tấm nhựa plastic lớn. Thấy có cái thùng múc nước để nằm chỏng trơ trên sàn xi măng, tôi kéo một ít nước từ giếng lên cho Yến xem. Nước trong vắt và không có mùi gì cả. Vậy là được vì Yến mua nhà chỉ vì nàng cần có nước để dùng hàng ngày, nhất là trong các tháng hè. Ở barrack, hàng ngày mỗi buổi sáng tôi và Đỉnh vẫn phải đi gánh nước từ suối gần bệnh viện về xài chung. Con suối đã được Ban đại diện trại tu bổ, khoét dòng cho sâu cùng vét hồ chứa nước rộng hơn trước nhưng vẫn không đủ dùng trước số thuyền nhân đổ vào trại từ các ghe bên Malaysia chuyển sang. Thấy tôi bước lại gần bên cây đu đủ ngay bên hông căn nhà, chủ gia liền đi theo. Chắc chắn cây này đã mọc tự nhiên vì thân nó lại ngáng ngay bên ô cửa sổ của căn buồng nơi phần giữa nhà. Những quả đu đủ mọc đeo chi chít bên nhau ở phần ngọn cây nhưng quả nào cũng chỉ lớn hơn một nắm tay người. Chủ gia với tay hái một quả hườm hườm mầu phớt vàng trên thân xanh và đưa nó cho Yến, bà nói:

- Trông nhỏ trái nhưng ngọt lắm, cô cậu để nó chín đều hẵng ăn cho vui. 

Tôi đảo mắt nhìn về hướng Tây của căn nhà, chút ánh nắng chiều còn sót lại nhưng đã bị hàng cây rừng cao vút gần đó cản bớt. Tôi bảo nhỏ với Yến:

- Hay quá em, buổi chiều nhà mình sẽ bớt nóng là nhờ có mấy cái cây đằng kia kìa... Chỉ phải cái hơi xa khi mình có việc phải lội từ đây ra tới con đường nhựa. 

Khi Yến hỏi dứt khoát thì không ngờ chủ gia đồng ý bán chỉ có ba mươi ngàn Rupiad nhưng hai đứa tôi chỉ được dọn vào ngay trong ngày gia đình họ rời trại. Thỏa thuận như thế là xong. Trên đường về lại barrack, Yến kể thêm: 

- Anh chị Sang chủ nhà này là học trò của thầy Khảm... Họ cũng đã đậu thanh lọc từ đợt xổ trước của thầy và chị Phượng. Thầy mua hộ cho em nên mới có giá đó chứ dễ gì anh.

Đúng! Tiền mua căn nhà chỉ bằng tiền vé tàu cao tốc đi Tanjung Pinang cho hai đứa chúng tôi kỳ vừa rồi. Bao nhiêu công sức chủ gia đã đổ ra rồi thêm các vật liệu mới có được căn nhà như bây giờ. Đành rằng đi định cư thì họ sẽ phải bán nhà nhưng bán với giá như thế thì quá rẻ. 

Buổi tối thứ Bẩy khi ngồi ở quán cà phê với anh chị Khảm-Phượng, tôi kể chuyện về căn nhà thì anh Khảm nói:

- Hai vợ chồng tay Sang này chịu học Anh ngữ lắm. Nói với anh sẽ để lại toàn bộ đồ đạc trong nhà cho hai em khi họ lên đường... chắc cũng không lâu đâu.

Đồ đạc đây là nồi niêu soong chảo, ly tách chén dĩa, mùng mền, bàn tủ... mà chủ gia đang dùng trong nhà. Hầu như thuyền nhân trong trại, khi đi định cư nước thứ ba ai cũng để đồ đạc cho người thân quen còn ở lại. Mang nhiều đồ đạc khi đi định cư thêm rách việc rồi cũng sẽ vất bỏ. Tôi và Yến bàn nhau khi dọn vào căn nhà mới, cũng sẽ để lại cho Bẩy và Đỉnh các món đồ dùng chung của cả nhóm. Anh Khảm kể thêm hai vợ chồng chủ gia này nguyên là công an tại phường 8 của thành phố Mỹ Tho, theo học Anh ngữ nơi lớp anh dạy một thời gian dài rồi thành thân quen nên mới bán cho Yến cái nhà giá rẻ như thế. Những thuyền nhân mới nhập trại cũng có lắm người đang tìm mua nhà vì ai nấy đều muốn tránh cảnh sống chen chúc trong các barrack lợp lá vừa chật chội lại bầy hầy. Anh Khảm dụi mẩu đầu lọc thuốc lá vào cái gạt tàn rồi nói tiếp:

- Cả hai vợ chồng tay Sang này muốn sống bên Úc nhưng phòng định cư Cao Ủy lại sắp xếp hồ sơ họ cho phòng JVA Mỹ phỏng vấn trước. Phỏng vấn rồi phái đoàn Mỹ lại nhận họ luôn thế mới kẹt. Không muốn mà chẳng làm gì khác được, đành chịu thôi. Vũ nghĩ xem, định cư ở Mỹ mà hai vợ chồng họ lại rầu, lại lo... chỉ vì sợ gặp dân chế độ cũ miền Nam VNCH sẽ khó sống.

- Bộ hai ông bà cựu công an này có ân oán gì với dân miền Nam mình hả anh? Tôi thắc mắc.

Anh Khảm lắc đầu phủ nhận rồi nói như một kết luận về câu tôi hỏi: 

- Họ bảo là chỉ muốn yên ổn làm ăn, lập cuộc đời mới trên xứ người, chuyện là công an đã chôn vào quá khứ không muốn nghĩ đến nữa. Anh trấn an họ, nói đừng lo lắng việc đó cho mệt. Sống ở trại tị nạn Galang, gốc gác của họ ai mà lạ hả em! Dân phường 8 của Mỹ Tho vượt biên sang đây thiếu gì người... mà hai vợ chồng có sao đâu. Sang bên Mỹ rồi họ cũng sẽ yên ổn như vậy thôi, người quốc gia mình không có vụ thù hằn dai dẳng như kiểu Việt Cộng làm.

Ở trại tị nạn Galang, dù Cao Ủy đã cho hồi hương về lại Việt Nam mấy chuyến người rồi nhưng thuyền nhân vẫn tiếp tục đổ vào nhiều thêm đến nỗi nhà thầu Titan cất barrack không kịp nên có khi, cả đoàn ghe nhập trại phải ở ngay trên các nền nhà cũ chổng trơ dưới ánh nắng mặt trời. Các phòng bỏ không của nhà thương, có lúc cũng được Cao Ủy mượn làm chỗ trú ngụ tạm thời cho người mới đến. Đưa người hồi hương về Việt Nam, Cao Ủy cũng mang báo chí từ bên quê nhà sang cho thuyền nhân trong trại đọc các thông tin quảng cáo là người hồi hương trở về nay đã nhanh chóng hội nhập vào đời sống bình thường như trước khi ra đi. Trong các ấn phẩm này, có cả các tờ báo của Việt Cộng đăng các mẩu tin mô tả đời sống trong các trại tị nạn người Việt từ bên Hồng Kông đến Malaysia, Thái Lan, Nam Dương và Phi Luật Tân... đâu đâu cũng đều là nơi để băng đảng phục quốc, xã hội đen... hoành hành làm khổ thuyền nhân. Các tờ báo từ trong nước đó, xa gần nhắn nhủ nơi an toàn nhất, nơi cần lựa chọn đến để sống cho các thuyền nhân Việt bây giờ chính là quê nhà. Vậy mà người Việt trong nước vẫn tiếp tục vượt biên và lý giải cho việc này, dân trong trại đồn chuyện:

- Biết đâu do cái tin ở mấy tháng trước trên đài BBC nói nước Kuwait nhận định cư thuyền nhân Việt làm người ta phải hối hả vượt biên ngay vì sợ lỡ dịp nên mới đông người đến trại như vầy. Cũng có thể, người trong nước lờ mờ đoán sắp đến lúc Cao Ủy sẽ đóng cửa vĩnh viễn các trại tị nạn của thuyền nhân Việt nên phải đi ngay không thôi chẳng còn.

Ông Thăng, barrack trưởng cho biết là căn cứ vào thứ tự thì khoảng hai hay ba tháng nữa, ghe chúng tôi sẽ lập lý lịch với Cao Ủy. Nghe vậy, cả barrack vừa mừng lại vừa lo. Mừng vì chờ đợi cái ngày này và nay nó sắp đến. Ai cũng thấy cứ tình hình Cao Ủy thanh lọc như thế này thì càng về sau, sẽ càng khó khai lý lịch. Lo vì chẳng biết bản thân sẽ phải khai sao đây cho tốt. Ai cũng sợ bị rớt thanh lọc. " Phải chuẩn bị từ bản khai lý lịch này, Cao Ủy sẽ dựa vào đó mà phỏng vấn mình, ăn hay thua là do nó ", người trong barrack kháo nhau. Nhóm 5 đứa chúng tôi thông tin cho nhau biết và hẹn ngày cùng vào Galang 2 để gặp anh Đoàn Thạnh Nam, nhờ anh cố vấn cho bản khai lý lịch sắp tới. Tháng 7 vừa qua, ghe CL 135 chúng tôi đã lập lý lịch với phòng an ninh P3V và nay đến vụ khai lý lịch cho phòng Cao Uỷ thì ai cũng cho mình đã hớ hênh trong bản lý lịch kỳ đó. Giờ có muốn bớt đi hoặc thêm vào các chi tiết khác trong cuộc đời mình thì lại sợ Cao Ủy sẽ đối chiếu với bản lý lịch cũ từ phòng an ninh P3V chuyển sang. Ở trại tị nạn Galang, phòng an ninh P3V khi lập được lý lịch của ghe nào xong, họ sẽ chuyển sang cho Cao Ủy biết ngay. Cao Ủy có lý lịch thì sẽ sắp xếp danh sách mà người trong trại gọi là lên lịch để sơ vấn và thanh lọc ngay thuyền nhân của chiếc ghe đó. Cả nhóm vào Galang 2 nhưng tìm anh Đoàn Thạnh Nam thật khó vì thời gian này, anh bận rộn nhiều do công việc phải viết đơn kháng cáo cho thuyền nhân bị rớt thanh lọc. Thêm vào đó, nhiều người trong trại cũng tìm đến anh giống như chúng tôi bây giờ. Galang 1 chỉ có bốn zone đánh số thứ tự từ 1 đến 4 thì ở Galang 2 lại có tới sáu zone mang số A, B, C, D, E và F và trải dài trong một khu vực rộng hơn nhiều. Các barrack, nhà riêng của thuyền nhân nằm xen kẽ với quán xá trong từng zone của trại nên nếu không có hẹn để biết chỗ trước mà đi tìm nhau sẽ rất khó gặp. Đó chưa kể đến các nhà nguyện Tin Lành, nhà thờ Thiên Chúa, chùa Phật Giáo, thánh thất Cao Đài, đình Hòa Hảo... nằm biệt lập ở các chỗ vắng. Có buổi, đi sạc cả giò trong trời trưa nắng mà tìm anh Nam không ra nên ai trong nhóm cũng nản. " Có khi mình tìm chết mẹ ở đây thì ông nội này lại ở ngoài Galang 1, biết đâu đấy! " Đỉnh nhăn nhở nói. Cô Đào bỏ cuộc trước vì lý do phải phụ bán hàng nên không thể vắng mặt ở tiệm mãi được. Kế tiếp là cô Bẩy khi bảo với Yến là sẽ kiếm người khác chỉ dẫn, không cần đi Galang 2 tìm anh Nam nữa. Đỉnh cũng bắt đầu chán cảnh đi tìm lòng vòng nên sau cùng đã bảo với tôi: 

- Lý lịch gia đình em như thế nào, em cứ khai như vậy... Hỏi anh, Cao Ủy không cho em đậu thanh lọc thì nếu hồi hương về Việt Nam em sẽ sống ở đâu, với ai đây? 

Như đã kể ở phần đầu truyện, Đỉnh có cha là nguyên sĩ quan an ninh quân đội chế độ miền Nam VNCH. Bị Việt Cộng lừa đi tù cải tạo trong những ngày đầu khi chúng vào được Sài Gòn nhưng ông trốn khỏi được trại giam rồi sau đó lại vượt biên thành công. Định cư ở Mỹ, ba của Đỉnh gửi tiền về để lo cho cả gia đình nó vượt biên. Mẹ của Đỉnh cùng hai đứa em gái, người nào cũng chỉ đi một lần là thoát. Riêng mình Đỉnh là chật vật, đánh nhiều chuyến mới thành thì lại gặp cảnh Cao Ủy thanh lọc thuyền nhân. Nhân nó nhắc lại chuyện cũ, tôi thắc mắc, hỏi:

- Mày kể cả nhà đi vượt biên hết thì căn nhà bên đó sau cùng ra sao... Bỏ lại cho ai ở?

- Nhà em! Khi chưa liên lạc được với ông già thì mẹ em đã phát bịnh rồi anh. Đồ đạc có giá trong nhà phải bán dần mòn hết để có cái sống rồi cuối cùng đến căn nhà... Mẹ em nằm liệt trên giường như sắp chết, tụi em còn nhỏ lấy đâu ra tiền để sống và để có cái tẩm bổ cho bả. Căn nhà phải nhờ họ hàng thay mặt tìm mối bán dùm mà thời đó rẻ lắm. Xong xuôi, gia đình em phải tạm trú ở nhà người dì ruột cho đến khi có tiền của ba gửi về mới lần lượt đi vượt biên. Công an cắt mất hộ khẩu em từ lâu rồi, phải đậu thanh lọc thôi! Đỉnh cười ranh mãnh sau lời kể.

À! Thì ra. Tôi cũng đồng ý với Đỉnh, chắc chắn nó sẽ qua được thanh lọc bằng diện đoàn tụ gia đình vì cứ qua các lần nhận kết quả vừa rồi, có người hoàn cảnh giống hệt nó mà đã cầm giấy tị nạn ngon lành. Có giấy bảo lãnh của cha mẹ hay vợ hoặc chồng ở nước thứ ba gửi đến thì gần như được Cao Ủy công nhận là tị nạn liền. Đây là sự nhân đạo của luật tị nạn. Anh em ruột, chú bác hay cháu chắt gì... thì giấy bảo lãnh nếu có cũng vô giá trị khi ngồi đối diện với luật sư phỏng vấn. Ăn thua là lời khai về cuộc đời mình khi sống trong chế độ Việt Cộng. Giấy bảo lãnh thuộc loại này chỉ giúp thuyền nhân đi định cư nhanh chóng hơn ngay sau khi người đó qua được ải thanh lọc, thay vì phải chờ có đợt nhận. Chính vì vậy mà Đỉnh không lo lắng lắm đến vụ lập lý lịch Cao Ủy. Có gặp được anh Đoàn Thạnh Nam hay không, nó cũng chẳng màng. 

Nghe chuyện tôi và Yến mua căn nhà để ở riêng thì Đỉnh bảo rồi ra nó cũng sẽ sống trong cái shop của Ánh Diễm ở Galang 2. Nó thêm:

- Không chừng em sẽ ra khỏi barrack trước cả anh và Yến. Cái phòng chung của cả nhóm coi như để lại cho cô Bẩy. Khi ra đi, em cũng chẳng mang thứ gì ngoại trừ quần áo cá nhân. Ánh Diễm sang lại shop tạp hóa thì chủ tiệm cũng để lại cho toàn bộ đồ dùng trong nhà. 

Chỉ còn tôi và Yến đi Galang 2 cho đến một hôm nàng bảo: " Hôm nay em đau chân quá, chắc không đi với anh được ". Thấy tôi yên lặng, nàng tiếp: " Anh coi, kiếm cái ông Nam này khó gặp quá mà nếu có gặp được, em còn phải học thuộc lòng từng câu hỏi câu trả lời nữa cho khớp với dàn dựng lý lịch của mình. Nghe mà phát mệt... Em cũng giống anh Đỉnh, lý lịch mình như thế nào thì cứ khai vậy ". 

Từ lâu rồi, Yến đã nói nếu nhận kết quả thanh lọc mà bị Cao Ủy đánh rớt thì nàng sẽ hồi hương về lại quê nhà để chờ đi định cư sang Úc với người anh ruột. Không muốn thấy Yến về lại Việt Nam nên tôi khuyến khích nàng phải chuẩn bị lời khai từ đầu trong bản lý lịch Cao Ủy, tôi bảo:

- Về Việt Nam đâu có đi sang Úc ngay được, cũng phải có thời gian... Em ở sẵn đây, nếu đậu thanh lọc thì phái đoàn Úc nhận liền, nhanh hơn. 

- Em biết! Nhưng dàn dựng thì phải khai lý lịch cho khác... mà em thì nghĩ mình không làm được. Thôi! Cứ có sao khai vậy rồi đưa giấy bảo lãnh của anh em ra trình cho họ biết. Cao Ủy nếu cho đậu thanh lọc thì chờ đi định cư, rủi bị rớt em sẽ về Việt Nam.

- Nói như em vậy thì vượt biên làm quái gì! Sao không chờ ở quê nhà rồi cũng sẽ đến ngày đi định cư với ông anh ở bên Úc như bao người có thân nhân bảo lãnh cho khỏe. Đi vượt biên đâu phải như làm một chuyến du lịch, em cũng biết ghe mình bị tụi Thái nó đuổi mà.

Thấy tôi nổi cơn bực, Yến im lặng trong chốc lát rồi sau đó nàng nói gắt:

- Kệ em! Anh đừng nhắc lại chuyện cũ. Em nghĩ có chận được ghe mình thì hai tàu Thái đó sẽ lấy sạch tiền vàng là cùng.

Yến chưa từng gặp cảnh khủng khiếp khi ghe vượt biên bị lọt tay tàu hải tặc Thái. Lời nói của nàng dẫn tôi về hình ảnh cũ giữa vùng biển vắng, trên trời dưới nước cùng tiếng kêu cứu của Ánh Phương ở chuyến vượt biên lần trước. Ánh Phương bây giờ ở đâu? Tôi vẫn chưa kể cho Yến biết về chuyện cũ. Hôm bị hai tàu Thái đuổi bắt đó nếu không gặp cây mưa bất ngờ thì rồi cuộc đời của Yến sẽ ra sao? Chắc chắn sẽ không khác với Ánh Phương? Tự nhiên tôi mềm lòng trở lại. " Mình đã bậy! Lẽ ra không nên phát cáu với nàng ". Chút hối lỗi từ trong lòng làm tôi yên lặng. Nhìn vẻ mặt cùng thái độ của tôi, đột nhiên Yến nắm lấy tay tôi, miệng nàng thì thào:

- Anh Vũ! Em xin lỗi... Mình quên việc vừa xảy ra nha anh.

Thật tội nghiệp! Tôi thở dài, Yến còn quá trẻ biết gì mà khai nên khi thấy khó ăn với Cao Ủy, đã chọn cho mình đường binh sẽ hồi hương nếu bị đánh rớt thanh lọc. Cả hai cô Bẩy và Đào cũng vậy vì chính Yến cho tôi biết đã nghe hai nàng con gái này than: " Hồi xưa vượt biên dễ ợt lại không đi để bây giờ đến trại tị nạn thì bị cảnh Cao Ủy thanh lọc ". Yến kể thêm: " Chị Bẩy nói với em, nhà chị ở Vũng Tàu đi vượt biên đâu có khó. Một bước chân là xuống được cá lớn rồi. Chị Đào cũng bảo ở Mỹ Tho nhiều đường dây vượt biên lắm mà đâu chịu đi. Chừng đi thì bị kẹt ". Yến cũng tiết lộ cả hai cô gái đã gửi thư báo tin cho thân nhân bên quê nhà biết về việc thanh lọc của Cao Ủy và họ đều được gia đình khuyên tùy tình hình, nếu khó quá thì hồi hương.

Chỉ còn một mình đi vào Galang 2, tôi đến phòng của anh Đoàn Thạnh Nam và viết một ít chữ trong mẩu giấy nhỏ rồi gửi nó lại cho người ở cạnh bên nhờ chuyển hộ. Mấy ngày sau tôi ghé lại thì người đó nói tôi đến quán cà phê Gió sẽ gặp được anh Đoàn Thạnh Nam. Thật ra giữa tôi và anh Nam có chút tình cảm riêng là vì đã giúp anh dịch thuật các giấy tờ anh gửi đến phòng. Quán cà phê Gió nằm ở trên một chỗ đất khá cao như một ngọn đồi của zone B ngay sau lưng văn phòng an ninh P3V. Tên là quán Gió vì ở vị trí này, gió thổi lồng lộng nên chủ quán trồng khá nhiều cây lớn như một che chắn cho các cái bàn của khách. Tôi đến quán và không khó để thấy anh Đoàn Thạnh Nam đang ngồi cùng với bốn người khách nữa tại một cái bàn nằm khuất ở một góc kín đáo dưới bóng cây tràm bông vàng xum xuê.


                                      (còn tiếp)

YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU – KỲ 208


                  (tiếp theo)



Ong Bí thư huyện lè lưỡi :
“ Nếu đúng như mẹ nói thì còn gì là đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm kim chỉ nam nữa…”
Bà mẹ nhìn bộ mặt méo xệch của ông con , bật cười :
“ Có là quan chức như mấy ông mới ngu lâu thế chứ người dân thường ai người ta tin vào cộng sản, vào Mác Lênin ? Mà tôi cũng đoán các ông chỉ nói cái lỗ  miệng vậy thôi, bao nhiêu năm thời bao cấp các ông quá biết thế nào là chủ nghĩa xã hội rồi mà…trong thâm tâm các ông coi nó như ôn dịch vậy nhưng ngoài cửa miệng cứ phải nói kiên trì đi theo con đường bác Hồ đã chọn. Thế tôi hỏi ông bác Hồ có phải thánh sống không ? Nhỡ bác chọn sai thì sao ?”       
Ong bí thư huyện uỷ vội vàng đưa tay bịt miệng mẹ ông lại, đảo mắt nhìn nhanh ra cửa :
“ Chết chết…mẹ cứ nói báng bổ vậy lọt vào tai thiên hạ nó bẩm báo lên trên thì chết con…”
Bà mẹ chép miệng :
“ Thì tôi cũng chỉ nói riêng với anh thôi. Ai chẳng biết tai vách mạch rừng…sống giữa cái xã hội này mà ruột để ngoài da thì sao giữ được mạng sống…”
Ong Bí thư huyện cắt ngang :
“ Thôi đừng nhắc tới ba cái chuyện chính trị chính em nữa…mai mẹ gặp ông thày mời ông ấy về nhà mình làm lễ cầu siêu. Tốn kém bao nhiêu con chịu hết …”
Bà mẹ giao hẹn :
“ Nhưng anh phải đưa con vợ anh nó tới ngồi cạnh anh nghe chưa ?”
Ong Bí thư huyện cau mày :
“ Chà…chuyện này gay đây…không hiểu nó chịu nghe mình không hay lại thuyết cho một trận bằng sáu câu ba điều Mác – Lênin…”
“ Không bảo được con vợ anh nó tới thì thôi không làm lễ cầu siêu nữa…”
Ong Bí thư huyện vội vàng :
“ Được rồi…được rồi…mẹ cứ tin ở con…mẹ cứ mời thày đi. Lớp lang ra sao mẹ cứ bàn với thày, con chịu hết chi phí…”
Ong Bí thư huyện trở về nhà trong bụng lo ngay ngáy. Trước hết ông chưa biết ăn nói sao với bà vợ về chuyện không đòi lại được tiền cô Doan. Trước khi ông đi vợ đã dặn không những đòi lại hết tiền mà còn khuân hết đồ ông đã sắm cho cô ta từ cái nồi cơm điện, cái lò vi ba cho tới tivi , tủ lạnh, quạt trần…nghĩa là tất cả những gì ông “ đầu tư “ cho cô ta đều phải khuân về hết. Sau nữa là phải đòi cho đủ cả số tiền ông đã trả cho cô ta. Để chắc ăn, bà lập danh sách ghi đủ hết các thứ ông phải thu hồi . Vậy mà lúc này ông trở về tay trắng, không có bất kỳ vật dụng nào, cũng chẳng có lấy một xu mang về. Giờ biết ăn nói với vợ sao đây ?
Chiếc xe con chở ông Bí thư huyện vừa ghé trước cửa nhà đã thấy bà vợ te tái chạy ra. Vừa xách đồ cho ông vào tới phòng khách bà đã hỏi tíu tít :
“ Sao rồi ? Sao rồi ? Ong có gặp được cái con lừa đảo ấy không ? Trả lại con cho nó chưa ?”
Ong thở hắt ra :
“ Tất  nhiên là gặp rồi . Nhưng vừa về cho tôi thở cái đã…”
Ong dề dà tìm kế hoãn binh để lựa lời . Giờ thú thật ông về tay không, tiền không lấy lại được mà đồ đạc cũng không chắc bà sẽ nổi cơn điên la hét ầm nhà. Thôi thôi…chớ có dại. Định bụng thế rồi ông trả lời phứa :
“ Gặp được nó rồi…trả lại con cho nó rồi …nó mừng hú…”
Bà vợ ông vui vẻ :
“ Nó mừng là phải rồi…bỗng dưng lại nhận được đứa con mình dứt ruột đẻ ra …ai không mừng…”
Rồi bà hỏi ngay vào vấn đề chính :
“ Thế nó có trả lại tiền cho mình không ?”
Ong Bí thư huyện  nghĩ bụng nếu trả lời ngay là “có” thế nào mụ vợ cũng nghi ngờ, phải làm ra vẻ thật khó khăn mụ mới tin. Ong lắc đầu :
“ Nó không trả…nó bảo  nó thực hiện đúng hợp đồng là đẻ cho mình một đứa con rồi…”
Bà vợ rít lên :
“ Ai chẳng biết nó đẻ con. Nhưng nó là con thằng cha căng chú kiết nào đó  chứ đâu phải con ông. Như vậy nó can tội lừa đảo , nếu nó không trả mình sẽ kiện nó ra toà ?”
Ong Bí thư huyện giật mình :
“ Ay chết…đưa nó ra toà thì mình cũng tai tiếng…có mà mất ghế …”
Bà vợ vội vàng :
“ Là tôi nói mình doạ cho nó sợ rúm càng cua lại phải nôn tiền ra trả …”
Ong Bí thư huyện uỷ :
“ Con bé này nó cũng biết thừa mình không dám ra Toà nên nó cứ làm tới…”
Bà vợ ông Bí thư huyện la toáng :
“ Vậy ông chịu nó hả ? Hơn trăm triệu chứ có ít đâu ? Bộ tiền là vỏ hến  sao ?”
Ong Bí thư giọng khổ sở :
“ Khổ quá…tôi có nói không đòi lại tiền đâu…chỉ có điều tôi tuyệt đối không doạ đưa nó ra Toà…”
“ Không doạ làm sao ông đòi lại được tiền…”
Ong Bí thư huyện vừa nghĩ vừa bịa chuyện :
“Tôi bảo nó rằng cô được đứa con trai là phúc lớn lắm rồi. Trời chẳng cho ai toàn vẹn trăm phần trăm cả đâu. Ở đời được cái này thì phải chịu mất cái kia.Cô đã được cái phước lớn là đẻ ra một thằng con trai rồi thì cô trả lại số tiền tôi đưa cho cô.”
“ Vậy rồi nó nói sao ?”
“ Thoạt đầu nó cứ khăng khăng, nó bảo tôi tiền đã đội nón ra đi rồi thì làm sao quay về , thôi dẹp chuyện ấy đi, cô ta mời tôi ở lại để nấu cho ăn bát canh riêu cua mà tôi rất thích rồi hẵng về…”
Bà vợ ông Bí huyện uỷ trợn trừng mắt :
“ Làm sao nó biết ông thích ăn riêu cua ?”
Ong Bí thư huyện biết mình nói hớ vội vàng chống chế :
“ Thì nó hỏi mẹ tôi mà. Bà ấy bảo nem công chả phượng tôi cũng không thiết chỉ thích ăn món canh riêu cua thôi…”
Bà vợ nghiến răng ken két :
“ Chắc ông tới nó nấu cho ông ăn canh riêu cua nhiều lần lắm rồi chứ gì ? Chắc lại tình cảm đầy vơi, già nhân ngãi, non vợ chồng lắm rồi. Phải không ?”
Ong Bí thư huyện uỷ lắc đầu rối rít :
“ Không không…tôi ..tôi có ăn canh cua của nó nấu bao giờ…chỉ có một lần…một lần mẹ…mẹ nó nấu thôi ?”
Bà vợ như lửa đổ thêm dầu :
“ Ong lại còn chối hả ? Mẹ nó tay chân run lập cập thế nấu sao được ?”
Ong Bí huyện uỷ toát mồ hôi :
“ Sao…sao bà biết mẹ nó tay chân lập cập…bà gặp rồi hả ? ”
Bà vợ quát :
“ Tôi sợ gì mà không gặp . Tôi tới đúng cái hôm ông ăn dầm ở dề nhà nó từ chiều hôm trước. Vậy mà dám khai với tôi là đi công tác . Trời ơi là trời ơi…”
Ong Bí thư huyện hoảng hồn :
“ Vậy ra bà đã biết chuyện từ khi..từ khi tôi …tôi xuống đó à ? Sao bà  làm thế. Dẫu sao bà cũng đường đường là vợ đồng chí Bí thư huyện uỷ…ai lại lò dò đi đánh ghen bao giờ ?”
Bà Bí thư huyện quắc mắt :
“ Tôi mà lại thèm đi đánh ghen với cái thứ đĩ rạc đĩ rầy ấy à . Mà tôi đâu có đi lò dò…tôi ngồi ô tô hẳn hoi , đường đường chính chính chứ đâu phải loại gái làm tiền như con đó…”
Ong Bí thư huyện giật mình đánh thót. Hoá ra cái tổ ấm của ông với cô Doan đã lọt vào tầm ngắm của vợ ông từ lúc nào chẳng biết. Ong lúng túng :
“ Vậy ra…vậy ra chẳng có gì giấu được bà…Thế bà đến chỗ đó mấy lần rồi ?”
Bà vợ lên giọng chì chiết :
“ Tôi có rỗi hơi mà mò tới tổ con chuồn chuồn của ông. Nói thật nhé…tại vì tôi nghe người ta đồn rác cả tai nên mới đến đó một lần cho biết…Cứ tưởng con bé đó sắc nước hương trời thế nào, hoá ra cũng loại mè mả gà đồng, chó tha đi mèo tha lại rồi mới đến  ông…”
Ong Bí thư huyện uỷ biết máu sư tử Hà Đông đang bốc lên ngùn ngụt nên không dám nổi tự ái, cứ lặng thinh không nói năng gì, ông sợ cãi lại ,  đổ dầu vào lửa thì nguy .
Bà vợ được thể tha hồ xả ra bao nhiêu ghen tuông bực dọc ngấm ngầm chịu đựng bấy lâu nay.
Sau cùng, trút giận thoả thuê bà mới quay về vấn đề chính :
“ Vậy ông đòi được tiền nó không ?”
Ong Bí thư huyện vội vã :
“ Có chứ sao không ? Mình thù lao cho nó 200 triệu , nó nhận con trả lại mình không thiếu một đồng…”
Bà vợ xoè tay hất hàm :
“ Thôi được…vậy tiền đâu ?”
Ong Bí thư huyện uỷ choáng người :
“ Tiền gì ?”
“ Ô hay…tiền nộp cho con đó 200 triệu chứ còn tiền gì ?”
Ong Bí thư huyện uỷ đáp bừa :
“ Tiền đó nó nộp trả mẹ rồi…tiền của mẹ chi ra mà…”
Bà vợ quắc mắt :
“ Mẹ lương hưu chẳng có, buôn bán cũng không, lấy đâu ra những 200 triệu đưa cho ông. Có ông móc tiền trong ví ra thì có …”
Ong Bí thư huyện cãi cố :
“ Này đừng có coi thường mẹ nhé. 200 triệu là cái đinh gì, bố mất đi để lại cho mẹ vốn liếng cả mấy tỉ đồng chứ ít…”
Bà vợ bán tín bán nghi nhưng không có chứng cứ cụ thể nên đành im lặng. Ong Bí thư huyện uỷ được  thể dấn thêm :
“ Tôi nói cho bà biết nhá…mẹ còn cả cái nhà mặt tiền trên phố buôn bán nữa kìa…có điều mẹ giấu thôi…mai mốt mẹ nằm xuống thì còn lọt đi đâu ngoài tôi ra nữa…”
Bà vợ giật thót người , mặt ngây đơ ra, trắng bệch :
“ Nhà mặt tiền trên phố buôn bán ? Oi trời ôi sao ông không bảo tôi sớm để tôi rước mẹ về phụng dưỡng .”
Ong Bí thư huyện uỷ lắc đầu :
“ Bà chẳng chịu đâu. Còn nhớ vụ bà lên chơi năm ngoái , giờ mời được bà về là khó lắm đấy ạ, nhất cô lại cứ đực ra chẳng đẻ đái gì , suốt ngày cứ quẩn quanh ba con số đề , bỏ đói bà cả ngày, bà giận  là phải rồi…”
Bà vợ nóng mắt :
“ Cái đó đâu phải tại tôi…hôm đó tôi đi đền mãi trong Ninh Bình, lẽ ra ông phải gọi điện cho bọn nhà khách huyện uỷ cử người sang nấu ăn cho mẹ ông. Ai ngờ ông cũng mải họp đấu đá quên phứt mất bà cụ đang chờ ở nhà…”
Cái lần đó bà mẹ ông Bí thư huyện uỷ ở mãi dưới quê, lâu lâu chợt nhớ ra ông con lấy vợ cả 6.7 năm nay mà chẳng thấy con cái gì mới sốt ruột quyết định lên huyện thăm coi tình hình sao ? Bà vợ ông Bí thư huyện uỷ được thông báo mẹ chồng sẽ lên chơi liền sa sầm mặt . Lâu nay bà chẳng có thiện cảm gì với bà cứ mỗi lần giáp mặt là lại  lên giọng hỏi han đường con cái với giọng móc máy làm như chuyện không con do bà không bằng. Có lần bà nói thẳng :
“ Chị coi lại xem sao…vợ chồng lấy nhau cả 6,7 năm trời chẳng chịu cho tôi mụn cháu nào. Tôi cũng gần đất xa trời chẳng lẽ nhắm mắt vẫn chưa có đứa cháu nào chít khăn vàng chống gậy đưa tôi ra đồng sao ?”
Bà vợ ông Bí thư huyện cãi lại :
“ Chuyện đó mẹ hỏi chính con trai mẹ đó. Suốt năm suốt tháng cứ chúi đầu chúi tai vào nghị quyết với nghị cò, tối ngày họp hành, hội ý hội báo thì lấy đâu ra con ?”
Bà mẹ chồng bực bội :
“ Chuyện đó trước hết là do người vợ chứ ? Nếu người vợ mắn đẻ thì thằng chồng chỉ cần đi qua đầu giường cũng chửa rồi…”
Bà vợ ông Bí thư tự ái :
“ Cái đó mẹ đi mà tìm có ai  chỉ cần chồng đi qua đầu giường cũng chửa thì rước cô ta về làm dâu , con thì chịu rồi…”
Bà mẹ chồng cáu :
“ Chị nói thế mà nghe được à ? Tôi nói nếu vợ chồng bị hiếm muộn thì trước hết người phụ nữ phải coi lại mình…”
Bà con dâu cũng không vừa :
“ Mẹ bảo con đi bệnh viện phụ sản à ? Con nói thật với mẹ, con chẳng có bệnh tật gì hết. Dòng giống nhà con tuyệt đối không có cái máu vô sinh. Mẹ con đẻ ra cả một tiểu đội kìa. Chị con với em gái con nhà nước chỉ cho đẻ một thôi mà đứa nào cũng 3 con kìa…”
Bà mẹ chồng xem ra đuối lý :
“ Cái đó chẳng biết được. Có khi nhà có cả 5 chị em gái , 4 đứa đẻ như gà, còn một đứa lại tịt thì biết đâu. Cô cứ nên đi khám cho chắc ăn…mà nhất là phải chăm đi lễ bái đền chùa cầu tự…”
Bà con dâu phản công :
“ Mẹ nói cái gì kia ? Đi lễ đền lễ chùa ấy à ? Thế mẹ quên con trai mẹ là ai à ? Bí thư huyện uỷ chứ có phải dân thường đâu. “Ngang lưng thì thắt chủ trương, đầu đội chính sách, vai mang lập trường “ – người thế mà mẹ bảo để cho vợ đi đền chùa cầu tự thì còn đâu là người cộng sản vô thần, tôn thờ chủ nghĩa Mác Lênin . Thành uỷ nó cạo cho thì chết…”
Bà mẹ bĩu môi :
“ Chồng chị mới là Bí thư huyện uỷ thì đã là cái thớ gì ? Bây giờ tôi thấy vợ con các ông lớn gấp 10 chồng chị mà cũng ngồi đồng, cũng đi van vái khắp tứ phương cầu phúc, cầu lộc cho chồng con khỏi dính vào chuyện tù tội vì tham ô, tham nhũng kìa…”
Bà con dâu cãi bướng :
“ Ay…thà cứ là ông bà lớn cỡ Uỷ viên Bộ chính trị, hay Uỷ viên trung ương Đảng, cấp cao hẳn thì lại đi một nhẽ. Những ông bà lớn này làm gì chẳng được, đố đứa nào dám động tới, còn cứ lằng nhằng cấp huyện như ông nhà này thì liệu mà giữ lấy thân, hở sườn ra là có đứa nó đâm chết…”
Bà mẹ chồng tức ắng cổ không nói lại được bà con dâu dẻo miệng, đùng đùng bỏ ra về. Từ đó hai mẹ con chỉ bằng mặt mà không bằng lòng. Bởi vậy lần này nghe tin mẹ chồng lên chơi, bà vợ ông Bí thư huyện uỷ bịa ngay lý do đi đền cầu tự tận Ninh Bình  để tránh mặt.
Khổ thân bà mẹ ông Bí thư huyện uỷ, hôm đó lên chơi với con là quan đầu huyện mà nằm dài trong phòng khách .Con dâu mất mặt, con trai bận tiếp khách thành phố, rồi lại khách trung ương , quên khuấy mất bà mẹ lên chơi, mãi tối mịt mới về tới nhà bà mẹ đã đói lả. Ong Bí thư huyện uỷ kinh hoàng, quát gia nhân dọn cơm cho bà xơi ?
Bà mẹ giọng mát mẻ :
“ Anh đừng mắng chúng nó…chính tôi bảo tụi nó đừng dọn để chờ anh chị về cùng ăn đấy…”
Ong Bí thư huyện vò đầu bứt tai :
“ Khổ quá…con vợ con tự dưng nó lại đốc chứng lên vào tận Ninh Bình đi chùa gì đấy…”
Bà mẹ đai giọng :
“ Phải rồi…chị ấy gớm cái mặt tôi nên nghe tin tôi lên chị ấy đi trốn đấy mà…”

                     (còn nữa)






Thứ Năm, 27 tháng 8, 2015

ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ - Tiểu thuyết NHẬT TUẤN - KỲ 20



Mười chín.
   
“Nếu hoài trên đỉnh Phăngxipăng
“Anh chỉ hát trong mây mờ huyền diệu
“anh Hiếu ơi... dù muôn ngàn giai điệu...
“ Có bao giờ ấm được giá băng”

Đấy nàng viết cho tao vẻn vẹn có bằng đấy thôi, kèm theo là cái thiệp báo nàng đi lấy chồng. Tao cứ cười, cười mãi để rồi thấy nó là chuyện thực chứ không phải là mơ. Cay đắng cho tao chưa? Tao đã đánh bạc cả cuộc đời tao vào tình yêu của nàng, thế ròi bỗng mở bát lên: một con số không to tướng. Lần cuối cùng giáp mặt, mẹ tao chửi tao tên là Hiếu mà bất hiếu, nàng bảo tao rằng không hề gì, thời đại mới, chứ hiếu phải hiểu theo nghĩa mới. Khi tao bị từ chối không được nhận vào trường đại học, nàng bảo tao rằng không sao, anh cứ đi lao động miền núi dăm ba năm rồi về học cũng chưa muộn. Khi tao về phép với hai bàn tay trắng, nàng lại vui vẻ bảo tao rằng vật chất chẳng đáng kể gì, anh về với em đã là một quà tặng vô giá rồi... Đấy, trên đời này còn có ai cảm thông, an ủi, khuyến khích tao như nàng được không? Nàng viết cho tao những lá thư chan chứa nhớ thương, tin cậy và hy vọng. Trời ơi, mày không thể biết được đâu, “sông sâu cá lội biệt tăm, phải duyên chồng vợ ngàn năm em vẫn chờ, “ nàng đã viết cho tao như thế đấy, ha ha, ngàn năm em vẫn chờ... vẫn chờ... Đến thế thì ai mà tính đến chứ ngờ, không, lần về phép năm ngoái nàng vẫn nồng nàn, vẫn thắm thiết, vẫn đưa tao ra tận bến xe ấn vào tay nắm cơm, không một dấu hiệu nào, không một linh cảm nào gợi lên sự ngờ vực cả “ Khi xe anh chạy xa rồi, em vẫn còn nhìn theo, nhìn theo mãi...”
Nàng còn viết cho tao như thế đấy. Ấy thế rồi như sét đánh giữa trời quang, đùng một cái nàng bỏ tao đi lấy chồng, như thế là thế nào, tao hỏi mày như thế là thế nào?
Đầu óc tao đông cứng lại, miệng đắng ngắt, cơn rét run làm da nổi gai, ngực tao đau nhói như máu trong tim đã khô kiệt, tao bất lực, phó mặc thân xác cho tuyệt vọng nó hành hạ, cấu xé. Ôi, mày không thể hiểu được đâu, một khi Thượng đế đã chết trong ta, một khi cái bệ đỡ cho ta trụ được trong cái kiếp sống lầm than này đã sụp đổ và rồi đúng như người ta nói “Ngó tới tương lai trào nước mắt, ngoảnh nhìn quá khứ toát mồ hôi”, với tao chỉ còn cái chết là cách giải thoát thuận tiện nhất. Đúng lúc chúng mày xúm xít quanh mâm rượu, tao lẻn tới võng thằng cấp dưỡng ăn cắp khẩu súng chạy ra rừng. Tao chọn đám cỏ tranh sạch sẽ nằm xuống, tiếng chim gõ kiến cứ bổ “cộc cộe” trên đầu, tới số rồi, nó giống như tiếng gõ cửa của định mệnh trong bản giao hưởng của Beethoven đấy, tao kê súng vào cằm và nhắm mắt lại. Thế rồi khi tao đặt ngón tay vào cò súng làm nốt cái động tác cuối cùng trong đời, bên tai bỗng vang lên những tiếng cười khả ố của chúng mày. Một cơn giận ngùn ngụt bốc lên trong tao. Bọn khốn nạn, chúng nó cười ngay bên cái chết của mình. Tao nghĩ ngay đến chuyện một thằng công nhân địa chất khổ cực quá không chịu nổi đã tự tử chết trong rừng để rồi phải kỷ luật khai trừ Đoàn rồi mới được chôn. Chắc chắn rồi tao cũng thế, cũng nằm dưới dáy huyệt chờ lão toán trưởng đọc cho xong cái quyết định khốn nạn kia rồi mới được lấp đất. A ha, đừng hòng nhé, cứ chờ đấy mà phê phán, kỷ luật tao, không, tao không được chết, tao phải sống, sống để chọi nhau với mọi thứ xấu xa, bỉ ổi đề vượt lên đầu tất cả chúng mày, cả lão toán trưởng, cả cái con búp bê phản bội kia, tất cả... Như một tia chớp lóe lên trong tao, bỗng chốc tao thấu hiểu rằng chính từ nay tao mới bắt tay vào xây dựng sự nghiệp, một sự nghiệp hiển hách tao đã mơ tới từ những ngày bị hành hạ bởi cái mà mày gọi là “nỗi buồn con nhà giàu, đúng như thế đấy, chỉ chạm mặt với cái chết, tao mới bừng tỉnh ngộ. Thế là tao nghiến răng bóp cò, a ha, tao không bắn vào thân xác tao đâu. Tao ghếch súng lên bắn con gõ kiến, bắn vào cái định mệnh khốn nạn cho thôi đừng gõ nữa, bắn vào con người cũ của tao, con người ngớ ngẩn, ngây thơ chỉ “biết hát trong sương mù huyền diệu trên đỉnh Phăngxipăng. “Đúng đấy, nàng búp bê đã viết cho tao rất đúng đấy. Bây giờ thì tao đã hiểu, chính cái hố thẳm trong con người nàng đã dạy nàng cách gọi sự vật đúng với tên của nó. Bây giờ thì tao đã hiểu cuộc đời này nằm trong chính hai bàn tay tao. Thế là quả tên lửa đã được đặt lên bê phóng. Bay lên đi, bay lên đi hỡi chú ngựa chiến...


PHỤ LỤC :

 LES GOUFFRES DE L’ÂME

Entretien de Mireille Gansel avec Phan Huy Duong

La Quinzaine Littéraire, n° 840
          
                                (suite)

MG : A propos d’amour et d’histoire personnelle, ce qui me semble tout à fait novateur dans ce livre, c’est aussi le fait que des hommes se remettent en question à travers leurs relations à la femme.
PHD : Dans ce roman, les femmes ont un rôle particulier. Ce sont elles qui, en définitive, donnent un sens à la vie de ces nouveaux damnés de la terre. Le Cantinier supporte cette existence absurde par amour pour sa mère : il veut lui payer une maison avec un vrai toit. Le Gendarme déserte sa mission par amour pour la femme du chef de la milice de son village. Il ne renonce à cet amour qu’en apprenant que la femme est enceinte de son mari. Respect de la mère, respect de la vie. Le Chef, au seuil de la mort, réaffirme le seul véritable amour de sa vie, une femme qu’il a été forcé, par le Parti, d’abandonner avec son enfant. Il la réhabilite à ses yeux et aux yeux de ses compagnons sinon à ceux de la société. Le narrateur achève le récit sur la seule note un peu optimiste : son amour pour une jeune femme des minorités des montagnes rencontrée au cours de ses pérégrinations. « Dans cette maison sur pilotis, devant ce feu joyeux, je me sentis vivre dans une autre humanité où chaque rire du vieillard, chaque parole de la jeune femme faisait résonner en moi un nouveau rythme […] En moi montait un désir d’embellir l’âme humaine. »
MG : Ce personnage du narrateur m’amène à une question : qui est Nhât Tuân, l’auteur du roman ?
Voici ce que l’auteur dit de lui-même. Né à Hanoi en 1942, je l’ai quitté à 16 ans pour travailler en forêt afin de rééduquer l’homme ancien en moi et créer l’homme nouveau. En 1964, je suis parti construire la ‘piste Ho Chi Minh’ à travers la Cordillère Truong Son. En 1968, je suis revenu à Hanoi pour travailler en informatique. En 1973, j’ai été réengagé comme éclaireur dans le génie militaire au Sud-Vietnam. En 1976, j’ai travaillé aux Éditions de la Culture de Hanoi. Actuellement, je travaille comme journaliste à Saigon. J’ai publié dix romans, cinq recueils de nouvelles. Après Retour à la Jungle, Flamme froide publiée en 1991 à Saigon a retenu l’attention du public.

                                (à suivre)

      HỐ THẲM TRONG TÂM HỒN

           Trao đổi giữa Mireille Gansel và Phan Huy Duong
                      La Quinzaine Littéraire, n° 840

                                          (tiếp theo)
   M.G :Về chủ đề tình yêu và đời sống cá nhân , với tôi dường như hoàn toàn được sáng tạo trong cuốn sách này,nó cũng là vấn đề những người đàn  ông luôn luôn phải đối diện với vấn đề quan hệ của họ với phụ nữ.
PHD : Trong cuốn tiểu thuyết này, phụ nữ đóng một vai trò rất quan trọng. Chính họ thực tế đã tạo cho những người  đàn ông bị đầy đọa một ý nghĩa của cuộc sống. Thằng cấp dưỡng chịu đựng cái cuộc sống phi lý này bởi tình yêu với mẹ.Nó muốn kiếm tiền để làm một cái mái ngói cho mẹ.Thằng hộ pháp bỏ việc để tìm về với con vợ thằng xã đội. Nó đành phải bỏ lỡ cuộc tình khi nhận ra người yêu đã có bầu với chồng. Tôn trọng tình mẫu tử. Tôn trọng cái quy tắc của đời sống. Ông toán trưởng, trước khi chết , xác nhận tình yêu đích thực nhất trong đời ông chính là người  phụ nữ ông đã bỏ rơi kể cả đứa con theo lệnh Đảng.Ông đã phục thiện trong con mắt của chính ông, của đồng đội và của cả xã hội.Người kể chuyện kết thức cuốn sách ở một điểm duy nhất lạc quan :tình yêu của anh ta với cố thiếu nữ người thiểu số trên vùng núi gặp trong một chuyến lang thang." Dưới mái nhà sàn và ngọn lửa đang reo vui kia, tôi như được sống trong một nhân loại khác, ở đó, mỗi tiếng cười của ông già, mỗi lời nói của cô gái đều ngân vang trong lòng ta một âm điệu mới khiến ta cảm giác như được nghỉ ngơi trong yên ổn thinh không và chỉ còn lâng lâng một khao khát làm đẹp tâm hồn con người.
MG :" Nhân vật dẫn truyện này đưa ta đến một câu hỏi :Nhật Tuấn, tác giả tiểu thuyết là ai ?
PHD : Đây là những lời tự thuật của chính tác giả. Sinh ở Hànội năm 1942, năm 16 tuổi tôi phải lên rừng làm việc để cải tạo con người cũ và xây dựng con người mới.Năm 1964 tôi tham gia xây dựng đường Hồ Chí Minh dọc theo dải Trường Sơn. Năm 1968 tôi trở về Hànội làm công tác thông tin khoa học kỹ thuật.Năm 1973 tôi tình nguyện tham gia trinh sát công binh  ở miền Nam Việt Nam. Năm 1976 tôi làm việc ở Nhà xuất bản Văn học Hànội. Hiện nay tôi làm việc như nhà báo ở Sàigòn. Sau "Đi về nơi hoang dã", năm 1991, tôi xuất bản "Lửa lạnh"ở Sàigòn được công chúng chú ý.

                   (còn nữa)


SỐNG NHƯ LÀ CHẾT - -Tiểu thuyết NHẬT TUẤN - KỲ 29


            Chương 29



Hẻm ruột gà khu Lăng Cha Cả đây rồi. Mới hơn nửa năm đã khác hẳn, Cửa nhà đóng im ỉm. Người thưa thớt . Lác đác vài cái bàn nhựa kê ra vỉa hè hai ba ông già ngồi uống  trà mặt sầu não, u uất. Chiến dịch đưa dân đi kinh tế mới đang bầy ra khắp thành phố . Gã lần mò tới căn nhà bữa trước rụt rè gõ cửa. Một  cái đầu bù xù thò ra nhìn gã :
" Ông hỏi ai ?"
" Tôi muốn gặp hai mẹ con ở đây …"
Nhìn thấy con búp bê và ký lạp xường trong tay gã, người đàn ông gật đầu  :
" Mời ông vào nhà.."
Căn nhà trống rỗng . Giường và tủ biến mất thay thế là một cái bàn nhựa nhỏ kê góc phòng. Thấy gã cứ tò mò nhìn quanh, người đàn ông lên tiếng :
"Nhà này bán cho tôi rồi…"
Gã sửng sốt :
" Mới bán à ?"
" Được ba tháng rồi. Bán dần hết đồ đạc rồi đến bán nhà…"
Gã vội vã :
" Vậy hai mẹ con cô gái dọn đi đâu rồi ?"
Chủ nhà hết nhìn mặt gã lại nhìn con búp bê rồi mới buông giọng :
" Vượt biên rồi .."
Gã như bị táng vào mặt, rụng rời:
" Vượt biên ? Hóa ra cô ta bán nhà để lấy tiền vượt biên ?"
Chủ nhà gật đầu :
" Người lớn 3 cây, con nít cây rưỡi…nộp đủ cho chủ đầu chủ đuôi rồi đi xe lam tới Bãi Đá Vũng Tàu lên thuyền…"
Gã cau mặt :
" Tôi nghe nói tàu vượt biên mỏng manh như cái vỏ trứng mà chứa mấy chục người ? Vậy mà cũng đi ?"
" Chớ sao ? Mười phần thì chín phần chết một phần sống. Chưa biết đi đâu, cứ ra khơi đã. Nào công an bắt tại bãi, nào cảnh sát bắt trên biển, nào hải tặc , nào hư máy, nào hết dầu, nào gió bão…bao nhiêu hiểm nguy mà vẫn cứ đi , vậy mới gọi là hải đạo kinh hoàng.."
Gã kêu lên :
" Trời ơi..sao cô ấy đưa con vào chỗ chết vậy ? Sao cứ phải đi, không đi không sống được sao ?"
Chủ nhà cười gằn :
" Ở cái xã hội này đến cái cột điện có chân nó cũng đi…"
Gã lo lắng :
" Vậy ông có tin gì của cô ấy không ? Đã tới Mỹ chưa ?"
Chủ nhà nhìn chằm chằm vào gã rồi buông thõng :
" Chết rồi…"
Gã nghe như có tiếng nổ bên tai, rụng rời :
" Chết rồi ?"
" Nghe nói gặp hải tặc bị cướp, hiếp rồi dìm tàu xuống biển phi tang tích..Cả trăm con người sống sót được hai thằng thanh niên…"
Gã chế lặng hồi lâu rồi xin ba nén nhang thắp cho hai mẹ con quá cố. Gã thẫn thờ nhớ lại cái đêm hôm ấy. " Anh ơi… anh là bộ đội cụ Hồ , đúng không ?... Anh đến với em với tình cảm vậy là em hạnh phúc lắm rồi..  Anh đi…mạnh khỏe  nha…chắc  mình không còn gặp lại.. »
Vậy từ lúc đó cô gái đã dự định bán nhà vượt biên  ? Dù chỉ một phần ngàn tia hy vọng cô vẫn đi, để rồi táng mạng đáy biển trong một bi kịch lịch sử vĩ đại sau tháng 4 năm 1975 , 50 đứa con bà Âu Cơ xuống biển nhưng không giống như cuộc ly hôn đầu tiên trong lịch sử dân tộc, họ chạy trốn những tai ương đang dồn đuổi tới bước đường cùng ngay trên quê hương họ.
Để lại túi quà cho chủ nhà , gã thất thểu ra khỏi con hẻm ruột  gà và lang thang gõ gót vỉa hè,  ngơ ngác ngẩn ngơ như người rừng về  thành  phố. Gã không thuộc về cái gia đình chất ngất cả đồ đạc, giường chiếu quần áo, nồi niêu , bát đĩa,xoong chảo lên chiếc xe bò đang được đẩy ra ngoài thành phố cùng lũ con lít nhít, nhếch nhác . Chắc chắn họ đang đi xây dựng kinh tế mới . Ấnh mắt bi thương và sầu muộn của người vợ đâm nhói vào lòng gã. Nom họ như những kẻ tội đồ đi về miền địa ngục. Gã cũng không thuộc về những người gầy còm, mặt mũi vêu vao vì thiếu ăn, thiếu ngủ nằm ngồi la liệt dưới gầm cầu. Hẳn là không sống nổi ở khu kinh  tế mới họ đã trốn về. Gã cũng không thuộc về hai anh bộ đội đang ghếch chân lên xe đạp trò chuyện oang oang ngay giữa đường . Gã cũng không thuộc về một thằng người mặt mũi phì nộn ngồi xe hơi biển xanh đang bóp còi inh ỏi xua đuổi những người đi bộ lếch thếch trên phố. Không, gã chẳng thuộc về loại người nào. Gã như con chó hoang bỏ rừng vào thành phố. Không quá khứ, không hiện tại cũng chẳng có tương lai. Gã như ngôi nhà hoang bốn bề gió thổi. Hốt nhiên gã nhớ lại bài thơ làm khi còn ở ngoài Hànội :
        " Về đâu đêm nay khi không còn em ?
Ngọn đèn đỏ chắn đường và tôi đôi mắt đỏ
- con chó hoang sục sạo nấc trong đêm."
Vẻ mặt cô gái đêm hôm đó vừa rạng rỡ vừa âu lo cháy rát trong gã. Em đã nằm sâu chôn chặt dưới đáy đại dương. Thật không ngờ con tim ngủ yên bao năm nay gã trao cho một cô gái điếm. Thì đã sao ? Cô lương thiện, chân thật gấp mấy lần những kẻ bất lương, dối trá  nhan nhản xung quanh gã. Cô đã dũng cảm vựợt  qua những bất hạnh chế độ mới đổ xuống đầu, cầm bằng thà đi vào cõi chết còn hơn là chung sống với nó. Mẹ con cô tuy bỏ xác dưới biển sâu. Nhưng cuộc bỏ phiếu bằng đôi chân đó đáng khâm phục biết bao. Hàng trăm ngàn người như cô đã lặng lẽ chấp nhận cái chết còn hơn sống nhục . Họ đã nằm sâu dưới đáy biển mà không nói gì. Phải chẳng rồi đây lịch sử sẽ lên tiếng đọc điếu văn cho những oan hồn tức tưởi đó.
Trở về đơn vị, gã lầm lì, mặt mũi rầu rĩ khiến thằng tiểu đội trưởng phải kêu lên :
" Mày sao thế ? Cứ như thằng mất sổ gạo vậy ?"
Gã làu bàu :
" Chẳng sao cả…có sổ gạo đéo đâu mà mất ?"
Thằng tiểu đội trưởng gật gật :
" Thôi được, mày sao kệ mày, sáng mai nghỉ trực, sửa soạn ra Bắc với tao !"
Gã tròn mắt :
" Có chuyện gì thế  ?"
Thằng tiểu đội cười cười :
" Đi làm chính sách hậu phương quân đội…"
Gã tròn mắt :
" Mày nói gì lạ thế ? Cái đó tụi quân lực lo chớ ?"
Thằng tiểu đội trưởng gật gật :
" Vẫn biết thế…nhưng đây là chuyện tình nghĩa…"
" Tình nghĩa ? Tình nghĩa là cái chó gì. Chuyện gì nói thẳng ra…"
  Thằng tiểu đội trưởng chậm  rãi :
«  Đi về quê thăm gia đình và trả balô cho thằng có bố ngủ với con dâu đò… »
Trời, gã nghĩ lại cái chết của thằng đó ngồi dựa gốc cây với lỗ đạn trên trán và buổi hạ huyệt thằng quân lực đòi đọc khai trừ đảng rồi mới cho chôn.Không hiểu tại sao cái lúc đó gã lại nổi giận, gầm lên như con thú :
" Câm ngay…câm ngay…mang cái quyết định khốn nạn của mày về họp chi bộ mà đọc…lúc này tao cấm mày không được đọc…Mày đọc thêm một chữ tao giết mày "
Gã nhớ lại gương mặt tái mét của thằng quân lực vừa đi giật lùi vừa dọa nạt :
«  Rồi chúng mày biết tay tao… »
Tất cả những chuyện đó tưởng đã đào sâu chôn chặt vào quá khứ. Ngờ đâu nay lại sinh chuyện về thăm và mang trả balô cho thằng có bố ngủ với vợ của nó.Gã chợt nổi cáu với thằng tiểu đội trưởng :
«  Mày đi đi…tao không đi đâu … »
Thằng tiểu đội ngạc nhiên :
«  Sao vậy ? Có dịp ra Bắc chơi sao lại từ chối ? »
Gã nói như quát :
«  Tao đéo muốn nhìn mặt lão già với đứa con dâu của lão.. »
Thằng tiểu  đội nghiêm mặt :
«  Nhưng đây là công tác, mày dám từ chối sao ? Mà đó là chuyện gia đình nhà nó, việc gì tới mày mà nổi cáu ? »
Gã nói như quát :
«Vô đạo dức, đảo lộn luân thường đạo lý, bố chồng ngủ với con dâu mà mày không tởm à ? Cứ thế này riết rồi mai kia ngửi cứt không còn biết thối ! »
                          (còn nữa)

27-8-2015