Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 31 tháng 8, 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 70 - Nhân chuyện nhà báo bị tước thẻ…

             
      Ở  đâu không biết, chứ ở VN, với mọi người, quan trọng nhất là…cái thẻ.  Các em gái miệt vườn muốn đổi đời bằng lấy chồng Đài Loan, lên thành phố xin  vào các Công ty nước ngoài bán sức lao động với giá rẻ mạt, thậm chí đứng đường bị bắt vào đồn…nhất nhất đều phải có thẻ chứng minh nhân dân, tức thẻ “chứng minh” rằng mình là “nhân dân” chứ không phải Việt kiều “vượt biên” từ Mỹ trở về. Các bác xe ôm, người đi xe máy…nhất nhất đều phải có thẻ lái, thẻ chủ quyền xe, thẻ bảo hiểm…nếu không muốn thực hiện thủ tục “đầu tiên” với cảnh sát giao thông.
           Thôi thì khỏi bàn tới các loại thẻ “nhạy cảm” như thẻ Đảng, thẻ Đoàn,thẻ đại biểu quốc hội, thẻ công an…riêng các nhà báo, quan trọng bậc nhất cũng vẫn là…cái thẻ, không có nó thì khỏi  ưu tiên qua phà, khỏi miễn phí qua trạm giao thông và nhất là khỏi nhận phong bì ở các cuộc họp ra mắt hoặc tổng kết , giới thiệu sản phẩm của các công ty, không có nó thì hết chuyện hù doạ để ăn tiền “bảo kê” mấy anh doanh nghiệp tư nhân, hết chạy “xin” quảng cáo vốn là nguồn thu nhập không thua trúng số, hết chạy tới lấy tin , chụp hình tại các vụ cháy nhà, xe cán người, cảnh sát bắt ma tuý, hiện trường các vụ cướp của giết người…
Thẻ nhà báo đối với nhà báo quan trọng như thế bởi vậy một khi bị Nhà nước “rút thẻ”, các nhà báo thật chẳng khác gì con chiên bị rút phép thông công. Vậy thì ai là người có cái quyền “to tát” đến như thế ? Xin thưa rằng chẳng cần tới quý Bộ trưởng Bộ văn hoá thông tin , chỉ cần Ngài Cục trưởng Cục báo chí đặt bút ký là nhà báo bị …rút thẻ như chơi. Vậy thì quý Cục trưởng từ xưa tới nay đã hạ bút ký lệnh rút bao nhiêu cái thẻ nhà báo rồi. Cái đó thì chính đồng chí Đỗ Quý Doãn cũng chịu chẳng nhớ được , chỉ mấy anh nhà báo Trần Mai Hạnh,Hoàng Long, Quang Thắng… bị lôi ra toà về tội “ăn tiền”  Năm Cam  hiển nhiên bị “rút thẻ “ lẽ đương nhiên.
 Thế còn số nhà báo bị rút thẻ vì phạm vùng “cấm bay”, mó dế ngựa vào chỗ “nhạy cảm chính trị” thì có ai không ? Tất nhiên là có chớ, nhiều là khác, nhưng Cục báo chí chẳng nói ra ai biết được. Hồi đó có nhà báo Duy Chiến, phóng viên báo Nông nghiệp Việt Nam vì viết bài moi móc đồng chí Ut Phương, Chủ tịch tỉnh Bình Dương “bảo kê” cho Hoàng “lựu đạn” – con yêu râu xanh , nỗi kinh hoàng của chị em bán quán dọc xa lộ Đại hàn, đồng chí Chủ tịch còn tổ chức cưới chồng cho con gái mà khách khứa lên tới …3000 người được mời dự đại tiệc và tiền “phong bao” lên tới vài tỷ, trên 500 xe đời mới đỗ kín mấy phố . Đến khi báo đăng ra, đồng chí Út Phương cho lính thu sạch số báo và kiện ngược lại nhà báo Duy Chiến là…vu oan giá hoạ cho lãnh đạo. Thế là thẻ nhà báo của Duy Chiến bị Cục trưởng Đỗ Quý Doãn ký lệnh thu hồi cái rụp, mãi 6 tháng sau mới trả lại thẻ cho đương  sự kèm vài câu an ủi “ nhà báo cần rút kinh nghiệm”.
           Nhà báo bị “rút phép thông công” nữa là phóng viên văn hoá văn nghệ báo Người Lao động, thường trú tại Càmau vì bài viết “ Kính gửi ông Trần Mạnh Hảo” đăng trên báo Văn Nghệ trẻ số ra gần đây. Thư viết :
        “Lạ thật, ông là một nhà thơ thì cứ lo làm thơ, cứ hướng tâm hồn mình vào trời trăng mây nước và . . . em cho nó thanh thản, ai lại mang nỗi ức chế về ba cái chuyện SGK của mấy ông Bộ Giáo dục làm gì, không khéo lại mất ăn mất ngủ, mà cũng may cho ông là bọn Năm Cam nó đang ở trong tù, nếu không coi chừng ông toi mạng.”
       Đọc qua thì chưa thấy, đọc lại mới thấy nhà báo xỏ xiên “mấy ông Bộ giáo dục” chơi sát ván, thuê đàn em Năm Cam xin “tí huyết” ông Trần Mạnh Hảo cũng nên. Và chẳng riêng gì “mấy ông Bộ giáo dục, bài báo cũng vạch trần nhiều ông Bộ trưởng khác cũng nhăm nhăm lập dự án để móc tiền tỷ của Nhà nước :
       “Người ta bảo ông người thực dụng, hay nói đến chuyện tiền nong.Hàng tỷ đồng được ông nhắc đi nhắc lại. Nhưng ông phải biết thông cảm,làm Bộ trưởng, Thứ trưởng mà không biết lập ra dự án nầy dự án nọ để đầu tư thì lấy gì để nuôi cả một . . . bộ máy, lấy gì để lo cho tương lai con cháu lúc về hưu. Đó là nỗi “bức xúc” chung của nhiều Bộ trưởng chớ không riêng gì ngài Bộ trưởng GD-ĐT kính mến của chúng ta.”
     Bôi bác như vầy thì còn gì là uy tín của Chính phủ Cộng hoà XHCN Việt Nam khi có “ nhiều ông Bộ trưởng” chỉ bức xúc lập dự án để lấy tiền nuôi bản thân mình và nuôi tay chân, lo cho con cháu ? Rồi như sợ rằng chửi “nhiều ông Bộ trưởng chung chung như thế thì rồi ông nào cũng nghĩ :” chắc nó chừa mình ra”, tác giả điểm mặt, gọi tên cụ thể :
        “ Cái dự án cải cách SGK mà ông chửi bới thậm tệ ấy thật ra cũng chỉ vài chục tỷ đồng là cùng, chưa bằng năm mươi phần trăm cái cảng cá mà Bộ Thuỷ sản vừa xây xong cách nay hai năm ở Cà Mau…”
          Thế là rõ nhé, Ngài Bộ trưởng Bộ thuỷ sản “lập dự án” xây cảng cá chỉ để mà :
         “…góp phần tích cực cho chiến lược …an toàn giao thông vì có nơi cho … trẻ con đá banh, giải quyết được tình trạng hỗn loạn giao thông do trẻ con có thói quen đá banh ngoài đường…”
      Mà chẳng phải có một cái cảng cá xây xong chỉ để cho con nít đa banh mà còn có nhiều cái nữa :
         “Tôi chưa có điều kiện để tìm ra số liệu trên cả nước, nhưng riêng đồng bằng sông Cửu Long thì đã có ít nhất năm cái bãi tha ma như thế được gọi là cảng cá, ước tính tiêu tốn khoảng vài trăm tỷ đồng, mà thực trạng xây dựng cơ bản của nước ta hiện nay thì ông quá hiểu, nó không đơn giản như cái chuyện in sách giáo khoa để ông có thể đếm được từng trang mà tính toán…”
Mà chẳng riêng gì Bộ thuỷ sản xây cảng cá, Ngài  Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn xây “đê điều” cũng chẳng kém gì bên Bộ “bạn” xây cảng cá . Nhà báo cho biết :
Tôi không hiểu dựa trên cơ sở khoa học nào để người ta lập ra cái gọi là Dự án ngọt hoá bán đảo Cà Mau, có nghĩa là để dẫn nước ngọt từ sông Hậu về bốn tỉnh vùng nước mặn như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang với tổng số vốn là một ngàn bốn trăm tỷ đồng để rồi cuối cùng trở thành chuyện ném tiền qua cửa sổ bởi vì kết quả của dự án chỉ làm đảo lộn môi trường sinh thái “
Chuyện này ông nhà báo chưa viết rõ là hệ thống đê này dân đã…phá bỏ hết để nuôi tôm, 1500 tỉ đồng đã trôi ra …vịnh Thái Lan. Hết đê, lại đến…đường. Ong nhà báo vạch áo cho người xem lưng  :
Nhưng thật ra, một ngàn bốn trăm tỷ đồng lãng phí cho dự án ngọt hoá bán đảo Cà Mau cũng chỉ là số tiền lẻ so với chương trình một triệu tấn đường với hai mươi sáu ngàn tỷ đồng cho bốn mươi mốt nhà máy đường trên cả nước mà hiện nay đang đứng trên bờ vực của sự phá sản…”
Hình như “xả chưa hết” , ông nhà báo còn quèo thêm chuyện “đê điều ở đồng bằng sông Cửu Long :
“Đó là những con số cụ thể, những công trình làm nghèo đất nước đang thách thức dư luận, chưa kể đến những công trình thoát lũ, ngăn lũ, vượt lũ ở đồng bằng sông Cửu Long đã ngốn hàng chục ngàn tỷ đồng mà lũ thì mỗi năm lại nghiệt ngã hơn, tai hoạ càng thảm khốc hơn, nghèo đói càng chất chồng hơn . . . trong khi người dân vùng lũ chỉ cần một bộ cột đúc để cất nhà cao, một chiếc xuồng, một tay lưới và một bè nuôi cá năm mười triệu đồng thì họ có thể làm giàu ngay trong mùa lũ.  “
 Vậy thì còn biết trông vào ai để “gỡ rối” chuyên thất thoát hàng ngàn tỉ của Chính phủ ? Trông vào ...quốc hội chứ còn ai ? Quốc hội là “cấp trên” chính phủ mà . Ấy thế mà tác giả bài báo giở giọng riễu cợt “cơ quan quyền lực cao nhất” của nhà  nước :,
Tôi xin lấy vài ví dụ nhỏ để ông nhà thơ thông cảm mà bớt đi cái sự nổi nóng của mình, mà đừng lớn tiếng xỉ vả ngài Bộ trưởng GD-ĐT trong lúc Quốc hội đang họp để bàn bạc nhiều chuyện quốc gia đại sự, trong đó hẳn có nhiều vấn đề nghiêm trọng liên quan đến nền giáo dục ưu việt của nước nhà.”
Và sau cùng, bài báo “đúc rút bài học kinh nghiệm” chung của các thành viên Chính phủ :
“làm Bộ trưởng mà không biết đẻ ra các dự án từ tỷ nầy sang tỷ nọ thì nhậm chức để làm gì, loại trừ những Bộ không thể xoay ra dự án thì người ta mới đầu tư quyền lực cho thế giới ngầm như ông Phạm Sĩ Chiến hay ông Bùi Quốc Huy.
Oi chao ôi, “khái quát” hình ảnh của các vị Bộ trưởng trong Hội đồng chính phủ đến như thế thì còn quý vị nào đứng ngoài chuyện “xoay dự án” nữa đây ? Thế là đã rõ, nhà báo chẳng qua chỉ là mượn cớ “Gửi thư cho ông Trần Mạnh Hảo” để làm một bản “báo cáo hoạt động của chính phủ “ trong các nhiệm kỳ của ông Thủ tướng Phan văn Khải  , một bản báo cáo “phản biện” hoàn toàn bản báo cáo ông Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mới đọc trong phiên khai mạc kỳ họp quốc hội mới đây. Chỉ tiếc “bản báo cáo tổng kết” của ông nhà báo chẳng được trình bày trong bất cứ hội nghị nào mà chỉ được in trên báo để …bà con đọc chơi.
  Hình như mượn danh nhà thơ Trần Mạnh Hảo cũng chưa đủ, ông nhà báo còn mượn thơ một nhà thơ Sàigòn để bày tỏ tâm trạng mình :
“  Ta sinh ra gặp buổi nhiểu nhương
Bất lương bàn luận chuyện hiền lương
Nho sĩ cúi đầu làm binh sĩ
Thơ quốc doanh cười cợt thơ Đường…”
Oi trời ôi, nghe nói sau khi đọc xong bài báo, ngài Bộ trưởng Bộ VHTT hồi đó là Phạm Quang Nghị đập bàn :” Võ Đắc Danh là cái thằng nào mà viết láo thế ? Tước ngay thẻ nhà báo của nó …”. Thế là ông Cục trưởng Đỗ Quý Doãn vội vàng xuống lệnh thu hồi ngay lập tức cái thẻ  đó kèm theo một cái công văn khiển trách nặng nề đồng chí Hữu Thỉnh, Tổng biên tập báo văn Nghê đã để “lọt” một bài báo “láo đến thế”.
Lại cũng nghe nói sau khi bị tước thẻ, nhà báo Võ Đắc Danh đã làm đơn khiếu kiện đi khắp nơi. Thôi ông ơi, con kiến còn khôn hơn ông, nó có kiện củ khoai bao giờ ?

NT







       

HẺM BUÔN CHUYỆN - KỲ 176 - Đoạn này bỏ…xuống dòng đọc tiếp




                

Tối nay chị Gái hủ tíu bấm bấm sao ra ngay cái đài đang có muá hát.  Một bên tốp con gái mặc áo xường xám đỏ tượng trưng cho Tàu, một bên tốp con gái mặc áo dài trắng tượng trưng cho Ta. Cả hai bên đều ẹo  ẹo cái eo, đá đá cái chân, vung tay lên tận nách, hát véo von :
Việt Nam-Trung Hoa, núi liền núi, sông liền sông, chung một biển Đông, mối tình hữu nghị sáng như rạng đông.
Thằng Bảy xe ôm la toáng :
“ Phản động…phản động …”
Ong đại tá hưu đập  bàn quát :
“ Thằng Bảy xe ôm kia ? Sao mày dám nói láo. Người ta hát “ Việt Nam Trung Hoa – núi liền núi sông liền sông…” sao phản động hả ?”
Thằng Bảy xe ôm sừng sộ :
“ Thằng Trung Quốc nó bắn giết, cướp bóc ngư dân ta, xâm chiếm các đảo  của ta , vậy mà dám hát “mối tình hữu nghị sáng như rạng đông “ hả ? Ngay đến ông Nguyễn Tấn Dũng cũng nói ta không chơi trò “hữu nghị viển vông”…”
Ông đại tá hưu quát :
“ Chuyện đó xưa rồi. Mới đây đồng chí Ủy viên Bộ chính trị Lê Hồng Anh đã sang Trung Quốc nối lại quan hệ thân thiết gắn bó, vừa là đồng chí vừa là anh em giữa hai đảng rồi…”
Cô Phượng cave cười rinh rích :
“ Vậy nay đảng ta xào lại 16 chữ vàng hả chú Ba ?”
Bà tổ trưởng đỡ lời :
“ Chớ sao ? Mà 16 chữ vàng đã ôi thiu bao giờ mà phải xào lại. Vẫn vàng chóe kìa…”
Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :
“ Tưởng vụ thằng Trung Quốc đặt dàn khoan đảng nhân dân ta đã “tỉu hà ma cái lị thằng Tàu “ rồi, đã nhét 16 chữ vàng vào lỗ đít rồi, giờ lại móc ra không sợ thúi hoắc ?”
Ông đại tá hưu đập bàn :
“ Thằng xe ôm kia, sao mày dám nói nhét 16 chữ vàng vào lỗ đít  hả ? Phản động…phản động…”
Cô Phượng cave cười rinh rích :
“Không nhét vào chỗ đó thì nhét vào đâu ?”
Bà tổ trưởng cao giọng :
“ Không nhét vào đâu cả , chỉ dùng làm kim chỉ nam cho việc xây dựng và củng cố tình hữu nghị anh em giữa Việt nam và Trung Quốc thôi…”
Ông đại tá hưu cũng cao giọng :
“ Tụi bay không biết , tại cuộc gặp, đồng chí Lê Hồng Anh khẳng định Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn coi trọng và mong muốn cùng với Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc không ngừng củng cố và thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung phát triển lành mạnh, ổn định lâu dài. ..”
Chị Gái hủ tíu thật thà :
“ Đảng và Nhà nước coi trọng và mong muốn hữu nghị với Trung Quốc phải rồi. Còn nhân dân ta có muốn vậy đâu, ghét thằng Tàu thấy mồ tổ…”
Bà tổ trưởng quát :
“ Cái chị này quanh năm bán hủ tíu chẳng biết cái gì. Bác Hồ đã nói “ý đảng lòng dân”. Đảng đã quyết định chuyện gì là lòng dân theo sát chớ sao  ?”
Cô Phượng cave thắc mắc :
“ Nói chuyện với Tập Cận Bình đồng chí Lê Hồng Anh phải giở giấy ra đọc. Đọc cái gì vậy hả chú Ba ?”
Ông đại tá hưu còn đang ngớ ra thàng Bảy xe ôm đã cười hô hố :
“ Đồng chí Lê Hồng Anh đọc : “ Đảng và Nhà nước quyết thắt chặt…quyết thắt chặt… đoạn này bỏ, xuống dòng đọc tiếp ?”
Cả quán phá ra cười, chị Gái hủ tíu thắc mắc :
“ quyết thắt chặt…đọan này bỏ là sao ?”
Cô Phượng ccave cười rinh rích :
“ Là lỗi thằng đánh máy, lẽ ra bỏ đoạn ấy theo ghi chú của thằng thư ký, đằng này cứ đánh nguyên si làm đồng chí Lê Hồng Anh cứ thế đọc…”
Cả quán bò ra cười. Riêng ông đại tá hưu và bà tổ trưởng mặt đỏ tía tai…

31- 8 - 2914 


CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 69 - NHÀ VĂN KHÔNG CÒN BIẾT PHẪN NỘ



 

Bài trả lời phỏng vấn với tựa đề “ Cách mạng không đào tạo được trí thức lớn “  của nhà văn Nguyễn Đình Chính trên Talawas ngày 2 tháng 1 -2007 đã đưa ra một vài ý kiến khá thẳng thắn.
Về phương pháp hiện thực XHCN ông thừa nhận :
Cái gọi là HTXHCN ấy chỉ là một phương pháp què quặt, một sự nguỵ biện, để mà thực hiện một cái hiện thực nửa vời và điều đó đã hạn chế rất nhiều giá trị của các tác phẩm nghệ thuật. Chính vì thế hàng loạt tác phẩm đã bị chết yểu. Chết trước tác giả.”.
Về trí thức xã hội chủ nghĩa, ông cho biết :
Thế nên ông bố tôi, anh Thi, khi còn sống có nói với tôi thế này: Ở mình nó có sẵn một cái đường ray rồi, mọi người chỉ còn có một việc là chạy trên đó thôi. Thế thì làm sao có thể sản sinh ra trí thức lớn được. Tôi nghĩ rằng ở mình không có trí thức lớn. Cách mạng không đào tạo được trí thức lớn. Nguyễn Đình Thi không phải là một trường hợp ngoại lệ. Mặc dù hội tụ rất nhiều điều kiện cần, Nguyễn Đình Thi vẫn thiếu một cái điều kiện đủ để trở thành một trí thức lớn.”
Về vai trò “làm loạn” của các nhà văn, ông Nguyễn Đinh Chính huỵch toẹt :
“Vì các nhà văn Việt Nam hiện nay (trong đó có tôi) là những người vô cùng nhút nhát và đặc biệt là rất tôn trọng, nếu không muốn nói là rất sợ pháp luật. Người liều mạng nhất đã tự thiến mình đi để sẵn sàng làm giặc là nhà văn Dương Thu Hương thì cũng vừa chạy sang xin định cư ở Pháp để chuyên tâm vào công việc viết tiểu thuyết rồi. Những ai e sợ các nhà văn sẽ nổi loạn thì hãy yên tâm. Còn những ai hy vọng các nhà văn Việt Nam sẽ nổi loạn thì tôi thành thật khuyên các vị hãy tự mình dập tắt niềm hy vọng đó đi. Dã tràng xe cát biển Đông mà thôi… Tôi cam đoan các nhà văn không bao giờ dám nổi loạn. Thế lực chính trị nào ở trong nước và ở ngoài nước mà hy vọng và mong muốn các nhà văn Việt Nam nổi loạn thì thật là ngây thơ.”
Bài trả lời phỏng vấn đã nhận được sự đồng tình của một số nhà văn trong nước và hải ngoại. Sau đây là bài viết của nhà văn Nhật Tiến gửi nhà văn Nguyễn Đình Chính :

California ngày 4 tháng 1 năm 2007

             T/g anh NGUYỄN ĐÌNH CHÍNH,
                   
                     Tôi đã đọc kỹ bài của talawas đã phỏng vấn anh. Xin có một đôi điều trao đổi. Trước hết là một vài quan niệm của anh về :
                     - trí thức (Anh nói : Tiêu chuẩn đầu tiên của trí thức lớn là phải độc lập về tư tưởng, phải suy nghĩ bằng chính cái đầu của anh, và anh phải thể hiện ra trong các hoạt động bằng chính cái tư tưởng, suy nghĩ của anh.);
                      - về tự do sáng tác (Anh nói : Tự do sáng tác là một thuộc tính rất cá biệt chỉ thuộc riêng nhà văn. Không một thế lực nào có thể tước đoạt cái quyền đó ngoại trừ chính nhà văn);
                     - về sự làm tha hoá thẩm mỹ của đám đông do giới phê bình trong nước đã gây ra (tất nhiên không phải toàn thể);
                     - về thái độ viết lách của nhà văn (Anh nói : Tốt nhất là các nhà văn Việt Nam không nên ngồi nhận lương viết văn. Ai giỏi thì nên tự trả lương cho mình bằng nhuận bút, còn thì nên kiếm sống bằng một nghề nào đó trong xã hội) ...
                     - và về sự minh bạch của anh khi anh phân biệt rạch ròi hai trường hợp khác biệt  đi làm cách mạng của những vị như Nguyễn Thái Học, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh với Nguyễn Đình Thi (Anh nhận định: Nguyễn Đình Thi là một trí thức của phong trào cách mạng cộng sản.).
                     Tất cả những quan niệm kể trên của anh, tôi đều chia sẻ và hết sức tâm đắc.
                                                                  *
                      Ngoài những điểm nói trên, tôi có 2 điều muốn trao đổi:
                      1) Về phong trào NVGP và vụ Văn nghệ Đổi mới năm 1990: Dĩ nhiên là anh có trong tay di cảo của Ông cụ thân sinh (về Phong trào NVGP) và sự có mặt tại chỗ vào thời điểm 1990 ( về vụ đổi mới văn nghệ), nên với cả hai yếu tố này, anh là người hoàn toàn có thẩm quyền hơn tôi về sự nhận chân thực chất của hai biến cố văn nghệ này và có thể đưa ra một kết luận khả tín về những phong trào đó. (Ẩn giấu bên dưới là những âm mưu, những đầu cơ vốn liếng chính trị cá nhân để tự bảo vệ mình nhằm tranh giành quyền lực ở văn nghệ và cũng ở một nơi khác ngoài văn nghệ. Đám anh em văn nghệ sĩ chỉ là những quân bài, những bung xung bị đem thí như thí tốt.).
                    Cũng theo anh thì: “Di cảo của Nguyễn Đình Thi có giải mã cả hai vụ này. Có đúng sự thật hay không thì tôi không biết. Nhưng đó là một quả bom. Và chúng ta hãy kiên trì đợi quả bom đó nổ vào năm 2014, nếu như từ bây giờ đến năm đó không có ai làm hộ anh Thi.”
                    Bẩy năm nữa không phải là một thời gian dài, chắn chắn độc giả cũng muốn và có thể chờ đợi quả bom ấy được tung ra, chưa biết nó chứa đựng những gì, nhưng qua những điều tuyên bố mấp mí của anh, hẳn nhiều người cũng có thể đoán ra sự thực là thế nào (Cụ nhà văn đồng ý với tôi là nên cho những phần tài liệu này trong di cảo của Nguyễn Đình Thi được hoá vàng. Theo cụ, nếu bóc mẽ cả hai vụ ra thì thảm hại quá cho cái giới văn nghệ này. Thế giới người ta cười cho thối ruột. )
                   Tôi không đồng ý với “Cụ nhà văn” này, vì sự thật cần phải trả cho lịch sử, mọi sự che giấu đều không nên làm vì nó tỏ ra vô trách nhiệm với những thế hệ đi sau, nhưng tôi thấy lo ngại cho cái điều kết luận sẵn có của anh về 2 vụ này mà qua văn phong của bài phỏng vấn mà người đọc có thể  cảm nhận được. Đại để như đó chỉ là những cuộc tranh giành quyền lực ở  trong giới văn nghệ và cũng ở một nơi khác ngoài giới văn nghệ.
                Có thực là toàn bộ những người đã tham gia những phong trào ấy đều là nhưng người cầm bút muốn tranh giành quyền lực không ?  Đành rằng nếu có sự thực là “Đám anh em văn nghệ sĩ chỉ là những quân bài, những bung xung bị đem thí như thí tốt”, nhưng cũng chẳng thể vì thế mà cái mộng ước (đồng ý là chưa thể gọi là lý tưởng) về tự do cầm bút của họ lại bị lên án là tranh giành quyền lực và những đóng góp cũng như những đau khổ mà họ phải chịu đựng lại bị nhấm chìm trong cái bể ô nhục mà di chúc của Nguyễn Đình Thi sẽ bật mí  ra.
                 Vì không thể để những người có lòng phải bị vùi dập tới hai lần, nên khi nhắc tới những vụ này thì cần phải có một thái độ cẩn trọng, một sự phân biệt rạch ròi những kẻ có ý đồ riêng tư với những người có thực tâm muốn đem lại một bầu không khí mới mẻ cho văn nghệ  vào những thời điểm đó. Cũng vì thế ta nên trân quý những nỗ lực tốt đẹp của nhiều người đã thực tâm đóng góp cho hai phong trào ấy. Những điều này, những thái độ thận trọng này, theo ý tôi, cần phải biểu lộ ngay từ bây giờ chứ không phải chờ tới lúc di cảo của nhà văn Nguyễn Đình Thi được công bố. Nhưng rất tiếc, hình như anh đã mang sẵn thành kiến với tất cả mọi người tham gia hai phong trào này, và anh đã gây cho người đọc cái cảm nhận “Họ là cá mè một lứa.”
                
                 2) Về thái độ của các nhà văn trong đời sống sáng tác bây giờ :
                 Anh đã phát biểu rằng:” nhà văn thì nên đứng ra ngoài lề xã hội, ngậm miệng ăn tiền, ngồi quay mặt vào tường mà viết văn thì mới là nhà văn lớn, mới là nhà văn khôn ngoan, biết điều.”
                 Và từ quan niệm viết lách này, anh đã đưa ra lời khuyên nhủ :
                  “Những ai e sợ các nhà văn sẽ nổi loạn thì hãy yên tâm. Còn những ai hy vọng các nhà văn Việt Nam sẽ nổi loạn thì tôi thành thật khuyên các vị hãy tự mình dập tắt niềm hy vọng đó đi. Dã tràng xe cát biển Đông mà thôi.”.
                  Tôi hoàn toàn không đồng ý với anh về những luận điểm này.
                  Một nhà văn mà chỉ ngồi quay mặt vào tường mà viết văn thì hắn viết cái gì? Dấu vết xã hội nơi hắn đang sống có chỗ nào để hiện diện trong tác phẩm ? Mà khi nhà văn viết ra tác phẩm lại không có dấu vết xã hội (dù dươi dạng thức nào) thì có đáng gọi là nhà văn không, chưa nói là nhà văn lớn ! Mặt khác, đồng ý với anh là hầu như đa số các nhà văn không biết nổi loạn hay không muốn nổi loạn, nhưng phẩm chất cần thiết của một nhà văn là Phẫn Nộ. Có phẫn nộ mới có thể nói thay cho những người khác muốn nói mà họ không có khả năng nói lên được.  Vậy thì chỉ riêng  cái phẩm chất này cũng đủ để nhà cầm quyền hết còn yên tâm được rồi, chứ không thể như anh nói : “Những ai e sợ các nhà văn sẽ nổi loạn thì hãy yên tâm.”
                 Anh sẽ chỉ đúng khi nào chứng minh được rằng tất cả giới cầm bút trong nước nay không còn ai biết Phẫn Nộ.
                   Riêng tôi thì tuy không có điều kiện sống thực tế với môi trường sáng tác ở ngay trong nước, nhưng thành thực mà nói, tôi không tin điều này. Có thể là tôi đã ngây thơ, nhưng thà chịu nhận mình ngây thơ còn hơn là mắc phải sai lầm.
                   Sau cùng, tôi mong ước vọng của anh thành sự thực khi anh phát biểu: “Rất tiếc là chưa được phép ra báo tư nhân. Nếu được phép thì mấy anh em bạn văn chúng tôi sẽ ra một tờ báo văn nghệ cho...vui.”.
                  Có lẽ khi ấy thì tôi cũng sẽ cố gắng gửi bài đóng góp với anh, nếu (lại nếu!) tới lúc đó tôi còn sức khoẻ để tiếp tục viết được!
         
             Thân ái
         
           NHẬT TIẾN


                   



         
         

         

Thứ Bảy, 30 tháng 8, 2014

BÁC BA PHI ĐI THĂM MỸ - KỲ 125




                                      (tiếp theo)




Cô Ut kêu lên :

“ Sao tía cho rằng 3000 đô la Mỹ chẳng là gì với tụi con bên này. Tía tưởng tụi con in ra tiền chắc ? Tía nhầm to rồi, như “lão già” này chẳng biết thu nhập bao nhiêu nhưng con đoán bác ấy “ăn tiền già” tháng chắc gì được 900 đô la…”

Bác Ba Phi buột miệng :

“ Thế còn vợ chồng cô ?”

Cô Ut đang ngập ngừng chẳng biết nói năng làm sao, chị Kelly Thi đã đỡ lời :

“ Ở bên Mỹ này người ta kỵ hỏi thu nhập lắm bác ạ. Con nói thật, ngay cả vợ chồng lắm khi không biết thu nhập thật của nhau nữa kìa …”

Bác Ba Phi kinh ngạc :

“ Vợ chồng mà còn không biết thu nhập của nhau thì còn gì là vợ chồng ?”

Chị Kelly Thi cười cười :

“ Vậy mới nói…ở Mỹ  dù  vợ chồng chăng nữa mỗi người vẫn có “ khung trời riêng” . Mỗi người mỗi việc, mỗi thu nhập và mỗi tài khoản riêng luôn. Chẳng như ở Việt Nam mình, vợ chồng chung tủ, chung ngăn kéo và …lục túi nhau là cái sự thường…”

Bác Ba Phi thở dài :

“ Tôi goá vợ lâu rồi nên không biết sao . Ở nhà chỉ thấy vợ chồng thằng Đậu cả đời chẳng gửi tiết kiệm riêng bao giờ.Con vợ ngày đi làm thuê được đồng nào dắt lưng, đêm về thằng chồng lột sạch là thường. Thằng chồng kiếm được đồng nào đưa hết cho vợ đồng nấy, lắm khi muốn đi nhậu phải ăn cắp tiền vợ…”

“ lão già” cười lớn :

“ Bên này mà chồng ăn cắp tiền của vợ, nó báo 911 thì đi tù liền.”

Bác ba Phi tròn mắt :

“ Lại còn vậy nữa kìa ? Vậy thì sao gọi vợ chồng được ?”

Chị Kelly Thi giải thích :

“ Thì cũng tại vợ chồng thằng Đậu thu nhập quá thấp, tính ra tiền Mỹ  chắc chỉ vài chục đô la . Bởi vậy tụi nó tiêu chung, giật qua giật lại được. Còn nếu như vợ chồng là doanh nhân, ngay ở trong nước thôi, thu nhập tính ra cả vài trăm triệu đồng tiền Việt thì nhất định vợ chồng đều có tài khoản riêng đấy ạ. Không thể cái kiểu “góp tiền góp gạo “ nấu cơm chung theo cách vợ chồng thằng Đậu được đâu. Ở bên Mỹ này, vợ chồng tỉ phú đều có luật sư riêng., có những quy định rất chặt chẽ về tài sản chung, tài sản riêng chứ chẳng có ù xoẹ như ở Việt Nam đâu. “

Cô Ut tán đồng :

“ Chị Kelly Thi nói đúng đó. Con có ông bạn Việt kiều về mua cho bố cái biệt thự từ mãi năm 1990. Hai năm sau ông bố goá vợ, ba năm sau ông bố cưới một bồ nhí có giá thú đoàng hoàng. Anh bạn Việt kiều cứ tưởng ngôi biệt thự mua cho bố cả 5 năm trước hôn nhân thì cô vợ nhí kia đừng hòng xơ múi gì. Ay vậy mà khi đi đổi sổ đỏ, cô ta móc ngoặc với bọn Phường, Quận sao đó nghiễm nhiên đứng tên đồng sở hữu với chồng - tức bố anh bạn Việt kiều.  Khi đã chắc ăn rồi cô ta mới nộp đơn ra Toà đòi ly hôn và đòi chia một nửa cái biệt thự…”

Chị Kelly Thi ngạc nhiên :

“ Sao kỳ vậy. Tôi biết ở Việt Nam người ta vẫn phân biệt tài sản vợ chồng trước khi kết hôn và sau khi kết hôn mà. Nếu đúng luật thì cô vợ nhí này sao đòi chia nửa cái biệt thự vốn  anh Việt kiều mua cho bố từ trước khi bố tái giá mà ?”

Cô Ut gật đầu :

“ Lẽ ra vậy. Nhưng vì sổ đỏ của cái biệt thự đứng tên cả hai vợ chồng nên khi ra Toà xử, ông chồng chỉ được một nửa, nửa kia phải chia cho cô vợ nhí mới khổ chớ. Đó …chính vì ở Việt Nam luật pháp không rõ ràng nên mới nảy sinh ra trường hợp chiếm nhà như vậy. Còn ở bên Mỹ này ấy à, luật pháp nó chặt chẽ, đừng có hòng giở trò lừa đảo ra nhé…”

“lão già” chen ngang :

“ Đó cứ bảo người Việt Nam trọng tình trọng nghĩa nữa thôi. Trọng tiền thì có. Thời này con gái lấy chồng chủ yếu là vì tiền . Lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn, lấy Mỹ, lấy Việt kiều…cũng chẳng qua là vì tiền cả . Ngay các ông bố bà mẹ có con gái cũng chỉ nhăm nhăm gả nó cho thằng có tiền bất chấp thằng đó tư cách đạo đức ra sao ?”

Chị Kelly Thi tiếp lời :

“ Lấy nhau vì tiền” nên hiếm ai hạnh phúc thực sự. Bởi lẽ thằng chồng nó biết thừa động cơ cô lấy nó nên nó dùng mọi biện pháp để bảo vệ tài sản riêng . Nay mai cô có chán nó đòi ly hôn thì cô cũng chẳng được  cái gì, vì tài sản thằng chồng phần lớn có được từ trước khi hắn kết hôn…”

Bác Ba Phi bực mình :

“ các anh chị nói thế nào ấy chứ. Xóm tôi khối cô lấy Đài Loan, Đại Hàn chỉ sau hai, ba năm đã gửi  được tiền cho ba má cất nhà lầu kìa. Coi vậy mới biết nhiều cô cũng lấy được chồng tử tế, biết yêu thương vợ nên mới cho vợ gửi tiền về cho ba má chớ nếu chỉ nhăm nhăm vì tiền thôi thì sức mấy thằng chồng nó cho được cắc nào  mà gửi về ?”

Chị Kelly Thi cười cười :

“ Các cô  trong xóm bác ba Phi lấy được chồng vậy là trúng “”độc đắc” rồi. Còn theo các tài liệu đã công bố thì đa số cô dâu Đài Loan, Đại Hàn đều bị ngược đãi, hành hạ đừng hòng bòn rút được tiền chồng gửi về cho bá má cất nhà lầu. Còn lâu ạ. Chính vì thế ở Đại Hàn người ta mới tổ chức ra “Uỷ ban bảo vệ cô dâu người Việt”. Nếu cô  nào cũng hạnh phúc như mấy cô trong xóm nhà bác Ba Phi thì ai lập ra Hội đó làm gì ?”

“ Lão già” chậm rãi :

“ Nói đi thì cũng phải nói lại.Người ta cứ bảo cô dâu Việt sang Đài Loan, Đại Hàn lấy chồng cũng chẳng nhu mì, hiền lành gì lắm đâu. Ngược lại, nhiều cô đanh đá, bắt nạt chồng nữa kìa. Chỉ có điều người ta có truyền thống bảo vệ phái yếu tức người vợ chứ chẳng ai đi lập hội bảo vệ những người chồng bao giờ. Bởi vậy cũng có lắm chuyện ngược đời, “bạo hành gia đình” lại rơi vào mấy ông chồng Đài Loan và Đại Hàn mới chết chớ. Mấy cô dâu Việt Nam thấy chồng hiền lành nên lấn lướt, bắt nạt chồng bằng đủ trò ma mãnh khiến thằng cồng khốn khổ chỉ biết cắn rằng mà chịu đựng …”

Chị Kelly  Thi đoán già đoán non :

“ Vậy chắc mấy cô trong xóm bác Ba Phi hành hạ, bắt nạt chồng dữ lắm nên mới mang được tiền về cho ba má cất nhà hẳn.”

Bác Ba Phi lắc đầu :

“ Tụi chúng nó toàn ẵm con về thăm nội ngoại chứ có thấy đứa nào mang chồng về đâu mà biết nó có ăn hiếp chồng hay không ?”

Cô Ut reo lên :

“ Đó…đó cũng là mặt trái của tấm huân chương chưa bị lộ ra nên không ai biết đó thôi. Chứ mấy cô lấy chồng ngoại mà có hạnh phúc thì đời nào không dắt chồng về khoe với họ hàng, bà con xóm giềng. Chắc thằng chồng nó ớn vợ quá cứ lăm lăm bòn tiền của nó gửi  về quê nên nó ghét nó không thèm về thăm quê vợ  chứ gì. “

Chị Kelly Thi gật gật :

“ Có Ut phân tích cũng có lý. Mấy thằng  chồng Đài Loan, Đại Hàn ớn không muốn về mới cho vợ cầm tiền về giúp đỡ bố mẹ thì coi như “của đi thay người “ rồi, nó khỏi về…”

Bác Ba Phi bực mình :

“ Mấy cô bên này đã biết tình hình người ta ra sao đâu mà cứ đoán tầm bậy tầm bạ…”

Mọi người im bặt . Cô Ut lấy cớ đến giờ đi đón con , bỏ ra ngoài. Chị Kelly Thi quay sang hỏi “lão già” về giá tua du lịch đi mấy nước châu Au. Bác Ba Phi hiểu rằng mọi người đều lảng chuyện, không ai muốn bàn việc góp tiền giúp con vợ thằng Đậu sanh con trong ống nghiệm. Bác buồn hẳn nhưng không trách ai. Bởi lẽ cái việc chữa hiếm muộn của con vợ thằng Đậu xem ra chưa cấp thiết lắm. Không đẻ con được  thì nó vẫn sống nhăn, sống khoẻ, đâu có làm sao. Giá như  nó sang đây bị ốm đau bệnh tật không có tiền chữa trị thì chắc mấy người này sẽ sẵn sàng quyên góp .

Thật ra cái tinh thần “ nhiễu điều phủ lấy giá gương” ngay trong nước ngày nay cũng hiếm hoi. Hồi còn nhà, bác đọc báo thấy một thành phố miền Trung trong lúc bão lũ ầm ầm, người chết, nhà trôi mà các quan tỉnh vẫn mở hội ăn mừng giải đánh tennis, tiệc tùng náo nhiệt. Rượu thịt ê hề, nhảy nhót tưng bừng hoàn toàn không quan tâm tới những thảm cảnh đang diễn ra xung quanh trong cơn hồng thuỷ.

Rồi lại cũng ở một tỉnh miền Trung, ông Giám đốc Sở đi ăn tiệc về, lái xe chẹt một người bị thương nặng mà nhẫn tâm nhấn ga bỏ chạy, phó mặc nạn nhân nằm lại giữa đường.

Cái tinh thần “ đồng chủng, đồng bào” mà  Việt Nam vẫn tự hào thì ngày nay đã xuống thấp đến mức độ thê thảm khi trên các đường phố lớn của Sàigòn và Hà Nội, từng đoàn dân oan giương cờ và biểu ngữ đi khiếu kiện đòi lại đất đai nhà cửa đã bị các quan tỉnh, quan huyện cướp trắng. Mặc dầu đi đầu các cuộc biểu tình đó bao giờ cũng chương ảnh ông Hồ Chí Minh, cùng các khẩu hiệu “ơn Đảng, ơn Bác” nhưng hầu như những người đi đường khi gặp họ đều né tránh, đi sang đường khác sợ vạ lây, hoặc ngó lơ hoàn toàn không biểu lộ một cử chỉ hoặc một hành động cảm thông chứ chưa nói tới ủng hộ người dân đi khiếu kiện.

Chưa có cái thời con người ta lại “vô cảm” với những bất hạnh của “đồng bào”, của “ người trong một nước” như cái thời nay. Chưa nói tới thảm trạng cơn hồng thuỷ đã diễn ra ở miền Trung cả tuần lễ khiến người chết, nhà trôi , dân kêu khóc trên ngọn cây, mái nhà mà chẳng thấy “ông lớn” nào ngoài Hà Nội kịp thời bay vào “chỉ đạo” việc cứu trợ, ngay hàng ngày, nạn cướp giật, đâm chém người diễn ra ngay trên đường phố đông đúc của các thành phố lớn, mà người đi đường vẫn tỉnh bơ, không xúm lại ngăn cản , cứ phó mặc thằng kẻ cướp trấn lột nạn nhân như trong chỗ không người. Cả một đám đông vô cảm như vậy, phần vì cái máu “mặc kệ nó” đã ăn vào máu , phần vì sợ liên luỵ đến  mình.

Bác Ba Phi cứ lan man suy nghĩ và thấy nhẹ nhõm cả người, chẳng còn phiền trách gì mấy người xung quanh khi nhận ra cái việc bác hô hào quyên góp cho con vợ thằng Đậu sinh con trong ống nghiệm chẳng là cái đinh gì so với những việc tày đình ở trong nước vẫn bị ngó lơ bởi cả một cộng đồng dân cư chứ chẳng riêng gì một nhóm người nào.

Khi cô Ut quay về phòng, bác ba Phi chuyển giọng vui vẻ :

“ Hôm nay con đưa tía đi ba cái siêu thị Mễ được không ?”

Cô Ut ngạc nhiên :

“ Tía đi siêu thị mua gì ?”

Bác Ba Phi rụt rè :

“ Thì tía sắp về cũng phải  mua quà cáp gì cho vợ chồng thằng Đậu và bà con hàng xóm chớ ?”

Cô Ut vui vẻ :

“ Cái đó tía khỏi lo. Con đã chuẩn bị sẵn cho tía rồi. Mà sao tía không vào mấy cái chợ Việt như Phúc Lộc Thọ lại đòi đi chợ Mễ ?”

Bác ba Phi ra vẻ hiểu biết :

“ Thì ở bên này sẵn chợ Mỹ, chợ Việt nhưng giá cả rẻ nhất vẫn là chợ Mễ. Mà thứ gì cũng sẵn….”

“ Lão già “ bật cười :

“ Khổ cho người Việt mình. Ra thế giới cứ tìm tới chỗ nào bình dân, rẻ tiền mà tiêu xài, chẳng dám mon men tới những chỗ  tiện nghi nhưng mà đắt tiền. Chẳng cứ gì bác Ba Phi đâu, mấy ông mấy bà trong nước sang đây đó có ai dám ăn ở khách sạn ngày tiêu phí cả ngàn đô la đâu . Phần lớn ở nhờ nhà họ hàng, bạn bè, đi đâu cũng nhờ cậy người thân quen đón đưa  đố có ai dám vẫy taxi đi một cuốc xe vài chục đô la đó…”

Chị Kelyy Thi cãi :

“ Nhầm to rồi ông ơi. Những người như vậy phần lớn là thân nhân Việt kiều được mời sang chơi hoặc mấy ông nhà văn  được mấy ông cựu binh Mỹ quyên góp mời sang  nên mới ăn nhờ ở đậu vậy thôi. Còn ông cứ thử ngó bọn con ông cháu cha, bọn con nhà đại gia sang đây du  học hoặc đi du lịch coi. Tụi nó tiêu tiền còn nhiều hơn cả Việt kiều sang trọng nữa kìa. Nhất là con mấy ông lớn du học sang đây, tụi nó toàn ở biệt thự cao cấp, chạy xe Lexus, có đứa chưa sang mà bố mẹ nó đã tậu  nhà sẵn cho cậu ấm cố chiêu mai mốt sang ở rồi kìa.”

Cô Ut cười cười :

“ Chẳng cứ gì bà con sang đây thăm thân nhân phải chi tiêu dè xẻn mà ngay như tôi là Việt Kiều về nước thăm gia đình cũng đâu có dám tiêu xài theo kiểu các thương gia. Mỗi lần về Việt nam đi du lịch Vũng Tàu, Đà Lạt…tôi cũng chỉ dám thuê khách sạn loại vài chục đô la cho vừa túi tiền , đâu có dám đặt chân tới khách sạn 5 sao 6 sao giá cao ngất ngưởng trên dưới ngàn đô một ngày. Đi ăn cũng vậy, cũng chỉ vào những tiệm giá cả thường thường bậc trung thôi, đâu có đặt chân tới những nhà hàng cao cấp ăn một bữa hết cả vài ngàn đôla…”

Bác Ba Phi trợn mắt :

“ An một bữa hết vài ngàn đô la ? Tôi tưởng chỉ ở bên Mỹ mới có chứ Việt Nam làm gì có ?”

Chị Kelly Thi cười cười:

“ Vậy thì bác Ba Phi lạc hậu rồi. Ngày nay để phục vụ cho các quan tham trong túi có cả trăm triệu đô la đã xuất hiện các nhà hàng đặc biệt cao cấp trong đó một chai rượu giá cả ngàn đô la là thường. Tất nhiên dân thường ai dám đặt chân tới đây. Toàn là quan lại mời mọc nhau bằng tiền nhà nước trong các cuộc đút lót, mua quan bán tước, các phi vụ móc ngoặc nhau hàng trăm triệu đô…”

“ Lão già” đột nhiên dõng dạc :

“ Cứ gì nhà giàu mới dám vào nhà hàng sang trọng . Hôm nay để chia tay bác Ba Phi trở về Việt Nam tôi xin chiêu đãi cả mấy quý vị đây  một bữa thật sang trọng muốn gì có nấy…”

Bác ba Phi vội vàng từ chối :

“ Ay chết chết…vậy thì tốn kém lắm..ta để dành món  tiền đó làm việc gì có ích là hơn…”

Chị Kelly Thi xua tay :

“ Thôi thôi…việc nào ra việc đó…vậy chiều nay ta đi ăn hải sản ở nhà hàng Royal Capital Seafood góc Westminster and Euclid, có món mì tôm hùm hay món tôm xào đặc biệt, ngon lắm…”

Bác Ba Phi kêu lên :

“ í trời ơi…ở Việt Nam một con tôm hùm tính ra cả triệu bạc rồi. Bên này chắc còn đắt nữa..thôi thôi…cứ vào Phúc Lộc  Thọ tìm cơm tấm ăn được rồi…”

Cô Ut gạt ngang :

“ Phúc Lộc Thọ toàn đồ fast-food , ăn cho no thôi . Mà tía muốn ăn cơm tấm hôm nào con đưa tía đi ăn cơm tấm Thuận Kiều. Còn hôm nay mấy khi được bác già đây mời đi ăn nhà hàng. Ta chịu khó chạy xe tới Los Angeles vô nhà hàng Oomasa trong làng Nhật Bổn có món sushi, cá hồi xông khói đúng vị Nhật Bản mà giá có 15 đô la một đĩa thôi…”

Bác Ba Phi trợn mắt :

“ 15 đô la một đĩa cá hồi xông khói… An vậy thà đi quán Huế Vỹ Dạ ăn cơm gà giá có 6 đô la thôi, vừa ngon vừa rẻ, hột cơm mềm và lại thơm lắm, gà xé ra từng miếng trộn với chanh muối tiêu hành tây và rau răm hoặc chấm nước mắm gừng.”

                   

                         (còn tiếp)




Thứ Sáu, 29 tháng 8, 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 68 - HỘI NHÀ VĂN CỦA NƯỚC TA - KỲ 20





               Năm 2007 – năm ấy năm gì ?                

          Đặc điểm lớn nhất của Hội nhà văn VN 2007 là lắm…lễ lạt, lắm giải thưởng. Mở đầu là lễ hội thơ nhằm ngày Tết nguyên tiêu ở cả hai miền, trong đó  lần đầu tiên các nhà thơ được dựng poster tự quảng cáo và xem ra chẳng ai khách khí,vị nào cũng trình diễn xuất sắc bệnh “háo danh” trên các poster này. Tiếp theo là lễ đón Huân chương Sao Vàng lẽ ra tổ chức vào dịp kỷ niệm 50 năm Hội nhà văn, chẳng may chưa “chạy” kịp chữ ký của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết nên chậm lại vài   tháng . Bởi vậy lẽ ra cả mấy trăm nhà văn được “ ngửi hoa thơm”, nay chỉ còn có 12 ông tiêu biểu cho “nền văn học xã hội chủ nghĩa”:Tô Hoài, Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh, Lê Văn Thảo….Và cũng không phải do đích thân TBT Nông Đức Mạnh mà chỉ là Uy viên Bộ Chính trị Trương Tấn Sang vừa trao vừa khen các nhà văn “tốt, tốt”.
Sau đó lần đầu tiên tổ chức Hội nghị nhà văn ba nước Việt Nam – Lào – Cămpuchia tại Hà Nội và cũng lần đầu tiên xuất hiện giải thưởng văn học “Sông Mê Kông” và 12 nhà văn của 3 nước đã được trao giải thưởng này. Tuy nhiên, sông Mê Kông đâu phải có  3 nước Đông Dương, mà ôm cả TQ, Thái Lan…thì Hội nhà văn VN sao ôm xuể.
Dẫu rằng năm 2007 Hội nhà văn chẳng có cái “việc gì” đáng phải họp nhưng các quý vị vẫn lu bù họp. Nào Hội nghị Ban chấp hành giưa nhiệm kỳ, Hội nghị ban chấp hành mở rộng, Hội nghị văn học đồng bằng sông Cửu Long vân vân và vân vân….đến là tốn tiền của dân .
Lễ hội ì xèo, tiền tiêu tốn kém vậy mà “thành quả văn học” xem ra chẳng gặt hái được gì ra trò.
Cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ kéo dài một năm từ tháng 3.2006 đến tháng 3.2007 với giải Nhất thuộc về 2 tác giả rất mới là Ngô Phan Lưu và Hồ Thị Ngọc Hoài. Thay mặt Ban Giám khảo, nhà văn Dạ Ngân "tuyên dương :
 “Bạn sẽ thấy Ngô Phan Lưu đặc sắc như thế nào trong chùm truyện Buổi sáng biến mất và Cơm chiều, một cách viết kiệm lời đến mức sánh đặc, giản dị đến mức thông thái, nhân bản đến mức kỳ dị. Cô giáo trẻ Hồ Thị Ngọc Hoài trong Thung Lam nhiều day dứt như một người đàn bà vừa đi qua tất cả những yêu thương và cay đắng cõi người”.
Than ôi, dẫu có bốc lên mây xanh là: “Một dàn đồng ca tràn đầy hơi thở đời sống, nhiều giọng nhiều bè, khoẻ khoắn điêu luyện…” thì truyện ngắn được giải của báo Văn Nghệ cũng “biến mất” ngay từ trước lúc trao giải.
Cuộc thi thơ tình cũng của báo Văn nghệ cũng gây thất vọng cho người đọc .Thi suốt hai năm  2006 đến 2007 với hàng trăm bài thơ được giới thiệu trên Văn nghệ Trẻ và 19 người được giải chẳng mang tới được một câu thơ này gọi là…hay.
Thử đọc bài giải nhất của Nguyễn Hoà Bình :
    
      Lục bát bây giờ

 Em còn đằm thắm như xưa
 Thì, câu lục bát bây giờ…sao chênh
 Áo cơm, mà chuyện thường tình
 Lời yêu nào dễ gập ghềnh sớm trưa
 Tình đâu vẹn nắng, trọn mưa
 Để câu đủ ý, khéo vừa tâm can
 Trăm năm bia miệng cũng tan
 Nhịp vần có thuận, đá vàng rồi ghi
 Dù, thay câu sáu nào đi
 Dễ đâu đằm thắm, chắc gì hơn xưa
 Thương câu lục bát bây giờ…

Thơ thẩn thế này mà giật bảng trạng nguyên thì đủ thấy thi ca Việt Nam sắp rơi tới…đất.
Giải thưởng văn học 2007 của Hội Nhà văn Việt Nam được trao cho tiểu thuyết thuộc loại…xoàng : “Và khi tro bụi”của Đoàn Minh Phượng, biên kịch phim,  kinh doanh đồ gốm và dệt may , nguyên là Việt kiều Đức, khoe rằng chị viết về “ một cô gái không có quê hương nhà cửa, sống lang thang trên những chuyến xe lửa, đi tìm sự thật về sự biến mất của một người phụ nữ không quen. Nhiều nhân vật trong chuyện lúc nhỏ mang sự trong sáng quyết liệt của tuổi trẻ, không chấp nhận dối trá. Lớn dần, họ bắt đầu hiểu sự thật là một thử thách ghê gớm họ không vượt qua được. Họ bắt đầu nghĩ ra cách có một sự thật nào dễ sống với nó hơn, thuận lợi hơn. Họ cắt xén, may vá lại sự thật như người ta may những chiếc áo vừa cho mình mặc. Nhưng vừa cho người này thì sẽ không vừa với người khác. Và cô gái nhân vật chính là người đi trong khu rừng đó với nỗi hoang mang. Chỉ vào giờ cuối cùng của cô, cô mới biết mình cũng như họ, đã từ chối quá khứ của mình. Điều duy nhất có thể cứu được cô vào giờ khắc ấy chính là một sự trở về…”        
Cuốn sách xem ra như là tuyên ngôn của sự…về nguồn. Mặc dầu được quảng bá ầm ĩ , nhưng dư luận xem ra khá im lìm, có thể do sự chọn lựa của Ban chấp hành Hội nhà văn đã làm mất niềm tin của người đọc.
Để tổng kết văn học 2007, vừa rồi,  nhà báo  Cù Nèo  chọn 10 sự kiện nổi bật của Hội Nhà Văn Việt Nam , khá gần với thực tế :
Một: Ngày thơ Việt Nam được tổ chức tại Văn Miếu có thêm sân chơi Thơ trẻ. Nhưng đáng tiếc đã xẩy ra sự cố Phan Huyền Thư  “mượn” văn khi giới thiệu Thanh Tâm Tuyền .  Mặc dù PHT đã có lời xin lỗi, nhưng dư luận vẫn eo sèo . Ôi!
Hai: Hội nghị lý luận phê bình Văn học lần thứ II tổ chức tại Đồ Sơn (Hải Phòng) rất rôm rả. Và rôm rả nhất là trên đường về, nhà nghiên cứu lý luận phê bình văn chương uyên thâm Đào Thái Tôn và Nhà văn lừng danh Bùi Bình Thi đã choảng nhau (đúng nghĩa đen) trên ôtô ( làm rớt ra mấy chai bia ăn cắp của Hội nghị).Một hiện tượng hi hữu trong văn giới, những người mà xã hội vẫn ngỡ rằng có văn hoá nhất. Ô hô!
Ba:   Kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Hội Nhà văn VN được tổ chức rất hoành tráng, không chỉ diễn ra tại Hà Nội, mà ở nhiều nơi: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Hới, Hải Phòng và Tây Nguyên. Về hiện tượng này, trên trang Web của mình, một nhà văn đã nhận xét: "Chỉ hội ta mới chơi độc đáo như thế. Đến ông nhà nước kỷ niệm Quốc Khánh cũng chỉ có một ngày 2 tháng 9. Riêng cái khoản tưng bừng thì nhà nước thua đứt Hội ta". Khoái!
Bốn: Mặc dù nhà nước đã đồng ý cho hơn 2 tỷ đồng (một số tiền khá lớn) để làm báo điện tử, nhưng hết năm 2007, Hội Nhà văn vẫn chưa có trang WEB, trong khi đó WEB cá nhân của nhiều Hội viên ra đời ngày mỗi nhiều. Báo mạng, văn chương mạng đã thành hiện tượng, một nhu cầu trong đời sống của các nhà văn. Có người đã nói rằng, hay là hội ta mượn một WEB của nhà văn nào đó làm luôn WEB của hội. Buồn!
Năm: Hội Nhà Văn được nhà nước trao tặng Huân chương Sao Vàng. Đáng tiếc là do trục trặc về thủ tục (thì Hội ta vẫn thế), nên đáng ra được nhận vào dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Hội, nhưng mãi đến tháng 9 mới được nhận. Lại lễ lạt và lại được gặp nhau! Vui!
Sáu: Lần đầu tiên Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Hội nghị Nhà văn ba nước Đông Dương và trao giải thưởng Văn học "Sông Mê Công". Có 12 nhà văn của ba nước được trao giải lần này. Có người đặt câu hỏi, sông Mê Công chảy qua Trung Quốc, Myanma, Thái Lan nữa, nên giải thưởng của ba nước Đông Dương đặt tên là Giải thưởng văn học sông Mê Công xem ra không chuẩn. Đành!
Bảy: Trung tâm bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du mở khoá đầu tiên. Nhưng sau khi kết thúc khoá học, ba vị lãnh đạo Trung tâm gồm một nhà lý luận phê bình tên tuổi, một nhà văn nức tiếng, một nhà thơ nổi danh như cồn đồng loạt đệ đơn từ chức. Cười!
Tám:  Trao giải thưởng văn học hàng năm và xét kết nạp Hội viên có số lượng ít nhất so với nhiều năm vừa qua. Chỉ có "Và khi tro bụi", tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng và tập thơ "Khúc hát trái tim", thơ của Mttie.J TStepanek do Hữu Việt dịch được trao giải. Thơ và lý luận phê bình không có giải thưởng. Nhiều người cho rằng Năm 2006 chẳng phải không có thơ hay. "Bùa lá" của Nguyễn Thị Đạo Tĩnh và "Hoạ mi năm ngoái" của Trần Kim Hoa được dư luận đánh giá cao. Nhưng không có giải thưởng vì... tế nhị. áp lực ngoài văn chương còn mạnh lắm! Bởi vậy nhiều hội viên cho rằng nếu được giải thưởng, yếu tố may mắn hết sức quan trọng. Ngậm ngùi!
Chín: Là năm có số nhà văn đi vào cõi vĩnh hằng nhiều nhất, 23 nhà văn. Trong đó  có các nhà văn mà nhắc tới tên, công chúng yêu văn chương chẳng ai không biết, như Vũ Cao, Chính Hữu, Phan Cự Dệ, Cao Xuân Hạo, Phạm Tiến Duật... Mất mát quá!
Mười: Lần đầu tiên Hội Nhà Văn VN thông báo tuyển cán bộ, điều "xưa nay hiếm". Cũng lần đầu tiên một số nhà văn được đầu tư "chiều sâu". So với đầu tư "chiều nông" những năm trước thì số tiền "chiều sâu" tương đối lớn (25 triệu mỗi người). Nhưng có vẻ vẫn là điểm mặt ghi tên chứ chưa hỗ trợ đúng đối tượng, những người đang thực sự sáng tác. Lại cười!
Về chuyện này, mới đây nhà văn Nguyên Ngọc đã từ chối không nhận xuất “đầu tư” 25 triệu này và đã phát biểu hùng hồn :
“Vì sao nhà văn lại có đặc quyền như vậy? Trong khi xét về mặt nghề nghiệp thì nhà văn cũng giống như một anh thợ mộc. Vì sao một anh thợ mộc phải tự làm ra sản phẩm, tự bươn chải còn anh nhà văn thì lại được cầm tiền của Nhà nước, cụ thể ở đây là tiền thuế của nhân dân, mà trên thực tế, nếu tác phẩm của anh được xuất bản thì các nhà xuất bản đã trả tiền cho anh rồi? Tôi thấy vô lý quá. Theo tôi, nhà văn cầm tiền tài trợ là không lương thiện. Vì thế, tôi đã dứt khoát từ chối khoản tài trợ 25 triệu đồng mà Hội Nhà văn mang đến. Hơn nữa, hoạt động sản xuất văn nghệ là hoạt động cá nhân, đơn lẻ. Trong giai đoạn trước, việc đầu tư sáng tác có thể có tác dụng nhất định nào đó, nhưng xét về bản chất thì nó không thể biến thành nhân tố nội tại thôi thúc người cầm bút sáng tác. Bởi vì, nhà văn phải sáng tác bằng trải nghiệm cả cuộc đời mình. Anh cứ sống, cứ ghi nhận, đến lúc nào đấy cảm thấy viết được thì viết, chứ anh không có nhu cầu nội tại thì đến trại sáng tác cũng chỉ túm tụm chuyện trò chứ chẳng làm được gì. Vậy tại sao Nhà nước phải bỏ kinh phí để nuôi các văn nghệ sĩ như thế? Khi đã bao cấp thì khó có tác phẩm lớn".
Lần đầu tiên trong lịch sử Hội nhà văn có một nhà văn từ chối “bầu sữa” của Đảng, dấu hiệu sự tan vỡ của Hội chăng ?
Trong năm 2007  có một sự kiện lớn mà nhà báo Cù Nèo không dám nêu đó là  Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa trên Trường Sa- Hoàng Sa làm nổ ra  hai cuộc biểu tình của sinh viên ngày 9 và 16-12-07, dư luận bùng lên đòi nhà cầm quyền Việt Nam phải có thái độ rõ ràng và cứng rắn. Tổ Quốc lâm nguy, sơn hà nguy biến vậy mà cái Hội nhà văn VN vẫn bưng tai , bịt mắt ngó lơ thì đủ biết đảng đang trói quá chặt và các nhà văn VN quá…hèn.
7-1-08




Nhà văn ĐỖ QUYÊN : Thơ Tân hình thức : Kể sao hết được _ KỲ 4




        (tiếp theo)

IV. Một số hoài nghi, phản biện, bài bác Tân hình thức Việt

San sẻ với Tạp chí Sông Hương trong Lời dẫn chuyên đề Thơ Tân hình thức - “như một trào lưu mới mẻ đối với sáng tạo và phê bình người Việt”; “bất cứ một trào lưu sáng tạo nào, một lối chơi mới mẻ nào khi mới quảng diễn chắc chắn sẽ tạo ra những hiệu ứng khác nhau. Tân hình thức không phải là ngoại lệ. Việc truy vấn, hoài nghi về Tân hình thức là điều dễ hiểu bởi thông qua sự hoài nghi thì giá trị của nghệ thuật mới được kiểm chứng” - theo cách nhìn và tài liệu còn hạn chế chúng tôi mạn phép chọn lọc một số hoài nghi, phản biện, bài bác Tân hình thức Việt (Phụ lục 9-), từ những năm mới vào các vòng đầu vũ điệu không vần (1999-2002) cho đến tháng ngày (10/2013) sắp bước lên một sân khấu lớn.
Đơn cử các tác giả Mã Giang Lân, Nhã Thuyên, Mai Văn Phấn, Nguyễn Hòa, Chân Phương, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Nguyễn Vũ Văn, và Ban biên tập talawas, chúng tôi đã trích lược khá nhiều vì nội dung thi pháp, tư liệu bài vở, tinh thần học thuật, văn hóa tranh luận, ảnh hưởng… Các ý kiến mở màn của Nguyễn Vũ Văn và khép màn của Chân Phương có thể xem là dữ dội nhất trong những cơn sóng phản bác Tân hình thức ở hải ngoại vào chính các năm hoàng kim của thể thơ này 2002-2007. Dù chúng tạo ra các hiệu ứng tốt xấu khác nhau nhưng đều mang mức học thuật cần thiết. Đó là điểm son cho phê bình văn nghệ Việt nói chung, trong và ngoài nước. Nếu biết rằng do phải lấy sự tồn tại làm mục tiêu tối hậu và do nhiều hạn chế nhất là về nhân sự, sinh hoạt văn chương Việt ở ngoài nước thực tình rất khó có phê bình văn học chuyên nghiệp và khách quan dù sống ngay trong lòng các quốc gia sở hữu một nền phê bình như thế, chúng ta càng thấy quý cuộc tranh luận Tân hình thức như đã từng. Nó tỏ ra không bị chính trị và thời cuộc can thiệp; tính chất phe bè cũng không là bao. Đỗ Kh. từng ví cộng đồng văn chương di dân chật chội và vui vầy như gia đình “tứ đại đồng đường” với một căn hộ khép kín. Giữa các tác giả hải ngoại với nhau, ai viết được gì quý cái đó nếu như không “phạm giới” chính trị. Hầu như không có những cuộc tranh luận học thuật về phương pháp sáng tác, ngoại trừ sự kiện Tân hình thức.
Rất cần tìm hiểu về những phê phán, chỉ trích, hoài nghi Tân hình thức từ dư luận bạn đọc, giới phê bình ở trong nước. Đó có là một trong các chủ đề của Hội thảo?[i]
V. Những vấn đề thi pháp

V.1. “Nhân vật” thể loại trong Thơ Tân hình thức Việt

Nhân vật chính” cũng là “nhân vật hạng nhì và hạng ba”

Thể loại thường được giới lý luận, nghiên cứu, phê bình xem là một trong rất ít “VIP” theo quá trình phát triển văn học, vì thế không thể nào có nhiều cách tân thể loại.

Như chúng tôi đã có dịp trình bày, trong thi ca hiện đại Việt ở mức thử nghiệm hoặc lý thuyết có Trần Dần (Thơ ý niệm/ Thơ tiểu thuyết/ Thơ dòng chữ), Đặng Đình Hưng (Thơ tiểu thuyết), Dương Tường (Thơ âm-hình), Ðặng Thân (Thơ phụ âm), Nguyễn Hoàng Nam, Lê Văn Tài (Thơ đồ họa), Nguyễn Thúy Hằng (Thơ ấn tượng sự vật), Khải Minh (Thơ cấu), Nguyễn Tôn Hiệt (Thơ thực hiện)… Mở đường và thành tựu càng hiếm: Phan Khôi đã khai hỏa cách mạng cho phong trào Thơ Mới, và bây giờ Tân hình thức Việt cải cách và sinh ra một thể thơ mới.

Như thế, nếu dùng cách đề cao như của M.M. Bakhtin[ii] thì thể loại với trào lưu Tân hình thức Việt, vừa làm “nhân vật chính” vừa chiếm giữ cả “nhân vật hạng nhì và hạng ba”.
Ở thời kỳ đầu của các thử nghiệm, cải cách thể loại, với người đọc mang “con mắt cũ” câu chuyện ranh giới hình thức thể loại luôn sôi động. Đó là điều thường. Nhưng, có một số thể loại đến thời kỳ sung mãn hoặc một số phong cách tới khi thoái trào vẫn không thể mang đường biên rành mạch. Người ta gọi đó là thể loại, phong cách ký sinh vào các thể loại, phong cách kinh điển và ổn định. Không cần xét đến ví dụ lớn là tiểu thuyết (thể loại văn chương duy nhất đang biến chuyển và tới nay vẫn chưa định hình; thể loại mềm mại nhất, năng động nhất, mở nhất - Bakhtin), cũng thấy rõ ở nhiều ví dụ nhỏ: thể thơ văn xuôi, dòng Tiểu thuyết mới của Pháp, hoặc rộn ràng trên văn đàn hiện nay là truyện cực ngắn.
Đặc biệt, không hiếm thơ của những tác giả độc lập tạo nên các hiện tượng văn chương do mang phong cách bấp bênh thể loại mà thơ Nguyễn Quang Thiều là một cách tân hiển lộ nhưng bất đồng trên thi đàn Việt suốt hơn 20 năm qua[iii]. Thơ Trần Vấn Lệ là trường hợp khác về biến cách thể loại giữa thơ và văn, thơ văn xuôi và thơ tự do, tuy về nhiều mặt chưa cách tân. Còn thơ Nguyễn Đức Tùng, chúng tôi từng nhận xét[iv], có thể coi là hơn-cả-cách-tân khi đang cố gắng hoàn chỉnh một lối viết mới lạ trong thể thơ-văn-kể. Vẫn là thơ tự do không vần, nhưng nhịp điệu gần như không qua từ ngữ mà qua ý tưởng, ngôn ngữ hiếm mỹ từ, đề tài thời cuộc, giọng hài giễu, song hành hai dòng văn hóa Đông-Tây, hai nhân sinh quan từ hai ý hệ và nhất là bất ổn trong hai hình thức thơ-văn. Nếu như thử nghiệm thơ-văn-kể theo kiểu như thế mà thành đạt thì, sau Nguyễn Đình Thi, Thanh Tâm Tuyền, Trần Dần và Nguyễn Quang Thiều; Nguyễn Đức Tùng sẽ là cá nhân thứ năm mở lối độc lập tiếp tục cải cách, cách tân Thơ Mới, cả về đổi mới tư duy thể loại lẫn đổi mới phương pháp như 2 nhóm là Tân hình thức Việt (đang thành tựu) và Mở Miệng (dở dang; hiện tượng văn hóa có tính văn học hơn là hiện tượng văn học[v]).

Cùng là các dạng thơ lấy văn xuôi làm hồn, nhưng cách làm thơ loang chảy vô lường Nguyễn Quang Thiều đối ngược với đường lối Tân hình thức Việt. Cấu trúc Tân hình thức bề ngoài vuông vắn, nhạc tính tuyệt không liên hệ với âm vần; Thơ Nguyễn Quang Thiều có ngữ điệu và hình thể bất định của thơ tự do. Nhận thức thẩm mỹ: Tân hình thức phá hủy tư duy Thơ Mới và thơ tự do hiện đại để tạo ra dòng thơ kể; Thơ Nguyễn Quang Thiều tựa hẳn vào mỹ học truyền thống mà nâng cấp qua diễn ngôn. Bút pháp: Tân hình thức ra ngoài khuôn phép các thể tài truyền thống, dùng nhiều thủ pháp cực đoan (tính truyện là tiên quyết, bỏ “vần lẻ” cuối câu tạo “vần lớn” toàn bài bằng 2 kỹ thuật lặp lại và vắt dòng vô lối, không tu từ, giễu nhại bằng kiểu nói đời thường); Thơ Nguyễn Quang Thiều coi trọng ngôn từ (hình tượng) và cú pháp (mạch thơ), tung mở các thể loại cũ, không lệ thuộc vần, tính truyện vừa phải mà thường là “truyện giả/ ảo”, diễn đạt nghiêm cẩn với cảm xúc lãng mạn và cách xa ngôn ngữ bình dân[vi]. Để dễ so sánh chúng tôi đã thử chuyển bài thơ tự do Bữa tối của tác giả này sang thể Tân hình thức. (Phụ lục 2-).

Suốt 10 năm qua Thơ Tân hình thức Việt bị coi như “dở ông (thơ) dở thằng (văn)”. Nếu nó còn bị đọc theo cung cách cũ thì việc khó tiếp nhận là điều có thật. Cứ riết róng săm soi các chi tiết thuộc về hiện tượng, lại ở những bài chưa đạt ngưỡng, quả là nhìn đâu cũng thấy văn xuôi trong Tân hình thức. Phải bằng cái nhìn bản thể phân biệt thơ và văn xuôi mới thấy Thơ Tân hình thức Việt là… thơ. Tạp chí thơ danh tiếng của Pháp Action Poétique (Hành động thơ) sau cuộc tranh luận vào năm 2000 đã đưa ra 3 điểm lớn phân biệt thơ và văn xuôi[vii], theo đó chúng tôi tách ra 6 chi tiết với thứ tự: đối tượng, chủ đề, tiết tấu, thời gian, chủ thể, nghĩa. (Các mục V.2-V.4 sẽ minh họa qua trường hợp Tân hình thức Việt.) Như một tin vui nho nhỏ “hậu sinh khả úy” trong làng thi ca Việt giữa làng văn hóa toàn cầu, mời bạn đọc đến với Đỗ Lịnh Ái Linh/ Aline Dolinh, nữ sinh lớp 10 trường trung học Oakton, qua bài phát biểu của em - nhân vật được vinh danh - tại tiệc mừng các Thi sứ quốc gia Hoa Kỳ ngày 21/9 vừa rồi:
“Tôi tin rằng thơ, khi so sánh với một hình thức khác như văn xuôi, có vị trí đặc biệt qua cách chúng ta đánh giá ngôn từ. Trong văn xuôi - và điều này chỉ là cách nói chung - chúng ta thấy ngôn từ làm nhiệm vụ trang trí câu chuyện, một phương tiện đúc kết cốt truyện hoặc tạo dựng các nhân vật. Nhưng trong thơ, ngôn từ là câu chuyện.”[viii]

So sánh của chính một cây bút trẻ Tân hình thức Mỹ nên cũng gần gụi với thực trạng truyện trong thơ-kể Việt. Đúng thế! Tân hình thức là thể loại duy nhất đã làm cho ngôn ngữ - đối tượng của thơ - trở thành “câu chuyện”.
Thơ Tân hình thức với thơ văn xuôi và trường ca
Nào, chúng ta nhìn ngang Thơ Tân hình thức qua 2 thể loại khác là thơ văn xuôi[ix] và trường ca để thấy phần nào những cái giống, cái khác.
Hoàn toàn như ở thơ văn xuôi và trường ca, một bài Tân hình thức thành công khi và chỉ khi tạo được trường thơ phủ sóng toàn tác phẩm. Điều gì quyết định sự giống nhau đó?

Trước hết, ở cả 3 thể loại thơ văn xuôi, trường ca Tân hình thức, tùy từng thể loại mà mỗi câu thơ riêng lẻ có chức năng khác nhau nhưng chúng đều không còn như ở các thể loại vần điệu và tự do. Câu thơ lúc này đã mất, giảm vai trò. Tác phẩm là một dòng chảy. Đó chính là “minh triết” thơ-chảy, nếu có thể gọi vậy. Bài thơ tạo ra câu thơ chứ không ngược lại: quan niệm ấy từng rất đúng cho thơ văn xuôi và trường ca, nay đến lượt Thơ Tân hình thức. Vậy nên, về văn bản và diễn ngôn, với 3 thể thơ này việc trích lược câu thơ sẽ có nguy cơ làm sai lạc. Cũng như các lời nói, câu văn bị thiếu hoàn cảnh của chúng mà Alexis de Tocqueville đã từng răn đe trong lĩnh vực báo chí, chính trị: “Nếu chỉ nghe theo những trích dẫn thì bất kỳ ai cũng phải chém đầu!”

Về cú pháp, so với thơ tự do nói chung và với thơ văn xuôi nói riêng, cách tân mãnh liệt của Thơ Tân hình thức Việt là triệt tiêu ý niệm câu thơ[x]. (Tiếp ở mục V.3.) Trong một bài trường ca, hay một bài thơ dài mang tính trường ca, có rất nhiều câu thơ, đoạn thơ chỉ như các đai ốc, vòng đệm nhỏ, các khoang phụ trong cả cỗ máy khổng lồ. Cũng như với tiểu thuyết, do không đọc trọn tác phẩm hoặc đọc mà không dò ra được từ trường văn học của nó, nên các kiểu trích dẫn hú họa và chủ quan một vài câu, thậm chí cả trường đoạn không tiêu biểu để phán xét toàn tác phẩm vẫn là lề lối phê bình “nhìn cây không thấy rừng” thường gặp. Nhưng dù sao, cũng là lỗi của nhà phê bình hơn là của tác phẩm trường ca. Thơ văn xuôi và Thơ Tân hình thức thì đúng chịu “lỗi”: khó có câu thơ nào của hai thể thơ ấy được coi là độc lập, cả về nội dung tư tưởng lẫn quan hệ cú pháp, cả về nhịp điệu lẫn ngữ nghĩa. Các câu thơ không được phép mang một đời sống riêng. Khác hẳn ở những thể thơ khác, nhất là thơ truyền thống, trong thơ văn xuôi và Thơ Tân hình thức các câu thơ sống bầy đàn. Rất hiếm các câu-thơ-ong-chúa. Ở Tân hình thức, ngay trong những bài có “câu văn” đầy đủ chủ vị, chấm phẩy chính kỹ thuật vắt dòng đã khiến bài thơ không còn câu thơ. Ở thơ văn xuôi, vì bài không được phân chia theo từng dòng  như ở các thể truyền thống và tự do, dù câu vẫn tồn tại nhưng không để tạo âm điệu bằng vần: câu thơ có tựa hồ không. Những câu thơ hờ! (Bởi vậy chẳng ai thấy một câu thơ của bài thơ văn xuôi nào đó được tuyển vào các tập như 1001 Câu thơ hay, được thảo ra cờ phướn giữa sân Văn Miếu rồi thả lên trời xanh những Ngày Thơ Nguyên Tiêu Việt Nam hàng năm?)


[i] Tham khảo:
- “Phóng viên Văn Nghệ Trẻ: (…) Thơ Tân hình thức có còn mới ở Việt Nam không, và chúng ta có cần phải tổ chức một cuộc hội thảo với cả Tây lẫn ta quy mô như vậy không?
- Inrasara: Thơ Tân hình thức không còn mới ở Việt Nam, đó là điều người quan tâm không thể không biết. Dẫu sao, 12 năm hành trình, nó cần được tổng kết, đánh giá. Vấn đề đặt ra là: hội thảo gồm những ai, và cách thảo luận như thế nào? Tân hình thức hay trào lưu văn chương nào bất kỳ, luôn cần đến sự đánh giá ngay thời điểm nó sắp kết thúc, là hay hơn cả. Hoài Thanh đã tổng kết phong trào Thơ Mới như thế, tại sao hôm nay ta thì không? Do đó, một hay vài hội thảo về Tân hình thức ở thời điểm này là rất cần.” (Bđd, Văn Nghệ Trẻ 29/9/2013, và phongdiep.net 9/10/2013).
[ii] “Đằng sau cái mặt ngoài sặc sỡ và đầy tạp âm ồn ào của tiến trình văn học, người ta không nhìn thấy vận mệnh to lớn và cơ bản của văn học và ngôn ngữ, mà nhân vật chính nơi đây trước hết là các thể loại, còn trào lưu, trường phái chỉ là những nhân vật hạng nhì và hạng ba.” (M.M. Bakhtin; Nguồn: Đỗ Thị Thu Huyền, Những giọt thơ tích tụ nơi thượng nguồn thi cảm, phongdiep.net 21/9/2013).
[iii] Đỗ Quyên, Thi pháp Nguyễn Quang Thiều: Nhìn từ dòng-thơ-cần-giải-thích-giá-trị, Tham luận Tọa đàm khoa học “Nguyễn Quang Thiều trong sự đổi mới thơ Việt Nam đương đại”, Viện Văn học - Hà Nội 28/6/2012; và vanvn.net 19-20-21/6/2012. 
[iv] Báo Nghệ Thuật Mới số 11 tháng 12/2012; và Đỗ Quyên, Văn học Việt ở ngoài nước trong các năm 2005-2010, vanhocviet.org 25/8/2013.
[v] Xem thêm: Phân loại theo sáng tạo thi pháp thơ Việt sau Thơ Mới (Mục IV.2. và Chú thích 38); Về hiện tượng văn hóa trong các sự kiện văn học (Đỗ Quyên, Thơ Mai Văn Phấn trong dòng thơ cần giải thích giá trị, sách Kỷ yếu Hội thảo thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn, Nxb Hội Nhà văn 2011, và dangvansinh.blogspot.ca 16/5/2011); và, "Có thể nhận định rằng, sau Sáng Tạo những năm 60 của thế kỷ trước, Mở Miệng là nhóm thơ đầu tiên đặt dấu ấn rất đậm trong dòng chảy của thơ Việt. Chúng ta hy vọng 5 khuôn mặt này làm nên cuộc cách tân lớn. Nhưng rồi họ cũng không thể. Tại sao?" (Inrasara, Sẽ không có cuộc cách mạng thơ trong tương lai gần, Tham luận Hội thảo thơ - TP HCM tháng 7/2006; và tienve.org).
[vi] Chú thích 38.
[vii] Tham khảo: Montel, Jean-Claude; Thơ/văn xuôi khác biệt chỗ nào?, Hoàng Hưng dịch từ tiếng Pháp, phebinhvanhoc.com.vn 13/10/2012; Girshman, М.М., Văn xuôi, Lã Nguyên dịch từ tiếng Nga, phebinhvanhoc.com.vn 3/9/2013; và Ngô Tự Lập, Văn chương như là quá trình dụng điển, Nxb Tri Thức 2008, các chương II, IV, V và VI.
[viii] Đinh Từ Thức, Aline, cô bé gốc Việt được làm Thi sứ và mời vào Bạch Ốc, damau.org 3/10/2013; Xem thêm: Các bài thơ Tân hình thức Mỹ của Aline Dolinh (Trưởng nữ, di dân, hè sàigòn, damau.org 11/10/2013, Đinh Từ Bích Thúy chuyển ngữ).
[ix] Riêng về đề tài thơ văn xuôi Việt chúng tôi cũng đang thực hiện ở bài viết khác, với một số điểm nêu trong bài này cùng vài bài đã công bố như ở Chú thích 38, 40, và Nhìn Nhã Thuyên, từ thơ văn xuôi, damau.org 14/10/2008. Muốn gửi trước đến bạn đọc một đoạn phóng bút chút ít dính với Tân hình thức:
“Trong số các tay thơ văn xuôi Việt đương đại, băng qua những Ðặng Ðình Hưng, Trần Dần, Trần Vấn Lệ, Thanh Thảo, Nguyễn Thanh Hiện, Trần Anh Thái, Lê Minh Quốc, Nguyễn Minh Khiêm, Mai Văn Phấn, Nguyễn Quang Thiều, Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Vỵ, Nguyễn-hòa-Trước, Đặng Thân, Đinh Thị Như Thúy, Lê Ngân Hằng, Lê Nghĩa Quang Tuấn, Nguyễn Thuý Hằng, Nguyễn Thế Hoàng Linh, v.v… tôi thích nhất nhì là Nguyễn Quốc Chánh, Nguyễn Linh Khiếu. Bỏ qua nhân thân, vị thế ngoại vi - trung tâm của nhị vị trên vùng thơ Việt, chỉ nói về “chuyên môn”. Trên bản đồ thơ văn xuôi Việt, Chánh như là Do Thái và Khiếu như là Ấn Độ. Chánh chém đứt các tay thơ văn xuôi khác ở cái ẩn ức, hoang đàng, tục tằn thời cuộc hóa và dục tính hóa vào hệ thống ngôn từ, Khiếu đè sập các hình hài thơ văn xuôi bằng độ kỳ vĩ và ưu đàm của tư tưởng nhân sinh theo nhịp chảy chữ nghĩa; Thơ Chánh càng nhấn nhá phần thú (để tìm về cái người) bao nhiêu, thơ Khiếu nâng cao cái người (để tìm diệt cái thú) bấy nhiêu; Bút pháp: thơ văn xuôi Chánh phúng dụ/ ẩn dụ/ ngoa dụ/ hoán dụ/ dụng điển/ so sánh lắt la lắt léo, thơ văn xuôi Khiếu là dòng cuốn trôi bến tung bờ bằng thủ thuật lặp đi lặp lại; Cấu trúc: Chánh ưa cú pháp chữ nghĩa quái đản và tếu táo, Khiếu mượn dòng ý thức Pháp để chở đạo Việt. Sau thành tựu, 5-6 năm qua thơ Chánh phụt ẩn ức chính trị và dục tính lên thành mục đích sáng tác: Tiếc! Trên lối thử nghiệm, 5-6 năm qua thơ Khiếu hẹn buổi chào đời một sáng tác khổng lồ nhất về dung lượng (khoảng 210 trang, 110.000 chữ), kỳ vĩ nhất về nội dung tư tưởng nên khó đọc nhất về hình thức nghệ thuật cho dòng thơ văn xuôi Việt, dòng thơ trường ca Việt và có thể cả dòng thơ hiện đại Việt: một cuốn kinh về sự phồn sinh!
Năm qua, thơ văn xuôi Việt, như là ở giữa Nguyễn Quốc Chánh và Nguyễn Linh Khiếu về thi pháp thể loại và ngôn ngữ, đã có thêm Nguyễn Thanh Hiện đồ sộ về suy tưởng kinh điển và mênh mang cảm hứng hiện đại cũng bằng dòng ý thức Pháp mà chở tình Việt làng Việt với những thiên trường ca tân cổ điển.
Và, trừ Trần Vấn Lệ, không một tay thơ văn xuôi nào nữa trong số các vị kể trên làm bạn với Tân hình thức! Với Nguyễn Quốc Chánh, chắc vì dù dư giọng đời thường ứa tràn bức xúc, phá ph/cách tùm lum, mạch thơ loang lổ vô lường, nhưng quá đậm ẩn dụ đặc tu từ như một loài tái sinh của phái Tượng trưng. Nguyễn Linh Khiếu ắt bởi dầu thật mênh mang sự kể, kỹ thuật lặp lại cái đối lập, vắt dòng trải nghiệm tít mù nghi vấn, nhưng tuyền là đại tự sự, suy tưởng siêu nhân siêu nhiên siêu đạo siêu đời, diễn ngôn cao vời đến chết đi được.” 
[x] Xem thêm: “Lần đầu tiên, với phong trào Thơ Mới, thơ tự do trở thành một trong những kỹ thuật chủ chốt của thơ ca Việt Nam hiện đại. Đây là kỹ thuật mới nhất làm cho Thơ Mới đoạn tuyệt hẳn với thơ cũ. Đặc biệt, trong khi tiếp thu kỹ thuật thơ tự do, các nhà Thơ Mới Việt Nam còn thực hiện một bước đi triệt để hơn: thực hiện kỹ thuật thơ văn xuôi. Thơ văn xuôi là bước phát triển cao nhất của thơ tự do. Ngoài đặc trưng chung của thơ ca là nhịp điệu, thơ văn xuôi còn giống thơ tự do ở cùng một điểm chung là không bị ràng buộc vào các quy tắc về số câu, số chữ, niêm luật… Nhưng, nó khác với thơ tự do ở chỗ là trong khi thơ tự do vẫn lấy câu thơ làm đơn vị nhịp điệu và vẫn có thể có vần, thì thơ văn xuôi không phân dòng, không dùng hình thức câu thơ làm đơn vị nhịp điệu, và thứ hai là thơ văn xuôi không có vần.” (Nguyễn Văn Dân, Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại đến văn học nghệ thuật trên thế giới và Việt Nam, Tạp chí Văn học nước ngoài số 8/2012, và phebinhvanhoc.com.vn 9/5/2013).


                             (còn nữa)