Tổng số lượt xem trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn CHUYEN XƯA NAY MỚI NÓI. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CHUYEN XƯA NAY MỚI NÓI. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 19 tháng 2, 2015

CHUYỆN XƯA NAY MỚI NÓI- KỲ 151 - Ăn tết...nhầm !!!

           


Tổ địa chất chúng tôi hồi đó có 5 người, quanh năm lặn lội trên các đỉnh núi cao mây phủ. Thường thường đêm ngủ võng căng trên những vách đá cheo leo, may mắn mới kiếm được vạt rừng bằng phẳng để “lấy cây làm nhà, lấy lá làm chiếu, lấy sương làm màn”.
Sau một đêm lạnh buốt, chập chờn trong  giấc ngủ, sáng sớm trở dậy nấu cơm, lùa vội 3 bát vào bụng , cuốn tăng võng vào ba lô bắt đầu một ngày leo trèo. Công việc hằng ngày là cầm buá đập vào sườn lấy đá nhét ba lô, sau một tháng mới cử một người mang xuống núi cho phòng thí nghiệm ép nén, phân tích hoặc làm những trò quái quỷ gì đó. Công việc đó là của đám kỹ sư, bọn tôi công nhân chỉ biết leo trèo như 5 con khỉ đột lấy mẫu đá dọc đường.
Vùng núi Tây Bắc, người Mèo thường ở cao nhất. Ấy thế mà chúng tôi vào ngày nghỉ hiếm hoi còn xuống núi chơi bản Mèo. Từ trên cao nhìn xuống bản lố nhô những nóc nhà như tổ chim chênh vênh, và đàn dê phủ kín sườn núi thằng nào thằng nấy chỉ ước bắt một con mổ thịt.
Hồi đó chưa có đồ hộp, bữa cơm hàng ngày của chúng tôi rặt cá khô với bí đỏ là thứ thường trồng trong các bản vùng cao. Ăn đi ăn lại mỗi hai món đó, ngán tận cổ. Một bữa ăn xong, thằng “bần cố nông “ đặc sệt biệt danh là “lông-din” từ chữ “nông dân” trệu ra, bỗng hô lớn :
“ đả đảo bí ngô
Ngăn ngừa cá khô ngóc đầu dậy…”
Thằng Tân “khoai lang”, dân Hànội chính gốc nhưng lại chỉ thích ăn khoai lang trợn mắt :
“ Không ăn cá khô với bí ngô thì mày ăn gì ? Trâu luộc “cả con” nhá ?”
Thằng Mậu “mù” vốn hai mắt tí hí “mắt lươn” cười hề hề :
“ Trâu luộc cả con thì chẳng dám nhưng giả tỉ có cái đùi dê xơi tái chấm tương gừng thì ôi thôi…còn hơn vào đặc sản …”
Thằng Hòa “tổ ong” vốn rỗ chẳng rỗ chịt dọa :
“ Để hôm nào tao lẻn xuống bọn Mèo chặt trộm cái đùi dê mang lên xứ u tỳ này có ma biết …”
Tôi vội vàng quát :
“ Cấm…cấm đấy ..thằng nào to gan phạm chính sách dân tộc là rũ tù…”
Tôi phải ngăn chúng nó vì tôi là tổ trưởng. Chao ôi, “quản” cho được 4 con khỉ đột này đâu phải chuyện dễ . Lắm lúc kiếm không ra một khe nước nấu cơm đành nhai gạo sống với bí ngô chúng nó chửi cha cả đảng chính phủ làm tôi hết hồn.
“Chúng mày chửi chế độ đến tai Ban chỉ huy thì tù mọt gông …”
Thằng Tân “khoai lang” gân cổ :
“ Sao tới tai Ban chỉ huy được, trừ ra mày mách bố mày ..”
Nếu tụi nó không ngăn chắc tôi đã quại vỡ mồm nó. Làm tổ trưởng chẳng được cái gì, ngoài việc đeo thêm cái đài Orionton bên sườn, chiếc radio Hunggary độc nhất kết nối bọn tôi với xã hội con người. Cứ chập tối, cơm nước xong, tụi nó leo cả lên võng tôi mới trịnh trọng mở đài :
” Đây là tiếng nói Việt Nam phát thanh từ Hànội thủ đô nước Việt Nam dân chủ cộng hòa…”.
 Hồi đó năm sáu mươi mấy, tên nước vẫn gọi thế chưa có xã hội chủ  nghĩa con mẹ gì . Ở tít trên núi cao, quanh năm chẳng nghe tiếng máy bay, tụi tôi chẳng cần biết Mỹ Mẽo ném bom ra sao, hôm nay bắn rơi mấy máy bay hoặc dũng sĩ miền Nam thi đua “giết giặc lập công” thế nào. Bởi vậy thường thường nghe oang oang tin sản xuất chiến đấu được vài phút là tụi nó đòi chuyển đài nghe ca nhạc. Riêng buổi “tiếng thơ” có  Trần Thị Tuyết, Linh Nhâm là không bỏ buổi nào..
Dạo đó đã vào cuối Bính Ngọ sắp sang Đinh Mùi. Con ngựa sắp đi con dê sắp đến. Tết đến nơi rồi qua radio đã thấy làng Nhật Tân rực rỡ hoa đào rồi chợ Đồng Xuân đã bán lá dong gói bánh chưng ngày tết. Một buổi tối như thường lệ tôi mở radio.Những tưởng nhạc hiệu “ Việt Nam bao năm ròng rên xiết lầm than” quen thuộc vang lên, ai ngờ tịt mít. Tôi hoảng hồn coi lại pin, coi lại các núm vặn vẫn im thít. Ôi thôi, chiếc radio Orionton hỏng thật rồi, mọi tối nó vẫn oang oang, giờ nó nằm im như cục sắt.
Tụi nó nhao nhao lên chửi bới, tết đến nơi rồi lại tịt đài. Rồi mai mốt sao nghe buổi phát thanh giao thừa tường thuật khắp nơi đón tết.
Đành chịu chứ biết sao giờ ? Làm sao mang được về Hànội sửa ? Không được, một thằng đi bốn thằng ở lại sao lấy được mẫu đá.
Thế là hàng tối cơm xong leo lên võng tất cả chìm vào âm thanh loạn xạ của núi rừng. nào tiếng dế, tiếng gió giật, tiếng “chót thì bóp”…nằm nghe chán tai rồi ngủ lúc nào không biết.
Một tối bỗng thằng Mậu “mù” kêu to :
“ Hôm nay hăm mấy tết rồi chúng mày…”
Tôi giật mình…ừ nhỉ, quên khuấy đi mất, không có đài chẳng biết ngày mấy mà ăn tết… Thằng đoán hai mươi hai, thằng đoán ông táo chầu trời , thằng đoán 30 tết cứ nhao nhao cả lên.Tôi đành chơi trò bỏ phiếu và chẳng hiểu sao thằng nào cũng chọn 30 tết.Thằng lông-din gào :
“ Mai nghỉ tết thôi…để sớm tao xuống bản kiếm cái gì ăn tết…”
Cả bốn thằng nhao nhao đòi đi, tôi đành ngồi lại một mình trông ba lô, tăng võng. Mãi đến quá trưa chúng mới kéo nhau về cùng với tiếng be be ầm ĩ. Tôi trợn tròn mắt :
“ Dê đâu ra ? Không lấy trộm của bản đấy chứ ?”
Thằng Hòa “tổ ong” cười toe toét :
“ Trộm đâu trộm…tụi tao mua đàng hoàng…”
Tôi biết chúng nó để hết tiền ở trụ sở Đoàn địa chất dưới chân núi, làm gì có mà mua, nhưng hôm nay mồng một tết cũng phải có cái gì ăn tết chớ. Tôi chưa kịp nói thằng Mậu “mù” đã cười hô hố :
“ Năm nay Đinh Mùi – tết con dê, ăn thịt dê là đúng quá rồi còn gì…”
Thằng lông-din hùa theo :
“ Phải đấy…phải đấy…nào thịt đi chúng mày…tế sớm khỏi ruồi…”
Thế là chúng nó hè nhau treo con dê lên cây rồi thằng Hòa tổ-ong, thằng Tân khoai-lang mỗi thằng mỗi gậy cứ thế mà phang vào người con dê làm nó kêu rống lên inh ỏi. Tôi quát :
“ Chúng mày ác thế…sao không đập cái cho nó chết ngay…”
Thằng lông din cười hềnh hệch :
“Mày công tử Hànội chưa giết dê bao giờ phải không ? Trước khi cắt tiết phải đập cho nó kêu la ra hết mồ hôi thì thịt dê mới không hôi…”
Hai thằng đánh con dê đến lúc nó thượt ra thằng Mậu “mù” mới giơ tay :
“ Thôi được rồi, giờ bắt đầu cắt tiết…”
Tôi bàn lùi :
“ Chúng mày lấy nước đâu ra làm thịt dê, thả nó đi cho rồi…”
Thằng Tân khoai-lang cười hô hố :
“ Tụi  tao lo hết cả rồi , cứ 5 biđông nước là làm con dê sạch tinh tươm. Thằng Mậu “mù” cắt tiết , nhà nó dưới xuôi chuyên bán thịt dê đấy..”
Thằng Mậu “mù” đắc ý :
“Chúng mày đừng tưởng cắt tiết dê dễ đâu nhá. Trước hết phải khoét một miếng da cổ , lấy chiếc đủa kéo cho đủ 5 tia máu ra, chọn cái tia đỏ mà cắt thì tiết canh mới thơm…”
Nó sai tôi đi lấy ca nhôm Trung Quốc đổ rượu và  bỏ vào mấy viên nabica rồi cắt cho tia máu đỏ vọt vào trong chiếc ca. Chẳng mấy chốc ca tiết dê đã đầy, nó quấy lên, nhờ nabica làm sủi bọt, rót ra 5 cái ly cho 5 thằng rồi trịnh trọng :
“ Nào cạn ly…uống tiết dê mừng tết con dê…”
Thằng nào thằng nấy làm một hơi. Rồi ngay lập tức tụi nó bật lửa lên thui, một thằng cạo lông, một thằng rót nước chút môt từ trong biđông Thằng  Mậu “mù” trổ tài mổ dê thật diệu nghệ. Loáng cái nó đã đưa lên cái đùi :
“ Nào…tái dê chấm muối ớt đây…chỉ tiếc không có tương gừng…”
Hết hai cái đùi rồi đến cái mình, xương sườn bộ đồ lòng nấu cháo.. Suốt chiều cả 5 thằng ầm ĩ ăn uống.la hét mãi đến tồi mới tàn cuộc. Leo lên võng rồi thằng Hoà “tổ-ong” mới than :
“ Tiếc nhỉ…không có đài mà nghe ca nhạc mừng Tết Đinh Mùi…”
Ba ngày sau, tôi trằn trọc mãi ngủ chẳng được, gần nửa đêm tôi đánh liều với cái radio mở đài…Bất chợt có tiếng rọt rẹt rồi bất ngờ vang lên tiếng Trần thị Tuyết ngâm thơ :

“ Xuân về xin có một bài ca,

Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi…
Tin mừng thắng trận nở như hoa…”

Thằng Mậu “mù” hét lên :
“ ối…bác Hồ chúc Tết tụi bay ơi…”
Thằng Hòa “tổ-ong” đang nằm võng ngồi bật dậy :
“ Giờ mới giao thừa sang năm mới kìa…”
Tôi  điếng người :
“Vậy mà chúng mày đã ăn tết từ ba hôm trước…”
Thằng lông-din cười hô hố :
“ Thì mai lại xuống bản bắt con dê ăn tết nữa có sao ?”
Tôi quát lên :
“ Cấm…cấm đấy …chúng mày còn bắt dê nữa tao báo công an…”
Thằng Mậu “mù” cười cười :
“ Thì mày cũng ăn chăng kém gì anh em đó thôi…”
Tụi nó ồ lên cười làm tôi cứng họng. Tuy nhiên hôm sau không thằng  nào nhắc tới chuyện xuống bản bắt dê nữa. Thật là một cái tết nhầm nhớ đời .

10-2014



 



   


.




Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2015

CHUYỆN XƯA NAY MỚI NÓI - KỲ 150 - XIN ĐỪNG DOPING LỚP TRẺ


                 
                                             
Cách đây khá lâu,tôi được đọc một truyện ngắn Nhật Bản viết về hai ông cháu người ăn mày cứ sau một ngày lang thang  xin ăn lại về ngủ gậm cầu và câu chuyện hàng tối trước khi đi ngủ là tưởng tượng về ngôi nhà sau này hai ông cháu sẽ xây.
Ngôi nhà đó phải có khuôn viên rộng rãi,có những luống hoa,có hòn giả sơn,có bể nuôi cá...Và cứ thế,sau một ngày nhọc mệt,trở về gậm cầu trò chuyện,hình ảnh ngôi nhà tương lai lại phong phú thêm những dự định.Cho tới một hôm,đưá bé ăn phải một miếng thịt bò đã hư,nó bị tháo chảy,người lả đi,và trước khi nhắm mắt nó trối trăng :
”Ong ơi,sau này xây nhà ông nhớ phải xây một cái bể bơi...”.
”Ngôi nhà có bể bơi...” đó là hình ảnh cuối cùng,nguyện ước cuối cùng thằng bé mang theo khi đi vào cõi vô cùng.Tôi cứ ám ảnh mãi truyện ngắn đó.Nó phải do một “cây bút trẻ” viết ra mới mang một hoài bão da diết đến thế.Tôi nói ‘cây bút trẻ” vì hồi đó,cách nay phải ngót 20 năm,danh xưng “nhà văn’ trên các báo chỉ dành cho những ai có chân trong Hội nhà văn Việt Nam,còn thì dù có viết  nhiều,viết hay cũng đều bỏ chung vào một rọ gọi là “ cây bút trẻ”.Chuyện đó làm chúng tôi,”những cây bút trẻ” dẫu có buồn lòng nhưng cũng có cái lợi là chưa phải gánh cái sứ mệnh cuả “người thư ký thời đại’ “lương tâm thời đại”’dự báo thời đại’...những danh xưng thường được gán cho nhà văn thời đó..Và bởi thế cái mục tiêu viết cuả tôi hồi đó là lọt được vào mắt xanh cuả anh Trần Hoài Dương,chị Nguyễn thị Ngọc Tú...những người trấn giữ cưả ải  báo Văn Nghệ,”duy ngã độc tôn” trong cả nước làm cái việc goị là “bà đỡ “ cho các cây bút trẻ.
Nhưng mà lọt được vào cái “khung cưả hẹp” kia thật là khó,một năm giỏi lắm được in bốn truyện ngắn là “hết xuất”.Vậy số truyện còn lại biết in ở đâu ? Chẳng có đâu cả.Bởi vậy ngoài những truyện đăng báo Văn Nghệ,tha hồ tôi viết “chơi’,viết “vô tư”,viết “đút ngăn kéo”,viết “chuyền tay’ mà một thời người ta gọi là samưzđát (tự xuất bản).Ấy thế mà khối truyện ngắn hồi đó chưa in được thì 10 năm sau đêu in được cả và thiên hạ còn khen hay nưã.Chẳng hạn những truyện ngắn Bọn họ,Ngày đẹp trời,Tặng phẩm cho em,Con tàu trắng đi trong khói nắng...Bởi thế tôi tâm đắc một câu nói cuả André Gide tại một trường Đại học :
”Chính trong những thời kỳ bị câu thúc,trí năng lại đạt tới hiệu suất cao nhất trong sáng tạo...”.
Bây giớ có lẽ hiếm”nhà văn trẻ” viết ‘đút ngăn kéo” như tôi ngày xưa,truyện nào viết ra in ngay truyện ấy,hàng bán hết không kịp sản xuất.Như thế hoặc do các nhà biên tập đã bớt khắt khe hoặc do “các nhà văn trẻ” đã tự vê tròn cho hết góc cạnh ? Tôi ngờ rằng khả năng thứ hai gần đúng hơn. Bởi lẽ ngày xưa khi khen tác phẩm nào,người ta thường đưa ra những chuẩn tắc : có tính khái quát cao,có những phát hiện sâu sắc về xã hội,có những dự báo sáng suốt,nhân vật mang tính điển hình thời đại...
Bây giờ các nhà phê bình,các nhà báo văn hoá văn nghệ không khen chê theo kiểu đó nưã,họ thường dùng những định ngữ : lối viết trong trẻo,thanh thoát,mạch lạc,sang trọng,mới mẻ vân vân và vân vân...
Như vậy phải chăng văn chương xưa thiên về nội dung xã hội,nay ngả về cắt câu chọn chữ chăng ?Nói vậy cũng chỉ là tương đối thôi,cùng một chuyện ‘phòng the”,người này có thể cho ra một tác phẩm còn ngọt hơn xirô,xoay quanh những chuyện còn tẹp nhẹp hơn chuyện giường chiếu,nhưng người khác có thể viết được tác phẩm mang đầy tâm cảm thời đại.
Mới đây, trả lời phỏng vấn trên báo Thể thao văn hóa, nhà văn Lê Lựu nói đại ý :”Đọc văn lớp trẻ bây giờ chỉ thấy chữ nghiã chứ ít thấy ý thấy tình...”, còn nhà thơ Lê Đạt lại mong rằng chớ đặt lên vai họ ‘gánh nặng cuả hư danh”dễ làm quỵ ngã dọc đường.Tôi cho rằng đó là những lời chí tình cuả người đi trước.
Tháng trưóc,trong một buổi phát hình “khách mời cuả VTV3 với chủ đề “Khoa học Việt nam - thách thức và vận hội”,tôi thấy anh Lại văn Sâm  dẫn chương trình thật là có nghề.Dẫn dắt hàng ngàn sinh viên đối thoại với hàng chục vị giáo sư Việt Nam sinh sống ở nước ngoài,anh ta đã “hoạt náo” rất  có duyên và hấp dẫn.Anh luôn luôn hỏi các vị giáo sư xoay quanh vấn đề “sinh viên Việt Nam có giỏi không,có thông minh không,có xuất sắc không?”.Lẽ tất nhiên các vị giáo sư Việt kiều đều trả lời sinh viên Việt Nam thật giỏi,thật thông minh,thật xuất sắc...Thế là cả hội trường sung sướng vỗ tay rầm rầm,đê mê trong một hưng phấn tập thể.Tất nhiên khơi gợi ở thanh niên ý thức tự hào là rất cần,tuy nhiên làm cho họ ý thức được chính mình,ý thức đưọc những hạn chế,những khiếm khuyết cuả chính họ còn cần hơn.Thưa anh Lại văn Sâm,trong không khí hân hoan tưng bừng buổi ấy,tôi ngờ rằng trong bụng các giáo sư Việt kiều không khỏi băn khoăn  vì sao lòng tự hào lại được nói tới nhiều thế ?
Hôm nay tôi có trong tay tờ Văn Nghệ Trẻ số mới toanh.Ngay trang nhất có hình các nhà văn trẻ trúng giải “sáng tác văn học trẻ’,rồi lướt vào trong thấy có ‘Phim dành cho lớp trẻ”,” Nhận diện hoạ sĩ trẻ...”,’Phỏng vấn đạo diễn trẻ...”.Tôi rất mừng vì thế hệ trẻ ngày nay hoạt động thật sôi nổi ,thật đa dạng trên mọi lĩnh vực.Tuy nhiên tôi cũng rất lo vì ngày xưa những Bỉ vỏ,Giông tố,Số đỏ,Tắt đèn...đều được các nhà văn sáng tác vào độ tuổi 20 tức đều là ‘văn nghệ trẻ” cả.”Văn học tuổi 20” ngày xưa như vậy đó.Thế còn bây giờ...?
Vài năm trước tôi thấy có mấy anh làm thơ “quậy” rùm beng cái gọi là ‘cuộc chuyển giao thế hệ”.Quả thực tôi khó hình dung cái cuộc chuyển giao ấy nó diễn ra như thế nào.Xin hỏi quý vị : cụ Nguyễn Du,bà Hồ Xuân Hương,ông Nguyễn Gia Thiều,bà Đoàn thị Điểm..đã “chuyển giao thế hệ” cho ai và chuyển giao những gì? Riêng tôi,chỉ xin “chuyển giao” tới các vị đó một lời nhắn  :”xin đừng doping lớp trẻ”.Cuộc hò hẹn sau cùng cho những ai cầm bút dù ở tuổi nào,dù ở cương vị nào ,vẫn là trước ...”trang giấy,trời ơi ,trắng rợn người...”
                                                N.T.
                                               9/4/97



Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2015

CHUYỆN XƯA NAY MỚI KỂ - KỲ 147 - SUY NGHĨ GIỮA…BÊTÔNG - KỲ 2 - KIẾN TRÚC SÀIGÒN SOS :


                   KỲ 2  :  CÁI GÌ MẠNH HƠN CÁI ĐẸP ?

                     - CÁI ĐẸP CỨU CHUỘC...THÀNH PHỐ.
                     - NHỮNG CÁI MỘT THỜI ĐÃ LÀM NÊN “HÒN NGỌC CUẢ VIỄN ĐÔNG”.
                     - NHỮNG ĐƯỜNG PHỐ,NHỮNG CỘT ĐÈN VÀ NHỮNG KỶ NIỆM LIỆU CÓ MẤT ĐI ?



Thông thường một dòng chảy khi bị chặn lại ,nó sẽ phá rộng dòng ra ngay tại nơi bị chặn.Nếu đi trực thăng từ công trường Quách thị Trang dọc theo đường Lê Lợi,qua bùng binh trước bách hóa tổng hợp,ta sẽ thấy cái dòng “thông thoáng” vuà đi đó  bị chặn lại ở Nhà hát thành phố và theo đúng như  quy luật đã nêu,nó “phá” ra thành quảng trường rộng hai bên Nhà hát thành phố  để tạo nên vẻ đẹp rất tự nhiên.Tiếc thay vẻ đẹp đó đã bị phá vỡ bởi khách sạn Delta Caraven cao vượt  trên đầu Nhà hát,mỗi lần nắng lên,đổ một cái bóng đen xì xuống quảng trường.Như vậy Nhà hát thành phố ta có thể sưả chưã tôn tạo được,nhưng vẻ đẹp mà nó tạo ra cho cả khu vực xung quanh thì đã mất đi.
Từ quảng trường Nhà hát,xuôi theo Đồng Khởi ra bến Bạch Đằng, nơi đây ngày trước,cứ chiều chiều có biết bao người tới hóng mát tại nơi coi là “lỗ mũi cuả thành phố” này.Tiếc thay,mấy năm trước Floating Hotel đã trấn giữ cả một khu vực đó,khác nào “bịt lỗ mũi người ta “,kèm theo ô nhiễm cả một khúc sông Sàigòn.Bây giờ khách sạn nổi đã kéo đi,”cơn ông chưa qua,cơn bà đã tới”,lại mọc ra một loạt cao ốc toàn 15,20 tầng cả suốt dọc từ số nhà 5b,5c Tôn Đức Thắng phát triển về phiá Ba Son trên dấu tích cuả tường thành Gia định cũ,nơi đã dự kiến xây dựng Nhà hát opera trong tương lai.Thử hình dung những khối bêtông cao 60 mét,ngang 45 mét lù lù một dãy sát ngay bờ sông,chắn gió thổi vào thành phố,đè bóng lên những công trình cổ cần lưu giữ như Nhà thờ Đức Bà,Bưu điện thành phố...,làm gì còn tầm nhìn ,cảnh quan đẹp đẽ,trong khi ở bên kia Thủ Thiêm,những dải cây xanh ven bờ tạo thành sự mất cân đối qua trục sông Sàigòn giưã khu thành phố mới và cũ.
Một đại lộ đẹp nhất thành phố là đường Lê Duẩn .Nó nằm trong vệt nối những mảng cây xanh của công viên Tao Đàn,dinh Thống Nhất,Thảo Cầm viên.Đại lộ này nằm trên chân tường thành Gia định,có cao trình cao nhất thành phố,hai bên phần lớn là nhà hai ba tầng,mái ngói nằm lẫn trong cây xanh.Dọc đại lộ này còn có cả loạt những công trình di tích,mang tính kỷ niệm như dinh Thống Nhất,nhà thờ Đức Bà,Bưu điện,lãnh sự Pháp,đại sứ quán Mỹ,nhà Tổng công ty xăng dầu,cụm tam giác các trường học như trường Tổng hợp,trường Dược,trường xây dựng...Dọc đại lộ này,quy hoạch xây dựng chỉ cho phép xây dựng những công trình không vượt quá 5 tầng để bảo tồn vẻ đẹp cuả khu trung tâm.Tiếc thay, trên nền trường trung học Thống Nhất đã được đập đi,người ta đang xây một cao ốc 25 tầng,tại góc đường Lê Duẩn-Mạc Đĩnh Chi một cao ốc 15 tầng cũng đã mọc lên,rồi sau Tổng công ty xăng dầu bên đường Nguyễn Du cũng đã xây một cao ốc 38 tầng..Những công trình cao ốc đó đã làm lệch trục đường Lê Duẩn bời chúng nằm cùng trên một phiá,phá huỷ cái vốn quý cuả thành phố :”cái đẹp”. Phải chăng còn có cái gì mạnh hơn nó ?Khi ký giấy cho phép ra đời những cao ốc,liệu người ta có nhớ cái  sẽ cứu chuộc một thành phố khỏi rơi vào hiểm hoạ bêtông hoá toàn khối ,phải chăng là cái đẹp ?
Vào những năm 1986-87,một cuộc thi thiết kế quy hoạch khu ga Sàigòn cũ (đã được đập bỏ) được phát động rầm rộ trong giới những nhà kiến trúc :các Hội,các Trường,các cơ quan...Đề án được chấm giải nhất trong cuộc thi này là đề án biến toàn bộ khu đó thành công viên - công viên 23 tháng 9.Đó là một giải pháp hợp lý vì giưã vệt cây xanh “Vườn Tao Đàn” - “dinh Thống Nhất” - “Thảo cẦm Viên” với sông Sài gòn là cả một rừng bêtông với các hẻm hóc khu Phạm ngũ Lão  rất cần một mảng cây xanh vốn đã quá ít ỏi.Khu trung tâm sẽ được thêm một lá phổi nưã nếu công viên 23 tháng 9 nằm trọn trên “mũi tàu” kéo dài từ công trường Quách thị Trang,khu ga Sàigòn cũ cho tới khu chợ Thái Bình.Và như vậy vẻ đẹp cuả nó dễ dàng làm trầm trồ khách du lịch.Tiếc thay cái đồ án được chấm nhất đó cho tới nay nó đã rơi vào quên lãng,chẳng ai còn nhắc tới nó.Khi đi qua đây ngưòi ta chỉ thấy bít bùng những tấm vách che quanh công trường,bên tai thậm thịch tiếng buá máy mà chẳng thấy mảy may dấu hiệu cuả một công viên.Và cho tới bây giờ đã rõ ra là công viên sẽ được xây dựng trên ...tầng thượng cuả Khu trung tâm thương mại Sàigòn,một công trình liên doanh cỡ lớn tương lai sẽ trân giữ ngay tại vị trí “một lá phổi cho thành phố”.Và đương nhiên cái công viên trên trời kia sẽ chỉ giành cho ...người ‘nhà trời’ sống trong đó.
Làn sóng ‘bêtông cao ốc” đang dâng lên  ở khu trung tâm không chỉ gây hiểm hoạ biến đường phố thành các con hẻm,xoá mờ kỷ niệm,xâm phạm cái đẹp mà còn gây ô nhiễm môi trường,gây trầm trọng thêm bệnh kẹt xe - một chứng cao huyết áp cuả cơ thể đô thị....


                                                       (còn tiếp)


Thứ Ba, 6 tháng 1, 2015

CHUYỆN XƯA NAY MỚI NÓI - KỲ 163 - 7 lần hẹn gặp ông Chủ tịch Hội Nhà Văn

CCCCCC
 




                                                                                                           
      Cái ghế Chủ tịch Hội Nhà Văn trong trào cộng sản , so với Bộ chính trị, Ban Bí thư thì nhỏ xíu, chưa được bằng cái chức Bật Mã Ôn giữ ngựa  do Ngọc Hoàng thượng đế ban cho Tôn Ngộ Không. Ấy thế nhưng bằng vào bổng lộc  và “uy danh” , cái chức đó cũng gây nên cuộc đấu đá khốc liệt giữa biết bao nhiêu nhà văn, nhà thơ gạo cội trong đó nổi lên hai gương mặt “bám ghế” được lâu nhất Hội : nhà văn Nguyễn Đinh Thi và nhà thơ Hữu Thỉnh.
Ông Hữu Thỉnh đã ngồi ghế Chủ tịch Hội được 3 khoá, xem ra cho tới nay chưa kiếm được như ông để hành nghề “Chủ tịch Hội”, bởi vậy có thể thấy trước ông sẽ vẫn lại ngồi ghế này trong khoá tới.
Bài phỏng vấn dưới  đây của nhà báo Phong Sương ( Hà Nội) cho thấy sự trơ lỳ chính là phẩm chất hàng đầu của các quan chức thời nay.

Nhiều lần trong cuộc đời làm báo của mình, tôi bị các nhân vật là quan chức từ chối phỏng vấn. Họ từ chối cũng đúng thôi vì những vấn đề tôi hỏi đều “tế nhị, nhạy cảm, động chạm” theo quan niệm của họ. Nhưng ít ra thái độ dù khéo léo hay lạnh lùng từ chối một cuộc phỏng vấn ngay từ đầu còn làm cho phóng viên dễ chịu. Bởi lẽ, họ còn có thời gian tìm kiếm nguồn tin khác mà hoàn thành bài vở cho đúng hẹn với yêu cầu cấp thiết của tòa soạn. Cuộc “hẹn hò” với ông Chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam là một giấc mộng “kinh hoàng” trong cuộc đời làm báo của tôi. Bảy lần “hẹn hò” phỏng vấn là bảy lần ông cho tôi “leo cây”. Hơn hai tuần lễ, tôi thấp thỏm, bồn chồn, đứng ngồi không yên hết gọi điện lại chờ đợi ông tại phòng làm việc riêng. Nhưng những gì tôi nhận lại chỉ là những lời “bong bóng” phập phồng hết nổi lại chìm. Thà rằng, ngay từ đầu ông từ chối. Đằng này…
Lần đầu tiên vào một chiều cuối thu tháng 9. Tôi gọi điện hẹn gặp nhà thơ Hữu Thỉnh trong một tâm trạng rất thoải mái và hứng khởi. Bởi lẽ, tôi đã nghe nhiều giai thoại về tính cách nhẹ nhàng, khéo léo rất được lòng người của ông. Đạo diễn Đỗ Minh Tuấn có lần tâm sự, anh phục nhất nhà thơ Hữu Thỉnh là năng khiếu “truyền dẫn” lòng say mê, niềm hứng thú sáng tác văn thơ cho các hội viên HNV. Nếu quả đúng như vậy, tôi dạt dào hy vọng ông sẽ dành cho mình một cuộc phỏng vấn cởi mở về những vấn đề thời sự của đời sống văn chương nước nhà.
Tôi bấm máy. Ở đầu dây kia vang lên một tiếng nói nhỏ nhẹ: ”Xin hỏi ai gọi đấy?”. ”Dạ, cháu là…phóng viên…ạ. Cháu muốn xin bác một cuộc phỏng vấn nhỏ về các vấn đề thời sự của văn học, đặc biệt là giải thưởng Văn học sắp công bố của Hội.”. “Đang họp, đang họp, cuối giờ chiều gọi lại nhé”. Nghe giọng nhà thơ thì thào đứt quãng chìm lẫn trong tiếng phát biểu sang sảng thì chắc đúng ông đang trong cuộc họp rồi. Đợi đến 5 giờ chiều, tôi gọi và nhắc lại lời đề nghị. “Xin lỗi, tuần này chú bận lắm cháu ạ. Khổ lắm. Họp suốt từ thứ sáu, sang cả thứ bẩy, chủ nhật. Không có một lúc rỗi nào đâu. Thứ hai cháu gọi lại nhé.”. Thấy giọng ông hốt hả, vội vã như vậy tôi cũng đành buông máy. Chẳng gì nhà thơ cũng là lãnh đạo một Hội Văn học đồ sộ với số lượng lên tới hơn 800 hội viên. Làm nhà “quản lý” văn chương thì chẳng khác nghề “làm dâu trăm họ”. Mỗi một cây viết lại là một thế giới sáng tạo khác biệt với những cách nghĩ, quan điểm, lý tưởng sống phong phú đa dạng. Đứng đầu một thế giới phức tạp như vậy, chắc hẳn nhà thơ đau đầu lắm.
Tôi gọi lại cho ông vào buổi chiều thứ 2, đúng theo lời đã hẹn. Lần này, chưa kịp hỏi gì tôi đã nghe tiếng ông sang sảng ở đầu dây: ”Cháu ơi, tuần này chú cũng bận lắm, không hở được kẽ nào để tiếp cháu đâu”. “Cháu cũng biết chú bận lắm nhưng cháu chỉ xin chú 30 phút thôi. Bài này cháu đã khất tòa soạn đến một tuần rồi. Cháu mà không phỏng vấn được chú là bị đuổi việc đấy ạ.”. “Thôi cháu ơi. Thế để chú giới thiệu cháu phỏng vấn Trần Đăng Khoa, Phan Thị Vàng Anh nhé?”.”Không chú ơi, chú là Chủ tịch Hội Nhà Văn rất nhiều năm rồi. Hơn ai hết chú sẽ là người nắm chắc nhất những vấn đề của Hội. Vì thế, phỏng vấn chú sẽ là phương án mà bạn đọc quan tâm nhất ạ”.” Thôi, thế đến thứ 6 gọi lại đi. Tuần này chú bận lắm, không thở được nữa ấy. Thế nhé!”. Chưa kịp nói gì, đầu dây kia đã kéo dài những tiếng tút tút lạnh lùng. Lời từ chối của ông làm tim tôi đau nhói vì nỗi mỏi mòn chờ đợi suốt chục ngày qua. Thế nhưng, trong thời điểm đó, tôi hừng hực một quyết tâm sẽ không bỏ cuộc. Bằng bất cứ giá nào tôi cũng sẽ thực hiện bài phỏng vấn ông Chủ tịch Hội Nhà Văn sau bao nhiêu công sức chuẩn bị, chờ đợi.
Lần thứ 4, tôi gọi lại cho ông vào thời điểm cuối ngày của một ngày cuối tuần. Tôi nhẩm chắc khi ấy ông đã thoát khỏi một tuần bận rộn, mỏi mệt. Cũng như những người ông ở tuổi 65, chắc hẳn ông đang vui đùa ở nhà cũng những đứa cháu nội, cháu ngoại dễ thương, xinh xắn. Trong tâm trạng nhẹ nhõm, hạnh phúc chắc hẳn ông không nỡ lòng nào từ chối tôi một lần nữa. Đúng như dự đoán, lần gọi thứ tư, ông đã chấp nhận hẹn gặp tôi. Ông nói đúng 8h30 sẽ tiếp tôi tại phòng làm việc riêng, tầng Ba, Hội Nhà Văn Việt Nam. Tôi rối rít cảm ơn ông rồi suốt hai ngày cuối tuần thức đêm, thức hôm gò lưng chuẩn bị câu hỏi phỏng vấn.

Các cụ vẫn thương nói: “Qúa tam ba bận”, còn tôi phải mất đến “quá tam năm bận” mới gặp được nhà thơ Hữu Thỉnh. Tính hay lo xa, tôi đã “chầu chực” ở cổng Hội Nhà văn sớm hơn 15 phút so với dự định. Anh bảo vệ hồ hởi chỉ tôi lối lên phòng làm việc của ông trên tầng ba rồi nói theo: “Cứ lên đó chờ đi, giờ này ông ấy chưa đến đâu”. Lọ mọ một lúc, đi qua vài cầu thang ngoắt nghéo, tôi đã nhìn thấy căn phòng dán tấm biến “Chủ tịch” sáng chói, hai cánh cửa im ỉm ánh lên màu gỗ nâu. 8h30, 8h45 rồi 9h, vừa đi đi lại lại dọc hành lang chật hẹp, tôi vừa bồn chồn liếc nhẩm giờ ông tới. Đến đúng 9h10, khi vừa rút điện thoại ra khỏi túi, tôi nhìn thấy dáng ông chầm chậm bước lên cầu thang. Một tay buông thõng xách cặp, một tay nặng chĩu chồng nhật báo “nóng hổi” tin tức, trông ông trẻ trung, phong độ hơn nhiều so với những người cùng độ tuổi 65. Đoán tôi là phóng viên hẹn gặp, ông vội thanh minh lý do đến trễ và lởi xởi mờ tôi vào phòng làm việc. So với khoảnh sân chật chội (không có lấy một nhà gửi xe), cầu thang quanh co, hành lang dài hẹp của Hội, thì phòng riêng của Chủ tịch hội khác hẳn: rộng rãi, sạch sẽ và ấm cúng. Vừa loay hoay rót ấm chà đặc sánh, ông vừa vui vẻ cười nói hỏi han tôi hết chuyện công việc đến chuyện chồng con. Tôi thật ân hận nếu được gặp ông sớm hơn, tâm trạng lo âu, e ngại vì sự “xa cách” của các quan chức sẽ không ám ảnh trong tôi lâu đến vậy. Để không mất thời gian, tôi bật sẵn máy ghi âm và vào ngay vấn đề bắt đầu cuộc phỏng vấn. Nhưng, hỡi ôi, đầu óc tôi như quay cuồng khi ông trả lời lại: Hôm nay, chú chỉ dành cho cháu được một phút thôi, còn không phỏng vấn, phỏng viếc gì hết.”. Tôi tái người hỏi lại:” Tại sao vậy chú? Hôm trước chú đã đồng ý để cháu phỏng vấn rồi mà.” Tôi không thấy một sắc biến thái nào trên mặt ông. ”Tại cháu gọi nhiều quá nên chú nói vậy thôi. Hôm nay chú nói lại là chú bận lắm. Phải đến thứ 2 tuần sau chú mới sắp xếp được công việc. Sau 10h thứ hai cháu gọi lại nhé. Gặp được hay không lúc ấy chú mới hứa được”. Tôi không còn tin vào tai mình nữa. Ít ra ông cũng là bậc cha chú của tôi mà sao ông lại hành xử không khác một đứa trẻ con lên năm vậy? Khoảnh khắc đó, tôi cố gắng bình tĩnh trở lại và tìm mọi lý lẽ thuyết phục nào là cháu đã phải mất bao công sức chờ đợi chú; chỉ có chú là người duy nhất có thể trả lời thấu đáo mọi vấn đề của Hội; nếu không phỏng vấn được chú chắc cháu sẽ đuổi việc mất…Tình thế cam go đến nỗi tôi phải lấy lý do là “đồng hao, đồng hương” Lập Thạch- Vĩnh Phúc nài nỉ ông đồng ý trả lời. Vừa nghe tôi nói, ông vừa chối đây đẩy lại còn “đuổi khéo” tôi bằng lời nhắc uống nước nhanh nhanh lên rồi về cho ông làm việc. Từ nay đến chiều ông còn vài ba cuộc họp nữa, bận không có hơi mà thở nữa. Đến nước này, tôi đành tung ra con bài cuối cùng thường hay áp dụng trong những tình huống cần “chai mặt”: “Vậy chú cứ đi họp đi ạ! Cháu sẽ ngồi chờ chú đến trưa và mong chú cho cháu xin 15 phút vàng ngọc.” Nhìn thẳng vào tôi, ông thản nhiên đáp: Cháu cứ ngồi đấy chờ. Chú đem sách báo, tài liệu sang phòng khác làm việc không biết đến lúc nào mới về đâu. Trời ơi, đến lúc này tôi chỉ còn biết kêu lên than trời! Chưa kịp để tôi đáp lại, ông xoay lưng đi vội ra khỏi phòng rồi vọng lại một lời nhắn nhủ: “Thứ 2 tuần sau gọi điện lại nhé!”


Thất thểu rời khỏi Hội Nhà Văn, đầu tôi vẫn loang loáng giọng thơ nhỏ nhẹ của ông: Thứ hai, thứ hai nhé…Một lần nữa, tôi lại thử thách lòng kiên trì của mình bằng cách nhấc máy gọi điện cho ông. Vừa kịp nhắc tên, tôi đã nghe tiếng ông vọng lại thì thào, thì thào như thể ông đang ngồi giữa một hội nghị cực kỳ quan trọng: ”Đang bận họp, lúc khác gọi lại nhé”. Chiều 31.10.2007, tôi gọi lại cho ông lần thứ 7. Những hồi chuông kéo dài cho đến giây cuối cùng khi những tiếng tút tút réo rắt vang lên. Tôi thử lại lần thứ 8. Vẫn những hồi chuông dài rồi tắt ngấm. Ông không nghe máy. Phải chăng vì số điện thoại này đã quá “nhẵn mặt”? Lần thứ 9, thứ 10, thứ 11…đáp lại tôi là những hồi âm: “Thuê bao quý khách vừa gọi hiện không liên lạc được”. Ông đã tắt máy. Đồng thời cũng tắt ngấm trong tôi lòng tha thiết muốn gặp lại ông một lần nữa.
Thà rằng ông từ chối ngay từ đầu là không thể trả lời đã là một nhẽ. Đằng này, ông đối xử với tôi chẳng khác một đứa trẻ con lên năm: Này mày ngoan đi nhé rồi tao sẽ thưởng kẹo cho. Lúc nào nó khóc ông lại lấy kẹo ra nhử nhưng chẳng đời nào cái kẹo kia rơi vào tay nó. Thái độ bỡn cợt, nhập nhằng của ông chẳng làm tôi thất vọng lâu vì suy cho cùng, ông có quyền đồng ý hay không đồng ý cuộc phỏng vấn này. Chỉ có một điều, tôi không hiểu tại sao ông lại có thái độ “trốn tránh” và “đùn đẩy” trách nhiệm như vậy. Một vài năm trở lại đây, tính minh bạch, công khai trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp đã có những thay đổi đáng kể. Từ Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường, Bộ trưởng Bộ Giáo dục đến các Phó Thủ tướng đã đăng đàn đối thoại trực tiếp với dân chúng quan Internet. Đối với các phóng viên, việc đề nghị một cuộc phỏng vấn với quan chức cấp Vụ trở lên đã không quá khó khăn vì mỗi Bộ, Ngành đều có những người phát ngôn chính thức và chính xác về các vấn đề thuộc thẩm quyền. Đến như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng- người lãnh đạo cao nhất của Chính phủ mới đây cũng đã đối thoại trực tuyến với người dân suốt gần 4 giờ đồng hồ không ngơi nghỉ. Khi gặp những câu hỏi hết sức gai góc như: “Vì sao Thủ tướng lại ký chỉ thị nghiêm cấm tư nhân hóa báo chí dưới mọi hình thức? Như vậy có đi ngược lại mục tiêu tự do, dân chủ mà Thủ tướng đang phấn đấu không?” hay “Có người nói, con gái ông lấy chồng Việt Kiều còn 2 con ông đi học ở Mỹ trong khi trước đây ông chiến đấu chống Mỹ?” Thủ tướng đã rất thẳng thắn trả lời nhẹ nhàng, thỏa đáng. Nếu theo dõi truyền thanh truyền hình ở các nước phương Tây , mọi người có thể dễ dàng nhìn thấy là bất kỳ nhà chính trị nào cũng bị “hỏi khó “. Một nhà báo Anh đã từng bình luận: Đó chính là tính cách đặc thù của truyền thông tự do. bởi vì bản chất của nó thay mặt công chúng giám sát những việc làm của chính phủ. Các phóng viên hỏi những gì người dân muốn biết và trách nhiệm và trách nhiệm của các chính khách là trình bày rõ ràng mạch lạc chính  sách của họ. Đến như Tổng Thống George W. Bush, người chịu trận gần như hàng ngày trước truyền thông và đối lập. Ông Bush có lẽ cũng không thích thú gì với những màn công kích của báo chí nhưng sau tám năm, khả năng đối phó của ông đã cải thiện đáng kể. Những việc né tránh câu hỏi "khó" của báo giới đã làm cho các quan chức ứng phó thiếu linh hoạt khi gặp phải tình huống buộc phải trả lời. Khi đó, tờ báo sẽ có những cuộc phỏng vấn dở khóc, dở cười. Hình ảnh của quan chức vô hình chung sẽ méo mó và đáng thất vọng trong con mắt dư luận. Sự cởi mở của các quan chức xét cho cùng chỉ có lợi cho chính cơ quan, ban ngành mà họ đang phụ trách.

Vì thế, cách từ chối phỏng vấn của ông Chủ tịch Hội Nhà văn khiến tôi rất băn khoăn, trăn trở:  Tại ông không thích báo chí hay những điều tôi hỏi đều “tù mù, tế nhị, động chạm, nhạy cảm” khiến ông không thể trả lời? Cách đây vài năm, khi xảy ra nghi án văn chương về bài thơ “Hỏi”, tôi nhớ không một tờ báo nào phỏng vấn được ông về vụ việc này. Ông đã chọn cách im lặng để sự việc chìm xuồng thay vì đối thoại một cách trực tiếp, thẳng thắn với công luận. Đến dự lễ giao lưu với sinh viên khoa Văn trường Đai học sư phạm I , ông còn thốt lên: “Câu chuyện đạo thơ mà người ta dựng lên ấy, biết thanh minh thế nào... Trời ơi! Chỉ có người viết ra nó mới biết được thôi...”. Đâu có phải ông không có cơ hội thanh minh? Nếu có những um xùm, tin đồn, bịa đặt không hay về ông hoặc cơ quan ông đang phụ trách, ông có thể chọn cách nhận lời phỏng vấn mà đối thoại lại công luận những vấn đề chưa sáng tỏ. Ngày nào, ông còn chọn cách im lặng thay cho đối thoại thì ngày ấy những “bóng ma” vẫn tiếp tục treo lơ lửng như những nghi án không thể gột rửa. 


               P.S.



Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2014

BÁC BA PHI ĐI THĂM MỸ - KỲ 137




                                 (tiếp theo)

 “ Lão già” cười hề hề :
“ Chị khỏi lo đi. 70 năm nay đảng cộng sản Việt Nam đã cấy được vào trong đầu mỗi người dân Việt Nam một con chip gọi là “ nỗi sợ” khiién trong mỗi người đều có một cha công an sẵn sang kiểm duyệt loại bỏ những gì trái với chủ trương đường lối của Đảng. Bởi thế tôi có nhét vào đầu tía cô cả một rừng những tư tưởng phản động đi chăng nữa thì ông vẫn đẩy ra khỏi đầu hết huống hồ lo gì ông nói nó ra đàng mồm.”
Chị Kelly Thi phụ hoạ :
“ “Lão già” nói đúng đó . Tôi đã gặp mấy bà mấy ông từ trong nước sang, người nào người nấy vẫn còn nói năng theo giọng điệu của Đảng chính phủ ghê lắm. Tôi có một ông anh họ trình độ đại học sang thăm họ hàng ở Mỹ. Tôi mời ông đến thế đãi rất thịnh soạn. Trong bữa cơm mọi người nói chuyện rôm rả, nhiều điều ông nói nghe tức anh ách, chẳng hạn nhắc tới  Trung Quốc ông cứ một điều “anh Hai”, hai điều “anh Hai”. Tôi tức quá hỏi ông :” tại sao thằng Trung Quốc đang lăm le chiếm biển Đông” của Việt Nam mà ông cứ gọi nó là anh Hai “. Ong ta trả lời tỉnh bơ :’ Ngày xưa Liên xô là anh Hai, bây giờ Liên xô đổ rồi thì Trung Quốc là anh Hai chứ sao ? Vả lại ngày xưa trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước Trung Quốc giúp ta rất nhiều nên dù thế nào ta cũng không được quên cái ơn đó.”. Tôi cáu quả vặn lại :” Có chắc thằng Trung Quốc nó giúp đỡ Việt Nam một cách vô tư không hay đằng sau đó là một âm mưu đểu ? Vả lại dù có giúp đỡ mấy chăng nữa mà năm 1979 nó xua quân sang xâm lược nước ta thì còn đâu ân nghĩa nữa. Phải gọi nó là kẻ thù xâm lược chứ sao lại gọi là anh Hai ?”
Chị Kelly Thi kể tới đó tức giận không nói được nữa. Sau “lão già” phải lên tiếng :“ Vậy ông ta trả lời ra làm sao ?”
Chị Kelly Thi cáu kỉnh :
“ Nói y như báo Nhân Dân vậy. Nào là chuyện đánh nhau năm 1979 hai Đảng đã giải quyết xong , bây giờ là 16 chữ vàng và 4 chữ tốt.Mẹ kiếp nghe ông nói tôi thấy tiếc rươu thịt, tiếc thời gian đã mời ông tới tận nhà thết đãi. Biết thế tôi chẳng cần anh họ với em họ gì nữa. Mời thằng cha nó tới, họ hàng chẳng  thấy đâu, chỉ mua cái bực vào mình…”
“ lão già” cười cười :
“ Tôi hỏi thật cô Ut nhé, có lúc nào cô thấy tiếc là đã mời tía cô sang thăm Mỹ không ?”
Cô ÚI trố mắt :
“ Sao bác hỏi gì mà kỳ vậy ?”
“ Lão già” nháy mắt :
“ Thì cũng có thể giống như chị Kelly Thi kìa. Chị ấy vừa nói lấy làm tiếc đã mời ông anh họ tới ăn cơm ở nhà. Họ hàng chưa thấy đầu chỉ thêm bực mình kìa…”
Co Ut lắc đầu :
“ Không không. Tía em hiền lành lắm.Ong không có ham nói chuyện chính trị, cũng không ham tranh luận, ai muốn cãi nhau với tía em cũng khó, ông toàn “cài số lùi”, nhường hết phần thắng cho người thích tranh luận.’
Chị Kelly Thi  thắc mắc :
“ Vậy tía em thuộc loại mũ ni che tai à ?”
Cô Ut cười cười :
“ Chị về Việt nam ròi khắc biết, chẳng cứ gì tía em, người trong nước ai cũng đội một cái mũ che tai vô hình hết, giống như đi trên phố ai ai cũng phải đội mũ bảo hộ che kín cả hai tai lẫn mắt. Cái mũ phòng hộ này  chỉ phải đội khi đi xe máy trên phố thôi, về nhà cất xe là cất mũ ngay, nhưng còn cái mũ ni che tai thì phải đội sáng tới tối, đội quanh năm ngày tháng. Bởi vậy ở Việt Nam bao nhiêu là chuyện bức xúc, nào đuổi nhà cướp đất, nào cảnh sát đánh chết dân, nào là Trung Quốc khai thác bauxit Tây Nguyên, chiếm đảo và lấn chiếm biên giới…tuốt tuột người dân đa số biết hết nhưng chẳng ai dám lên tiếng phản đối , ngay cả trong những cuộc họp cấp thấp nhất là tổ dân phố cũng không ai dám hé miệng phát biểu lấy một câu. “
“Lão già” cười cười :
“ Cứ cái đà này rồi chẳng mấy chốc dân chửi nó hoặc thở ra giọng bất mãn là ăn đòn thù liền. Nặng thì nó bắt đi tù, nhẹ thì nó thuê du đãng gây sự đánh nhau, vứt đồ dơ vào nhà. “
Cô Ut lắc đầu :
“ Ong bác nói gì ghê rợn quá. Cộng sản Việt Nam có man rợ mấy chăng nữa thì cũng phải cần có dân chứ ? Diệt hết cả dân thì  ở với ai, lãnh đạo ai ?”
Chị Kelly Thi chen ngang :
“ Diệt hết dân cộng sản không dám chỉ diệt cái ý chí phản kháng của người dân thôi. Nó muốn biến dân thành đàn cứu, ai ai cũng gọi dạ bảo vâng, bảm nằm là nằm, bảo ngồi là ngồi, bảo chui gậm giường là chui gậm giường ?”
Ba người vừa ăn cơm vưà sôi nổi bàn tán chuyện thân phận ngưeời dân dưới chế độ cộng sản mà quên béng vụ bác Ba Phi mất tích. Mãi tới khi ăn xong, ăn tráng miệng, uống nước trà, chị Kelly Thi mới lên tiếng :
“ Quái cái ông già này…đi đâu thì đi cũng phải gọi điện báo về nhà cho người nhà đỡ sốt ruột chứ ? Ai lại đi chợ mua rau, gia vị nấu giả cầy gì mà đi hút con lươn, không thấy sủi tăm lên nữa…”
“ Lão già” lo lắng :
“ Tình hình này nếu sáng mai không tin tức gì  chắc phải báo cảnh sát 911 thôi…”
Chị Kelly Thi gật đầu :
“ Tôi cũng nghĩ vậy đó.Sáng mai bác ây không gọi điên báo về thì chắc cô Ut phải gọi cho 911 thôi….”
Co Ut ca cẩm :
“ Tôi chỉ sợ báo cho 911 nó ào tới rồi lúc đó bác Ba Phi xuất hiện thì rắc rồi…”
Chị Kelly Thi cười cười :
“ Có gì mà rắc rối, ở Mỹ này có khi ăn không tiêu, bị chướng bụng người ta cũng gọi 911…”
Cô Ut lắc đầu :
“ Làm gì có chuyện đó. Theo tôi biết có điều luật nếu lạm dụng gọi 911 có thể bị phạt tới cả ngàn đôla và tù 6 tháng đó…”
“ Lão già” chen ngang :
“ Vậy mà vẫn khối người gọi 911 về những lý do ấm ớ rồi cũng có sao ? Có bà ngăn ông chồng xem phim khiêu dâm không được cũng gọi 911, lại có cả một thằng nhóc không  giải được bài toán cũng gọi 911…”
Cô Ut tròn mắt :
“ Vậy rồi có sao không ? “
“Chẳng sao cả, cảnh sát thuyết phục ông chồng nên chiều theo ý bà vợ, còn thàng nhóc thì được giải hộ bài toán khó…”
Chị Kelly Thi bật cười :
“ Ơ bên Mỹ này đôi khi cảnh sát có những ứng xử ngồ ngộ vậy đó. Nghe nói có cô gái bức xúc vì boyfriend khong chịu sưởi ấm đôi chân cho cô ta nên cũng gọi 911, chàng trai thấy bạn gái đòi hỏi quá đáng nên cũng gọi 911. Sau cũng cảnh sát phải tới và dan hoà đôi bên…”
“ Lão già” cười hô hố :
“ Thật đúng là Mỹ. Hoá nên ở bên này bà nào cứ hay doạ chồng là gọi 911 thì trước sau cũng mất chồng…Đàn ông Việt Nam là chúa ghét vợ mang quan toà với cảnh sát ra doạ mình…”
Cô Ut phản đối :
“ Đàn ông nào chẳng thế. Lão Tommy nhà em còn hơn thế nữa kia. Giờ cứ mang 911 ra doạ nó là nó bỏ đi liền  cho mà khóc…”

                                    (còn tiếp)

  

















Thứ Năm, 11 tháng 12, 2014

CHUYỆN XƯA NAY MỚI NÓI - KỲ 145 - Lại chuyện nhà văn viết báo tết....

    

  Ở đâu mà chả thế,”văn chương hạ giới rẻ như bèo”,các nhà văn Việt Nam kỳ cạch 3 tháng viết một truyện ngắn,lại 3 tháng  ngóng cổ chờ đuợc in để rồi nhuận bút  lĩnh về đưa vợ  với cái giá quy đổi may ra được một...bát phở tàu bay ở Cali.
Các tiểu thuyết gia lại càng thê thảm hơn,3 năm kỳ cạch,lọt vào mắt xanh một ông đầu nậu chịu bỏ tiền ra in,nhà văn được nhận 20 cuốn sách để biếu và một  số tiền tượng trưng đủ chi một bữa khao sách tại nhà hàng bình dân.
Vậy nhưng cứ mỗi dịp tết đến giá cả chữ nghĩa lại tăng vọt.Cái đó không phải cảm hứng mùa xuân làm các nhà văn viết hay hơn lên,mà chính vì báo tết thu được nhiều tiền quảng cáo gấp bội so với báo thừơng nên sau khi các quý vị  tổng biên tập,phó tổng biên tập,trưởng ban đã chia nhau đút túi một số tiền lớn rồi,vẫn còn dư ra gọi là san sẻ ,lì xì cho người lao động tiêu tết,bởi thế mỗi độ xuân về là các nhà văn nhớn nhác hỏi nhau :”đã viết báo tết chưa ? viết đuợc mấy bài?”.
Vậy nhưng trong gần 700 ông Hội viên Hội nhà văn Việt Nam,có phải ông nào cũng được viết báo Tết đâu.Từ mấy tháng truớc,Toà soạn đã soạn ra một danh sách các nhà văn,các cộng tác viên được mời viết báo tết. Tất nhiên,để lọt vào danh sách này,tiêu chuẩn đầu tiên đối với các nhà văn là phải có phiếu...”bé ngoan” ,tức là phải được “Đảng mến,dân yêu,địch căm thù “ cái đã.
Chẳng thế mà mấy năm gần đây,do quay cờ phản tỉnh về với chính nghĩa quốc doanh,cứ mỗi dịp tết đến,nhà thơ Trần Mạnh Hảo  thả sức tung hoành trên các báo Tết,năm nào cũng cứ đều đều mang về cho vợ tới...40 triệu đồng lận.Vậy nhưng phiếu  “bé ngoan” thì tới 99% các ông nhà văn đều có,bộ cứ “ngoan” là được viết báo tết hả ? Nếu vậy có hoạ ra “tự điển Tết”
 Vậy góp mặt trên báo Tết trước hết phải cây đa cây đề như  nhà văn Anh Đức,tác giả tiểu thuyết “Hòn Đất” mà sau năm 1975,bà con được tới tận nơi xảy ra câu chuyện đã có câu rằng “Hòn Đất mà biết nói năng,thì thằng Anh Đức cái răng không còn...”.
May thay,ở tuổi 66,nhà văn Anh Đức vẫn  chưa rụng cái răng nào,kỳ này ông viết một bài “Trên thềm thiên niên kỷ mới”,điểm xuyết từ thời ông Lênin đi làm cách mạng ở Nga,Hítle thiêu người ở Đức đến anh “Gagàrỉn bay vào vũ tru”,từ thời bác Hồ đi tìm đường cứu nước,tầng ozôn bị thủng cho tới kỹ thuật gien,điện thoại di động Mobyphone lọt trong lòng bàn tay..
.Qua bài viết của ông Anh Đức,nguời ta nhận thấy đầu óc mấy ông nhà văn thời nay thật chẳng khác gì cái lẩu thập cẩm, thứ gì mấy ông cũng nhét vào đầu như thế ,cách gì chẳng đẻ ra một thứ văn chương tạp pí lù.
Nếu như các báo tết Sàgòn giải phóng,Tuổi Trẻ,Thanh niên...mỗi báo chỉ cho vài ba ông nhà văn chen vô thì lại thay,nơi tập trung đông các nhà văn chưởng lão,cây đa cây đề nhất lại là báo ...Công An TP Hồ Chí Minh,thật chẳng khác gì Sở cẩm thành phố Paris ra báo Tết toàn in các bài của mấy ông bà Jean Paul Sartre,Albert Camus,Simone de Beauvoir,Samuel Beckket vân vân...
Trình diện ở báo công an TP Hồ Chí Minh,truớc hết có nhà thơ lớn Tố Hữu,vốn có bài thơ khóc ông Xíttalin đã đi vào lịch sử,vốn có tên là Lành một thời đã nổ ra vụ án văn học “Cây táo ông Lành” làm nguời viết bài là anh Hoàng Cát xích bích sang bang,bạn bè xa lánh,đến ông anh nuôi là nhà thơ Xuân Diệu cũng phải lắc đầu chối đây đẩy :”Không không,tui có quen đâu thằng nớ...”.Tết này,dường như nhà thơ Tố Hữu có bí thơ dẫu từ lâu đã không còn làm “bí thơ” Đảng,nên đã bung ra một đoản văn trong đó ông khiêm tốn tự nhận ông là “một con sáo được  Đảng nuôi nấng,chăm sóc nên làm sao phải hót cho thật hay...”.
Hi hi...ông quên mất một điều hệ trọng là dẫu Đảng có nuôi ông thì cũng là nuôi bằng tiền của...dân,vậy mà trong bài viết không thấy ông đá động tới thằng cùng đinh ấy lấy một chữ.
Nguợc hẳn với nhà thơ Tố Hữu,nhà văn Nguyễn Đình Thi trong bài viết của mình lại chẳng có chữ nào nhắc tới Đảng ,mà lại  nhấn mạnh “Qua những điều tôi được trải qua,tôi thấy “nguời “ nhất,”dân tộc” nhất là nhân dân lao động...”.Ái chà chà..”nhất,nhất” phải thuộc về Đảng chứ,dân sao được,chẳng biết đồng chí Phạm Thế Duyệt có để mắt tới báo Tết không,chứ nhà văn gạo cội viết lách thế này thì nguy quá.
Ấy thế mà đã có thời ,ông Nguyễn Đình Thi đã từng lên diễn dàn Hội nhà văn hô to :”nhà văn chúng ta là nhũng hạt bụi lấp lánh ánh sáng của Đảng” làm anh em ngồi dưới bấm bụng cười ,lo rằng chẳng may cái hạt bụi đó nó rơi vào mắt Đảng thì nguy to.
Còn nhà thơ Huy Cận thì lại loan báo với thiên hạ rằng :”Tôi vẫn tiếp tục làm thơ...”,có lẽ lâu nay thấy thơ của đồng chí vắng bóng trên thi đàn mà lại chỉ thấy xầm xì cái chuyện đồng chí đi phó hội ở Paris về,lái xe của cơ quan sang tận Nội Bài đón đồng chí.
Chàng lái xe này tên là Sính,đinh ninh thủ truởng đi tây về thế nào cũng có quà cho lính.Bởi thế,Sính mới mừng rơn,khi đi tới chân cầu Thăng Long,nhà thơ cất tiếng  hỏi :
”A thế nào...ở nhà cậu đã có bật lửa chưa ?”.
Sính ta vội đáp dõng dạc :
” Báo cáo thủ truởng em chưa có ạ...”.
Than ôi,nhà thơ thở dài đánh sượt :
”Tiếc cho mày quá,giá mày có bật lửa,tao sẽ cho mày mấy viên đá lửa,nhưng chưa có thì đành thôi chứ biết làm sao...”
   Cũng góp mặt trong số báo Tết công an này,còn có nhà văn Sơn Nam vốn ngày xưa đã từng ngồi chung với các nhà văn Nhật Tiến,Nguyễn Mạnh Côn...trong Uỷ ban chấm giải văn chương của Phủ Tổng thống.
Từ sau ngày giải phóng,nhà văn theo trở thành nổi tiếng,bổng lộc nhiều,cây kiểng  của thành phố trong lĩnh vực sưu tầm các di tích lịch sử,các câu đối ở các đình chùa,miếu mạo minh hoạ thêm cho thành phố ta có 300 năm tuổi và sang thiên niên kỷ mới sẽ thành “Sàigòn cô tiên năm 2000”.
Nhà văn Sơn Nam lừng lẫy thế mà bỗng dưng trong mục tìm người lạc phát trên tivi Saigòn ,bà vợ nhà văn lại bố cáo đức ông chồng đi lạc và nếu ai thấy nhà văn ở đâu xin gọi điện cho bà hoặc báo cho đồn công an gần nhất.
Mọi nguời mới hoảng lên đi tìm,hoá ra do mấy thằng viết trẻ rủ rê cụ đi bia ôm,làm cụ chơi trống bỏi,rước ngay một em gái về,thuê nhà dựng tổ ấm ở phố Nguyễn văn Nghi Quận Gòvấp,báo hại bên an ninh lại tuởng là cụ bị...địch nó bắt.
Hoá ra các nhà văn Việt nam có hư đến đâu chăng nữa cũng chỉ hư tới cái mục đi...bia ôm là hết nhẽ.Tuyệt đối không có loạng quạng như mấy thằng cha Tổng biên tập,Phó Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ mang cả bác Hồ ra thi điểm với mấy thằng nhãi ranh. Riêng trong cái vụ này,bà con Saigòn chẳng chịu thương xót đồng chí Lê văn Nuôi ,đồng chí Huỳnh Sơn Phước...thì chớ,lại còn riễu rằng:”Thật đáng đời ba thằng nhà báo nói láo ăn tiền…”


NT


Thứ Hai, 8 tháng 12, 2014

CHUYỆN XƯA NAY MỚI NÓI - KỲ 144 - Giải thưởng…giải thưởng (kỳ 2)

      
         
Vào những ngày cuối năm, sau  trận cãi lộn om sòm tại Hội nghị phê bình lý luận Đồ Sơn tháng 9 , trên “mặt trận văn học “ nước ta lại ầm ĩ  chuyện giải thưởng.
Trước hết phải nói ngay giải thưởng văn học dù là trong hay ngoài nước đều là thứ “danh lợi” mang chia chác theo thứ bậc và  tranh giành giữa các nhà văn. Nào là Giải Bông Sen, giải Vua Thái Lan, Giải thưởng hàng năm của Hội nhà văn…anh nào có chân trong chấp hành là nắm chắc một suất . Riêng ông Chủ tịch Hội từ khi cho ra bài thơ “ 5 anh em trên một chiếc xe tăng”, ông đã được chia những…4 lần rồi. Lần thứ nhất là trường ca “ Đương tới thành phố” bị đàn anh Xuân Diệu chê ỏng chê eo, lần thứ hai cho tập  “ Thư mùa đông” bị nhà văn Tô Hoài chửi xéo là “thơ đồng nát”, tiếp theo là Giải thưởng Vua Thái Lan tự “phân”  cho mình , ẵm về 1000 USD. Năm nay, “bổn cũ soạn lại”, ông Hữu Thỉnh lại chọn một ban chung khảo gồm toàn những nhà văn tên tuổi nhưng sợ nhất “mất điểm” với “lãnh đạo ” thì  hết lộc tài trợ, hết đi nước ngoài, hết dự Hội nghị, bởi thế cam chịu làm cái máy bầu, “ý trên” chia cho ai răm rắp bỏ phiếu .
Để tránh tiếng, ông Hữu Thỉnh tạm nhường ghế Chủ tịch Hội đồng chung khảo cho chú em, Phó của mình, nhà văn Nguyễn Trí Huân. Các Uỷ viên Hội đồng gồm toàn thể Ban chấp hành : Lê văn Thảo, Hồ Anh Thái, Trần Đăng Khoa, Phan thị Vàng Anh, các nhà văn lâu năm ăn lộc Hội: Ma văn Kháng, Nguyễn Đức Mậu, Lê Quang Trang, Thuý Toàn, Vũ Tú Nam, Phan Hồng Giang. Với danh sách toàn các quan văn nghệ vậy nên Hữu Thỉnh cầm chắc Giải thưởng.
Quả nhiên như dịch giả  Phan Hồng Giang, uỷ viên Hội đồng chung khảo Giải thưởng Hội Nhà Văn Việt Nam năm 2006, “bật mí”  trên báo “Thể thao & Văn hoá” số 126, ngày thứ bảy 21/10/2006  :
“ tập thơ “Thương lượng với thời gian” của Hữu Thỉnh được nhất trí cao của các thành viên trong Hội đồng, tất nhiên những mối quan hệ ngoài văn chương cũng rất khó tách bạch. Song cũng nên ghi nhận “Thương lượng với thời gian” là một bước tiến trong thơ Hữu Thỉnh so với chính ông ấy. Còn so với mặt bằng thơ ca thì không có gì nổi trội…”.
Vậy là Hội đồng chung khảo đã răm rắp bỏ phiếu cho “sếp” dù tác phẩm của ông “ không có gì nổi trội”. Vậy là ngoài mấy anh ngậm miệng ăn tiền được mời vào Hội đồng để làm “nghị gật”, còn lại toàn thể Ban chấp hành với những gương mặt trẻ như Hồ Anh Thái, Phan thị Vàng Anh, Trần Đăng  Khoa cũng đều ngoan ngoãn bầu cho sếp để sang năm tới lượt mình được . Một chút dũng cảm để phiếu bầu của mình được trung thực còn không có, mong gì các  quý vị trong Ban chấp hành sẽ lên tiếng đấu tranh  đòi tự do sáng tác ?
Con ngựa đua thứ hai sau Hữu Thỉnh phải kể đến nhà văn Nguyễn Bảo Trường Giang được tặng thưởng văn xuôi với cuốn truyện viết rất dở có tên “Thượng Đức. Cuốn này tác giả chỉ có công thu thập tư liệu một trận đánh còn nhờ chạy chọt quan trên sao đó, nó được đưa ngang vào Hội đồng nhắm mắt bầu. Cũng do “ngậm miệng ăn tiền”, nhắm mắt bỏ phiếu cho Chủ tịch Hội nên ông Phó Chủ tịch là nhà văn Lê văn Thảo – con ngựa thứ ba trên đường đua, năm nay  cũng được chia một Giải ‘Vua Thái Lan “ tức ASEAN 2006 cho cuốn tiểu thuyết “Cơn giông” viết nhạt như nước ốc, chẳng có gì hay ho và chướng hơn nữa, cuốn này cũng đã được Giải Hội nhà văn từ năm …2003.
Người ta có thể đặt câu hỏi phải chăng văn học Việt Nam hết tác phẩm rồi sao phải lôi một cuốn đã được trao giải từ 3 năm trước mang ra trao lại? Vậy mà không một anh chấp hành nào dám hó hé trước sự chia chác trắng trợn 
Liệu có phải vì thế  nhà thơ trẻ Ly Hoang Ly từ chối giải thưởng
 :”Sau khi đọc những phát biểu của nhà nghiên cứu Phan Hồng Giang, tôi chính thức tuyên bố xin từ chối “Tặng thưởng” mà Hội nhà văn Việt Nam định trao cho tôi...Qua sự bày tỏ của nhà nghiên cứu Phan Hồng Giang, tôi không thấy được sự nghiêm túc trong việc xét giải, ngược lại còn thấy một thái độ thiếu tôn trọng các tác phẩm mà Hội đồng đưa ra để bình bầu.”
Sự “thiếu tôn trọng các tác phẩm mà Hội đồng đưa ra để bình bầu” chính là tại sao tập thơ của cô được Hội đồng thơ bỏ phiếu cao hơn tập của Hữu Thỉnh mà lại bị đánh tụt xuống “Tặng thưởng” chứ không phải “Giải thưởng ” như của Hữu Thỉnh ?
Giải thưởng năm nay còn mất giá ở chỗ trao cho cuốn truyện “ Paris 11 tháng 8” của nhà văn Thuận – Việt kiều Pháp và cô này hờ hững chẳng ra nhận mà cũng chẳng ra từ chối :” Tôi sẽ không hồ hởi  đáp máy bay về nhận, cũng như không mất sức viết một lá đơn từ chối.”, cô lại còn cao giọng đại ý rằng một vị trí “ngoài lề” có lẽ thích hợp với cô hơn cả.
Rõ thật nhục cho Ban chấp hành Hội nhà văn, trao giải thưởng mà người nhận  lại ỡm ờ “ tôi ít quan tâm đến giải thưởng” , chẳng thèm nhận cũng chẳng buồn từ chối . Rõ ra là khẩu khí bà “đầm An nam ” không thèm chơi với mấy anh nội địa. Vậy nhưng cô Thuận, sinh năm 1967 ở Hà Nội, cũng là dân Mít  “chân đất mắt toét” , cũng có thời ăn “bo bo” chạy sơ tán bom Mỹ chứ đâu có “Gaulois” gì, may có ông bố họ Phạm buôn giấy ảnh vào loại siêu nên có tiền cho cô du học mà thành Việt kiều Pháp đó thôi. Nếu cô thích ở “ngoài lề” thì cứ nằm Paris mà viết văn tiếng Pháp, dự giải Goncourt, khỏi  tham dự sinh hoạt văn học trong nước làm gì, mất “danh giá” đi lại bị người đọc ngờ là cô cũng chơi trò…”tiếp thị”.
Giải thưởng năm nay của Hội nhà văn dẫu sao vẫn  tồn tại dài dài chừng nào vẫn còn bầu sữa của đảng..….

30-10-2006



Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

CHUYỆN XƯA NAY MỚI NÓI - KỲ 143 - Trí thức Việt Nam bên bờ biển Đông

      
 Thật lạ, từ thời lập nước, kén chồng cho nàng Mỵ Nương,vua Hùng thách cưới nào  “voi chín ngà,” nào “gà chín cựa...”,nào “ngựa chín hông mao...” - những sản vật chỉ có ở trên rừng chứ dưới biển kiếm đâu ra và chẳng biết có “lo lót”  gì vua cha không,Sơn Tinh thắng cuộc là cái chắc.
Sự thiên vị đó hiển nhiên làm “ThủyTinh” nổi giận gây chiến với các ông thần núi, hàng năm diễn ra với cái tên là “ lũ lụt “? Và cũng thật lạ cứ sản vật ở trên rừng thì các cụ ta gọi là thần –“ sơn thần” ,ngược lại ở dưới biển thì bị coi là  quái vật – “thuỷ quái”.
Cái tâm lý trọng núi khinh biển ấy lại càng lạ lùng hơn khi bờ cõi Việt Nam ta có tới trên 3200 kilômét bờ biển mà đời này qua đời khác trong tâm tưởng dân tộc chỉ thấy có “ con cò bay lả bay la” chứ chẳng thấy đâu “con hải âu chao cánh trên sóng bạc đầu” ? .
 Sống bên bờ biển Đông mà cứ dúi dụi trong lũy tre xanh ,bịn rịn với cây đa,giếng nước ,mái đình,phơi mặt cho đất bán lưng cho trời,khiến cho bao đời mải miết với lối “suy nghĩ trên luống cày” bị cắt vụn bởi nhũng “xiềng ba sào” để rồi  trong đời sống chỉ quen với nhũng kích thước nhỏ.
Có phải vì thế mà văn hóa nghệ thuật của ông cha ta thiếu yêu tố hoành tráng ?
Thử nhìn chùa Một Cột, một biểu trưng văn hóa Việt Nam mà cảm giác như mới chỉ dừng ở mức độ mô hình. Rồi  thăm cố cung triều Nguyễn ở cố đô Huế và so sánh nó với những cung điện ở châu Âu,ở Trung Quốc mới thấy hết cái nhỏ nhoi,đáng thương của các vua chúa phong kiến Việt nam.
Rồi nhìn sang kiến trúc và hội họa mới thấy thiếu vắng nhũng kích thước lớn làm sao – những tranh làng Hồ kích cỡ không vượt quá phiến cắt ngang của cây gỗ,nhũng đình,những chùa cứ nép vào cây xanh của thiên nhiên miền nhiệt đới, chẳng dám vươn lên mà cô đơn trên trời cao.
Rồi ngay cả những kinh nghiệm đối nhân xử thế cũng chỉ khuôn trong quy mô xóm làng,những “xấu đều hơn tốt lỏi”,”ăn cỗ đi trước,lội nước đi sau”,”đèn nhà ai rạng nhà nấy...”cứ nhan nhản trong kho tàng dân ca,tục ngữ .Thiếu vắng hẳn “trường ca” và “ trường thiên tiểu thuyết” tầm cỡ nhũng pho truyện tàu,cái “hơi thổi” cuả dân tộc ta trong nghệ thuật chữ nghĩa sao mà ngắn,thượng số cũng chỉ tới  “Truyện Kiều” của Nguyễn Du trong truyện thơ, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái trong văn xuôi.Sống trong những lũy tre xanh bên bờ đại dương,phải chăng ông cha ta  đã thiếu vắng tâm lý hoành tráng,lại thiếu luôn cả  tâm hồn  biển cả và có phải vì thế mà dường như nỗi buồn nhược tiểu đã chảy dài trong nhũng “Giọt mưa thu”,những “Đêm đông”,những “Bèo giạt mây trôi”,những “Người ơi người  ở đừng về”,những “Dạ cổ hoài lang”...buồn hơn nước mắt , thiếu  hẳn cái khỏe khoắn,tự tin khát khao rong buồm ra khơi đón gió lộng mãi ngoài đại dương
.Và có phải vì thế cảm hứng xuyên suốt trong  nhũng Nam Cao,Ngô tất Tố,Nguyễn Công Hoan ...là kêu đói,than nghèo , thiếu hẳn  cái nhu cầu trừu tượng hóa ,cái mặc khải ,tự tra vấn khi đối diện với cái mênh mông của biển cả.
Than ôi,cái cảm hứng chủ đạo xuyên suốt mấy thế kỷ văn chương của ta phải chăng chưa vượt qua nỗi buồn thân phận đói nghèo để  vươn  tới cái nỗi  mênh mang trong cõi vô thường và cái khát vọng tìm tòi những kỳ bí thẳm sâu trong tâm hồn con nguời.
                         “ Từ thủa mang gươm đi dựng nước,
                        “Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long...”
   Nỗi nhớ đất thật dai dẳng trong nhũng cuộc mở mang bờ cõi chỉ theo đất theo ruộng mà tràn xuống phía Nam, nào đâu dám rời đất mà xuống biển,đóng những đội tàu ra khơi thám hiểm,chinh phục những vùng biển lạ.
Bởi thế căn bệnh trầm kha thiếu máu phiêu lưu   đã làm chúng ta bằng lòng với nhũng gì vừa phải,nó là mảnh đất tốt cho  chứng chiết trung,dung hòa ,Phật,Lão,Trang,Kitô giáo...cái gì cũng vào được hết,chung sống với nhau được hết ,tam tứ ngũ lục giáo đồng môn được hết.
Sự cuồng tín  trong nhũng cuộc chiến tranh tôn giáo, trong những cuộc giao đấu ý thức hệ là không thể có trên đất nước  ta.Thực chất những người lính cầm súng trong cả hai phe cộng sản và quốc gia  trong cuộc chiến vừa qua đâu phải vì hằn thù do sự khác biệt ý thức hệ ? Ngay cả cái hạt nhân tàn khốc đấu tranh giai cấp ,cốt lõi của chủ nghĩa cộng sản du nhập vào Việt Nam cũng bị pha loãng đi nhiều  trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội .Một cuộc cải cách ruộng đất  long trời lở đất như ở Trung quốc,một cuộc Đại cách mạng văn hóa Trung Hoa với sức tàn phá khủng khiếp  nếu như có vào Việt Nam thì những cơn bão đó cũng bị kìm hãm  mà dịu đi nhiều lắm (sự sửa sai của nhũng người cộng sản Việt Nam ngay trong cải cách ruộng đất đã chứng tỏ điều này).Vậy nhưng cái gì cũng có hai mặt của nó.Trong khi hóa giải được rất nhiều sự tàn phá mù quáng thì chính cái căn bệnh ngại phiêu lưu,thiếu  máu cuồng tín đó lại làm chúng ta chưa bao giờ bị đẩy tới “cùng” để mà biến” cả.Đó cũng có thể là một lý giải về sự tồn tại dai dẳng của chế độ cộng sản trên đất nước ta.
Trở lại câu chuyện về tâm lý đại dương và tâm hồn biển cả,nếu như trí thức là bộ phận sáng suốt nhất trong cộng đồng dân tộc thì trí thức Việt Nam kể cả vua Duy Tân lẫn nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ dường như chưa một ai thức tỉnh cho cả cộng đồng cái tâm lý kỳ thị biển cả ấy.Nhìn lại lịch sử quân sự ,nhũng tên tuổi như Yết Kiêu ,Dã Tượng,trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng quả là vô cùng ít ỏi so với nhũng danh tướng và nhũng trận đánh trên bộ.Ngay cả những người cộng sản Việt Nam,trận đánh tàu Madoch Mỹ ngày 5 tháng Tám năm 1964 trong vịnh bắc Bộ cũng là một thứ lính cảm tử ôm bom ba càng xông vào xe tăng,rồi mãi tới trận Trung Quốc tiêu diệt cả một tàu Việt Nam khu vực đảo Trường Sa,và cho tới tận ngày nay hải quân của Cộng hòa XHCN Việt Nam vẫn tròm trèm là một con số không.
Thời đó đã có nhạc sĩ cất lên tiếng hát “biển rộng của ta đâu có phải ao nhà của chúng nó ?”. Than ôi,buồn thay,vài thập kỷ đã trôi qua,lực lượng trên biển của người Việt Nam vẫn chưa đủ mạnh để tránh  cho biển Đông của chúng ta khỏi trở thành “ao nhà của chúng nó”.
Rồi thì ngay cả một cái Bộ thủy hải sản cồng kềnh cũng chưa có nổi một đội tàu đi đánh bắt xa bờ mãi ngoài đại dương mà vẫn chỉ loanh quanh vùng cận hải.Đằng đẵng những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất Bắc,người ta cũng chỉ “ưu tiên phát triển công nghiệp nặng,ra sức phát triển công nghiệp nhẹ và lấy nông nghiệp làm cơ sở” – vẫn là một thứ suy nghĩ “trên luống cày” chưa thấy  một trí thức nào mách nước cho nhũng người cộng sản hãy hướng cái nhìn ra biển cả.Gần đây ông Ngô Thế Vinh trong một cuốn sách rất công phu và rất nhiệt huyết “ Cửu Long cạn dòng và biển Đông dậy sóng” cũng đã khơi ra một mối quan tâm tới biển nhưng lại nghiêng về mặt bảo vệ lãnh thổ.
        Vậy là căn bệnh trầm kha có 3200 kilômét bờ biển mà vẫn thiếu muối ăn vừa là cái điều kiện quy định tính cách của trí thức Việt Nam vừa là món nợ tinh thần đối với cộng đồng dân tộc nếu như ta thừa nhận trí thức là người nhận lãnh sứ mạng thức tỉnh và lay động đám đông.Thiếu máu phiêu lưu,ngại ngần nhũng chân trời lạ,bằng lòng với nhũng chân lý đồ hộp (fast food), tự biện minh gặp thời thế,thế thời phải thế”...liệu người trí thức Việt Nam  có dũng cảm nhìn nhận nhũng căn bệnh có nguồn gốc sâu sa là sống ven biển Đông mà thiếu tâm lý đại dương và tâm hồn biển cả ?
         Nhớ lại cuộc ly hôn vĩ đại nhất  vào buổi bình minh của thời dựng nước,50 người con trai theo bà Âu Cơ xuống biển  và đi luôn một mạch cho tới tận bây giờ không ngoái lại tìm về quê cha,đất tổ ?
Thế nhưng cuộc xuống biển bất đắc dĩ của cả triệu thuyền nhân Việt Nam vào  những năm cuối của thập kỷ 70 thì chỉ không đầy 10  năm sau rất nhiều người con của bà Âu Cơ đã trở lại. Gạt ra nhũng thảm kich trên hải đạo kinh hoàng,gạt ra nhũng căn nguyên chính trị, nhìn nhận sự kiện như là một cơ hội phiêu lưu ra ngoài biển cả của một bộ phận dân tộc,liệu ta có hy vọng  50 người con theo bà Âu Cơ đó có thể đón nhận tâm lý dại dương và tâm hồn biển cả để  góp cái phẩm chất mới mẻ đó vào nỗi lo toan cho Tổ Quốc Việt Nam ?
Lời đáp cho câu hỏi đó trước hết thuộc về trí thức hải ngọai và thật cảm kích biết bao nếu trong những cuộc hội thảo ngoài nhũng đóng góp học thuật,chúng ta còn được  đón nhận những giải pháp thiết thực làm sáng tỏ sứ mệnh muôn thủa của người trí thức nếu như ta đồng thuận với nhau quan niệm kinh điển  về trách nhiệm của thất phu khi quốc gia chìm nổi trong hưng vong...

         20 May 2001

                             N,T,


Thứ Ba, 2 tháng 12, 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 141- Quen cái thói cán bộ..."

               

 Ngày xưa,bác Hồ thường dạy “cán bộ là đầy tớ của dân”,ngày nay, bác Trọng  cũng nói “một ngày dân đói dân khổ là một ngày cán bộ ăn không ngon ngủ không yên...”.Ôi hai tiếng “cán bộ” nghe thân thương,tin cậy và yêu mến làm sao.”
Ấy thế mà giữa đường giữa phố Sàigòn ,vào một tối khuya,chợt có tiếng em gái la oai oái :”Ối,ối...đ.mẹ cán bộ,bắt người thì bắt chớ ,sao lại thò tay vào quần nguời ta ... ?”.
Ái dà... Em nào mà dám la làng trên xe SBĐ thế kia ?
Nguyên  Sàigòn ngày nay có 3 đội chuyên “săn bắt” rất nổi tiếng- đội 1 kêu bằng SBC,chuyên săn bắt cướp,gồm những chàng trai tinh thông võ nghệ,chạy xe phân khối lớn ,suốt ngày vòng vòng trên phố để khi nào có tiếng la “cướp,cướp” thì đuổi theo,đội 2 cũng kêu bằng SBC,nhưng chỉ chuyên săn bắt ...chó,đội di chuyển bằng xe bít bùng,có các chàng trai lăm lăm cu liêm,cù nèo,hễ có chú khuyển nào ló mặt ra phố là alê hấp...thòng lọng xiết cổ,lôi nghiến lên xe mang về trụ sở đội...săn bắt chó.Còn đội thứ 3,kêu bằng SBĐ,lại chuyên chỉ có đi săn bắt mấy em điếm đứng đường mang về trụ sở  công an,lập hồ sơ để đưa đi trại phục hồi nhân phẩm.
Mấy em này chả hiểu sao cứ nhè nhũng phố Cánh mạng tháng Tám,Xô viết Nghệ Tĩnh,Lê Duẩn ,Trường Chinh ...dàn hàng ngang đứng đón khách mới dại.Giá như chị em cứ đứng dưới chân tượng Đức Thánh Trần,hay dọc phố Lê Lai,Nguyên Trãi,Nguyễn Huệ...thì đỡ ngứa mắt “cán bộ”.
Khốn nỗi các con đường mang tên cách mạng thường là tối đèn và vắng vẻ ,chị em dễ bề hoạt động ‘cách mạng”,còn những phố mang tên các cụ tổ thời xưa thì xe cộ chạy ầm ầm,người đi lại bận rộn,bố ai mà dám đứng lại cho chị em buông câu cửa miệng :”này này ...bốn mắt nhìn nhau tìm ai đấy?”.
Tối hôm đó,em gái đứng đường thấy một nhà ông mày râu nhẵn nhụi,xẹt qua,xẹt lại, bộ muốn trốn “cơm” đi tìm “phở” em mới buông ra một câu marketing như thế,lập tức gã xấn tới ,túm áo :
”Bố mày đang tìm mày đây...”.
Nhoáng cái,xe SBĐ đã xẹt tới,chết mẹ,em gái nhầm to,marketing nhằm đúng “cán bộ”.Thế là  em gái bị lôi tuột  lên xe và rồi trên đường về trụ sở chả hiểu “cán bộ” làm cái chi đó khiến em gái phải chửi toáng lên như  trên.
Vậy sáng mai em phải lên đường đi “phục hồi nhân phẩm” là cái chắc.Dạ không,sau một đêm ngủ đồn,cãi nhau với...muỗi,sáng hôm sau đóng tiền “nộp phạt” cho cán bộ  một tờ xanh (năm trăm ngàn) là OK,biến, đến tối lại cùng chị em ta tụ tập dọc phố tối ríu rít mời chào vui như tết.
Nhưng mà chuyện đó là chuyện thường ngày ở ...phố,”con sâu làm rầu nồi canh í mà”,có gì là lạ.
Hồi tháng trước,một em gái con nhà lành,ở mãi xứ ruộng Bến Tre,nhà nghèo,nghe ngon nghe ngọt ,theo bạn lên Sàigòn để lấy chồng Đài Loan.Nghe nói mỗi chú rể “xì thoỏng” phải chi ra không dưới 5000 USD,ấy thế mà cho tới đêm động phòng hoa trúc tại một ngôi nhà hẻo lánh mãi tận bên Quận 8,em gái Bến Tre mới gửi về được cho bố mẹ được...hai triệu  VNĐ,tức một vé, một Ồbámà, tức đô la Mẽo,còn bao nhiêu mối lớn,mối nhỏ và cán bộ ký giấy chia nhau hết.
Vừa giáp mặt chú rể ,em gái bến Tre đã hết hồn,trời ơi,đã xi cà que thì chớ,lại còn là thằng dở người,mồm miệng trều ra,rớt rãi lòng thòng.Đã thế gã lại như con trâu điên ,đói khát đã lâu,được ngày phá đỗ.Em gái bến Tre chịu không thấu,phải tông cửa chạy lên đồn công an kêu cứu.Cán bộ trực ban hất hàm hỏi :
”giấy tờ đâu ?”
Em kêu lên :
”Ối cán bộ ơi,bà mối giữ hết rồi ,còn đâu ra giấy tờ.”.
Cán bộ ghi nhoay nhoáy vào sổ,rồi lại ngẩng lên :
”Ở dưới quê có khai tạm vắng không ? Lên đây ,có khai tạm trú không ?”.
Cô gái lại la lên :
” Vắng với trú cái nỗi gì.Ối cán bộ ơi,nó cào,nó cắn em chảy cả máu ra đây này...”.
Cán bộ lại ghi,lại hỏi :
”Nó là thằng nào ?”.
 Cô gái thở hắt ra :
”Nó là thằng mới cưới em í...”.
Cán bộ cau mặt :
”Vậy nó là chồng cô ?”.
”Cô dâu mới”  rên lên :
”Nhưng nó là thằng Đài Loan...nó ..nó cưỡng em...”.
Cán bộ nổi cáu :” Đài Loan Đài Phụng gì nó cũng là chồng cô.Chồng mà lại cưỡng vợ ? Bộ cô giỡn mặt chính quyền hả ? Thôi về ngủ,sáng mai sang bên Ủy Ban Phường gặp tổ “hòa giải” mà trình bày...”
.Cô gái đành trở về cho thằng khỉ đột nó dày vò,rồi mấy hôm sau,cô trốn được ra,điện cho bố mẹ dưới quê mang tiền lên trả lại cho mụ Tú bà ,cô mới thoát được “tổ quỷ”.Nhưng mà trong chuyện này ,cô gái Bến Tre chỉ là một thiểu số cá nhân thôi,đàng này hồi tháng 11 năm ngoái cả 235 cô gái Việt Nam bị chủ ngược đãi,đánh lòi cả mắt,kêu cứu khắp thiên hạ,đơn từ như bươm bướm gửi về cho từ Tổng cục du lịch,Bộ lao động xã hội rồi đến đích danh Chủ tịch nước vậy mà hai cán bộ đầu ngành vẫn như “điếc” chẳng nói năng gì.Cán bộ thứ nhất là Tổng cục trưởng Tổng cục du lịch,đơn vị chủ quản Công ty 12 đưa người sang Samoa,nguyên anh hùng quân đội miền Nam,một thời được báo chí Nhật Bủn ca ngợi hết lời,bà Võ thị Thắng vốn nổi tiếng bởi nụ cười trước họng súng quân thù.Cán bộ thứ hai là bà Nguyễn thị Hằng,Bộ trưởng Bộ lao động xã hội,bà này vốn anh hùng quân đội miền bắc bởi chiến công bắn rơi máy bay Mỹ cầu Hàm Rồng.Theo dân gian thối mồm,bà là “gái Thanh Hóa,khóa Virô” .(khóa Virô vốn là khóa dởm,kẻ trộm chỉ chọc cái đinh vào là mở ra ngay), ra thăm bác Hồ được bác quan tâm :” cháu có mắc tiểu không, bác đưa đi”.
Cả hai bà “cán bộ” này,khi vụ Samoa nổ ra dều im thin thít như thịt nấu đông chẳng thấy lên tiếng bảo vệ chị em để đến mãi 3 tháng sau,tình hình trở nên rát mặt quá,phát ngôn viên của nhà nước Việt nam mới tuyên bố :”Nhà nước sẽ tìm hết cách để đưa chị em công nhân ở Samoa về”.
Ôi thôi chuyện về “cán bộ” ta còn là bộ phim truyền hình nhiều tập.Mới đây,bác Michael Trần,Việt kiều I ta li về thăm quê nhà. Chơi ở HàNội chán rồi,bác mới mua vé máy bay vào Sàigòn đổi không khí.
Vừa bước chân vào phòng vé gần phố Khâm Thiên,bác nhìn thấy ba cô xinh đẹp đang ngồi chụm vào nhau trò chuyện nhỏ to gì đó.Bác đằng hắng để chứng tỏ sự có mặt của mình.Mặc kệ,ba cô vẫn làm thinh .Bác Trần đành phải giả vờ ngứa cổ ho lên rõ to.Mặc kệ ,ba cô vẫn nhỏ to như  thể chẳng hề biết tới sự hiện diện của bác .Chắc là quen cái thói tư bản,các Thượng đế thường được săn sóc,hỏi han chu đáo,bác Michael Trần quát lên :
:”Ở đây có bán vé máy bay không ?”.
Một cô ngẩng lên :
”Mua vé đi đâu ?”.
Bác đành dịu giọng :
”Tôi cần mua vé đi Sàigòn...”.
Cô bán vé gọn lỏn :
”Hết vé rồi...”.
Trời ơi,bác Việt Kiều không chịu được nữa,quát lên :”Tôi mà là sếp các cô thì tôi đuổi hết,đuổi hết...quen cái thói cán bộ...”.
Ấy ấy,”I can You,I van You,I xin You”...bác đuổi làm sao được,các cô ấy toàn là vợ con cán bộ to cả đấy ạ,đuổi làm sao được.Vào đến Sàigòn,bác Michael tới uống bia trong một cái quán có mấy cô phục vụ xinh đẹp,mặc váy ngắn,lăng xăng bên cạnh các thực khách  rót bia,tiếp đá.Lạ thay,riêng có bác Michael thì chả có cô nào để ý tới,bác uống cạn ly bia,đá cũng tan hết sạch mà các cô cứ tỉnh bơ,cứ nhè nhũng bàn bên cạnh mà phục vụ,riêng bác thì không .Lần này bác lại nổi điên,gọi một cô lên hỏi :
”Này,thủ trưởng của cô đâu ?”.
Cô váy ngắn láu táu :
”Dạ..đây không có thủ trưởng ạ,đây là quán tư nhân nên chỉ có bà chủ thôi ạ...”.
Bác Michael bẽn lẽn :
”Vậy sao các cô không rót bia,không tiếp đá cho tôi như  mấy bàn bên cạnh...”
.Cô váy ngắn cuời toét miệng :
”Ôi bố ơi,giá như bố uống Tiger,Heinecken...thì tụi con phục vụ liền,nhưng bố uống có bia...con cọp thôi thì bố phải...chờ thôi ạ...”.
À ra thế,thượng đế ở đây trước hết phải là kẻ lắm tiền uống bia ngoại.Và trong trường hợp này,bác Michael đâu có mắng được mấy cô:”Quen cái thói cán bộ...”,mà phải là :”quen cái thói thị trường...” kẻo oan cho các ...cán bộ.

18/2/01