6/
(tiếp theo)
Nghe Yến nói đến đây, anh Khảm đột ngột kéo ghế, đứng lên và bước hẳn ra ngoài quán mà không nói thêm lời nào. Tôi trố mắt nhìn theo bóng anh, lòng bối rối... không biết phải nói phải làm gì khi bên tai nghe tiếng nấc nho nhỏ của chị Phượng. Cũng may là bản thân mình không hút thuốc lá. Nếu tôi hút thuốc lá như anh Khảm hay thằng Đỉnh... thì sẽ không biết phải xử trí như thể nào trước hình ảnh vừa xảy ra trong tối hôm nay.
Trong chốc lát, tôi rời bàn, đi nhanh ra ngoài quán để tìm anh Khảm. Kia rồi anh đang đứng bên vệ đường mặt hướng về phía con lộ dẫn ra biển bị che khuất bởi bóng đêm. Anh đứng đó, hai tay thọc vào túi quần trong yên lặng. Tôi lại gần, khẽ lắp bắp:
- Đâu ai ngờ... Chuyện lại như thế há anh... Thôi...
Tôi im bặt khi nghe tiếng nấc của anh Khảm bật lên run run như muốn nói điều gì mà mắc nghẹn trong cổ. Tiếng nấc nhỏ rồi to hơn thành tiếng khóc ai oán như hối lỗi vì chuyện do anh làm, đã tạo ảnh hưởng không hay cho chị Phượng. Anh khóc vì buồn và anh đã khóc ngon lành. Hẳn vậy vì tôi đã từng nghe anh thổ lộ chỉ mong khi rời trại, cả anh lẫn chị Phượng sẽ lên đường định cư trong cùng một ngày. " Sống thì cùng sống, đi thì cùng đi... Ở đâu có anh thì phải có chị... dù là đi định cư khác nước ". Giờ đây, cảnh anh Khảm sẽ đi, chị Phượng phải ở lại trại một mình mà nguyên do cũng từ bản thân anh gây ra nên anh buồn hay vì sự chia tay sẽ thấy trước mắt chẳng còn xa như tôi đã bắt gặp tâm trạng anh trong chuyến đi Tanjung Pinang vừa rồi. Anh Khảm vẫn đứng yên chỗ khi tôi đã ở bên cạnh và không buồn che dấu hình ảnh mềm yếu của bản thân nữa. Cứ khóc, có chảy nước mắt thì lòng mới vơi đi cái buồn tối nay. Tôi chia xẻ tâm trạng của anh và của chị Phượng.
Vài người khách đến quán khi thấy hai chúng tôi đứng yên trong bóng đêm nên đã nghi ngại khi họ vừa rảo chân bước vừa ngoái đầu nhìn lại. Thấy dáng vẻ của họ, tôi liền kéo tay anh Khảm quay vào quán và trở lại cái bàn cũ. Yến và chị Phượng vẫn ngồi yên trong chỗ như đang chờ đợi hai chúng tôi. Hai ly nước của tôi và Yến do người hầu bàn mang ra để bên cạnh hai ly nước của anh chị Khảm-Phượng gần đó mà tất cả vẫn còn nguyên vì chưa ai đụng đến. Để phá vỡ bầu không khí ngột ngạt, tôi cầm lấy ly nước của mình, khẽ khuấy chiếc muỗng và nói:
- Lần đầu tiên mới thấy anh Khảm khóc... Khóc thật tình, ngon lành. Bây giờ em mời anh chị dùng nước, Yến uống nha Yến.
Tôi nhìn chị Phượng và Yến. Ánh sáng trang trí mờ mờ ảo ảo của sân quán cà phê Dạ Lý còn soi rõ các vệt nước long lanh trên mí mắt họ. Chị Phượng lấy tay chậm vào mũi, khẽ đáp lời như một hờn dỗi:
- Anh Khảm mà khóc gì Vũ ơi... Người như gỗ như đá... Có biết thương ai mà thật tình.
Bàn chân của Yến khẽ đá nhẹ vào tôi như một hiệu lệnh ngầm. Đưa mắt nhìn sang, khóe mắt của nàng cũng đảo nhanh với tôi. " Thôi mình nên yên lặng, ngồi im uống nước cho chắc ", tôi nhủ lòng.
Tối hôm nay, không hiểu sao phòng bên trong quán cà phê Dạ Lý lại đông khách hơn thường ngày. Tôi định nói ra điều đó cho anh Khảm biết thì thấy bác sĩ Luân đi cùng với một người nữa đến thẳng bàn của nhóm chúng tôi và đứng lại. Anh Khảm lấy ngay vẻ bình thường hàng ngày, cất giọng:
- Ô! Anh Luân... Khỏe chứ.
- Bình thường! Cảm ơn anh. Có chuyện này tôi muốn cho quý vị biết.
Bác sĩ Luân cười sau câu nói mang vẻ trịnh trọng với nhóm chúng tôi rồi chỉ tay vào người đi bên cạnh, ông tiếp từng đoạn ngắn:
- Xin giới thiệu đây là anh Phước, chủ nhân mới của quán Dạ Lý... Đây là anh Khảm, chị Phượng... Và đây... Cậu Vũ, cô Yến... Đều là khách ruột của quán mình đó Phước.
Thì ra bác sĩ Luân đã sang lại quán cà phê Dạ Lý cho người khác. Vậy ra ông cũng sắp lên đường định cư! Chuyện thật bất ngờ vì trong danh sách định cư mà phòng thông tin của ban Đại diện trại đọc trong mấy đợt rồi, chúng tôi đâu có nghe thấy tên ông. Cầm chân ông và người tên Phước ngồi lại bàn nước, anh Khảm nói ra điều đó thì ông bác sĩ cười, trả lời:
- Mấy cái list định cư anh nghe đọc trên loa là dành cho người đậu thanh lọc thôi, còn mình đến trước ngày đóng cửa mà có danh sách danh siết gì. Họ dìm mình ở trại lâu quá rồi giờ phải cho lên đường chứ anh. Phải không nào?
Bác sĩ Luân cho biết trong mấy đợt ghe nhập trại tị nạn Galang vừa qua may mắn đã có hai thuyền nhân là bác sĩ nên có lẽ nhờ vậy mà phòng An ninh P3V mới chịu nhả ông ra cho đi định cư. Như đã kể ở các đoạn trước, bác sĩ Luân nguyên là bác sĩ quân y thời miền Nam VNCH và khi Việt Cộng vào được Sài Gòn thì chúng bắt ông tù cải tạo gần 3 năm trời rồi mới được trả tự do để phục vụ tại nhà thương Chợ Rẫy như một trao đổi cá nhân, có đi có lại. Sau hơn chục năm làm việc trong chế độ mới, ông vượt biên đến trại tị nạn Galang trước ngày đóng cửa và đúng lẽ là người tị nạn không vướng lưới thanh lọc của Cao Ủy, bác sĩ Luân đã định cư bên Pháp từ lâu nhưng vì cần người chữa bệnh, hồ sơ của ông bị phòng An ninh P3V giữ lại cho đến bây giờ. Hai bác sĩ mới đến trại đã thế chỗ của ông thật đúng lúc. Mừng cho ông sẽ xổ lồng nay mai. Nghe tiếng cười, lời nói đầy âm hưởng vui vẻ của ông, tôi nghĩ chắc hẳn ông sẽ rất mừng khi nghĩ giờ phút rời trại chỉ trong nay mai. Nào ngờ, ông quay ra nói với anh Khảm:
- Khi còn kẹt ở đây thì tôi mong cho chóng đến ngày đi định cư, giờ ngày đó sắp đến thì mình lại buồn. Tôi chẳng hiểu lòng mình sao nữa? Còn anh. Tôi nghe loa đọc tên anh trong list định cư rồi, có cảm giác như tôi không hả anh Khảm?
Anh Khảm ngồi im. Có lẽ chuyện buồn vừa rồi với chị Phượng vẫn chưa tan biến trong lòng nên anh khẽ lắc đầu và chỉ đáp lại bằng nụ cười với bác sĩ Luân. Bác sĩ Luân lại tiếp:
- Ở Galang này lâu ngày tự nhiên tôi thấy mến cảnh và mến người... Đi sang Pháp bây giờ cũng cực lắm. Không biết trình độ của hai tay bác sĩ mới nhập trại ra sao? Ghe đến tới tấp nên cả hai Galang 1 và Galang 2 hiện giờ nhiều bệnh nhân quá. Kỳ thật! Hồi xuống ghe bỏ nước vượt biên, tôi cũng có cái cảm giác tiếc tiếc, nhớ nhớ, lo lo... như với bệnh nhân của mình ở đây. Ai sẽ chăm sóc cho họ?
Sống cu ky một mình ở trại mà bác sĩ Luân còn có tâm trạng lưu luyến với bệnh nhân như thế thì trách chi anh Khảm phải nặng lòng cùng chị Phượng. Dầu gì thì họ cũng là một đôi từng chia xẻ ngọt bùi với nhau từ khi còn ở trong trại tuốt sâu trong rừng bên Mã Lai. Một miếng khi đói bằng một gói khi no lại thêm trong cảnh hương lửa mặn nồng, sớm tối bên nhau nữa. Anh Khảm đã buồn khi thấy việc chia tay với chị Phượng trước mắt và đã vừa khóc vì chuyện đó nhưng lại lắc đầu phủ nhận với câu hỏi của bác sĩ Luân. Tôi nhìn sang Yến thăm dò thì bắt gặp nàng kín đáo lấy tay che miệng cười. Chợt ông tên Phước cất tiếng nói như lời làm quen:
- Tôi rất vui khi biết các anh chị tối nay ở đây... Mong gặp mặt ở quán thường xuyên để ủng hộ tôi nha.
- Đừng lo, bác sĩ vừa nói rồi anh à, tụi tôi là khách ruột của quán. Có uống cà phê cũng chỉ ghé ở đây là chính. Tôi thay mặt cả nhóm, đáp lời.
Hỏi thêm thì chúng tôi biết bác sĩ Luân sẽ rời trại 3 ngày sau chuyến định cư của anh Khảm. Nhân có mặt bác sĩ Luân tại bàn nước, tôi nói lời cảm ơn với ông vì đã giúp trong việc khám bệnh cùng cho thuốc điều trị trong thời gian vừa qua. Ở Galang 1, ngày nào thì nhà thương cũng chỉ phát giới hạn có 100 phiếu khám bệnh nên khi cần thì thuyền nhân phải xếp hàng mới có. Dòng người đứng xếp hàng đã bắt đầu từ 4, 5 giờ sáng nên khó mà lấy được phiếu nếu như dậy trễ. Nhờ quen được với bác sĩ Luân nên mỗi khi bị bệnh, tôi và Yến chỉ cần đến trước cửa phòng của ông tại nhà thương. Thấy hai đứa tôi, ông sẽ dẫn ngay vào để khám trước, khỏi cần phiếu. Tôi vẫn nhớ lời nói của bác sĩ: " Galang đông người quá, trăm phiếu phát ra không đủ cho nhu cầu người cần. Hồi tôi mới đến trại, nhà thương hầu như trông có người đến khám bệnh mà có thấy mấy ai đâu ".
Cuộc trò chuyện đã làm tan biến cái buồn trong lòng, chị Phượng cất miệng hỏi với ông bác sĩ:
- Anh sang quán rồi sổ phong thần tính sao. Có bàn giao cho chủ nhân mới không?
Sổ phong thần là quyển sách ghi tên khách thiếu nợ tại quán. Ngồi quán cà phê là thói quen của thuyền nhân trong trại vì thực tế họ chẳng biết phải đi đâu trong các buổi tối hay khi gặp bạn bè, cần chỗ để trò chuyện riêng. Quán cà phê là chỗ lý tưởng nhất nhưng đến quán thì phải gọi thức uống mà có lúc trong túi lại cạn tiền, khô máu. Đành ghi sổ nợ, hẹn khi có sẽ gửi trả sau mà nguồn tiền lại lệ thuộc vào thân nhân ở nước thứ ba gửi giúp. Thân nhân không giúp nữa, thuyền nhân sẽ sạch nhẵn túi nhanh chóng và phải ghi nợ. Quán bán hàng ở Galang nào cũng đều có sổ phong thần và người thiếu nợ càng nhiều thì sổ đó càng dầy hơn. Chủ quán thường phải theo dõi thông báo của phòng phát thư bảo đảm PKL trên loa phóng thanh để biết khách nợ vừa nhận được tiền thân nhân gửi mà kịp gặp mặt đòi ngay. Khách nợ sắp rời trại đi định cư, may ra chủ nợ còn đòi được tiền thiếu nhưng người hồi hương về nước thì cầm chắc sẽ bị mất không. Chấp nhận hồi hương, thuyền nhân con nợ đó coi như đã thua canh bạc vượt biên thì họ còn gì trong tay để mà sòng phẳng với chủ nợ. Họ làm mặt lì mà chủ nợ đành chịu, cười trừ. Phòng An ninh P3V hầu như không can thiệp vào chuyện nợ nần của thuyền nhân trên đảo. Chủ nợ có gửi đơn thưa với Cao Ủy thì cũng nhận được câu trả lời không xét đến các giao dịch cá nhân của thuyền nhân. Tự giải quyết lấy với nhau. Sổ phong thần là chuyện chẳng đặng đừng mà bất cứ chủ quán hàng nào ở Galang cũng biết mà không tránh được. Bác sĩ Luân nghe chị Phượng hỏi, ông lắc đầu và ngập ngừng đáp lời:
- Không! Coi như bỏ luôn... Họ cũng không có tiền... Trại tị nạn mà chị.
Ngày anh Khảm lên đường, như một gặp gỡ lần cuối, từ sáng sớm tôi, Yến, Bẩy cùng Đỉnh đã đến chỗ ở của hai người họ trong zone 3. Đến trước cửa barrack thì kịp thấy anh Khảm cùng mấy người học trò đang nói chuyện với nhau. Thấy nhóm chúng tôi, mấy người học trò đó cáo từ anh Khảm rồi bỏ về ngay. Trên cái sạp gỗ chung của barrack, chị Phượng đang làm các ổ bánh mì nhồi thịt nguội cho cả nhóm ăn sáng. Anh Khảm quay qua nhóm chúng tôi nói:
- Ăn chút đồ lót dạ nha mấy em. Có cà phê sẵn đây rồi mình khỏi cần ra quán làm chi mất công.
Bữa ăn sáng kết thúc chóng vánh. Anh Khảm kiểm tra lại cái va li giả da đựng hành lý của mình rồi đi gặp từng người trong barrack để chia tay. Chị Phượng cho chúng tôi biết cũng có một ông sống chung trong barrack sẽ lên đường đi Úc ở chuyến định cư ngày kế tiếp. Chị nho nhỏ thêm lời:
- Barrack đông người vậy mà đậu thanh lọc chỉ được một số ít đếm được. Lên đường định cư hôm nay, anh Khảm nói cũng rất ngại khi phải đi chào từ biệt họ. Sợ họ lại buồn, hiểu lầm mình. Vài tháng nữa chị cũng sẽ ra khỏi barrack như anh bây giờ. Mong rằng Cao Ủy sẽ có một thay đổi tốt đẹp cho những người còn ở lại.
Nhìn lại barrack một lần chót, anh Khảm khoát tay ra dấu cho cả nhóm chuẩn bị lên đường. Đỉnh lấy tay xách cái va li giả da đựng hành lý, buột miệng với anh Khảm:
- Để em lo cái va ly này nha thầy. Thầy vác nó vô tới trỏng, mồ hôi mồ kê ướt hết quần áo có mà chết dở.
Tôi bước lại bên Đỉnh, lấy tay thử cầm vào cái va li của anh Khảm, ước thầm trọng lượng. Tưởng nhẹ nhưng nó lại khá nặng. Hành lý bên trong là những thứ gì khi tôi nhớ lời anh nói ở bến tàu Tanjung Pinnang sẽ chỉ mang vài bộ quần áo trong ngày rời trại đi định cư! Đỉnh giúp cho anh Khảm thật đúng lúc. Đường từ đây vô tới điểm đón người định cư ở tuốt trong Galang 2 đâu có gần, nội cái đi bộ không thôi cũng đã mệt lừ người huống chi lại phải vác nặng.
Chúng tôi đi bên nhau băng qua lòng barrack này rồi thông qua barrack khác để ra hẳn bên ngoài hàng rào tôn của zone 3. Trên con đường nhựa sáng hôm nay, bất cứ ai nhìn vào nhóm chúng tôi cũng biết có người rời trại đi định cư nước thứ ba. Yến và Bẩy đi cạnh chị Phượng còn tôi với Đỉnh thì rảo bước sát bên anh Khảm. Trời có mây nên che bớt ánh nắng buổi sớm mai và có lẽ vì vậy nên ai cũng cảm thấy hơi lạnh. Vài nhóm tiễn người đi định cư đi trước và cũng có một bọn khác theo sau chân chúng tôi xa xa. Anh Khảm gật đầu thay lời nói với một người đàn ông đứng trước cửa căn chòi nhỏ cạnh bên đường khi hỏi: " Đi Mỹ phải không? ". Ngang chân đồi nhà thờ Công giáo Galang, vượt qua các barrack lá của zone 2 và zone 1 nằm sát bên vệ đường, chúng tôi từ từ từng bước lên con dốc có tượng Mẹ Bồng Con. Chính nơi này, buổi tối hôm nào khi từ buổi dạ hội Đêm Không Gian Hội Ngộ ở quán cà phê Đại Dương trở về, nhóm chúng tôi đã một phen hốt hoảng khi nhìn thấy các đốm lửa xanh lè xuất hiện đột ngột ở cây đa cổ thụ ven đường. Cây đa vẫn còn đó với cái bóng um tùm tôi tối cùng các chùm rễ lòng thòng từ ngọn cây xỏa xuống như những lọn tóc xoăn của phụ nữ. Bước các bước chân lên con dốc có khu mộ địa của các thuyền nhân xấu số mà người trong trại gọi là Galang 3, anh Khảm đột nhiên dừng chân lại, đứng yên lặng trước các bậc thang dẫn đường vào cửa và đọc lầm thầm các lời kinh cầu. Là đồng đạo, chị Phượng và Yến cũng yên lặng làm theo anh Khảm. Tôi, Đỉnh và cô Bẩy đứng yên im lặng chờ, dõi mắt nhìn toàn cảnh chung quanh của khu vực. Đối diện nghĩa địa giờ đây đã có thêm khu đền lộ thiên với tượng thờ Đức mẹ Nữ vương do thuyền nhân đạo Thiên Chúa giáo tại trại tị nạn Galang lập ra trên một mỏm đồi thấp. Những mái chòi của thuyền nhân ẩn hiện sau các hàng cây rừng dưới chân đồi chung với các dậu cây, luống rau trái, dàn bầu bí... Chúng tôi thả dốc, băng qua nhà nguyện của Hội Thánh Tin Lành rồi lại vượt khỏi các barrack lá khác nằm gần một con suối cắt ngang qua đường nhựa. Đây là các barrack lá đầu tiên của Galang 2 thuộc zone B. Từ con đường nhựa, chúng tôi đi qua zone A hay còn gọi là zone biệt lập vì là nơi tạm trú của người đi trong các chiếc ghe đầu tiên đến trại sau ngày Cao Ủy tuyên bố đóng cửa để chính thức thi hành chương trình thanh lọc. Zone A này nay không còn biệt lập nữa khi con số thuyền nhân đến trại ngày càng nhiều để có thêm các barrack lá, chòi và quán xá bán hàng... mới mọc thêm ở chung quanh.
Nghe Đỉnh thắc mắc không biết chuyến bay chở người định cư Hoa Kỳ sẽ đón thuyền nhân đi chung trong chuyến bắt đầu ở đâu thì anh Khảm vừa đi vừa nói:
- Anh nghe thằng Hoài Bảo làm ở phòng định cư kể là chuyến của anh đi hôm nay sẽ được Cao Ủy sắp xếp đón bằng cái tàu cao tốc dịp mình đi Tanjung Pinang trước hết. Sau đó, tàu cao tốc chạy sang đảo Batam rồi từ BaTam, chuyến của anh sẽ đi bằng máy bay sangSingapore . Đến Singapore lại phải đổi sang máy bay
khác đi Nhật... Hình như ghé vào phi trường Narita hay Tokyo rồi kế đó sẽ bay
vòng lên gần Bắc Cực để đảo xuống Hoa Kỳ. Đấy là chuyến dành cho những người đi
vùng Bắc Mỹ như CANADA hay Hoa Kỳ như chuyến của anh. Chuyến đi Âu Châu như định
cư ở Anh quốc, Tây Đức hay Pháp, Bỉ... thì hành trình sẽ khác. Máy bay sẽ ghé Bangkok lấy thêm người ở
trại Sikiew hay bên Sungei Besi ở Mã Lai chuyển sang. Từ Bangkok, máy bay sẽ
vượt qua các nước trong vùng trung Á để thẳng đường đến Âu Châu cho gần. Đi Úc
đi New Zealand , chuyến bay
thường từ Batam chuyển tiếp sang Singapore
nhưng cũng có khi lại thẳng một lèo đến thủ đô Jakarta . Từ Jakarta, sẽ đổi máy bay khác để
đi tiếp tới Úc hay New
Zealand là hoàn tất. Anh nghĩ Cao Ủy sẽ sắp
xếp người đi chung với phi trình thương mãi của các hãng hàng không nào mà họ
thấy tiện nhất cho cả các bên liên quan. Tất nhiên khi phi trình càng ngắn, máy
bay chứa đủ khách thì càng có lợi cho các hãng hàng không mà chính vì vậy, có
khi máy bay phải quá cảnh qua nhiều phi trường. Nghe kể thì nghĩ gặp phi cơ ghé
vào nhiều chỗ sẽ thích thật vì biết thêm nhiều nơi. Nghĩ vậy nhưng trong thực
tế, có là hành khách của các chuyến bay đó, mình sẽ rất mệt.
Điều anh Khảm nói ra, chúng tôi mới biết. Thảo nào các chuyến đi định cư đều khác nhau về số lượng người rời trại. Chuyến nhiều, chuyến ít người định cư cũng do từ đây. Anh Khảm lại nói:
- Trước kia thì anh nghĩ khi đến Hoa Kỳ, máy bay sẽ phải ghé vào phi trường Travis là cái phi trường anh đã đến hồi đi tu nghiệp thời còn chế độ cũ. Khi đó, anh đã thấy phi trường Travis nó rộng gấp mấy lần so với Tân Sơn Nhất bên mình. Rộng mênh mông nhưng Travis lại không thấm vào đâu khi so sánh với phi trường Los Angles... Máy bay nào đến Hoa Kỳ bên bờ phía Tây đều hầu như sẽ đáp xuống phi trường Los Angles này và chắc chắn, chuyến của anh hôm nay cũng sẽ ghé vào.Los Angles Airport là một trong các phi trường lớn
nhất nước Mỹ mà nhất của nước Mỹ thì khác gì nhất của thế giới.
Chúng tôi băng qua cây cầu gỗ dẫn vào nhà thờ Đức mẹ Vô Nhiễm để đi tắt đến chỗ tập trung trước cửa phòng khám bệnh IOM của Cao Ủy. Phòng IOM nằm đối diện với dãy nhà của các phái đoàn nhận người định cư, phòng JVA đại diện chính quyền Hoa Kỳ tại trại. Ngày đi định cư nào cũng là ngày hội vui của những thuyền nhân may mắn nhưng cũng là ngày buồn cho những ai còn phải kẹt lại trong trại. Từng nhóm người đứng chùm nhum đây đó với nhau trong sự yên lặng hay nói cười rộn rã. Vài nhân viên An ninh P3V cùng các police địa phương trong bộ đồng phục quần xanh-áo tím-mũ beret đen đứng yên lặng giữ trật tự bên lề đường, vô cảm nhìn đám thuyền nhân chúng tôi. Anh Khảm tách ra khỏi nhóm để gặp các bạn quen cùng binh chủng không quân đang đứng chung với nhau cạnh bụi cây dứa dại trước cửa văn phòng IOM. Tôi cũng rảo chân đây đó và một khuôn mặt quen với tôi trong đám đông đã giơ tay chào như một biểu lộ thân quen. Tôi tiến đến thì ra là ông Thành. Tôi quen ông Thành qua lời giới thiệu của anh Khảm ở buổi dạ vũ tại quán cà phê Đại Dương và đã đi cùng ông để gặp anh Đoàn ThạnhNam
trong các tháng trước. Nhìn bộ quần áo mới toanh ông mặc trên người cùng cái va
ly để kề bên chân, hôm nay cũng là ngày ông rời trại. Tôi bước đến, bắt tay
chúc mừng ông thượng lộ bình an. Ông cười thật tươi rồi nhỏ nhẹ nhắc lại chuyện
cũ.
- Tui cảm ơn chú em tối hôm đó tiên đoán sẽ đậu thanh lọc. Chú em ở lại, mong sẽ may mắn qua được thanh lọc như tui, như anh Khảm... Chú em gặp được Đoàn ThạnhNam là ổn rồi. OK. May lắm đó đa.
Tôi mỉm cười xác nhận với lời ông Thành. Thực sự thì chưa ổn đâu nhưng đúng là gặp may vì nhờ các điều anh Đoàn ThạnhNam
kể, tôi mới có thêm các hiểu biết về chuyện thanh lọc. Sau buổi gặp gỡ ở quán
cà phê Gió với anh hôm đó, tuy chưa biết mình sẽ phải sắp xếp như thể nào trong
bản hồ sơ lý lịch Cao Ủy của cá nhân mình, nhưng tôi biết vài người trong
barrack có thể sẽ bị rớt thanh lọc khi nghe họ nói khai như thế này, thế kia...
Biết vậy nhưng không thể góp ý hay nói cho họ lý do tại sao nên hay không nên
khai như thế vì chắc gì người ta đã tin lời mình. Chưa ổn là vì vẫn không biết
phải khai thế nào trong bản lý lịch cũng như khi gặp mặt luật sư Cao Ủy để cầm
chắc sẽ lấy được vé đậu. Hôm nay là lần chót gặp ông Thành nên tôi định sẽ trò
chuyện thêm thì một giọng đàn bà chen vào:
- Anh ơi! Xe tải sắp đến rồi... Em buồn lắm... buồn lắm.
Tôi ngước ngang nhìn, một phụ nữ trạc tuổi với chị Phượng trong tay cầm chiếc khăn nhỏ chậm lên mắt... tiến đến sát bên ông Thành. Chị nhìn tôi, gật đầu chào rồi quay qua ông Thành trong tiếng sụt sùi. Tôi bỏ hai người họ, lách qua đám đông để về lại chỗ cũ của cả nhóm. Khu vực này bây giờ thật đông người trong tiếng cười nói, gọi nhau í ới và cả tiếng khóc... như một cái chợ lộ thiên. Có những cặp nam nữ tự nhiên ôm ấp, tay trong tay với nhau bất kể đang hiện diện trước bao cặp mắt của người khác. Phút cuối gặp nhau ở đây, còn gì để họ phải ngại ngùng, phải sợ sệt. Tôi đi qua người này, người kia và nghe tiếng gọi tên mình. Quay mặt nhìn, tôi thấy Yến đứng chung với anh chị Khảm-Phượng cạnh bên cổng gỗ nhỏ tam quan dẫn thẳng vào chùa Kim Quang. Tôi bước lại gần, định cất lời hỏi vì không thấy Đỉnh và cô Bẩy đâu thì vội im bặt khi nhìn thấy những con mắt sũng nước của anh chị Khảm-Phượng. Giờ biệt ly của họ sắp đến rồi khi một nhân viên phòng trật tự của ban Đại diện trại cầm chiếc loa tay chạy bằng pin nói lớn:
- Đồng bào có tên trong danh sách chuyến định cư Hoa Kỳ sáng nay chú ý, chú ý... Xe tải của phòng An ninh P3V sắp sửa đến đón đồng bào ra cầu tàu trong chốc lát. Yêu cầu đồng bào tập trung trước phòng khám IOM ngay. Xin tập trung chờ sẵn sàng, sẵn sàng.
Tiếng ồn ào từ đám đông nổi lên chung với một đoạn nhạc quen thuộc tai tôi đã từng nghe trong ngày đầu tiên khi cả nhóm theo chân anh chị Khảm-Phượng đi vào Galang 2 của buổi đầu mới nhập trại. Đoạn nhạc mà anh Khảm từng nói mỗi lần trong trại có chuyến định cư thì thể nào phòng thông tin sẽ phát thanh cho thuyền nhân nghe như một lời chúc mừng. Những đoạn nhạc mới ngày nào anh Khảm ao ước sẽ được nghe cho riêng đời mình thì giờ đây, đang nhẹ nhàng, chầm chậm trôi trong tiếng loa. When will I see you again... When will we share precious moments... Will I have to wait forever or will I have to suffer and cry the whole night through... Are we in love or just friends... Is this my beginning or is this the end... Ca sĩ Thomas Andres đã thay cho anh chị Khảm-Phượng cũng như những người sắp rời trại khác để phả trong làn gió các lời nhạc dịu dàng, êm ả, nhắn nhủ với nhau. Ta đã yêu hay chỉ là bạn... Là lần đầu hay lần cuối... Biết bao giờ mình sẽ gặp lại...
Lời nhạc thật buồn trong cảnh chia tay hôm nay. Tiếng loa trong tay nhân viên phòng trật tự của ban Đại diện trại lại cất lên, nhắc nhở người định cư tập trung ngay tại khu vực càng làm cho những người sắp sửa rời trại hối hả trao đổi với thân thuộc mình bằng lời nói, bằng tiếng khóc cùng các giọt nước mắt như thể họ sẽ không còn kịp thời gian, cơ hội ở bên nhau nữa. Không đường ray song hành, không các toa xe lửa cùng tiếng còi tàu thúc giục hành khách nhưng rõ ràng, tôi đang đứng ở một sân ga với cảnh biệt ly người đi, kẻ ở lại. Cảnh biệt ly ai cũng biết rồi ở phương trời xa nào đó, mấy khi họ sẽ gặp cố nhân... thêm lần nữa trong đời.
Tôi nhìn anh chị Khảm-Phượng như nhắc nhở cho hai người biết khi có tiếng chiếc xe tải chạy đến gần. Đám nhân viên An ninh P3V cùng police địa phương túa ra ổn định trật tự để chiếc xe tải dễ dàng chạy vào đúng vị trí đón khách. Giờ chia tay đến rồi, hai người họ chỉ còn khóc với nhau thay cho lời tiễn biệt. Yến nhìn tôi trong đôi mắt đỏ hoe, ràn rụa lệ như thể sắp sửa bước lên chiếc xe tải để rời trại, bỏ tôi ở lại một mình. Tôi đến bên nàng, nói đùa:
- Làm gì khóc dữ vậy... Người ta đi định cư còn chưa bằng em kìa? Thằng Đỉnh, cái Bẩy trông thấy lại cười cho đấy.
Yến dễ khóc thật. Tôi nghĩ vậy nhưng chợt nhớ có lần anh Khảm đã nói những người khóc ngay được trước các nghịch cảnh của người khác, lòng họ rất hiền vì có tâm hồn. Anh Khảm đã từng bảo Yến là người có tâm hồn và tôi may mắn đã gặp. Tôi từng thắc mắc, muốn anh Khảm giải thích người có tâm hồn trong câu anh nói trước đây khi đã khen về Yến " Đàn bà, con gái dù người xinh đẹp đến đâu mà không có tâm hồn thì cũng là hạng bỏ đi " mà rồi do bận rộn công việc nên đã quên. Phải chăng người có tâm hồn là người có lòng mẫn cảm với cái đau, nỗi buồn của tha nhân tương tự bản thân mình như Yến bây giờ. Có thể lắm.
Chợt có người lay nhẹ vào tay tôi, ngoảnh lại nhìn thì ra là thằng Đỉnh. Tôi cất giọng hỏi:
- Ê! Mày đâu nãy giờ vậy Đỉnh? Cô Bẩy nữa?
- Nhỏ Bẩy nói đi đến tiệm gặp cái Đào rồi anh. Em nãy giờ ra ngồi ở quán cà phê gần miếu ba cô kia kìa. Đỉnh lấy tay chỉ về dãy quán nước ở xa xa.
Đám nhân viên phòng An ninh P3V cùng police địa phương phối hợp với các nhân viên phòng trật tự của ban Đại diện trại bắt đầu gọi tên từng người định cư để lên chiếc xe tải. Nhìn những người mắt mũi đỏ hoe trong tiếng khóc đang theo chân nhau bước chân lên cầu thang của chiếc xe, Đỉnh buột miệng cười, nói nhỏ với tôi:
- Nước mắt nước mũi tùm lum vậy chứ sang được bên đó rồi ba bẩy hai mươi mốt ngày sẽ quăng cục lơ tây ngay thôi. Mấy người không khóc lóc, mếu máo... có khi lại chung tình với nhau đó anh Vũ.
- Sao mày nói vậy mà nghe được... Làm như biết rõ trong bụng họ. Hay ha! Thấy anh Khảm, chị Phượng kia kìa... Không lẽ! Tôi đáp lời.
- Anh không nghe câu người ta nói Galang Tình Xù à! Rồi anh xem họ nha.
Tôi nhìn quanh với những người sắp sửa rời trại. Cũng có những người thật bình thản dù phút giây hiện diện ở trại với họ chỉ tính trong vài phút đồng hồ nữa là cùng. Đám trẻ choai choai minor nam-nữ đứng bên nhau cười đùa trong giờ lên đường như chưa hề biết đến nỗi buồn của cảnh chia tay. Cũng có người vẻ bề ngoài thật bình thản như thể bỏ nơi này để đến một chốn khác như trong chuyến lữ hành du lịch dù trong lòng họ, thực không biết rõ đang vui hay buồn. Không giống như các chuyến hồi hương về quê nhà, thuyền nhân sẽ được theo nhau ra tận cầu tàu trong phút tiễn biệt. Các chuyến định cư, phòng An ninh P3V ấn định chỗ chia tay chỉ ở trước phòng IOM thôi. Xe tải đã gần đầy người đứng chen chúc bên nhau trong thùng. Tôi bước vội đến cạnh chiếc xe tải khi thấy anh Khảm giơ tay vẫy gọi đến. Thấy tôi đến gần rồi, anh Khảm nói vọng xuống:
- Vũ với Yến thỉnh thoảng có rảnh việc nhớ ghé thăm Phượng thay cho anh nha. Chuyện thanh lọc, các em phải khéo léo khai báo với Cao Ủy... Anh chúc tất cả gặp may mắn. Có nhắn gì thêm với gia đình em không? Sang bên Mỹ anh sẽ viết thư về... Nói dùm cho.
Mấy ngày trước, dùng máy chữ của phòng Dịch thuật, tôi đã đánh một bức thư ngắn gửi cho mẹ cùng các em gái bên quê nhà biết thêm về cuộc sống chung ở trại tị nạn Galang hiện thời mà không đả động gì về việc Cao Ủy đang thanh lọc thuyền nhân. Thư đó cũng kèm theo một tấm hình chụp tôi đứng trước cửa phòng làm việc dưới gốc cây chuối kiểng khổng lồ có các tàu lá to rẽ ra hai bên thân như một cái quạt nan khổng lồ. Tối hôm qua, cầm lá thư không dán, tôi đến chỗ anh chị Khảm-Phượng và trao tận tay, nhờ anh gửi dùm khi sang được bên Hoa Kỳ. Không biết chuyện gửi thư ở các trại tị nạn người Việt bên các nước Mã Lai, Thái, Phi hay Hồng Kông ra sao nhưng ở đảo tị nạn Galang, phòng An ninh P3V không cho phép thuyền nhân gửi thư trực tiếp từ trại về thẳng Việt Nam. Muốn gửi thư về quê nhà, thuyền nhân trong trại phải gửi cho thân nhân hay người quen biết ở nước thứ ba nào đó để rồi họ sẽ chuyển tiếp gửi dùm sau. Nghe anh Khảm nói vậy, tôi khẽ lắc đầu. Được một lát, anh Khảm chồm người ra khỏi thùng xe, dặn nhỏ từng lời bên tai:
- Sau này nếu có gặp chị Hoa cùng mấy con anh... Hãy dấu kín chuyện anh và Phượng ở đây nha Vũ... Anh xin em.
Tôi nhìn lên khuôn mặt của anh Khảm. Đôi mắt anh sắc nét không một chút lệ, mọng đỏ của người vừa khóc xong. Thay vào đó, mặt anh bây giờ đầy vẻ rắn rỏi, cương nghị như sẵn sàng một thân một mình bước vào cuộc đời mới ở nơi xa lạ sắp đến với nhiều bất trắc đang chờ. Vậy là anh cũng biết sợ vợ anh bên quê nhà hay được chuyện vụng trộm ở trại. Sợ có nghĩa anh Khảm vẫn thương mà thương thì phải có trách nhiệm với gia đình. Tôi gật đầu với lời anh yêu cầu cũng như xác nhận: " Đỉnh ơi, mày nói không sai ".
Nghe Yến nói đến đây, anh Khảm đột ngột kéo ghế, đứng lên và bước hẳn ra ngoài quán mà không nói thêm lời nào. Tôi trố mắt nhìn theo bóng anh, lòng bối rối... không biết phải nói phải làm gì khi bên tai nghe tiếng nấc nho nhỏ của chị Phượng. Cũng may là bản thân mình không hút thuốc lá. Nếu tôi hút thuốc lá như anh Khảm hay thằng Đỉnh... thì sẽ không biết phải xử trí như thể nào trước hình ảnh vừa xảy ra trong tối hôm nay.
Trong chốc lát, tôi rời bàn, đi nhanh ra ngoài quán để tìm anh Khảm. Kia rồi anh đang đứng bên vệ đường mặt hướng về phía con lộ dẫn ra biển bị che khuất bởi bóng đêm. Anh đứng đó, hai tay thọc vào túi quần trong yên lặng. Tôi lại gần, khẽ lắp bắp:
- Đâu ai ngờ... Chuyện lại như thế há anh... Thôi...
Tôi im bặt khi nghe tiếng nấc của anh Khảm bật lên run run như muốn nói điều gì mà mắc nghẹn trong cổ. Tiếng nấc nhỏ rồi to hơn thành tiếng khóc ai oán như hối lỗi vì chuyện do anh làm, đã tạo ảnh hưởng không hay cho chị Phượng. Anh khóc vì buồn và anh đã khóc ngon lành. Hẳn vậy vì tôi đã từng nghe anh thổ lộ chỉ mong khi rời trại, cả anh lẫn chị Phượng sẽ lên đường định cư trong cùng một ngày. " Sống thì cùng sống, đi thì cùng đi... Ở đâu có anh thì phải có chị... dù là đi định cư khác nước ". Giờ đây, cảnh anh Khảm sẽ đi, chị Phượng phải ở lại trại một mình mà nguyên do cũng từ bản thân anh gây ra nên anh buồn hay vì sự chia tay sẽ thấy trước mắt chẳng còn xa như tôi đã bắt gặp tâm trạng anh trong chuyến đi Tanjung Pinang vừa rồi. Anh Khảm vẫn đứng yên chỗ khi tôi đã ở bên cạnh và không buồn che dấu hình ảnh mềm yếu của bản thân nữa. Cứ khóc, có chảy nước mắt thì lòng mới vơi đi cái buồn tối nay. Tôi chia xẻ tâm trạng của anh và của chị Phượng.
Vài người khách đến quán khi thấy hai chúng tôi đứng yên trong bóng đêm nên đã nghi ngại khi họ vừa rảo chân bước vừa ngoái đầu nhìn lại. Thấy dáng vẻ của họ, tôi liền kéo tay anh Khảm quay vào quán và trở lại cái bàn cũ. Yến và chị Phượng vẫn ngồi yên trong chỗ như đang chờ đợi hai chúng tôi. Hai ly nước của tôi và Yến do người hầu bàn mang ra để bên cạnh hai ly nước của anh chị Khảm-Phượng gần đó mà tất cả vẫn còn nguyên vì chưa ai đụng đến. Để phá vỡ bầu không khí ngột ngạt, tôi cầm lấy ly nước của mình, khẽ khuấy chiếc muỗng và nói:
- Lần đầu tiên mới thấy anh Khảm khóc... Khóc thật tình, ngon lành. Bây giờ em mời anh chị dùng nước, Yến uống nha Yến.
Tôi nhìn chị Phượng và Yến. Ánh sáng trang trí mờ mờ ảo ảo của sân quán cà phê Dạ Lý còn soi rõ các vệt nước long lanh trên mí mắt họ. Chị Phượng lấy tay chậm vào mũi, khẽ đáp lời như một hờn dỗi:
- Anh Khảm mà khóc gì Vũ ơi... Người như gỗ như đá... Có biết thương ai mà thật tình.
Bàn chân của Yến khẽ đá nhẹ vào tôi như một hiệu lệnh ngầm. Đưa mắt nhìn sang, khóe mắt của nàng cũng đảo nhanh với tôi. " Thôi mình nên yên lặng, ngồi im uống nước cho chắc ", tôi nhủ lòng.
Tối hôm nay, không hiểu sao phòng bên trong quán cà phê Dạ Lý lại đông khách hơn thường ngày. Tôi định nói ra điều đó cho anh Khảm biết thì thấy bác sĩ Luân đi cùng với một người nữa đến thẳng bàn của nhóm chúng tôi và đứng lại. Anh Khảm lấy ngay vẻ bình thường hàng ngày, cất giọng:
- Ô! Anh Luân... Khỏe chứ.
- Bình thường! Cảm ơn anh. Có chuyện này tôi muốn cho quý vị biết.
Bác sĩ Luân cười sau câu nói mang vẻ trịnh trọng với nhóm chúng tôi rồi chỉ tay vào người đi bên cạnh, ông tiếp từng đoạn ngắn:
- Xin giới thiệu đây là anh Phước, chủ nhân mới của quán Dạ Lý... Đây là anh Khảm, chị Phượng... Và đây... Cậu Vũ, cô Yến... Đều là khách ruột của quán mình đó Phước.
Thì ra bác sĩ Luân đã sang lại quán cà phê Dạ Lý cho người khác. Vậy ra ông cũng sắp lên đường định cư! Chuyện thật bất ngờ vì trong danh sách định cư mà phòng thông tin của ban Đại diện trại đọc trong mấy đợt rồi, chúng tôi đâu có nghe thấy tên ông. Cầm chân ông và người tên Phước ngồi lại bàn nước, anh Khảm nói ra điều đó thì ông bác sĩ cười, trả lời:
- Mấy cái list định cư anh nghe đọc trên loa là dành cho người đậu thanh lọc thôi, còn mình đến trước ngày đóng cửa mà có danh sách danh siết gì. Họ dìm mình ở trại lâu quá rồi giờ phải cho lên đường chứ anh. Phải không nào?
Bác sĩ Luân cho biết trong mấy đợt ghe nhập trại tị nạn Galang vừa qua may mắn đã có hai thuyền nhân là bác sĩ nên có lẽ nhờ vậy mà phòng An ninh P3V mới chịu nhả ông ra cho đi định cư. Như đã kể ở các đoạn trước, bác sĩ Luân nguyên là bác sĩ quân y thời miền Nam VNCH và khi Việt Cộng vào được Sài Gòn thì chúng bắt ông tù cải tạo gần 3 năm trời rồi mới được trả tự do để phục vụ tại nhà thương Chợ Rẫy như một trao đổi cá nhân, có đi có lại. Sau hơn chục năm làm việc trong chế độ mới, ông vượt biên đến trại tị nạn Galang trước ngày đóng cửa và đúng lẽ là người tị nạn không vướng lưới thanh lọc của Cao Ủy, bác sĩ Luân đã định cư bên Pháp từ lâu nhưng vì cần người chữa bệnh, hồ sơ của ông bị phòng An ninh P3V giữ lại cho đến bây giờ. Hai bác sĩ mới đến trại đã thế chỗ của ông thật đúng lúc. Mừng cho ông sẽ xổ lồng nay mai. Nghe tiếng cười, lời nói đầy âm hưởng vui vẻ của ông, tôi nghĩ chắc hẳn ông sẽ rất mừng khi nghĩ giờ phút rời trại chỉ trong nay mai. Nào ngờ, ông quay ra nói với anh Khảm:
- Khi còn kẹt ở đây thì tôi mong cho chóng đến ngày đi định cư, giờ ngày đó sắp đến thì mình lại buồn. Tôi chẳng hiểu lòng mình sao nữa? Còn anh. Tôi nghe loa đọc tên anh trong list định cư rồi, có cảm giác như tôi không hả anh Khảm?
Anh Khảm ngồi im. Có lẽ chuyện buồn vừa rồi với chị Phượng vẫn chưa tan biến trong lòng nên anh khẽ lắc đầu và chỉ đáp lại bằng nụ cười với bác sĩ Luân. Bác sĩ Luân lại tiếp:
- Ở Galang này lâu ngày tự nhiên tôi thấy mến cảnh và mến người... Đi sang Pháp bây giờ cũng cực lắm. Không biết trình độ của hai tay bác sĩ mới nhập trại ra sao? Ghe đến tới tấp nên cả hai Galang 1 và Galang 2 hiện giờ nhiều bệnh nhân quá. Kỳ thật! Hồi xuống ghe bỏ nước vượt biên, tôi cũng có cái cảm giác tiếc tiếc, nhớ nhớ, lo lo... như với bệnh nhân của mình ở đây. Ai sẽ chăm sóc cho họ?
Sống cu ky một mình ở trại mà bác sĩ Luân còn có tâm trạng lưu luyến với bệnh nhân như thế thì trách chi anh Khảm phải nặng lòng cùng chị Phượng. Dầu gì thì họ cũng là một đôi từng chia xẻ ngọt bùi với nhau từ khi còn ở trong trại tuốt sâu trong rừng bên Mã Lai. Một miếng khi đói bằng một gói khi no lại thêm trong cảnh hương lửa mặn nồng, sớm tối bên nhau nữa. Anh Khảm đã buồn khi thấy việc chia tay với chị Phượng trước mắt và đã vừa khóc vì chuyện đó nhưng lại lắc đầu phủ nhận với câu hỏi của bác sĩ Luân. Tôi nhìn sang Yến thăm dò thì bắt gặp nàng kín đáo lấy tay che miệng cười. Chợt ông tên Phước cất tiếng nói như lời làm quen:
- Tôi rất vui khi biết các anh chị tối nay ở đây... Mong gặp mặt ở quán thường xuyên để ủng hộ tôi nha.
- Đừng lo, bác sĩ vừa nói rồi anh à, tụi tôi là khách ruột của quán. Có uống cà phê cũng chỉ ghé ở đây là chính. Tôi thay mặt cả nhóm, đáp lời.
Hỏi thêm thì chúng tôi biết bác sĩ Luân sẽ rời trại 3 ngày sau chuyến định cư của anh Khảm. Nhân có mặt bác sĩ Luân tại bàn nước, tôi nói lời cảm ơn với ông vì đã giúp trong việc khám bệnh cùng cho thuốc điều trị trong thời gian vừa qua. Ở Galang 1, ngày nào thì nhà thương cũng chỉ phát giới hạn có 100 phiếu khám bệnh nên khi cần thì thuyền nhân phải xếp hàng mới có. Dòng người đứng xếp hàng đã bắt đầu từ 4, 5 giờ sáng nên khó mà lấy được phiếu nếu như dậy trễ. Nhờ quen được với bác sĩ Luân nên mỗi khi bị bệnh, tôi và Yến chỉ cần đến trước cửa phòng của ông tại nhà thương. Thấy hai đứa tôi, ông sẽ dẫn ngay vào để khám trước, khỏi cần phiếu. Tôi vẫn nhớ lời nói của bác sĩ: " Galang đông người quá, trăm phiếu phát ra không đủ cho nhu cầu người cần. Hồi tôi mới đến trại, nhà thương hầu như trông có người đến khám bệnh mà có thấy mấy ai đâu ".
Cuộc trò chuyện đã làm tan biến cái buồn trong lòng, chị Phượng cất miệng hỏi với ông bác sĩ:
- Anh sang quán rồi sổ phong thần tính sao. Có bàn giao cho chủ nhân mới không?
Sổ phong thần là quyển sách ghi tên khách thiếu nợ tại quán. Ngồi quán cà phê là thói quen của thuyền nhân trong trại vì thực tế họ chẳng biết phải đi đâu trong các buổi tối hay khi gặp bạn bè, cần chỗ để trò chuyện riêng. Quán cà phê là chỗ lý tưởng nhất nhưng đến quán thì phải gọi thức uống mà có lúc trong túi lại cạn tiền, khô máu. Đành ghi sổ nợ, hẹn khi có sẽ gửi trả sau mà nguồn tiền lại lệ thuộc vào thân nhân ở nước thứ ba gửi giúp. Thân nhân không giúp nữa, thuyền nhân sẽ sạch nhẵn túi nhanh chóng và phải ghi nợ. Quán bán hàng ở Galang nào cũng đều có sổ phong thần và người thiếu nợ càng nhiều thì sổ đó càng dầy hơn. Chủ quán thường phải theo dõi thông báo của phòng phát thư bảo đảm PKL trên loa phóng thanh để biết khách nợ vừa nhận được tiền thân nhân gửi mà kịp gặp mặt đòi ngay. Khách nợ sắp rời trại đi định cư, may ra chủ nợ còn đòi được tiền thiếu nhưng người hồi hương về nước thì cầm chắc sẽ bị mất không. Chấp nhận hồi hương, thuyền nhân con nợ đó coi như đã thua canh bạc vượt biên thì họ còn gì trong tay để mà sòng phẳng với chủ nợ. Họ làm mặt lì mà chủ nợ đành chịu, cười trừ. Phòng An ninh P3V hầu như không can thiệp vào chuyện nợ nần của thuyền nhân trên đảo. Chủ nợ có gửi đơn thưa với Cao Ủy thì cũng nhận được câu trả lời không xét đến các giao dịch cá nhân của thuyền nhân. Tự giải quyết lấy với nhau. Sổ phong thần là chuyện chẳng đặng đừng mà bất cứ chủ quán hàng nào ở Galang cũng biết mà không tránh được. Bác sĩ Luân nghe chị Phượng hỏi, ông lắc đầu và ngập ngừng đáp lời:
- Không! Coi như bỏ luôn... Họ cũng không có tiền... Trại tị nạn mà chị.
Ngày anh Khảm lên đường, như một gặp gỡ lần cuối, từ sáng sớm tôi, Yến, Bẩy cùng Đỉnh đã đến chỗ ở của hai người họ trong zone 3. Đến trước cửa barrack thì kịp thấy anh Khảm cùng mấy người học trò đang nói chuyện với nhau. Thấy nhóm chúng tôi, mấy người học trò đó cáo từ anh Khảm rồi bỏ về ngay. Trên cái sạp gỗ chung của barrack, chị Phượng đang làm các ổ bánh mì nhồi thịt nguội cho cả nhóm ăn sáng. Anh Khảm quay qua nhóm chúng tôi nói:
- Ăn chút đồ lót dạ nha mấy em. Có cà phê sẵn đây rồi mình khỏi cần ra quán làm chi mất công.
Bữa ăn sáng kết thúc chóng vánh. Anh Khảm kiểm tra lại cái va li giả da đựng hành lý của mình rồi đi gặp từng người trong barrack để chia tay. Chị Phượng cho chúng tôi biết cũng có một ông sống chung trong barrack sẽ lên đường đi Úc ở chuyến định cư ngày kế tiếp. Chị nho nhỏ thêm lời:
- Barrack đông người vậy mà đậu thanh lọc chỉ được một số ít đếm được. Lên đường định cư hôm nay, anh Khảm nói cũng rất ngại khi phải đi chào từ biệt họ. Sợ họ lại buồn, hiểu lầm mình. Vài tháng nữa chị cũng sẽ ra khỏi barrack như anh bây giờ. Mong rằng Cao Ủy sẽ có một thay đổi tốt đẹp cho những người còn ở lại.
Nhìn lại barrack một lần chót, anh Khảm khoát tay ra dấu cho cả nhóm chuẩn bị lên đường. Đỉnh lấy tay xách cái va li giả da đựng hành lý, buột miệng với anh Khảm:
- Để em lo cái va ly này nha thầy. Thầy vác nó vô tới trỏng, mồ hôi mồ kê ướt hết quần áo có mà chết dở.
Tôi bước lại bên Đỉnh, lấy tay thử cầm vào cái va li của anh Khảm, ước thầm trọng lượng. Tưởng nhẹ nhưng nó lại khá nặng. Hành lý bên trong là những thứ gì khi tôi nhớ lời anh nói ở bến tàu Tanjung Pinnang sẽ chỉ mang vài bộ quần áo trong ngày rời trại đi định cư! Đỉnh giúp cho anh Khảm thật đúng lúc. Đường từ đây vô tới điểm đón người định cư ở tuốt trong Galang 2 đâu có gần, nội cái đi bộ không thôi cũng đã mệt lừ người huống chi lại phải vác nặng.
Chúng tôi đi bên nhau băng qua lòng barrack này rồi thông qua barrack khác để ra hẳn bên ngoài hàng rào tôn của zone 3. Trên con đường nhựa sáng hôm nay, bất cứ ai nhìn vào nhóm chúng tôi cũng biết có người rời trại đi định cư nước thứ ba. Yến và Bẩy đi cạnh chị Phượng còn tôi với Đỉnh thì rảo bước sát bên anh Khảm. Trời có mây nên che bớt ánh nắng buổi sớm mai và có lẽ vì vậy nên ai cũng cảm thấy hơi lạnh. Vài nhóm tiễn người đi định cư đi trước và cũng có một bọn khác theo sau chân chúng tôi xa xa. Anh Khảm gật đầu thay lời nói với một người đàn ông đứng trước cửa căn chòi nhỏ cạnh bên đường khi hỏi: " Đi Mỹ phải không? ". Ngang chân đồi nhà thờ Công giáo Galang, vượt qua các barrack lá của zone 2 và zone 1 nằm sát bên vệ đường, chúng tôi từ từ từng bước lên con dốc có tượng Mẹ Bồng Con. Chính nơi này, buổi tối hôm nào khi từ buổi dạ hội Đêm Không Gian Hội Ngộ ở quán cà phê Đại Dương trở về, nhóm chúng tôi đã một phen hốt hoảng khi nhìn thấy các đốm lửa xanh lè xuất hiện đột ngột ở cây đa cổ thụ ven đường. Cây đa vẫn còn đó với cái bóng um tùm tôi tối cùng các chùm rễ lòng thòng từ ngọn cây xỏa xuống như những lọn tóc xoăn của phụ nữ. Bước các bước chân lên con dốc có khu mộ địa của các thuyền nhân xấu số mà người trong trại gọi là Galang 3, anh Khảm đột nhiên dừng chân lại, đứng yên lặng trước các bậc thang dẫn đường vào cửa và đọc lầm thầm các lời kinh cầu. Là đồng đạo, chị Phượng và Yến cũng yên lặng làm theo anh Khảm. Tôi, Đỉnh và cô Bẩy đứng yên im lặng chờ, dõi mắt nhìn toàn cảnh chung quanh của khu vực. Đối diện nghĩa địa giờ đây đã có thêm khu đền lộ thiên với tượng thờ Đức mẹ Nữ vương do thuyền nhân đạo Thiên Chúa giáo tại trại tị nạn Galang lập ra trên một mỏm đồi thấp. Những mái chòi của thuyền nhân ẩn hiện sau các hàng cây rừng dưới chân đồi chung với các dậu cây, luống rau trái, dàn bầu bí... Chúng tôi thả dốc, băng qua nhà nguyện của Hội Thánh Tin Lành rồi lại vượt khỏi các barrack lá khác nằm gần một con suối cắt ngang qua đường nhựa. Đây là các barrack lá đầu tiên của Galang 2 thuộc zone B. Từ con đường nhựa, chúng tôi đi qua zone A hay còn gọi là zone biệt lập vì là nơi tạm trú của người đi trong các chiếc ghe đầu tiên đến trại sau ngày Cao Ủy tuyên bố đóng cửa để chính thức thi hành chương trình thanh lọc. Zone A này nay không còn biệt lập nữa khi con số thuyền nhân đến trại ngày càng nhiều để có thêm các barrack lá, chòi và quán xá bán hàng... mới mọc thêm ở chung quanh.
Nghe Đỉnh thắc mắc không biết chuyến bay chở người định cư Hoa Kỳ sẽ đón thuyền nhân đi chung trong chuyến bắt đầu ở đâu thì anh Khảm vừa đi vừa nói:
- Anh nghe thằng Hoài Bảo làm ở phòng định cư kể là chuyến của anh đi hôm nay sẽ được Cao Ủy sắp xếp đón bằng cái tàu cao tốc dịp mình đi Tanjung Pinang trước hết. Sau đó, tàu cao tốc chạy sang đảo Batam rồi từ BaTam, chuyến của anh sẽ đi bằng máy bay sang
Điều anh Khảm nói ra, chúng tôi mới biết. Thảo nào các chuyến đi định cư đều khác nhau về số lượng người rời trại. Chuyến nhiều, chuyến ít người định cư cũng do từ đây. Anh Khảm lại nói:
- Trước kia thì anh nghĩ khi đến Hoa Kỳ, máy bay sẽ phải ghé vào phi trường Travis là cái phi trường anh đã đến hồi đi tu nghiệp thời còn chế độ cũ. Khi đó, anh đã thấy phi trường Travis nó rộng gấp mấy lần so với Tân Sơn Nhất bên mình. Rộng mênh mông nhưng Travis lại không thấm vào đâu khi so sánh với phi trường Los Angles... Máy bay nào đến Hoa Kỳ bên bờ phía Tây đều hầu như sẽ đáp xuống phi trường Los Angles này và chắc chắn, chuyến của anh hôm nay cũng sẽ ghé vào.
Chúng tôi băng qua cây cầu gỗ dẫn vào nhà thờ Đức mẹ Vô Nhiễm để đi tắt đến chỗ tập trung trước cửa phòng khám bệnh IOM của Cao Ủy. Phòng IOM nằm đối diện với dãy nhà của các phái đoàn nhận người định cư, phòng JVA đại diện chính quyền Hoa Kỳ tại trại. Ngày đi định cư nào cũng là ngày hội vui của những thuyền nhân may mắn nhưng cũng là ngày buồn cho những ai còn phải kẹt lại trong trại. Từng nhóm người đứng chùm nhum đây đó với nhau trong sự yên lặng hay nói cười rộn rã. Vài nhân viên An ninh P3V cùng các police địa phương trong bộ đồng phục quần xanh-áo tím-mũ beret đen đứng yên lặng giữ trật tự bên lề đường, vô cảm nhìn đám thuyền nhân chúng tôi. Anh Khảm tách ra khỏi nhóm để gặp các bạn quen cùng binh chủng không quân đang đứng chung với nhau cạnh bụi cây dứa dại trước cửa văn phòng IOM. Tôi cũng rảo chân đây đó và một khuôn mặt quen với tôi trong đám đông đã giơ tay chào như một biểu lộ thân quen. Tôi tiến đến thì ra là ông Thành. Tôi quen ông Thành qua lời giới thiệu của anh Khảm ở buổi dạ vũ tại quán cà phê Đại Dương và đã đi cùng ông để gặp anh Đoàn Thạnh
- Tui cảm ơn chú em tối hôm đó tiên đoán sẽ đậu thanh lọc. Chú em ở lại, mong sẽ may mắn qua được thanh lọc như tui, như anh Khảm... Chú em gặp được Đoàn Thạnh
Tôi mỉm cười xác nhận với lời ông Thành. Thực sự thì chưa ổn đâu nhưng đúng là gặp may vì nhờ các điều anh Đoàn Thạnh
- Anh ơi! Xe tải sắp đến rồi... Em buồn lắm... buồn lắm.
Tôi ngước ngang nhìn, một phụ nữ trạc tuổi với chị Phượng trong tay cầm chiếc khăn nhỏ chậm lên mắt... tiến đến sát bên ông Thành. Chị nhìn tôi, gật đầu chào rồi quay qua ông Thành trong tiếng sụt sùi. Tôi bỏ hai người họ, lách qua đám đông để về lại chỗ cũ của cả nhóm. Khu vực này bây giờ thật đông người trong tiếng cười nói, gọi nhau í ới và cả tiếng khóc... như một cái chợ lộ thiên. Có những cặp nam nữ tự nhiên ôm ấp, tay trong tay với nhau bất kể đang hiện diện trước bao cặp mắt của người khác. Phút cuối gặp nhau ở đây, còn gì để họ phải ngại ngùng, phải sợ sệt. Tôi đi qua người này, người kia và nghe tiếng gọi tên mình. Quay mặt nhìn, tôi thấy Yến đứng chung với anh chị Khảm-Phượng cạnh bên cổng gỗ nhỏ tam quan dẫn thẳng vào chùa Kim Quang. Tôi bước lại gần, định cất lời hỏi vì không thấy Đỉnh và cô Bẩy đâu thì vội im bặt khi nhìn thấy những con mắt sũng nước của anh chị Khảm-Phượng. Giờ biệt ly của họ sắp đến rồi khi một nhân viên phòng trật tự của ban Đại diện trại cầm chiếc loa tay chạy bằng pin nói lớn:
- Đồng bào có tên trong danh sách chuyến định cư Hoa Kỳ sáng nay chú ý, chú ý... Xe tải của phòng An ninh P3V sắp sửa đến đón đồng bào ra cầu tàu trong chốc lát. Yêu cầu đồng bào tập trung trước phòng khám IOM ngay. Xin tập trung chờ sẵn sàng, sẵn sàng.
Tiếng ồn ào từ đám đông nổi lên chung với một đoạn nhạc quen thuộc tai tôi đã từng nghe trong ngày đầu tiên khi cả nhóm theo chân anh chị Khảm-Phượng đi vào Galang 2 của buổi đầu mới nhập trại. Đoạn nhạc mà anh Khảm từng nói mỗi lần trong trại có chuyến định cư thì thể nào phòng thông tin sẽ phát thanh cho thuyền nhân nghe như một lời chúc mừng. Những đoạn nhạc mới ngày nào anh Khảm ao ước sẽ được nghe cho riêng đời mình thì giờ đây, đang nhẹ nhàng, chầm chậm trôi trong tiếng loa. When will I see you again... When will we share precious moments... Will I have to wait forever or will I have to suffer and cry the whole night through... Are we in love or just friends... Is this my beginning or is this the end... Ca sĩ Thomas Andres đã thay cho anh chị Khảm-Phượng cũng như những người sắp rời trại khác để phả trong làn gió các lời nhạc dịu dàng, êm ả, nhắn nhủ với nhau. Ta đã yêu hay chỉ là bạn... Là lần đầu hay lần cuối... Biết bao giờ mình sẽ gặp lại...
Lời nhạc thật buồn trong cảnh chia tay hôm nay. Tiếng loa trong tay nhân viên phòng trật tự của ban Đại diện trại lại cất lên, nhắc nhở người định cư tập trung ngay tại khu vực càng làm cho những người sắp sửa rời trại hối hả trao đổi với thân thuộc mình bằng lời nói, bằng tiếng khóc cùng các giọt nước mắt như thể họ sẽ không còn kịp thời gian, cơ hội ở bên nhau nữa. Không đường ray song hành, không các toa xe lửa cùng tiếng còi tàu thúc giục hành khách nhưng rõ ràng, tôi đang đứng ở một sân ga với cảnh biệt ly người đi, kẻ ở lại. Cảnh biệt ly ai cũng biết rồi ở phương trời xa nào đó, mấy khi họ sẽ gặp cố nhân... thêm lần nữa trong đời.
Tôi nhìn anh chị Khảm-Phượng như nhắc nhở cho hai người biết khi có tiếng chiếc xe tải chạy đến gần. Đám nhân viên An ninh P3V cùng police địa phương túa ra ổn định trật tự để chiếc xe tải dễ dàng chạy vào đúng vị trí đón khách. Giờ chia tay đến rồi, hai người họ chỉ còn khóc với nhau thay cho lời tiễn biệt. Yến nhìn tôi trong đôi mắt đỏ hoe, ràn rụa lệ như thể sắp sửa bước lên chiếc xe tải để rời trại, bỏ tôi ở lại một mình. Tôi đến bên nàng, nói đùa:
- Làm gì khóc dữ vậy... Người ta đi định cư còn chưa bằng em kìa? Thằng Đỉnh, cái Bẩy trông thấy lại cười cho đấy.
Yến dễ khóc thật. Tôi nghĩ vậy nhưng chợt nhớ có lần anh Khảm đã nói những người khóc ngay được trước các nghịch cảnh của người khác, lòng họ rất hiền vì có tâm hồn. Anh Khảm đã từng bảo Yến là người có tâm hồn và tôi may mắn đã gặp. Tôi từng thắc mắc, muốn anh Khảm giải thích người có tâm hồn trong câu anh nói trước đây khi đã khen về Yến " Đàn bà, con gái dù người xinh đẹp đến đâu mà không có tâm hồn thì cũng là hạng bỏ đi " mà rồi do bận rộn công việc nên đã quên. Phải chăng người có tâm hồn là người có lòng mẫn cảm với cái đau, nỗi buồn của tha nhân tương tự bản thân mình như Yến bây giờ. Có thể lắm.
Chợt có người lay nhẹ vào tay tôi, ngoảnh lại nhìn thì ra là thằng Đỉnh. Tôi cất giọng hỏi:
- Ê! Mày đâu nãy giờ vậy Đỉnh? Cô Bẩy nữa?
- Nhỏ Bẩy nói đi đến tiệm gặp cái Đào rồi anh. Em nãy giờ ra ngồi ở quán cà phê gần miếu ba cô kia kìa. Đỉnh lấy tay chỉ về dãy quán nước ở xa xa.
Đám nhân viên phòng An ninh P3V cùng police địa phương phối hợp với các nhân viên phòng trật tự của ban Đại diện trại bắt đầu gọi tên từng người định cư để lên chiếc xe tải. Nhìn những người mắt mũi đỏ hoe trong tiếng khóc đang theo chân nhau bước chân lên cầu thang của chiếc xe, Đỉnh buột miệng cười, nói nhỏ với tôi:
- Nước mắt nước mũi tùm lum vậy chứ sang được bên đó rồi ba bẩy hai mươi mốt ngày sẽ quăng cục lơ tây ngay thôi. Mấy người không khóc lóc, mếu máo... có khi lại chung tình với nhau đó anh Vũ.
- Sao mày nói vậy mà nghe được... Làm như biết rõ trong bụng họ. Hay ha! Thấy anh Khảm, chị Phượng kia kìa... Không lẽ! Tôi đáp lời.
- Anh không nghe câu người ta nói Galang Tình Xù à! Rồi anh xem họ nha.
Tôi nhìn quanh với những người sắp sửa rời trại. Cũng có những người thật bình thản dù phút giây hiện diện ở trại với họ chỉ tính trong vài phút đồng hồ nữa là cùng. Đám trẻ choai choai minor nam-nữ đứng bên nhau cười đùa trong giờ lên đường như chưa hề biết đến nỗi buồn của cảnh chia tay. Cũng có người vẻ bề ngoài thật bình thản như thể bỏ nơi này để đến một chốn khác như trong chuyến lữ hành du lịch dù trong lòng họ, thực không biết rõ đang vui hay buồn. Không giống như các chuyến hồi hương về quê nhà, thuyền nhân sẽ được theo nhau ra tận cầu tàu trong phút tiễn biệt. Các chuyến định cư, phòng An ninh P3V ấn định chỗ chia tay chỉ ở trước phòng IOM thôi. Xe tải đã gần đầy người đứng chen chúc bên nhau trong thùng. Tôi bước vội đến cạnh chiếc xe tải khi thấy anh Khảm giơ tay vẫy gọi đến. Thấy tôi đến gần rồi, anh Khảm nói vọng xuống:
- Vũ với Yến thỉnh thoảng có rảnh việc nhớ ghé thăm Phượng thay cho anh nha. Chuyện thanh lọc, các em phải khéo léo khai báo với Cao Ủy... Anh chúc tất cả gặp may mắn. Có nhắn gì thêm với gia đình em không? Sang bên Mỹ anh sẽ viết thư về... Nói dùm cho.
Mấy ngày trước, dùng máy chữ của phòng Dịch thuật, tôi đã đánh một bức thư ngắn gửi cho mẹ cùng các em gái bên quê nhà biết thêm về cuộc sống chung ở trại tị nạn Galang hiện thời mà không đả động gì về việc Cao Ủy đang thanh lọc thuyền nhân. Thư đó cũng kèm theo một tấm hình chụp tôi đứng trước cửa phòng làm việc dưới gốc cây chuối kiểng khổng lồ có các tàu lá to rẽ ra hai bên thân như một cái quạt nan khổng lồ. Tối hôm qua, cầm lá thư không dán, tôi đến chỗ anh chị Khảm-Phượng và trao tận tay, nhờ anh gửi dùm khi sang được bên Hoa Kỳ. Không biết chuyện gửi thư ở các trại tị nạn người Việt bên các nước Mã Lai, Thái, Phi hay Hồng Kông ra sao nhưng ở đảo tị nạn Galang, phòng An ninh P3V không cho phép thuyền nhân gửi thư trực tiếp từ trại về thẳng Việt Nam. Muốn gửi thư về quê nhà, thuyền nhân trong trại phải gửi cho thân nhân hay người quen biết ở nước thứ ba nào đó để rồi họ sẽ chuyển tiếp gửi dùm sau. Nghe anh Khảm nói vậy, tôi khẽ lắc đầu. Được một lát, anh Khảm chồm người ra khỏi thùng xe, dặn nhỏ từng lời bên tai:
- Sau này nếu có gặp chị Hoa cùng mấy con anh... Hãy dấu kín chuyện anh và Phượng ở đây nha Vũ... Anh xin em.
Tôi nhìn lên khuôn mặt của anh Khảm. Đôi mắt anh sắc nét không một chút lệ, mọng đỏ của người vừa khóc xong. Thay vào đó, mặt anh bây giờ đầy vẻ rắn rỏi, cương nghị như sẵn sàng một thân một mình bước vào cuộc đời mới ở nơi xa lạ sắp đến với nhiều bất trắc đang chờ. Vậy là anh cũng biết sợ vợ anh bên quê nhà hay được chuyện vụng trộm ở trại. Sợ có nghĩa anh Khảm vẫn thương mà thương thì phải có trách nhiệm với gia đình. Tôi gật đầu với lời anh yêu cầu cũng như xác nhận: " Đỉnh ơi, mày nói không sai ".
(còn nữa)