Tổng số lượt xem trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn Con sóng dữ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Con sóng dữ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2015

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 90

6/
                               (tiếp theo)

Nghe Yến nói đến đây, anh Khảm đột ngột kéo ghế, đứng lên và bước hẳn ra ngoài quán mà không nói thêm lời nào. Tôi trố mắt nhìn theo bóng anh, lòng bối rối... không biết phải nói phải làm gì khi bên tai nghe tiếng nấc nho nhỏ của chị Phượng. Cũng may là bản thân mình không hút thuốc lá. Nếu tôi hút thuốc lá như anh Khảm hay thằng Đỉnh... thì sẽ không biết phải xử trí như thể nào trước hình ảnh vừa xảy ra trong tối hôm nay. 

Trong chốc lát, tôi rời bàn, đi nhanh ra ngoài quán để tìm anh Khảm. Kia rồi anh đang đứng bên vệ đường mặt hướng về phía con lộ dẫn ra biển bị che khuất bởi bóng đêm. Anh đứng đó, hai tay thọc vào túi quần trong yên lặng. Tôi lại gần, khẽ lắp bắp:

- Đâu ai ngờ... Chuyện lại như thế há anh... Thôi...

Tôi im bặt khi nghe tiếng nấc của anh Khảm bật lên run run như muốn nói điều gì mà mắc nghẹn trong cổ. Tiếng nấc nhỏ rồi to hơn thành tiếng khóc ai oán như hối lỗi vì chuyện do anh làm, đã tạo ảnh hưởng không hay cho chị Phượng. Anh khóc vì buồn và anh đã khóc ngon lành. Hẳn vậy vì tôi đã từng nghe anh thổ lộ chỉ mong khi rời trại, cả anh lẫn chị Phượng sẽ lên đường định cư trong cùng một ngày. " Sống thì cùng sống, đi thì cùng đi... Ở đâu có anh thì phải có chị... dù là đi định cư khác nước ". Giờ đây, cảnh anh Khảm sẽ đi, chị Phượng phải ở lại trại một mình mà nguyên do cũng từ bản thân anh gây ra nên anh buồn hay vì sự chia tay sẽ thấy trước mắt chẳng còn xa như tôi đã bắt gặp tâm trạng anh trong chuyến đi Tanjung Pinang vừa rồi. Anh Khảm vẫn đứng yên chỗ khi tôi đã ở bên cạnh và không buồn che dấu hình ảnh mềm yếu của bản thân nữa. Cứ khóc, có chảy nước mắt thì lòng mới vơi đi cái buồn tối nay. Tôi chia xẻ tâm trạng của anh và của chị Phượng.

Vài người khách đến quán khi thấy hai chúng tôi đứng yên trong bóng đêm nên đã nghi ngại khi họ vừa rảo chân bước vừa ngoái đầu nhìn lại. Thấy dáng vẻ của họ, tôi liền kéo tay anh Khảm quay vào quán và trở lại cái bàn cũ. Yến và chị Phượng vẫn ngồi yên trong chỗ như đang chờ đợi hai chúng tôi. Hai ly nước của tôi và Yến do người hầu bàn mang ra để bên cạnh hai ly nước của anh chị Khảm-Phượng gần đó mà tất cả vẫn còn nguyên vì chưa ai đụng đến. Để phá vỡ bầu không khí ngột ngạt, tôi cầm lấy ly nước của mình, khẽ khuấy chiếc muỗng và nói:

- Lần đầu tiên mới thấy anh Khảm khóc... Khóc thật tình, ngon lành. Bây giờ em mời anh chị dùng nước, Yến uống nha Yến.

Tôi nhìn chị Phượng và Yến. Ánh sáng trang trí mờ mờ ảo ảo của sân quán cà phê Dạ Lý còn soi rõ các vệt nước long lanh trên mí mắt họ. Chị Phượng lấy tay chậm vào mũi, khẽ đáp lời như một hờn dỗi:

- Anh Khảm mà khóc gì Vũ ơi... Người như gỗ như đá... Có biết thương ai mà thật tình.

Bàn chân của Yến khẽ đá nhẹ vào tôi như một hiệu lệnh ngầm. Đưa mắt nhìn sang, khóe mắt của nàng cũng đảo nhanh với tôi. " Thôi mình nên yên lặng, ngồi im uống nước cho chắc ", tôi nhủ lòng. 

Tối hôm nay, không hiểu sao phòng bên trong quán cà phê Dạ Lý lại đông khách hơn thường ngày. Tôi định nói ra điều đó cho anh Khảm biết thì thấy bác sĩ Luân đi cùng với một người nữa đến thẳng bàn của nhóm chúng tôi và đứng lại. Anh Khảm lấy ngay vẻ bình thường hàng ngày, cất giọng:

- Ô! Anh Luân... Khỏe chứ.

- Bình thường! Cảm ơn anh. Có chuyện này tôi muốn cho quý vị biết. 

Bác sĩ Luân cười sau câu nói mang vẻ trịnh trọng với nhóm chúng tôi rồi chỉ tay vào người đi bên cạnh, ông tiếp từng đoạn ngắn:

- Xin giới thiệu đây là anh Phước, chủ nhân mới của quán Dạ Lý... Đây là anh Khảm, chị Phượng... Và đây... Cậu Vũ, cô Yến... Đều là khách ruột của quán mình đó Phước.

Thì ra bác sĩ Luân đã sang lại quán cà phê Dạ Lý cho người khác. Vậy ra ông cũng sắp lên đường định cư! Chuyện thật bất ngờ vì trong danh sách định cư mà phòng thông tin của ban Đại diện trại đọc trong mấy đợt rồi, chúng tôi đâu có nghe thấy tên ông. Cầm chân ông và người tên Phước ngồi lại bàn nước, anh Khảm nói ra điều đó thì ông bác sĩ cười, trả lời:

- Mấy cái list định cư anh nghe đọc trên loa là dành cho người đậu thanh lọc thôi, còn mình đến trước ngày đóng cửa mà có danh sách danh siết gì. Họ dìm mình ở trại lâu quá rồi giờ phải cho lên đường chứ anh. Phải không nào?

Bác sĩ Luân cho biết trong mấy đợt ghe nhập trại tị nạn Galang vừa qua may mắn đã có hai thuyền nhân là bác sĩ nên có lẽ nhờ vậy mà phòng An ninh P3V mới chịu nhả ông ra cho đi định cư. Như đã kể ở các đoạn trước, bác sĩ Luân nguyên là bác sĩ quân y thời miền Nam VNCH và khi Việt Cộng vào được Sài Gòn thì chúng bắt ông tù cải tạo gần 3 năm trời rồi mới được trả tự do để phục vụ tại nhà thương Chợ Rẫy như một trao đổi cá nhân, có đi có lại. Sau hơn chục năm làm việc trong chế độ mới, ông vượt biên đến trại tị nạn Galang trước ngày đóng cửa và đúng lẽ là người tị nạn không vướng lưới thanh lọc của Cao Ủy, bác sĩ Luân đã định cư bên Pháp từ lâu nhưng vì cần người chữa bệnh, hồ sơ của ông bị phòng An ninh P3V giữ lại cho đến bây giờ. Hai bác sĩ mới đến trại đã thế chỗ của ông thật đúng lúc. Mừng cho ông sẽ xổ lồng nay mai. Nghe tiếng cười, lời nói đầy âm hưởng vui vẻ của ông, tôi nghĩ chắc hẳn ông sẽ rất mừng khi nghĩ giờ phút rời trại chỉ trong nay mai. Nào ngờ, ông quay ra nói với anh Khảm:

- Khi còn kẹt ở đây thì tôi mong cho chóng đến ngày đi định cư, giờ ngày đó sắp đến thì mình lại buồn. Tôi chẳng hiểu lòng mình sao nữa? Còn anh. Tôi nghe loa đọc tên anh trong list định cư rồi, có cảm giác như tôi không hả anh Khảm?

Anh Khảm ngồi im. Có lẽ chuyện buồn vừa rồi với chị Phượng vẫn chưa tan biến trong lòng nên anh khẽ lắc đầu và chỉ đáp lại bằng nụ cười với bác sĩ Luân. Bác sĩ Luân lại tiếp:

- Ở Galang này lâu ngày tự nhiên tôi thấy mến cảnh và mến người... Đi sang Pháp bây giờ cũng cực lắm. Không biết trình độ của hai tay bác sĩ mới nhập trại ra sao? Ghe đến tới tấp nên cả hai Galang 1 và Galang 2 hiện giờ nhiều bệnh nhân quá. Kỳ thật! Hồi xuống ghe bỏ nước vượt biên, tôi cũng có cái cảm giác tiếc tiếc, nhớ nhớ, lo lo... như với bệnh nhân của mình ở đây. Ai sẽ chăm sóc cho họ?

Sống cu ky một mình ở trại mà bác sĩ Luân còn có tâm trạng lưu luyến với bệnh nhân như thế thì trách chi anh Khảm phải nặng lòng cùng chị Phượng. Dầu gì thì họ cũng là một đôi từng chia xẻ ngọt bùi với nhau từ khi còn ở trong trại tuốt sâu trong rừng bên Mã Lai. Một miếng khi đói bằng một gói khi no lại thêm trong cảnh hương lửa mặn nồng, sớm tối bên nhau nữa. Anh Khảm đã buồn khi thấy việc chia tay với chị Phượng trước mắt và đã vừa khóc vì chuyện đó nhưng lại lắc đầu phủ nhận với câu hỏi của bác sĩ Luân. Tôi nhìn sang Yến thăm dò thì bắt gặp nàng kín đáo lấy tay che miệng cười. Chợt ông tên Phước cất tiếng nói như lời làm quen:

- Tôi rất vui khi biết các anh chị tối nay ở đây... Mong gặp mặt ở quán thường xuyên để ủng hộ tôi nha.

- Đừng lo, bác sĩ vừa nói rồi anh à, tụi tôi là khách ruột của quán. Có uống cà phê cũng chỉ ghé ở đây là chính. Tôi thay mặt cả nhóm, đáp lời.

Hỏi thêm thì chúng tôi biết bác sĩ Luân sẽ rời trại 3 ngày sau chuyến định cư của anh Khảm. Nhân có mặt bác sĩ Luân tại bàn nước, tôi nói lời cảm ơn với ông vì đã giúp trong việc khám bệnh cùng cho thuốc điều trị trong thời gian vừa qua. Ở Galang 1, ngày nào thì nhà thương cũng chỉ phát giới hạn có 100 phiếu khám bệnh nên khi cần thì thuyền nhân phải xếp hàng mới có. Dòng người đứng xếp hàng đã bắt đầu từ 4, 5 giờ sáng nên khó mà lấy được phiếu nếu như dậy trễ. Nhờ quen được với bác sĩ Luân nên mỗi khi bị bệnh, tôi và Yến chỉ cần đến trước cửa phòng của ông tại nhà thương. Thấy hai đứa tôi, ông sẽ dẫn ngay vào để khám trước, khỏi cần phiếu. Tôi vẫn nhớ lời nói của bác sĩ: " Galang đông người quá, trăm phiếu phát ra không đủ cho nhu cầu người cần. Hồi tôi mới đến trại, nhà thương hầu như trông có người đến khám bệnh mà có thấy mấy ai đâu ". 

Cuộc trò chuyện đã làm tan biến cái buồn trong lòng, chị Phượng cất miệng hỏi với ông bác sĩ:

- Anh sang quán rồi sổ phong thần tính sao. Có bàn giao cho chủ nhân mới không?

Sổ phong thần là quyển sách ghi tên khách thiếu nợ tại quán. Ngồi quán cà phê là thói quen của thuyền nhân trong trại vì thực tế họ chẳng biết phải đi đâu trong các buổi tối hay khi gặp bạn bè, cần chỗ để trò chuyện riêng. Quán cà phê là chỗ lý tưởng nhất nhưng đến quán thì phải gọi thức uống mà có lúc trong túi lại cạn tiền, khô máu. Đành ghi sổ nợ, hẹn khi có sẽ gửi trả sau mà nguồn tiền lại lệ thuộc vào thân nhân ở nước thứ ba gửi giúp. Thân nhân không giúp nữa, thuyền nhân sẽ sạch nhẵn túi nhanh chóng và phải ghi nợ. Quán bán hàng ở Galang nào cũng đều có sổ phong thần và người thiếu nợ càng nhiều thì sổ đó càng dầy hơn. Chủ quán thường phải theo dõi thông báo của phòng phát thư bảo đảm PKL trên loa phóng thanh để biết khách nợ vừa nhận được tiền thân nhân gửi mà kịp gặp mặt đòi ngay. Khách nợ sắp rời trại đi định cư, may ra chủ nợ còn đòi được tiền thiếu nhưng người hồi hương về nước thì cầm chắc sẽ bị mất không. Chấp nhận hồi hương, thuyền nhân con nợ đó coi như đã thua canh bạc vượt biên thì họ còn gì trong tay để mà sòng phẳng với chủ nợ. Họ làm mặt lì mà chủ nợ đành chịu, cười trừ. Phòng An ninh P3V hầu như không can thiệp vào chuyện nợ nần của thuyền nhân trên đảo. Chủ nợ có gửi đơn thưa với Cao Ủy thì cũng nhận được câu trả lời không xét đến các giao dịch cá nhân của thuyền nhân. Tự giải quyết lấy với nhau. Sổ phong thần là chuyện chẳng đặng đừng mà bất cứ chủ quán hàng nào ở Galang cũng biết mà không tránh được. Bác sĩ Luân nghe chị Phượng hỏi, ông lắc đầu và ngập ngừng đáp lời:

- Không! Coi như bỏ luôn... Họ cũng không có tiền... Trại tị nạn mà chị.

Ngày anh Khảm lên đường, như một gặp gỡ lần cuối, từ sáng sớm tôi, Yến, Bẩy cùng Đỉnh đã đến chỗ ở của hai người họ trong zone 3. Đến trước cửa barrack thì kịp thấy anh Khảm cùng mấy người học trò đang nói chuyện với nhau. Thấy nhóm chúng tôi, mấy người học trò đó cáo từ anh Khảm rồi bỏ về ngay. Trên cái sạp gỗ chung của barrack, chị Phượng đang làm các ổ bánh mì nhồi thịt nguội cho cả nhóm ăn sáng. Anh Khảm quay qua nhóm chúng tôi nói:

- Ăn chút đồ lót dạ nha mấy em. Có cà phê sẵn đây rồi mình khỏi cần ra quán làm chi mất công. 

Bữa ăn sáng kết thúc chóng vánh. Anh Khảm kiểm tra lại cái va li giả da đựng hành lý của mình rồi đi gặp từng người trong barrack để chia tay. Chị Phượng cho chúng tôi biết cũng có một ông sống chung trong barrack sẽ lên đường đi Úc ở chuyến định cư ngày kế tiếp. Chị nho nhỏ thêm lời:

- Barrack đông người vậy mà đậu thanh lọc chỉ được một số ít đếm được. Lên đường định cư hôm nay, anh Khảm nói cũng rất ngại khi phải đi chào từ biệt họ. Sợ họ lại buồn, hiểu lầm mình. Vài tháng nữa chị cũng sẽ ra khỏi barrack như anh bây giờ. Mong rằng Cao Ủy sẽ có một thay đổi tốt đẹp cho những người còn ở lại.

Nhìn lại barrack một lần chót, anh Khảm khoát tay ra dấu cho cả nhóm chuẩn bị lên đường. Đỉnh lấy tay xách cái va li giả da đựng hành lý, buột miệng với anh Khảm:

- Để em lo cái va ly này nha thầy. Thầy vác nó vô tới trỏng, mồ hôi mồ kê ướt hết quần áo có mà chết dở.

Tôi bước lại bên Đỉnh, lấy tay thử cầm vào cái va li của anh Khảm, ước thầm trọng lượng. Tưởng nhẹ nhưng nó lại khá nặng. Hành lý bên trong là những thứ gì khi tôi nhớ lời anh nói ở bến tàu Tanjung Pinnang sẽ chỉ mang vài bộ quần áo trong ngày rời trại đi định cư! Đỉnh giúp cho anh Khảm thật đúng lúc. Đường từ đây vô tới điểm đón người định cư ở tuốt trong Galang 2 đâu có gần, nội cái đi bộ không thôi cũng đã mệt lừ người huống chi lại phải vác nặng. 

Chúng tôi đi bên nhau băng qua lòng barrack này rồi thông qua barrack khác để ra hẳn bên ngoài hàng rào tôn của zone 3. Trên con đường nhựa sáng hôm nay, bất cứ ai nhìn vào nhóm chúng tôi cũng biết có người rời trại đi định cư nước thứ ba. Yến và Bẩy đi cạnh chị Phượng còn tôi với Đỉnh thì rảo bước sát bên anh Khảm. Trời có mây nên che bớt ánh nắng buổi sớm mai và có lẽ vì vậy nên ai cũng cảm thấy hơi lạnh. Vài nhóm tiễn người đi định cư đi trước và cũng có một bọn khác theo sau chân chúng tôi xa xa. Anh Khảm gật đầu thay lời nói với một người đàn ông đứng trước cửa căn chòi nhỏ cạnh bên đường khi hỏi: " Đi Mỹ phải không? ". Ngang chân đồi nhà thờ Công giáo Galang, vượt qua các barrack lá của zone 2 và zone 1 nằm sát bên vệ đường, chúng tôi từ từ từng bước lên con dốc có tượng Mẹ Bồng Con. Chính nơi này, buổi tối hôm nào khi từ buổi dạ hội Đêm Không Gian Hội Ngộ ở quán cà phê Đại Dương trở về, nhóm chúng tôi đã một phen hốt hoảng khi nhìn thấy các đốm lửa xanh lè xuất hiện đột ngột ở cây đa cổ thụ ven đường. Cây đa vẫn còn đó với cái bóng um tùm tôi tối cùng các chùm rễ lòng thòng từ ngọn cây xỏa xuống như những lọn tóc xoăn của phụ nữ. Bước các bước chân lên con dốc có khu mộ địa của các thuyền nhân xấu số mà người trong trại gọi là Galang 3, anh Khảm đột nhiên dừng chân lại, đứng yên lặng trước các bậc thang dẫn đường vào cửa và đọc lầm thầm các lời kinh cầu. Là đồng đạo, chị Phượng và Yến cũng yên lặng làm theo anh Khảm. Tôi, Đỉnh và cô Bẩy đứng yên im lặng chờ, dõi mắt nhìn toàn cảnh chung quanh của khu vực. Đối diện nghĩa địa giờ đây đã có thêm khu đền lộ thiên với tượng thờ Đức mẹ Nữ vương do thuyền nhân đạo Thiên Chúa giáo tại trại tị nạn Galang lập ra trên một mỏm đồi thấp. Những mái chòi của thuyền nhân ẩn hiện sau các hàng cây rừng dưới chân đồi chung với các dậu cây, luống rau trái, dàn bầu bí... Chúng tôi thả dốc, băng qua nhà nguyện của Hội Thánh Tin Lành rồi lại vượt khỏi các barrack lá khác nằm gần một con suối cắt ngang qua đường nhựa. Đây là các barrack lá đầu tiên của Galang 2 thuộc zone B. Từ con đường nhựa, chúng tôi đi qua zone A hay còn gọi là zone biệt lập vì là nơi tạm trú của người đi trong các chiếc ghe đầu tiên đến trại sau ngày Cao Ủy tuyên bố đóng cửa để chính thức thi hành chương trình thanh lọc. Zone A này nay không còn biệt lập nữa khi con số thuyền nhân đến trại ngày càng nhiều để có thêm các barrack lá, chòi và quán xá bán hàng... mới mọc thêm ở chung quanh.

Nghe Đỉnh thắc mắc không biết chuyến bay chở người định cư Hoa Kỳ sẽ đón thuyền nhân đi chung trong chuyến bắt đầu ở đâu thì anh Khảm vừa đi vừa nói:

- Anh nghe thằng Hoài Bảo làm ở phòng định cư kể là chuyến của anh đi hôm nay sẽ được Cao Ủy sắp xếp đón bằng cái tàu cao tốc dịp mình đi Tanjung Pinang trước hết. Sau đó, tàu cao tốc chạy sang đảo Batam rồi từ BaTam, chuyến của anh sẽ đi bằng máy bay sang Singapore. Đến Singapore lại phải đổi sang máy bay khác đi Nhật... Hình như ghé vào phi trường Narita hay Tokyo rồi kế đó sẽ bay vòng lên gần Bắc Cực để đảo xuống Hoa Kỳ. Đấy là chuyến dành cho những người đi vùng Bắc Mỹ như CANADA hay Hoa Kỳ như chuyến của anh. Chuyến đi Âu Châu như định cư ở Anh quốc, Tây Đức hay Pháp, Bỉ... thì hành trình sẽ khác. Máy bay sẽ ghé Bangkok lấy thêm người ở trại Sikiew hay bên Sungei Besi ở Mã Lai chuyển sang. Từ Bangkok, máy bay sẽ vượt qua các nước trong vùng trung Á để thẳng đường đến Âu Châu cho gần. Đi Úc đi New Zealand, chuyến bay thường từ Batam chuyển tiếp sang Singapore nhưng cũng có khi lại thẳng một lèo đến thủ đô Jakarta. Từ Jakarta, sẽ đổi máy bay khác để đi tiếp tới Úc hay New Zealand là hoàn tất. Anh nghĩ Cao Ủy sẽ sắp xếp người đi chung với phi trình thương mãi của các hãng hàng không nào mà họ thấy tiện nhất cho cả các bên liên quan. Tất nhiên khi phi trình càng ngắn, máy bay chứa đủ khách thì càng có lợi cho các hãng hàng không mà chính vì vậy, có khi máy bay phải quá cảnh qua nhiều phi trường. Nghe kể thì nghĩ gặp phi cơ ghé vào nhiều chỗ sẽ thích thật vì biết thêm nhiều nơi. Nghĩ vậy nhưng trong thực tế, có là hành khách của các chuyến bay đó, mình sẽ rất mệt.

Điều anh Khảm nói ra, chúng tôi mới biết. Thảo nào các chuyến đi định cư đều khác nhau về số lượng người rời trại. Chuyến nhiều, chuyến ít người định cư cũng do từ đây. Anh Khảm lại nói:

- Trước kia thì anh nghĩ khi đến Hoa Kỳ, máy bay sẽ phải ghé vào phi trường Travis là cái phi trường anh đã đến hồi đi tu nghiệp thời còn chế độ cũ. Khi đó, anh đã thấy phi trường Travis nó rộng gấp mấy lần so với Tân Sơn Nhất bên mình. Rộng mênh mông nhưng Travis lại không thấm vào đâu khi so sánh với phi trường Los Angles... Máy bay nào đến Hoa Kỳ bên bờ phía Tây đều hầu như sẽ đáp xuống phi trường Los Angles này và chắc chắn, chuyến của anh hôm nay cũng sẽ ghé vào. Los Angles Airport là một trong các phi trường lớn nhất nước Mỹ mà nhất của nước Mỹ thì khác gì nhất của thế giới.

Chúng tôi băng qua cây cầu gỗ dẫn vào nhà thờ Đức mẹ Vô Nhiễm để đi tắt đến chỗ tập trung trước cửa phòng khám bệnh IOM của Cao Ủy. Phòng IOM nằm đối diện với dãy nhà của các phái đoàn nhận người định cư, phòng JVA đại diện chính quyền Hoa Kỳ tại trại. Ngày đi định cư nào cũng là ngày hội vui của những thuyền nhân may mắn nhưng cũng là ngày buồn cho những ai còn phải kẹt lại trong trại. Từng nhóm người đứng chùm nhum đây đó với nhau trong sự yên lặng hay nói cười rộn rã. Vài nhân viên An ninh P3V cùng các police địa phương trong bộ đồng phục quần xanh-áo tím-mũ beret đen đứng yên lặng giữ trật tự bên lề đường, vô cảm nhìn đám thuyền nhân chúng tôi. Anh Khảm tách ra khỏi nhóm để gặp các bạn quen cùng binh chủng không quân đang đứng chung với nhau cạnh bụi cây dứa dại trước cửa văn phòng IOM. Tôi cũng rảo chân đây đó và một khuôn mặt quen với tôi trong đám đông đã giơ tay chào như một biểu lộ thân quen. Tôi tiến đến thì ra là ông Thành. Tôi quen ông Thành qua lời giới thiệu của anh Khảm ở buổi dạ vũ tại quán cà phê Đại Dương và đã đi cùng ông để gặp anh Đoàn Thạnh Nam trong các tháng trước. Nhìn bộ quần áo mới toanh ông mặc trên người cùng cái va ly để kề bên chân, hôm nay cũng là ngày ông rời trại. Tôi bước đến, bắt tay chúc mừng ông thượng lộ bình an. Ông cười thật tươi rồi nhỏ nhẹ nhắc lại chuyện cũ.

- Tui cảm ơn chú em tối hôm đó tiên đoán sẽ đậu thanh lọc. Chú em ở lại, mong sẽ may mắn qua được thanh lọc như tui, như anh Khảm... Chú em gặp được Đoàn Thạnh Nam là ổn rồi. OK. May lắm đó đa.

Tôi mỉm cười xác nhận với lời ông Thành. Thực sự thì chưa ổn đâu nhưng đúng là gặp may vì nhờ các điều anh Đoàn Thạnh Nam kể, tôi mới có thêm các hiểu biết về chuyện thanh lọc. Sau buổi gặp gỡ ở quán cà phê Gió với anh hôm đó, tuy chưa biết mình sẽ phải sắp xếp như thể nào trong bản hồ sơ lý lịch Cao Ủy của cá nhân mình, nhưng tôi biết vài người trong barrack có thể sẽ bị rớt thanh lọc khi nghe họ nói khai như thế này, thế kia... Biết vậy nhưng không thể góp ý hay nói cho họ lý do tại sao nên hay không nên khai như thế vì chắc gì người ta đã tin lời mình. Chưa ổn là vì vẫn không biết phải khai thế nào trong bản lý lịch cũng như khi gặp mặt luật sư Cao Ủy để cầm chắc sẽ lấy được vé đậu. Hôm nay là lần chót gặp ông Thành nên tôi định sẽ trò chuyện thêm thì một giọng đàn bà chen vào:

- Anh ơi! Xe tải sắp đến rồi... Em buồn lắm... buồn lắm.

Tôi ngước ngang nhìn, một phụ nữ trạc tuổi với chị Phượng trong tay cầm chiếc khăn nhỏ chậm lên mắt... tiến đến sát bên ông Thành. Chị nhìn tôi, gật đầu chào rồi quay qua ông Thành trong tiếng sụt sùi. Tôi bỏ hai người họ, lách qua đám đông để về lại chỗ cũ của cả nhóm. Khu vực này bây giờ thật đông người trong tiếng cười nói, gọi nhau í ới và cả tiếng khóc... như một cái chợ lộ thiên. Có những cặp nam nữ tự nhiên ôm ấp, tay trong tay với nhau bất kể đang hiện diện trước bao cặp mắt của người khác. Phút cuối gặp nhau ở đây, còn gì để họ phải ngại ngùng, phải sợ sệt. Tôi đi qua người này, người kia và nghe tiếng gọi tên mình. Quay mặt nhìn, tôi thấy Yến đứng chung với anh chị Khảm-Phượng cạnh bên cổng gỗ nhỏ tam quan dẫn thẳng vào chùa Kim Quang. Tôi bước lại gần, định cất lời hỏi vì không thấy Đỉnh và cô Bẩy đâu thì vội im bặt khi nhìn thấy những con mắt sũng nước của anh chị Khảm-Phượng. Giờ biệt ly của họ sắp đến rồi khi một nhân viên phòng trật tự của ban Đại diện trại cầm chiếc loa tay chạy bằng pin nói lớn:

- Đồng bào có tên trong danh sách chuyến định cư Hoa Kỳ sáng nay chú ý, chú ý... Xe tải của phòng An ninh P3V sắp sửa đến đón đồng bào ra cầu tàu trong chốc lát. Yêu cầu đồng bào tập trung trước phòng khám IOM ngay. Xin tập trung chờ sẵn sàng, sẵn sàng.

Tiếng ồn ào từ đám đông nổi lên chung với một đoạn nhạc quen thuộc tai tôi đã từng nghe trong ngày đầu tiên khi cả nhóm theo chân anh chị Khảm-Phượng đi vào Galang 2 của buổi đầu mới nhập trại. Đoạn nhạc mà anh Khảm từng nói mỗi lần trong trại có chuyến định cư thì thể nào phòng thông tin sẽ phát thanh cho thuyền nhân nghe như một lời chúc mừng. Những đoạn nhạc mới ngày nào anh Khảm ao ước sẽ được nghe cho riêng đời mình thì giờ đây, đang nhẹ nhàng, chầm chậm trôi trong tiếng loa. When will I see you again... When will we share precious moments... Will I have to wait forever or will I have to suffer and cry the whole night through... Are we in love or just friends... Is this my beginning or is this the end... Ca sĩ Thomas Andres đã thay cho anh chị Khảm-Phượng cũng như những người sắp rời trại khác để phả trong làn gió các lời nhạc dịu dàng, êm ả, nhắn nhủ với nhau. Ta đã yêu hay chỉ là bạn... Là lần đầu hay lần cuối... Biết bao giờ mình sẽ gặp lại...

Lời nhạc thật buồn trong cảnh chia tay hôm nay. Tiếng loa trong tay nhân viên phòng trật tự của ban Đại diện trại lại cất lên, nhắc nhở người định cư tập trung ngay tại khu vực càng làm cho những người sắp sửa rời trại hối hả trao đổi với thân thuộc mình bằng lời nói, bằng tiếng khóc cùng các giọt nước mắt như thể họ sẽ không còn kịp thời gian, cơ hội ở bên nhau nữa. Không đường ray song hành, không các toa xe lửa cùng tiếng còi tàu thúc giục hành khách nhưng rõ ràng, tôi đang đứng ở một sân ga với cảnh biệt ly người đi, kẻ ở lại. Cảnh biệt ly ai cũng biết rồi ở phương trời xa nào đó, mấy khi họ sẽ gặp cố nhân... thêm lần nữa trong đời.

Tôi nhìn anh chị Khảm-Phượng như nhắc nhở cho hai người biết khi có tiếng chiếc xe tải chạy đến gần. Đám nhân viên An ninh P3V cùng police địa phương túa ra ổn định trật tự để chiếc xe tải dễ dàng chạy vào đúng vị trí đón khách. Giờ chia tay đến rồi, hai người họ chỉ còn khóc với nhau thay cho lời tiễn biệt. Yến nhìn tôi trong đôi mắt đỏ hoe, ràn rụa lệ như thể sắp sửa bước lên chiếc xe tải để rời trại, bỏ tôi ở lại một mình. Tôi đến bên nàng, nói đùa:

- Làm gì khóc dữ vậy... Người ta đi định cư còn chưa bằng em kìa? Thằng Đỉnh, cái Bẩy trông thấy lại cười cho đấy. 

Yến dễ khóc thật. Tôi nghĩ vậy nhưng chợt nhớ có lần anh Khảm đã nói những người khóc ngay được trước các nghịch cảnh của người khác, lòng họ rất hiền vì có tâm hồn. Anh Khảm đã từng bảo Yến là người có tâm hồn và tôi may mắn đã gặp. Tôi từng thắc mắc, muốn anh Khảm giải thích người có tâm hồn trong câu anh nói trước đây khi đã khen về Yến " Đàn bà, con gái dù người xinh đẹp đến đâu mà không có tâm hồn thì cũng là hạng bỏ đi " mà rồi do bận rộn công việc nên đã quên. Phải chăng người có tâm hồn là người có lòng mẫn cảm với cái đau, nỗi buồn của tha nhân tương tự bản thân mình như Yến bây giờ. Có thể lắm.

Chợt có người lay nhẹ vào tay tôi, ngoảnh lại nhìn thì ra là thằng Đỉnh. Tôi cất giọng hỏi:

- Ê! Mày đâu nãy giờ vậy Đỉnh? Cô Bẩy nữa?

- Nhỏ Bẩy nói đi đến tiệm gặp cái Đào rồi anh. Em nãy giờ ra ngồi ở quán cà phê gần miếu ba cô kia kìa. Đỉnh lấy tay chỉ về dãy quán nước ở xa xa.

Đám nhân viên phòng An ninh P3V cùng police địa phương phối hợp với các nhân viên phòng trật tự của ban Đại diện trại bắt đầu gọi tên từng người định cư để lên chiếc xe tải. Nhìn những người mắt mũi đỏ hoe trong tiếng khóc đang theo chân nhau bước chân lên cầu thang của chiếc xe, Đỉnh buột miệng cười, nói nhỏ với tôi:

- Nước mắt nước mũi tùm lum vậy chứ sang được bên đó rồi ba bẩy hai mươi mốt ngày sẽ quăng cục lơ tây ngay thôi. Mấy người không khóc lóc, mếu máo... có khi lại chung tình với nhau đó anh Vũ.

- Sao mày nói vậy mà nghe được... Làm như biết rõ trong bụng họ. Hay ha! Thấy anh Khảm, chị Phượng kia kìa... Không lẽ! Tôi đáp lời.

- Anh không nghe câu người ta nói Galang Tình Xù à! Rồi anh xem họ nha. 

Tôi nhìn quanh với những người sắp sửa rời trại. Cũng có những người thật bình thản dù phút giây hiện diện ở trại với họ chỉ tính trong vài phút đồng hồ nữa là cùng. Đám trẻ choai choai minor nam-nữ đứng bên nhau cười đùa trong giờ lên đường như chưa hề biết đến nỗi buồn của cảnh chia tay. Cũng có người vẻ bề ngoài thật bình thản như thể bỏ nơi này để đến một chốn khác như trong chuyến lữ hành du lịch dù trong lòng họ, thực không biết rõ đang vui hay buồn. Không giống như các chuyến hồi hương về quê nhà, thuyền nhân sẽ được theo nhau ra tận cầu tàu trong phút tiễn biệt. Các chuyến định cư, phòng An ninh P3V ấn định chỗ chia tay chỉ ở trước phòng IOM thôi. Xe tải đã gần đầy người đứng chen chúc bên nhau trong thùng. Tôi bước vội đến cạnh chiếc xe tải khi thấy anh Khảm giơ tay vẫy gọi đến. Thấy tôi đến gần rồi, anh Khảm nói vọng xuống:

- Vũ với Yến thỉnh thoảng có rảnh việc nhớ ghé thăm Phượng thay cho anh nha. Chuyện thanh lọc, các em phải khéo léo khai báo với Cao Ủy... Anh chúc tất cả gặp may mắn. Có nhắn gì thêm với gia đình em không? Sang bên Mỹ anh sẽ viết thư về... Nói dùm cho.

Mấy ngày trước, dùng máy chữ của phòng Dịch thuật, tôi đã đánh một bức thư ngắn gửi cho mẹ cùng các em gái bên quê nhà biết thêm về cuộc sống chung ở trại tị nạn Galang hiện thời mà không đả động gì về việc Cao Ủy đang thanh lọc thuyền nhân. Thư đó cũng kèm theo một tấm hình chụp tôi đứng trước cửa phòng làm việc dưới gốc cây chuối kiểng khổng lồ có các tàu lá to rẽ ra hai bên thân như một cái quạt nan khổng lồ. Tối hôm qua, cầm lá thư không dán, tôi đến chỗ anh chị Khảm-Phượng và trao tận tay, nhờ anh gửi dùm khi sang được bên Hoa Kỳ. Không biết chuyện gửi thư ở các trại tị nạn người Việt bên các nước Mã Lai, Thái, Phi hay Hồng Kông ra sao nhưng ở đảo tị nạn Galang, phòng An ninh P3V không cho phép thuyền nhân gửi thư trực tiếp từ trại về thẳng Việt Nam. Muốn gửi thư về quê nhà, thuyền nhân trong trại phải gửi cho thân nhân hay người quen biết ở nước thứ ba nào đó để rồi họ sẽ chuyển tiếp gửi dùm sau. Nghe anh Khảm nói vậy, tôi khẽ lắc đầu. Được một lát, anh Khảm chồm người ra khỏi thùng xe, dặn nhỏ từng lời bên tai:

- Sau này nếu có gặp chị Hoa cùng mấy con anh... Hãy dấu kín chuyện anh và Phượng ở đây nha Vũ... Anh xin em.

Tôi nhìn lên khuôn mặt của anh Khảm. Đôi mắt anh sắc nét không một chút lệ, mọng đỏ của người vừa khóc xong. Thay vào đó, mặt anh bây giờ đầy vẻ rắn rỏi, cương nghị như sẵn sàng một thân một mình bước vào cuộc đời mới ở nơi xa lạ sắp đến với nhiều bất trắc đang chờ. Vậy là anh cũng biết sợ vợ anh bên quê nhà hay được chuyện vụng trộm ở trại. Sợ có nghĩa anh Khảm vẫn thương mà thương thì phải có trách nhiệm với gia đình. Tôi gật đầu với lời anh yêu cầu cũng như xác nhận: " Đỉnh ơi, mày nói không sai ".


                             (còn nữa)

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 89

5/

(tiếp theo)

Tôi thuật lại cho anh Đoàn Thạnh Nam về lời ông Bùi Thế Dung đã nói thì anh gật gù cái đầu, đáp:

- Đó... đó! Anh thấy, những người nổi tiếng mà phải vượt biên thì sẽ dễ dàng lấy cái vé đậu thôi. Cao Ủy coi các cá nhân này là nhân vật nổi của xã hội, người của quần chúng... Tất nhiên họ đối xử có khác với dân thường, củi mục. Anh biết, con trai ông Bùi Tín ở trại Tai A Châu thực ra thì trước đó đã bị Cao Ủy đánh rớt thanh lọc chung với đám thuyền nhân miền Bắc, đơn kháng cáo của anh ta cũng bị bác luôn. Cao Ủy biết ông Bùi Tín là ai? Chỉ sau khi tin về cuộc đào thoát của ông ta loan trên các đài radio BBC, VOA... thì Cao Ủy bên trại đó đã cho anh con trai đậu lại chung với người vợ nữa.

Báo chí Việt ngữ từ Hoa Kỳ, CANADA gửi vào trại có nói về cuộc đào thoát của ông đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam tên Bùi Tín này cũng như các cuộc phỏng vấn ông ta trên đài BBC loan tin từng kỳ mà chúng tôi đã nghe qua radio trong các buổi tối. Có ngờ đâu, các buổi truyền thông trên BBC đã giúp cho cả con trai lẫn con dâu ông thành người tị nạn Cộng Sản. Vậy cũng mừng cho gia đình anh chàng thuyền nhân này sẽ không còn phải lo lắng viễn cảnh bị trục xuất về lại quê nhà.

Ngồi khá lâu, cảm thấy đói, tôi rủ anh Đoàn Thạnh Nam đi kiếm cái gì bỏ bụng thì anh lắc đầu, bảo:

- Tôi ngại ra ngoài mấy tiệm đó lắm, thế nào cũng gặp người quen. Thôi! Chẳng cần đi đâu ăn cho xa, quán Gió này có bán sẵn. Anh để tôi lo.

Rồi không đợi tôi trả lời, anh Đoàn Thạnh Nam gọi chủ quán làm cho chúng tôi mỗi người tô mì gói cùng ổ bánh mì kẹp trứng chiên ốp la. Vừa lùa gắp mì nóng vào miệng, chợt nhớ anh Đoàn Thạnh Nam nói về các bản assessment của luật sư Cao Ủy, tôi hỏi thêm:

- Mấy bản assessment đó anh lấy đâu ra vậy? Có thể cho tôi xem qua tờ nào được không?

- Đốt hết cha nó cả rồi, đâu dám giữ lâu anh... Cao Ủy hay phòng An ninh P3V mà biết mình có mấy thứ này là chết. Anh lắc đầu, trả lời.

Anh Đoàn Thạnh Nam kể có được các bản assessment là nhờ vào tình cờ của một thuyền nhân thiện nguyện lấy được từ các thùng rác khi anh ta dọn dẹp trong khu vực accomodation nơi luật sư Cao Ủy tạm trú. Đây là các đoạn giấy xé bỏ từ bản in kim máy computer của luật sư. Lẽ ra chúng phải bị đốt bỏ nhưng có thể vì vô tình, các luật sư lại vất vào thùng rác. Thuyền nhân này, do nghĩ các tờ giấy in bằng Anh ngữ sẽ giúp anh ta trong việc học English nên đã mang về barrack và đưa cho anh Đoàn Thạnh Nam xem trước. Nhờ vậy, anh Đoàn Thạnh Nam mới biết các nhận xét của luật sư về một số trường hợp của thuyền nhân. Ngoài các tờ assessment, thuyền nhân thiện nguyện đó còn lấy được nguyên quyển Handbook thủ bản về luật tị nạn cùng các hướng dẫn cho luật sư khi phỏng vấn nữa. Tiếc là anh Đoàn Thạnh Nam đã phải đốt hết cả cũng vì lo cho riêng bản thân, sợ Cao Ủy cùng phòng An ninh P3V làm khó dễ trong việc định cư nếu họ biết anh có các tài liệu này trong tay. Anh bùi ngùi, nói nhỏ:

- Cần đến hay muốn trù dập mình, phòng An ninh P3V có thể dìm hồ sơ bằng cách không chuyển cho các phái đoàn định cư thì sẽ rất kẹt. Cái gương của bác sĩ Luân ngoài Galang 1 còn sờ sờ ra đó anh Vũ... Anh ở ngoài đó chắc biết ông bác sĩ tôi nói.

Bác sĩ Luân làm thiện nguyện ở nhà thương Galang 1 và là chủ quán cà phê Dạ Lý mà nhóm chúng tôi vẫn thường đến trong các buổi tối thứ Bẩy hay Chủ Nhật. Ông bác sĩ như đã kể ở các phần trước, là người tị nạn vì đến trại Galang trước ngày Cao Ủy tuyên bố đóng cửa. Không phải lo vụ thanh lọc như chúng tôi, lẽ ra ông ta đi định cư ở Pháp từ lâu nhưng vì cần bác sĩ thiện nguyện mà phòng An ninh P3V giữ lại trại chưa biết đến bao giờ mới được thoát cũi, xổ lồng. Người có hạnh kiểm xấu cũng bị ảnh hưởng đến việc định cư như trường hợp của hai anh em Thạc, Văn mà thuyền nhân trong trại vẫn xì xào với nhau về chiếc canoe bí ẩn của họ. Điều anh Đoàn Thạnh Nam lo lắng rất chí lý, nếu trường hợp tôi, cũng sẽ phải vậy. Tuy tiếc nhưng tôi thăm dò:

- Bây giờ cái ông làm thiện nguyện đó còn lấy thêm được các bản assessment nào khác nữa không anh? 

- Ông Peter Cao Ủy trưởng không để bất kỳ người Việt nào vào làm trong khu vực luật sư tạm trú nữa... kể cả thiện nguyện không thù lao. Ông ta thuê lao công Indo bản xứ dù phải trả lương hàng tuần. Có thể ông ta phòng xa hay đã biết phong thanh về các tờ assessment này... nên tránh trước. Anh Đoàn Thạnh Nam trả lời.

Những lần trò chuyện trước kia, tôi đã kể sơ về bản thân cho anh Đoàn Thạnh Nam nghe và khi đó, anh hứa sẽ cố vấn cho tôi cách khai lý lịch với Cao Ủy khi nào gần tới ngày. Ngày đó nay đã tới nhưng chuyện anh vừa thổ lộ, tôi đành ngồi yên không biết vui hay buồn. Nếu đã nhờ anh cố vấn cho bản lý lịch thì bây giờ nó sẽ hố, tôi chẳng biết phải sửa chữa ra sao nữa. Rồi tôi lại thắc mắc, chẳng biết qua các tờ assessment anh xem được, lý lịch bản thân mình có giống với người nào đó trong trại không. Như đoán được tâm trạng tôi, anh Đoàn Thạnh Nam nói:

- Anh bảo từng đi dạy các lớp trung học phổ thông cấp 2... Phải không? Ở đợt xổ thanh lọc đầu, người nào khai lý lịch là thầy giáo dạy các môn như văn, lịch sử ở nhà trường Cộng Sản... rồi khi đứng lớp, lại giảng bài cho học trò nghe khác với trong sách giáo khoa của môn mình phụ trách mà do đó, bị phòng giáo dục trừng phạt đến phải vượt biên thì đều thắng cả. Luật sư Cao Ủy còn lấy các điểm trong Nghị định thư 1969 về người tị nạn để bảo vệ cho thuyền nhân đó nữa như một vài trường hợp tôi biết ở trại mình. Có kể tên ra thì anh cũng không biết họ là ai. Tất cả đều đậu thanh lọc dù Cao Ủy chưa công bố kết quả. Trước đây tôi định nói anh khai giống mấy người đó nhưng bây giờ thì lại không thể. Lý do như đã kể với anh, trong các assessment sau này, luật sư Cao Ủy nghi ngờ vì thuyền nhân mình khai giống nhau. Thực tình trong thời gian này, tôi chẳng biết phải cố vấn cho anh khai lý lịch ra sao nữa! Mong anh hiểu.

Anh Đoàn Thạnh Nam thuật lại các trường hợp bộ đội đào ngũ và phải vượt biên vì đã chống lại các chỉ thị của cấp chỉ huy khi buộc phải phá hủy chùa, đập bể tượng Phật để kiếm vàng bên trong hay đàn áp dân lành... bên chiến trường Kampuchia cũng như người kể đã gia nhập vào các tổ chức phản cách mạng trong ý định lật đổ nhà cầm quyền Việt Cộng hoặc người khai phải tu hành chui hay dạy giáo lý lén lút. Anh kết luận:

- Hết ăn ảnh rồi! Giống y chang nhau như một con cá bơi chung trong luồng cá, không có gì mới, không có gì lạ riêng biệt. Đọc các bản assessment, tôi thấy luật sư Cao Ủy sẽ dễ dàng tìm ra sự thật và trong lời đề nghị ở cuối trang, gần như họ bác hết cả... Đó mới chết cho thuyền nhân mình mà thực tình, không người nào biết cách phải khai sao cho đạt yêu cầu. Cộng đồng người Việt ở hải ngoại, nhất là bên Hoa Kỳ, cũng có các hội đoàn luật sư chứ nhưng tôi nghĩ họ cũng lúng túng, chưa biết phải giúp thể nào cho thuyền nhân ở các trại tị nạn từ Hồng Kông cho đến các nước Đông Nam Á ngoài các lời khuyên chung chung. Đây là lần đầu tiên kể từ khi mất miền Nam VNCH, mới có vụ Cao Ủy thanh lọc thuyền nhân vượt biên Việt nên cũng khó để mà giúp.

Thôi vậy là hết cách! Phải chi anh Đoàn Thạnh Nam còn giữ được các bản assessment để mình nghiền ngẫm thì may sẽ rút ra được các kinh nghiệm cho bản thân, nhất là quyển Handbook thủ bản về luật tị nạn. Các tài liệu cực kỳ quý mà anh lại đốt bỏ nhưng cũng chẳng trách được. Anh Đoàn Thạnh Nam đã thực lòng nói với tôi những điều này thì chắc bốn người ban nãy cũng hoàn cảnh tương tự nhưng khi hỏi về họ thì anh cười lớn và nhấn giọng:

- À há! Hai tay ba tàu đó đều được Cao Ủy công nhận là tị nạn trước khi vượt biên đến Galang này. Tay hành nghề hớt tóc có giấy bảo lãnh của vị hôn thê bên Na Uy gửi cho nên cũng tin tưởng sẽ qua được bằng diện đoàn tụ. Chỉ có cha chụp hình dạo là bất cần, lại còn bảo trước sau gì Cao Ủy cũng phải lo cho thuyền nhân đi định cư hết, ai nhát mà hồi hương thì ráng chịu. Chả nói chuyện có vẻ lạc quan nhưng thực sự thì đã thủ trong tay tờ bảo lãnh của anh ruột bên Hoa Kỳ rồi. Hai tay ba tàu thì một người tên là La Chí Kiên, bà con với nhà thuốc La Vạn Linh ở Chợ Lớn. Tay kia tên là Lương Sú Há, gia đình có phần hùn trong đại công ty dầu bơ Nakydaco ở khu kỹ nghệ Biên Hòa ngay ngã ba đường đi về hướng Vũng Tàu. Nhà thuốc La Vạn Linh chuyên làm cao dán con cọp, dầu gió song thập... có mùi thơm thơm chắc anh cũng biết. Cuối thập niên 1970 khi có vụ nhà nước Việt Cộng trục xuất Hoa kiều, gia đình họ đã đóng vàng để xuất cảnh bán chính thức mà không thành. Ngồi trên tàu sắt cả đấy nhưng chẳng đâu ra đâu rồi lại phải quay về. 

- Phải quay về! Anh nói hai người họ đi ra nước ngoài rồi phải quay về? 

Tôi hỏi vội khi nghĩ hai người Việt gốc Hoa này đã từng ra khỏi nước mà tàu họ phải quay về Việt Nam tương tự như chiếc ghe mình vượt biên chuyến trước.

- Không! Hai tay kể khi đó gia đình ghi danh và đóng vàng xong xuôi cho chính quyền địa phương thì công an đưa xuống một tàu sắt lớn cho đến khi đủ người thì họ mới khởi hành. Nhưng ra tới cửa biển thì công an lại neo con tàu đứng yên một chỗ mà không đi tiếp như dự định lúc đầu. Hình như ở cửa biển Bình Đại. Lý do có những chuyến tàu đi trước đã bị chính quyền Malaysia, Indo... kéo ngược ra đại dương cho trôi vật vờ, vô định. Thậm chí có chiếc bị nổ tan tành giữa biển làm chết rất nhiều nạn nhân mà người ta đồn do công an gài mìn hẹn giờ sẵn. Tin về các thảm cảnh này trên đài truyền thông quốc tế làm vụ xuất cảnh người Việt gốc Hoa lấy vàng của chính quyền Việt Cộng phải ngưng lại. Hai người họ cùng gia đình phải chen chúc chung với cả ngàn người ở trên con tàu sắt đó đợi quyết định mới của chính quyền trung ương ngoài Hà Nội về số phận. Trên tàu, lương thực cạn dần, công an bán một chai nước, một ổ bánh mì hay nải chuối... đều giá một chỉ vàng, tuy biết đắt cắt cổ thì cũng phải bỏ ra mua để ăn, để uống mà tồn tại. Rủi kiệt sức chết, xác bị người khác quăng ngay xuống biển. Ai sống thì ráng cầm cự chờ phép lạ nhưng cũng có người quẩn trí đâm đầu xuống biển tự vận trong tiếng than tiếng khóc của thân nhân. Hai tay này quen nhau khi ở chung trên con tàu sắt đó rồi thành bạn thân, đi đâu cũng rủ nhau.

- Ghê quá... Rồi sao cả hai về được nhà? Chính quyền có trả lại cho họ vàng đã đóng không anh? Tôi hỏi.

- Cuối cùng, công an kéo con tàu sắt đó vào bờ và giải toàn bộ người đi trên đó vào ở trong một khu chòi lá do họ dựng lên tạm thời rồi bỏ mặc. Ai ở đó chờ thì chờ, ai bỏ về lại nhà cũ thì tự mò về, công an làm ngơ không chận bắt. Còn vàng đã đóng... thậm chí căn nhà cùng tài sản bên trong đã bị chính quyền lấy trước khi đi... chẳng đòi được. Cái năm vồ mà chúng trả lại. Anh biết các tay nhà giàu Chợ Lớn thời còn miền Nam VNCH đều cho con cái trong nhà học hành rất kỹ. Hai tay này cũng vậy. Một người biết Anh ngữ, người kia thì Pháp ngữ rất khá... nên sau khi về tới gia đình thì họ tìm cách vượt biên ngay. Đi không lọt nếu bị bắt thì gia đình lại chạy vàng ra rồi tiếp tục việc buôn bán để sống để chờ chuyến vượt biên. Thua keo này họ bày keo khác cho đến khi làm một chuyến sang Tàu thì mới thành công.

Lời anh Nam làm tôi nhớ lại câu chuyện về người Hoa đã nghe từ miệng tiến sĩ Tôn trong chuyến đi chơi Tanjung Pinang lần trước về các đại xì thẩu Chợ Lớn như Lý Long Thân, Trương Vĩ Nhiên, Lý Sen, Trần Thành, Đào Mậu, Tăng Tài... thời còn miền Nam VNCH. Những đại xì thẩu Chợ Lớn này được phong chức là vua sắt thép, vua gạo, vua vải sợi... điều hành ngầm nền kinh tế khi đó. Họ đóng thuế công khai cho chính quyền miền Nam VNCH nhưng cũng đóng thuế lén cho cả phe Việt Cộng. Vậy, nhưng khi chiếm xong miền Nam, Việt Cộng trở mặt làm thịt họ thẳng tay trong các chiến dịch tịch thu tài sản, xuất cảnh. Ở buổi đầu từ rừng núi về thủ đô Sài Gòn trong tư thế kẻ chiến thắng, mấy gã cán bộ Việt Cộng có gì cho bản thân ngoài vài bộ quần áo cũ rích, cái nón cối, đôi dép râu mòn vẹt cùng mớ lý luận Marxis trong đầu. Một hình ảnh trên răng dưới cát tút, vô sản hoàn toàn. Thấy tài sản bên phe thua trận miền Nam VNCH ở trước mắt, đám cán bộ này nổi lòng tham nên lao vào chiếm đoạt. Rồi tranh nhau với các đồng chí khác để chiếm đoạt cho nhanh cho nhiều hơn. Đeo cấp bậc nào thì lấy tài sản của đối phương theo cấp bậc đó như gã tướng Trần Văn Danh đã lấy nhà riêng của tướng Phạm Quốc Thuần ở cư xá Chí Hòa. Tư gia của các trung tá Nguyễn Văn Lướt, Lê Trí Vị... ở vùng Hốc Môn cũng bị các tên công an, huyện ủy viên Việt Cộng nhanh chóng xí phần. Chiếm xong tài sản của người thuộc chế độ miền Nam VNCH thì đám cán bộ Việt Cộng để mắt tới các thương gia, xì thẩu ba tàu. Lóa mắt vì khối tài sản nếu lấy được sẽ quá lớn nên mới có vụ các chính quyền địa phương bày trò tịch thu tài sản, tổ chức vượt biên để lấy vàng bỏ túi. Kể cũng tội nghiệp cho dân ba tàu, sống ở quốc gia nào cũng dễ dàng trở thành vật hiến tế cho chính quyền nước đó khi gặp dịp. Đám ba tàu ở Việt Nam cũng vậy và đó cũng là nguyên cớ khiến có trận chiến trong năm 1979 ở biên giới Hoa-Việt. Tổ chức cho người Việt gốc Hoa vượt biên lấy vàng bỏ túi, có những gã cán bộ Việt Cộng chỉ một sớm một chiều trở thành giàu sụ như trường hợp của hai gã công an ở tỉnh Đồng Nai tên Mười Vân và Nguyễn Văn Hiệp. Hai gã trùm công an địa phương này, tên nào tên nấy có cả ngàn lượng vàng lá trong nhà khi bị xét bắt. Không riêng gì vùng Chợ Lớn, ở bất cứ địa phương nào từ Nam đến tận ngoài Bắc, xì thẩu dù từng ra mặt công khai hay lén lút, ủng hộ ngầm cho Việt Cộng khi còn chiến tranh, nay cũng phải ngồi tù sau khi bị chúng lột sạch tài sản trong những năm cuối thập niên 1970 đó. Tuy vậy sau khi được tha tù thì bằng các đường dây ngầm tài chính, đám xì thẩu Chợ Lớn lại từ từ trỗi dậy. Hai tay người Việt gốc Hoa sáng nay, tôi nghĩ tuy gia đình họ không bằng cỡ các đại xì thẩu kể trên nhưng cũng một cách chuyển ngân bí mật nên mới có tài chánh để tiếp tục các chuyến ra đi mới. Tôi cất giọng hỏi:

- Sang Tàu? Anh nói họ đi Hồng Kông hả? Khi nào vậy?

- Không! Họ đến thành phố Quảng Châu bằng cách đi đường bộ băng qua biên giới Việt-Hoa giữa năm 1989. Ngoài tiếng Anh tiếng Pháp, họ còn biết tiếng Việt và thổ ngữ Quan Thoại cùng Quảng Đông nữa... nên dễ dàng trà trộn trong dòng người buôn bán của hai nước. Hai người họ chạy vào tòa lãnh sự Hoa Kỳ ở thành phố Quảng Châu xin được tị nạn chính trị. Nhân viên lãnh sự quán Hoa Kỳ sau khi phối hợp với luật sư Cao Ủy điều tra thì đã công nhận tư cách tị nạn và gửi họ đến tạm trú ở một khách sạn tại thủ đô Bắc Kinh. Trong lúc đang chờ ở khách sạn này để làm thủ tuc nhập cảnh vào Hoa Kỳ thì có vụ công an Trung Cộng đàn áp sinh viên biểu tình ở công trường Thiên An Môn. Anh Vũ còn nhớ vụ sinh viên Tàu kéo nhau biểu tình ở công trường này từ tháng 4 năm 1989 và kéo dài cho đến đầu tháng 6 thì bị chính quyền Trung Cộng giải tán thô bạo. Cả ngàn sinh viên tay không đã bị đạn bắn chết, xích xe tăng nghiền nát trong những ngày đó. Công an Trung Cộng còn tràn vào các khách sạn ở Bắc Kinh để lục soát và kiểm tra tất cả khách cư trú với mục đích bắt thêm người ủng hộ vụ biểu tình. Khách nếu là người ngoại quốc thì bị trục xuất ra khỏi nước ngay vì chính quyền Trung Cộng muốn che dấu vụ vừa đàn áp dã man với thành phần sinh viên nước họ. Vì khai là dân Việt nên cả hai người họ bị công an Trung Cộng trục xuất về lại Việt Nam. Tới biên giới, công an Việt Nam bắt giam hai người họ cả 6 tháng trời mới trả tự do. Sau đó, cả hai tiếp tục con đường đã định và chạy thoát đến được trại Galang.

Nhẩm tính thời gian, tôi biết hai người Việt gốc Hoa đến trại Galang trước đoàn hai ghe chúng tôi chỉ vài tháng. Vậy họ vẫn chưa tới lượt Cao Ủy thông báo thanh lọc. Nói ra suy nghĩ của mình thì anh Đoàn Thạnh Nam gật đầu, xác nhận:

- Cả hai đều bảo với tôi khi nào vào thanh lọc, sẽ trình bày cho luật sư Cao Ủy biết về trường hợp của họ. Một câu hỏi họ định sẵn với luật sư Cao Ủy là đã được công nhận tư cách tị nạn rồi thì đâu phải thanh lọc nữa. Nếu cần, luật sư Cao Ủy cứ liên lạc trực tiếp với phái đoàn Hoa Kỳ tại trại Galang về nhân thân họ, sẽ biết chính xác.

- Họ sẽ đậu thanh lọc, tôi nghĩ vậy. Lãnh sự quán Hoa Kỳ ở Quảng Châu chắc chắn còn giữ hồ sơ của hai người. Tôi đáp lời.

- Họ nói vậy nhưng theo tôi cũng phải chờ xem Cao Ủy xổ thanh lọc đợt sắp tới đây thì mới yên tâm. Anh Đoàn Thạnh Nam cười nhẹ sau câu nói.

- Sao lại có vụ chờ xem xổ thanh lọc sắp tới hả anh? Tôi cất giọng.

- Ngoài hai người họ thì còn có một tay khác hoàn cảnh tương tự và đang sống tại Galang. Tôi không nhớ tên người này nhưng nghe nói anh ta từng ở trại tị nạn Sikiew bên Thái Lan, sau đó gia nhập vào đám phục quốc và trở về quê nhà để hoạt động cho tổ chức rồi bị bắt. Anh sống ở Sài Gòn chắc đã nghe chuyện chính quyền Việt Cộng xử án tổ chức phục quốc xâm nhập trong năm 1984 chứ?

Hồi còn ở trong nước, tôi đã nghe tin chính quyền Việt Cộng xử án hai vụ phục quốc từ hải ngoại xâm nhập nội địa và bị bắt. Tôi không biết gì về hai tổ chức phục quốc cũng như theo dõi buổi xử án nội vụ của họ tại pháp đình Sài Gòn khi đó nhưng có đến xem vũ khí cùng tài liệu do công an thu được, bày công khai tại tiền đình tòa nhà Hạ Nghị Viện cũ cạnh bên nhà hàng Continental nổi tiếng. Nghe anh Đoàn Thạnh Nam hỏi vậy, tôi gật đầu:

- Có! có nghe... Các năm 1983, 1984 ở trong nước, báo công an có đăng bài họ kể việc phá án nhóm phục quốc xâm nhập từ hải ngoại về Việt Nam. Một nhóm đi bằng tàu sắt và nhóm kia đi bằng đường bộ băng qua biên giới Lào-Việt... nhưng sao anh chàng phục quốc này có mặt ở đây hay vậy!

Anh Đoàn Thạnh Nam kể vì mới gia nhập tổ chức phục quốc nên anh ta bị chính quyền Việt Cộng kết án gần 4 năm tù. Được trả tự do, anh ta làm chuyến vượt biên mới và đến trại Galang cuối năm 1989. Anh ta đã qua thanh lọc và đang chờ Cao Ủy công bố kết quả. Cứ theo số thứ tự của ghe nhập trại thì anh chàng cựu phục quốc sẽ biết kết quả trong đợt Cao Ủy xổ thanh lọc kỳ tới.

Thấy trời đã hẳn chiều, cả hai chúng tôi chia tay sau câu nói của anh Đoàn Thạnh Nam trước khi rời khỏi quán cà phê Gió: " Cứ wait and see nha anh Vũ! Rồi mình sẽ biết thêm nhiều chuyện trong canh bạc thanh lọc của Cao Ủy với thuyền nhân người Việt ".

Buổi tối, tắm táp rồi cơm nước xong xuôi, tôi và Yến ra khỏi barrack, nhắm hướng quán cà phê Dạ Lý. Đến nơi, đã thấy anh Khảm, chị Phượng ngồi từ trước ở một cái bàn ngoài sân nên cả hai đứa tôi liền ghé vào. Yến cất tiếng chào nhưng cả anh Khảm lẫn chị Phượng đều im lặng, không đáp lời. Thấy lạ, tôi ngước nhìn họ, một vẻ buồn bã lộ trên khuôn mặt và trong khoảnh khắc, anh Khảm cất tiếng:

- Anh có tên trong chuyến định cư Mỹ sắp tới rồi Vũ à... Còn Phượng thì chưa...

Nghe anh Khảm bỏ lửng câu nói dở chừng, Yến cười, bảo:

- Em mừng cho thầy đấy. Còn chị Phượng... rồi cũng chuyến kế tiếp thôi, có gì mà phải buồn. Thầy thuộc diện đi Mỹ còn chị Phượng định cư Úc thì làm sao cùng chung một chuyến với nhau được. Phải không?

- Không phải vậy. Anh Khảm ngắt lời Yến rồi sau đó tiếp: " Phượng đang buồn, đang giận anh đây nè, mấy em đâu biết... Cũng tại do anh mà ra cả ".

Thấy tôi và Yến ngơ ngác không hiểu chuyện, anh Khảm nói thêm:

- Phượng bị bệnh phổi... Thế mới kẹt.

Anh Khảm kể phòng IOM khám bệnh cho thuyền nhân rời trại đi định cư báo tin chị Phượng bị bệnh phổi và cần ít nhất ba tháng liền phải đến uống thuốc trước mặt nhân viên y tế cho đến khi có xét nghiệm mới. Phòng IOM nếu xét nghiệm tiếp, thấy khỏi bệnh thì chị Phượng mới lên đường đến Úc được. Nếu còn bệnh, lại phải tiếp tục thêm ba tháng điều trị nữa cho đến khi lành hẳn. Chị Phượng có bao giờ hút thuốc lá mà nay bị bệnh phổi! Chỉ có mình anh Khảm, tôi nhìn qua anh thì như một hối lỗi, anh khoát tay, phân bua:

- Có ai ngờ... anh hút thuốc mà Phượng nó gánh cho mới khổ thân. Biết vậy, anh bỏ quách từ hồi còn ở trong rừng bên Mã Lai. Phượng khuyên bảo hoài mà anh có nghe đâu. Hối hận quá hai em à!

Cái này, ảnh hưởng từ hít chung khói của người hút thuốc lá mà tôi đã từng nghe. Yến đã một lần bảo với tôi: " Thầy Khảm hút thuốc rồi nhả khói mù mịt như tàu Tây chạy trên sông, em thấy mà sợ. Không hiểu sao chị Phượng lại chịu đựng nổi. Anh mà hút thuốc như thầy Khảm thì em sẽ goodbye ngay lập tức ". Có chút thắc mắc, tôi cất tiếng hỏi với anh Khảm:

- Anh hút thuốc lá mà phổi không bị gì? Phòng IOM thông báo sức khỏe anh ra sao, không lẽ...

- Anh khỏe... phổi phiếc lại bình thường. Phòng IOM khám đi khám lại mà anh không có bệnh ở phổi. Thế mới lạ! Từ chập chiều, nghe phòng IOM thông báo tin, Phượng buồn rồi trách anh cho tới giờ. Anh và Phượng, mấy em tính, nếu có bệnh phổi thì người đó phải là anh. Biết làm sao bây giờ... Anh dứt khoát bỏ thuốc lá từ hôm nay... Gói thuốc còn dở nhiều điếu, anh đã vất ngay vào thùng rác rồi.

Thảo nào tối nay, tôi không ngửi thấy mùi khói cùng gói thuốc lá Marboro hai màu trắng đỏ và cái quet máy Zippo quen thuộc nằm trên mặt bàn như mọi lần trước. Cái quẹt máy Yến đã nhiều lần lấy tay mở rồi đóng nắp để nghe tiếng kêu lóc cóc riêng biệt. Yến đứng lên, kéo ghế ngồi sát bên cạnh và cầm tay chị Phượng rồi nàng thỏ thẻ, nhát gừng:

- Chị Phượng ơi! Hôm nay em biết chị buồn... buồn lắm... em cũng chẳng biết nói gì đây. Nếu chị có khỏe, không bị bệnh phổi và đi định cư sớm thì trong em vui mà cũng buồn nữa... Em nói thật lòng... em buồn vì vắng chị. Trại Galang này đông người mà thân thiết với em có bao nhiêu đâu. Thầy Khảm nào muốn chuyện chị bị bệnh phổi. Khi thầy đi rồi thì còn em... còn em ở đây... với chị.

...

                                 (còn nữa)
                              

Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2015

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 87


3/

                                 (tiếp theo)

Căn nhà riêng để ở chung với nhau đó, nhân chiều thứ Sáu cuối tuần được nghỉ việc sớm hơn thường lệ, về đến barrack thì Yến rủ đi với nàng để xem cho biết. Đến trước một ngõ hẻm của khu vực zone 2 đối diện với trường Huấn nghệ Consortitum thì Yến quẹo vào. Qua khỏi các barrack lợp lá rồi những mái nhà nho nhỏ, hai đứa tôi đi đến gần cuối con đường hướng vào rừng và dừng chân trước một căn nhà có hàng rào vây chung quanh. Một hàng rào làm bằng cây rừng, đan chồng chéo cao ngang thân người phủ kín đầy mồng tơi, một loại rau người miền Bắc thường nấu canh ăn. Căn nhà bé xíu, có một giếng nước nằm mé đằng sau và mé trước nhà là một giàn dưa Tây um tùm. Yến cất tiếng gọi, một phụ nữ trạc tuổi với chị Phượng chạy ra mở cánh cổng thấp cho hai đứa tôi vào. Giàn dưa Tây như một tấm màn che tạo bóng mát cho mặt trước nhà nhưng nó đã cỗi vì chẳng còn một quả hay nụ bông nào cả. Cái nhà, đứng bên ngoài thấy nhỏ nhưng khi đặt chân vào trong thì mới thấy nó khá rộng nếu như so sánh với căn phòng của nhóm chúng tôi ở barrack. Tuy nhỏ nhưng chủ gia cũng ngăn nhà thành ba phần, phần trước là phòng ngoài có cái bàn với hai chiếc ghế đẩu cùng một cái giường đơn kê sát bên vách ngăn. Phần giữa là căn buồng có cái giường đôi cùng cái tủ gỗ nằm sát cạnh nhau và phần sau nhà là chỗ tắm giặt cùng bếp nấu nướng. Nền nhà là các tấm xi măng bể được chủ gia thu gom từ các mặt sân nhà cũ trong trại rồi mang về ken lại khá gọn gàng. Từ phần sau nhà này, qua cánh cửa nhỏ, hai đứa tôi theo chân chủ gia bước ra bên ngoài để xem thêm. Một con heo khá lớn chứa gần đầy nước mưa hứng từ mái nhà chảy xuống bằng cái máng gỗ mỏng manh. Ở một góc sân là một bụi cây bố mọc xum xuê có cành dài chạm cả vào mặt đất. Cây bố này, người miền Bắc gọi là rau đay nấu canh ăn được. Những cây rau ngót cao hơn đầu người đứng thành hai hàng cạnh các bụi mía, luống khoai mì. Các bụi xả lùm xùm che kín chân hàng rào và ở cuối vườn, ngay chỗ phần thoai thoai của mặt đất là nguyên vạt rau thơm đầy tía tô, húng, dấp cá, ngò gai... mầu xanh mầu tím pha sắc bên nhau. Mái nhà được lợp bằng giấy dầu nhựa hắc ín trộn cát mịn còn vách là các thân tre đập dập, vỏ thùng giấy carton cứng nhưng bên ngoài được bọc bằng các tấm nhựa plastic lớn. Thấy có cái thùng múc nước để nằm chỏng trơ trên sàn xi măng, tôi kéo một ít nước từ giếng lên cho Yến xem. Nước trong vắt và không có mùi gì cả. Vậy là được vì Yến mua nhà chỉ vì nàng cần có nước để dùng hàng ngày, nhất là trong các tháng hè. Ở barrack, hàng ngày mỗi buổi sáng tôi và Đỉnh vẫn phải đi gánh nước từ suối gần bệnh viện về xài chung. Con suối đã được Ban đại diện trại tu bổ, khoét dòng cho sâu cùng vét hồ chứa nước rộng hơn trước nhưng vẫn không đủ dùng trước số thuyền nhân đổ vào trại từ các ghe bên Malaysia chuyển sang. Thấy tôi bước lại gần bên cây đu đủ ngay bên hông căn nhà, chủ gia liền đi theo. Chắc chắn cây này đã mọc tự nhiên vì thân nó lại ngáng ngay bên ô cửa sổ của căn buồng nơi phần giữa nhà. Những quả đu đủ mọc đeo chi chít bên nhau ở phần ngọn cây nhưng quả nào cũng chỉ lớn hơn một nắm tay người. Chủ gia với tay hái một quả hườm hườm mầu phớt vàng trên thân xanh và đưa nó cho Yến, bà nói:

- Trông nhỏ trái nhưng ngọt lắm, cô cậu để nó chín đều hẵng ăn cho vui. 

Tôi đảo mắt nhìn về hướng Tây của căn nhà, chút ánh nắng chiều còn sót lại nhưng đã bị hàng cây rừng cao vút gần đó cản bớt. Tôi bảo nhỏ với Yến:

- Hay quá em, buổi chiều nhà mình sẽ bớt nóng là nhờ có mấy cái cây đằng kia kìa... Chỉ phải cái hơi xa khi mình có việc phải lội từ đây ra tới con đường nhựa. 

Khi Yến hỏi dứt khoát thì không ngờ chủ gia đồng ý bán chỉ có ba mươi ngàn Rupiad nhưng hai đứa tôi chỉ được dọn vào ngay trong ngày gia đình họ rời trại. Thỏa thuận như thế là xong. Trên đường về lại barrack, Yến kể thêm: 

- Anh chị Sang chủ nhà này là học trò của thầy Khảm... Họ cũng đã đậu thanh lọc từ đợt xổ trước của thầy và chị Phượng. Thầy mua hộ cho em nên mới có giá đó chứ dễ gì anh.

Đúng! Tiền mua căn nhà chỉ bằng tiền vé tàu cao tốc đi Tanjung Pinang cho hai đứa chúng tôi kỳ vừa rồi. Bao nhiêu công sức chủ gia đã đổ ra rồi thêm các vật liệu mới có được căn nhà như bây giờ. Đành rằng đi định cư thì họ sẽ phải bán nhà nhưng bán với giá như thế thì quá rẻ. 

Buổi tối thứ Bẩy khi ngồi ở quán cà phê với anh chị Khảm-Phượng, tôi kể chuyện về căn nhà thì anh Khảm nói:

- Hai vợ chồng tay Sang này chịu học Anh ngữ lắm. Nói với anh sẽ để lại toàn bộ đồ đạc trong nhà cho hai em khi họ lên đường... chắc cũng không lâu đâu.

Đồ đạc đây là nồi niêu soong chảo, ly tách chén dĩa, mùng mền, bàn tủ... mà chủ gia đang dùng trong nhà. Hầu như thuyền nhân trong trại, khi đi định cư nước thứ ba ai cũng để đồ đạc cho người thân quen còn ở lại. Mang nhiều đồ đạc khi đi định cư thêm rách việc rồi cũng sẽ vất bỏ. Tôi và Yến bàn nhau khi dọn vào căn nhà mới, cũng sẽ để lại cho Bẩy và Đỉnh các món đồ dùng chung của cả nhóm. Anh Khảm kể thêm hai vợ chồng chủ gia này nguyên là công an tại phường 8 của thành phố Mỹ Tho, theo học Anh ngữ nơi lớp anh dạy một thời gian dài rồi thành thân quen nên mới bán cho Yến cái nhà giá rẻ như thế. Những thuyền nhân mới nhập trại cũng có lắm người đang tìm mua nhà vì ai nấy đều muốn tránh cảnh sống chen chúc trong các barrack lợp lá vừa chật chội lại bầy hầy. Anh Khảm dụi mẩu đầu lọc thuốc lá vào cái gạt tàn rồi nói tiếp:

- Cả hai vợ chồng tay Sang này muốn sống bên Úc nhưng phòng định cư Cao Ủy lại sắp xếp hồ sơ họ cho phòng JVA Mỹ phỏng vấn trước. Phỏng vấn rồi phái đoàn Mỹ lại nhận họ luôn thế mới kẹt. Không muốn mà chẳng làm gì khác được, đành chịu thôi. Vũ nghĩ xem, định cư ở Mỹ mà hai vợ chồng họ lại rầu, lại lo... chỉ vì sợ gặp dân chế độ cũ miền Nam VNCH sẽ khó sống.

- Bộ hai ông bà cựu công an này có ân oán gì với dân miền Nam mình hả anh? Tôi thắc mắc.

Anh Khảm lắc đầu phủ nhận rồi nói như một kết luận về câu tôi hỏi: 

- Họ bảo là chỉ muốn yên ổn làm ăn, lập cuộc đời mới trên xứ người, chuyện là công an đã chôn vào quá khứ không muốn nghĩ đến nữa. Anh trấn an họ, nói đừng lo lắng việc đó cho mệt. Sống ở trại tị nạn Galang, gốc gác của họ ai mà lạ hả em! Dân phường 8 của Mỹ Tho vượt biên sang đây thiếu gì người... mà hai vợ chồng có sao đâu. Sang bên Mỹ rồi họ cũng sẽ yên ổn như vậy thôi, người quốc gia mình không có vụ thù hằn dai dẳng như kiểu Việt Cộng làm.

Ở trại tị nạn Galang, dù Cao Ủy đã cho hồi hương về lại Việt Nam mấy chuyến người rồi nhưng thuyền nhân vẫn tiếp tục đổ vào nhiều thêm đến nỗi nhà thầu Titan cất barrack không kịp nên có khi, cả đoàn ghe nhập trại phải ở ngay trên các nền nhà cũ chổng trơ dưới ánh nắng mặt trời. Các phòng bỏ không của nhà thương, có lúc cũng được Cao Ủy mượn làm chỗ trú ngụ tạm thời cho người mới đến. Đưa người hồi hương về Việt Nam, Cao Ủy cũng mang báo chí từ bên quê nhà sang cho thuyền nhân trong trại đọc các thông tin quảng cáo là người hồi hương trở về nay đã nhanh chóng hội nhập vào đời sống bình thường như trước khi ra đi. Trong các ấn phẩm này, có cả các tờ báo của Việt Cộng đăng các mẩu tin mô tả đời sống trong các trại tị nạn người Việt từ bên Hồng Kông đến Malaysia, Thái Lan, Nam Dương và Phi Luật Tân... đâu đâu cũng đều là nơi để băng đảng phục quốc, xã hội đen... hoành hành làm khổ thuyền nhân. Các tờ báo từ trong nước đó, xa gần nhắn nhủ nơi an toàn nhất, nơi cần lựa chọn đến để sống cho các thuyền nhân Việt bây giờ chính là quê nhà. Vậy mà người Việt trong nước vẫn tiếp tục vượt biên và lý giải cho việc này, dân trong trại đồn chuyện:

- Biết đâu do cái tin ở mấy tháng trước trên đài BBC nói nước Kuwait nhận định cư thuyền nhân Việt làm người ta phải hối hả vượt biên ngay vì sợ lỡ dịp nên mới đông người đến trại như vầy. Cũng có thể, người trong nước lờ mờ đoán sắp đến lúc Cao Ủy sẽ đóng cửa vĩnh viễn các trại tị nạn của thuyền nhân Việt nên phải đi ngay không thôi chẳng còn.

Ông Thăng, barrack trưởng cho biết là căn cứ vào thứ tự thì khoảng hai hay ba tháng nữa, ghe chúng tôi sẽ lập lý lịch với Cao Ủy. Nghe vậy, cả barrack vừa mừng lại vừa lo. Mừng vì chờ đợi cái ngày này và nay nó sắp đến. Ai cũng thấy cứ tình hình Cao Ủy thanh lọc như thế này thì càng về sau, sẽ càng khó khai lý lịch. Lo vì chẳng biết bản thân sẽ phải khai sao đây cho tốt. Ai cũng sợ bị rớt thanh lọc. " Phải chuẩn bị từ bản khai lý lịch này, Cao Ủy sẽ dựa vào đó mà phỏng vấn mình, ăn hay thua là do nó ", người trong barrack kháo nhau. Nhóm 5 đứa chúng tôi thông tin cho nhau biết và hẹn ngày cùng vào Galang 2 để gặp anh Đoàn Thạnh Nam, nhờ anh cố vấn cho bản khai lý lịch sắp tới. Tháng 7 vừa qua, ghe CL 135 chúng tôi đã lập lý lịch với phòng an ninh P3V và nay đến vụ khai lý lịch cho phòng Cao Uỷ thì ai cũng cho mình đã hớ hênh trong bản lý lịch kỳ đó. Giờ có muốn bớt đi hoặc thêm vào các chi tiết khác trong cuộc đời mình thì lại sợ Cao Ủy sẽ đối chiếu với bản lý lịch cũ từ phòng an ninh P3V chuyển sang. Ở trại tị nạn Galang, phòng an ninh P3V khi lập được lý lịch của ghe nào xong, họ sẽ chuyển sang cho Cao Ủy biết ngay. Cao Ủy có lý lịch thì sẽ sắp xếp danh sách mà người trong trại gọi là lên lịch để sơ vấn và thanh lọc ngay thuyền nhân của chiếc ghe đó. Cả nhóm vào Galang 2 nhưng tìm anh Đoàn Thạnh Nam thật khó vì thời gian này, anh bận rộn nhiều do công việc phải viết đơn kháng cáo cho thuyền nhân bị rớt thanh lọc. Thêm vào đó, nhiều người trong trại cũng tìm đến anh giống như chúng tôi bây giờ. Galang 1 chỉ có bốn zone đánh số thứ tự từ 1 đến 4 thì ở Galang 2 lại có tới sáu zone mang số A, B, C, D, E và F và trải dài trong một khu vực rộng hơn nhiều. Các barrack, nhà riêng của thuyền nhân nằm xen kẽ với quán xá trong từng zone của trại nên nếu không có hẹn để biết chỗ trước mà đi tìm nhau sẽ rất khó gặp. Đó chưa kể đến các nhà nguyện Tin Lành, nhà thờ Thiên Chúa, chùa Phật Giáo, thánh thất Cao Đài, đình Hòa Hảo... nằm biệt lập ở các chỗ vắng. Có buổi, đi sạc cả giò trong trời trưa nắng mà tìm anh Nam không ra nên ai trong nhóm cũng nản. " Có khi mình tìm chết mẹ ở đây thì ông nội này lại ở ngoài Galang 1, biết đâu đấy! " Đỉnh nhăn nhở nói. Cô Đào bỏ cuộc trước vì lý do phải phụ bán hàng nên không thể vắng mặt ở tiệm mãi được. Kế tiếp là cô Bẩy khi bảo với Yến là sẽ kiếm người khác chỉ dẫn, không cần đi Galang 2 tìm anh Nam nữa. Đỉnh cũng bắt đầu chán cảnh đi tìm lòng vòng nên sau cùng đã bảo với tôi: 

- Lý lịch gia đình em như thế nào, em cứ khai như vậy... Hỏi anh, Cao Ủy không cho em đậu thanh lọc thì nếu hồi hương về Việt Nam em sẽ sống ở đâu, với ai đây? 

Như đã kể ở phần đầu truyện, Đỉnh có cha là nguyên sĩ quan an ninh quân đội chế độ miền Nam VNCH. Bị Việt Cộng lừa đi tù cải tạo trong những ngày đầu khi chúng vào được Sài Gòn nhưng ông trốn khỏi được trại giam rồi sau đó lại vượt biên thành công. Định cư ở Mỹ, ba của Đỉnh gửi tiền về để lo cho cả gia đình nó vượt biên. Mẹ của Đỉnh cùng hai đứa em gái, người nào cũng chỉ đi một lần là thoát. Riêng mình Đỉnh là chật vật, đánh nhiều chuyến mới thành thì lại gặp cảnh Cao Ủy thanh lọc thuyền nhân. Nhân nó nhắc lại chuyện cũ, tôi thắc mắc, hỏi:

- Mày kể cả nhà đi vượt biên hết thì căn nhà bên đó sau cùng ra sao... Bỏ lại cho ai ở?

- Nhà em! Khi chưa liên lạc được với ông già thì mẹ em đã phát bịnh rồi anh. Đồ đạc có giá trong nhà phải bán dần mòn hết để có cái sống rồi cuối cùng đến căn nhà... Mẹ em nằm liệt trên giường như sắp chết, tụi em còn nhỏ lấy đâu ra tiền để sống và để có cái tẩm bổ cho bả. Căn nhà phải nhờ họ hàng thay mặt tìm mối bán dùm mà thời đó rẻ lắm. Xong xuôi, gia đình em phải tạm trú ở nhà người dì ruột cho đến khi có tiền của ba gửi về mới lần lượt đi vượt biên. Công an cắt mất hộ khẩu em từ lâu rồi, phải đậu thanh lọc thôi! Đỉnh cười ranh mãnh sau lời kể.

À! Thì ra. Tôi cũng đồng ý với Đỉnh, chắc chắn nó sẽ qua được thanh lọc bằng diện đoàn tụ gia đình vì cứ qua các lần nhận kết quả vừa rồi, có người hoàn cảnh giống hệt nó mà đã cầm giấy tị nạn ngon lành. Có giấy bảo lãnh của cha mẹ hay vợ hoặc chồng ở nước thứ ba gửi đến thì gần như được Cao Ủy công nhận là tị nạn liền. Đây là sự nhân đạo của luật tị nạn. Anh em ruột, chú bác hay cháu chắt gì... thì giấy bảo lãnh nếu có cũng vô giá trị khi ngồi đối diện với luật sư phỏng vấn. Ăn thua là lời khai về cuộc đời mình khi sống trong chế độ Việt Cộng. Giấy bảo lãnh thuộc loại này chỉ giúp thuyền nhân đi định cư nhanh chóng hơn ngay sau khi người đó qua được ải thanh lọc, thay vì phải chờ có đợt nhận. Chính vì vậy mà Đỉnh không lo lắng lắm đến vụ lập lý lịch Cao Ủy. Có gặp được anh Đoàn Thạnh Nam hay không, nó cũng chẳng màng. 

Nghe chuyện tôi và Yến mua căn nhà để ở riêng thì Đỉnh bảo rồi ra nó cũng sẽ sống trong cái shop của Ánh Diễm ở Galang 2. Nó thêm:

- Không chừng em sẽ ra khỏi barrack trước cả anh và Yến. Cái phòng chung của cả nhóm coi như để lại cho cô Bẩy. Khi ra đi, em cũng chẳng mang thứ gì ngoại trừ quần áo cá nhân. Ánh Diễm sang lại shop tạp hóa thì chủ tiệm cũng để lại cho toàn bộ đồ dùng trong nhà. 

Chỉ còn tôi và Yến đi Galang 2 cho đến một hôm nàng bảo: " Hôm nay em đau chân quá, chắc không đi với anh được ". Thấy tôi yên lặng, nàng tiếp: " Anh coi, kiếm cái ông Nam này khó gặp quá mà nếu có gặp được, em còn phải học thuộc lòng từng câu hỏi câu trả lời nữa cho khớp với dàn dựng lý lịch của mình. Nghe mà phát mệt... Em cũng giống anh Đỉnh, lý lịch mình như thế nào thì cứ khai vậy ". 

Từ lâu rồi, Yến đã nói nếu nhận kết quả thanh lọc mà bị Cao Ủy đánh rớt thì nàng sẽ hồi hương về lại quê nhà để chờ đi định cư sang Úc với người anh ruột. Không muốn thấy Yến về lại Việt Nam nên tôi khuyến khích nàng phải chuẩn bị lời khai từ đầu trong bản lý lịch Cao Ủy, tôi bảo:

- Về Việt Nam đâu có đi sang Úc ngay được, cũng phải có thời gian... Em ở sẵn đây, nếu đậu thanh lọc thì phái đoàn Úc nhận liền, nhanh hơn. 

- Em biết! Nhưng dàn dựng thì phải khai lý lịch cho khác... mà em thì nghĩ mình không làm được. Thôi! Cứ có sao khai vậy rồi đưa giấy bảo lãnh của anh em ra trình cho họ biết. Cao Ủy nếu cho đậu thanh lọc thì chờ đi định cư, rủi bị rớt em sẽ về Việt Nam.

- Nói như em vậy thì vượt biên làm quái gì! Sao không chờ ở quê nhà rồi cũng sẽ đến ngày đi định cư với ông anh ở bên Úc như bao người có thân nhân bảo lãnh cho khỏe. Đi vượt biên đâu phải như làm một chuyến du lịch, em cũng biết ghe mình bị tụi Thái nó đuổi mà.

Thấy tôi nổi cơn bực, Yến im lặng trong chốc lát rồi sau đó nàng nói gắt:

- Kệ em! Anh đừng nhắc lại chuyện cũ. Em nghĩ có chận được ghe mình thì hai tàu Thái đó sẽ lấy sạch tiền vàng là cùng.

Yến chưa từng gặp cảnh khủng khiếp khi ghe vượt biên bị lọt tay tàu hải tặc Thái. Lời nói của nàng dẫn tôi về hình ảnh cũ giữa vùng biển vắng, trên trời dưới nước cùng tiếng kêu cứu của Ánh Phương ở chuyến vượt biên lần trước. Ánh Phương bây giờ ở đâu? Tôi vẫn chưa kể cho Yến biết về chuyện cũ. Hôm bị hai tàu Thái đuổi bắt đó nếu không gặp cây mưa bất ngờ thì rồi cuộc đời của Yến sẽ ra sao? Chắc chắn sẽ không khác với Ánh Phương? Tự nhiên tôi mềm lòng trở lại. " Mình đã bậy! Lẽ ra không nên phát cáu với nàng ". Chút hối lỗi từ trong lòng làm tôi yên lặng. Nhìn vẻ mặt cùng thái độ của tôi, đột nhiên Yến nắm lấy tay tôi, miệng nàng thì thào:

- Anh Vũ! Em xin lỗi... Mình quên việc vừa xảy ra nha anh.

Thật tội nghiệp! Tôi thở dài, Yến còn quá trẻ biết gì mà khai nên khi thấy khó ăn với Cao Ủy, đã chọn cho mình đường binh sẽ hồi hương nếu bị đánh rớt thanh lọc. Cả hai cô Bẩy và Đào cũng vậy vì chính Yến cho tôi biết đã nghe hai nàng con gái này than: " Hồi xưa vượt biên dễ ợt lại không đi để bây giờ đến trại tị nạn thì bị cảnh Cao Ủy thanh lọc ". Yến kể thêm: " Chị Bẩy nói với em, nhà chị ở Vũng Tàu đi vượt biên đâu có khó. Một bước chân là xuống được cá lớn rồi. Chị Đào cũng bảo ở Mỹ Tho nhiều đường dây vượt biên lắm mà đâu chịu đi. Chừng đi thì bị kẹt ". Yến cũng tiết lộ cả hai cô gái đã gửi thư báo tin cho thân nhân bên quê nhà biết về việc thanh lọc của Cao Ủy và họ đều được gia đình khuyên tùy tình hình, nếu khó quá thì hồi hương.

Chỉ còn một mình đi vào Galang 2, tôi đến phòng của anh Đoàn Thạnh Nam và viết một ít chữ trong mẩu giấy nhỏ rồi gửi nó lại cho người ở cạnh bên nhờ chuyển hộ. Mấy ngày sau tôi ghé lại thì người đó nói tôi đến quán cà phê Gió sẽ gặp được anh Đoàn Thạnh Nam. Thật ra giữa tôi và anh Nam có chút tình cảm riêng là vì đã giúp anh dịch thuật các giấy tờ anh gửi đến phòng. Quán cà phê Gió nằm ở trên một chỗ đất khá cao như một ngọn đồi của zone B ngay sau lưng văn phòng an ninh P3V. Tên là quán Gió vì ở vị trí này, gió thổi lồng lộng nên chủ quán trồng khá nhiều cây lớn như một che chắn cho các cái bàn của khách. Tôi đến quán và không khó để thấy anh Đoàn Thạnh Nam đang ngồi cùng với bốn người khách nữa tại một cái bàn nằm khuất ở một góc kín đáo dưới bóng cây tràm bông vàng xum xuê.


                                      (còn tiếp)

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2015

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 86



                                 (tiếp theo)

Dàn đèn cao áp xa xa nơi bến tàu rực cháy hắt ánh sáng xuống mặt nước biển. Ánh sáng cuối ngày trong cái bảng lảng trời chiều dần tối làm những cuộn sóng biển nhấp nhô trồi lên, lượn xuống như các thân thủy quái lúc đen lúc vàng đuổi nhau chạy tuốt vào bờ, không quay lại. Ghe chèo tay của dân địa phương hối hả đưa người đến bên tàu cao tốc rồi sau đó, họ vội vã lui về bến để đón thêm các khách mới như chạy đua với thời khắc của một ngày sắp tàn. Không thấy mặt ông tiến sĩ Tôn, tôi thắc mắc hỏi thì anh Khảm trả lời:

- Ô! Ông Tôn sống ở nhà thương Tanjung Pinang này, tình cờ anh với Phượng gặp ông ta ở gần cái quán nước của cha ba Tàu đó Vũ. Cứ đến ngày thứ Bẩy thì ông ta mò ra đây, lòng vòng mấy chỗ gần bến tàu để mong gặp được người quen từ Galang sang, cho vui. 

Rồi anh kể ông tiến sĩ tình nguyện đi sang sống ở nhà thương Tanjung Pinang để trông nom một thuyền nhân sống chung trong barrack từ đảo tị nạn chuyển tiếp, anh nói:

- Ông thuyền nhân đó đi có một mình, mới được Cao Ủy công nhận tị nạn trong đợt xổ thanh lọc vừa rồi thì đổ bệnh, nhà thương bên Galang đưa sang đây chữa, lòi ra ung thư gan.

Nghe vậy, tôi nghĩ hay ông tiến sĩ Tôn đang chăm sóc bệnh cho cụ Hoàng nên hỏi tới nhưng anh Khảm lắc đầu, trả lời:

- Không phải, ông này khác... Mà cụ Hoàng cũng yếu, bác sĩ Luân vẫn cho thuốc bổ uống đấy và cũng chỉ được như vậy thôi, em à. 

Tôi rất mừng vì trong lòng vẫn trông có dịp được gần gũi cụ Hoàng để học hỏi, để biết thêm những kiến thức. Tôi mong tuy hình dáng gầy gò, cụ Hoàng vẫn khỏe, tinh anh như đôi mắt sáng quắc khi kể chuyện về Sài Gòn cũ ở các tháng trước, trong lần gặp gỡ tại quán cà phê của bác sĩ Luân. 

- Bệnh tình ông này như vầy, không biết rồi sẽ ra sao? Em coi đó...

Anh Khảm bỏ lửng câu nói nhưng tôi đã hiểu khi nhớ lại những nấm mồ của thuyền nhân Việt ở một rẻo rừng bên trại lính Malaysia cũng như các ngôi mộ vôi trắng mốc thếch của Galang 3. Rồi còn những nơi khác không ai biết nữa, thiếu gì người vượt biên phải bỏ mạng. Thân nhân của người nằm dưới tầng đất lạnh này có biết đến phút lâm chung của họ để thương cảm, để khóc thầm hay chỉ buông lời trách móc vì ngỡ người xưa đã quên, một đi không lần quay lại.

Tàu cao tốc chợt nổ máy lớn hơn và rồi tài công kéo một thôi còi như thay cho đám khách thuyền nhân nói lời từ biệt đảo Tanjung Pinang trước khi khởi hành về lại bến cũ. Tàu chạy như lúc sáng trong tiếng ù ù chung với nhạc loa, cùng hình ảnh khách ngồi vật vạ trên ghế mà mắt nhắm như ngủ. Những cảm giác nôn nao lại quay trở lại trong người y như lần đi khi sáng, Yến nắm lấy tay tôi, thều thào:

- Em chỉ mong tàu chạy cho mau đến Galang, có về được nhà thì mình mới khỏe.

Chao ơi! Tôi bật cười với ý nghĩ căn phòng trong barrack nay đã là cái nhà của Yến rồi lại bào chữa cho nàng vì thói quen trong suy nghĩ nên mới nói ra như vậy.

Tàu cao tốc chạy mãi chạy mãi trong yên lặng cho đến khi một tiếng còi kéo vang lên như để đánh thức hành khách biết bến nhà đã đến. Tôi và Yến choàng dậy, tay xách túi hành lý, lần lượt theo chân các người khác bước ra khỏi khoang hầm của tàu. Trời bên ngoài giờ đã tối hẳn, chúng tôi đã về lại Galang rồi. Đứng ở sàn cầu bê tông sát thân tàu cao tốc, tôi nhìn lên những căn nhà của dân địa phương lù lù từng cái ở trên bờ hoặc nằm gọn gàng theo lối đi dưới bóng ngọn đèn cao áp. Một khung cảnh im lìm trong lúc sáng mà giờ đây, vẫn cửa kín then cài và không một ánh đèn hắt ra từ các ô cửa sổ. Trông như một bức tranh vẽ về một xóm nhà bỏ hoang dù thực tế có người ở bên trong. Họ làm vậy, chắc hẳn vì được lệnh của đám police phòng P3V mỗi khi có mặt thuyền nhân người Việt ở khu vực cầu tàu như một cách tránh các tiếp xúc không cần thiết. 

Tàu cao tốc tắt hẳn máy, trả lại cái yên lặng của bến tàu Galang như một đảo hoang không người ở. Tài công và nhân viên của tàu là những người ra sau cùng. Họ cũng mang cả đống hành lý như các chủ tiệm Galang đi sắm đồ về bán kiếm lời. Tối nay, họ ở lại trại để rồi chiều Chủ Nhật ngày mai sẽ chạy tàu đi Tanjung Pinang đón nhân viên Cao Ủy làm việc cho buổi sáng thứ Hai, ngày đầu tuần mới.

Tôi và Yến theo chân những người khác đi vào căn nhà tiếp khách nhập trại để chờ xe tải của phòng an ninh P3V từ bên trong ra đón. Người thì ngồi kiểm lại đống hành lý để vương vãi trên sàn, người thì đứng bên nhau nói chuyện trong làn khói thuốc lá như màn sương mỏng, người thì thào hỏi chuyện nhau về một việc riêng gì đó... Chúng tôi tập trung chờ, chờ cả nửa giờ đồng hồ mà chẳng thấy xe cộ nào ra đón. Có người đã lộ vẻ bất mãn khi buông ra những câu rủa cộc cằn, tức bực. Cho đến lúc có ánh đèn xe máy xuất hiện rồi tiếng ồn ào bắt đầu khi mọi người trông thấy một police bản xứ dựng xe và bước đến trước mặt. 

- Ê! thằng Rudi kìa, vậy là có chuyện rồi.

Đúng như lời người vừa mới nói, gã police tên Rudi cho biết vì cái xe tải được phòng An ninh P3V trưng dụng để kéo một chiếc Jeep mắc lầy ngoài bãi biển lúc chiều nên có thể sẽ đến trễ và y mong tất cả khách chúng tôi thông cảm. Nói xong câu, gã ta bỏ đi đến bên nhóm tài công, nhân viên của tàu cao tốc trò chuyện riêng.

Ai nấy chán nản, tản ra chung quanh thì một tiếng ùm thật lớn phát ra từ hướng cầu tàu bê tông khiến cả đám người phải đưa mắt nhìn. Tiếng một phụ nữ cất lên:

- Cá đớp bóng... Con này lớn lắm, cứ nhìn cái quầng nước kìa các ông.

Anh Khảm kéo tay tôi đi theo vài người khác đến sát bờ nước gần chỗ cầu tàu để xem. Những vòng tròn đồng tâm của quầng nước lớn vẫn còn lan tỏa chạy từng đợt từng đợt vào ven bờ. Đúng là con cá phải thật lớn mới tạo ra tiếng ùm to cùng quầng nước rộng khi nổi lên mặt nước làm mọi người có mặt phải giật mình. Tôi hỏi anh Khảm:

- Con cá gì vậy? Sao người Indo ở đây không bắt nó ăn thịt đi... Lần mới nhập trại em cũng thấy cái vụ cá đớp bóng này. Chắc cũng nó làm.

- Tụi Indo cũng biết ở đây có con cá này chứ nhưng sao lại không tìm cách bắt thì anh chịu. Có thể dân theo đạo Hồi không ăn thịt những con cá quá to cũng như loài vật nào chúi thân ngập xuống bùn. Ở đây nước phải sâu lắm thì người ta mới làm cầu tàu bê tông để ghe thuyền ghé vào được và biết đâu, dưới tầng nước xanh đen này có những rạn đá hay hang động làm nơi trú ẩn của nó.

- Anh có nghĩ đây là cá mập? Nó có thường nổi lên đớp bóng như vậy không? Không ăn thịt thì ít ra cũng phải bắt để xem coi nó là giống cá gì chứ. Tôi hỏi dồn.

- Chẳng rõ. Mà đây trong vùng nước biển thì cũng có thể. Đám trật tự nói với anh là mỗi khi có ghe tàu ghé vào chỗ này thì nó mới đớp bóng nước như vậy. Anh lại nghĩ do tiếng máy tàu cao tốc vọng xuống đáy làm con kình ngư nhức óc nên phải trồi lên.

Sau cùng, chiếc xe tải cũng đến nơi để lần lượt chở đám khách chúng tôi vào trại. Tôi và Yến nhanh chóng trở về căn phòng thân yêu thường ngày của mình. " Phải tắm cái đã ", tôi nói khi trao bịch nylon đựng thịt heo quay cùng bánh mì cho Đỉnh. Bữa ăn tối hôm đó thật thịnh soạn, thật ngon dưới ánh đèn dầu vàng vọt, chỉ tiếc vắng mặt cô Đào. Bẩy cho biết trước khi bày thức ăn ra mâm, Đỉnh đã sớt ra một ít thịt heo quay cùng nửa ổ bánh mì bảo sẽ mang cho Ánh Diễm và còn nói:

- Phải nghĩ đến người ta và có phần cho họ chứ, mấy khi có dịp được ăn tươi như thế này.

Tuần lễ sau đó, chung với niềm vui của những người có tên trong list đi định cư trước hết kể từ lúc có vụ xổ kết quả thanh lọc thì Yến cho biết đã tìm được một căn nhà chủ đồng ý bán, nàng cười tươi khi kể:

- Căn nhà nhỏ xíu nhưng được cái có giếng nước đằng sau, giàn dưa Tây phía trước cùng một cây đu đủ khá lớn trồng bên hông nhà. Chủ đã làm hàng rào bao chung quanh cẩn thận lại còn để giây Mồng tơi đan kín nữa. Em mừng khi mua được nó. Ít ra thì mình sẽ không phải chui rúc trong căn phòng chật chội của barrack lá.

Mình sẽ không phải chui rúc trong căn phòng chật chội của barrack lá. Tôi và Yến sẽ có nhà riêng để ở chung với nhau. Có thật thế không, tôi ấp úng hỏi:

- Sẽ có nhà ở Galang này... cho anh và em... sống trong đó. Phải vậy không?

Không trả lời ngay, Yến im lặng chốc lát rồi khẽ khàng từng tiếng trong ánh mắt nhìn tôi như nghiêm, như đùa rồi nàng ngưng đột ngột:

- Chỉ ở chung thôi... chứ không có...
                               

                                   (còn tiếp)

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2015

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 85




                              (tiếp theo)

Tôi thấy ông tiến sĩ Tôn nói quá đúng khi nhớ lại các câu truyện trong sử Việt về vụ quân đội nhà Tây Sơn tàn sát dân Ba Tàu trong vụ Lý Tài và sự việc nhà nước Việt Cộng xua đuổi người Hoa trong cái gọi là nạn kiều của các năm cuối thập niên 1970. Vừa nghĩ đến đây thì tiếng của ông tiến sĩ Tôn lại tiếp: 

- Nói đâu xa, ngay tại Indonesia này trong các năm 1965-1966 thì đã có việc tàn sát dân Ba Tàu trong vụ gọi là chống lại đảng Cộng Sản Nam Dương. Cả hàng triệu đảng viên Cộng Sản Nam Dương khi đó bị giết chết mà hầu hết họ đều là dân Indo gốc Trung Hoa. Đảng viên Cộng Sản nào được chính quyền tha mạng thì bị lưu đày đến sống ở các đảo hoang, nơi biệt lâp... trước khi họ bị nhổ mất 2 răng cửa và chính quyền sẽ phạt tù nặng với bất cứ nha sĩ nào tân tạo các răng mới cho những người Cộng Sản đó. Mấy người thấy chính quyền Jakarta làm quyết liệt chưa! Hết hẳn Cộng Sản ở cái xứ Hồi giáo này. Ta cứ nghĩ xem, với bộ mặt mất 2 răng cửa đó thì đi đến đâu, người dân Indo cũng sẽ nhận ra đây là một tay Cộng Sản và họ sẽ xa lánh ngay.

Thấy trời sắp sửa ngả về chiều rồi lại nghĩ đến giờ giấc phải xuống tàu máy cao tốc, tôi sợ không còn kịp giờ để nghe ông tiến sĩ Tôn kể thêm chuyện nên hỏi ngay về vụ nhà hàng Tàu thì ông cười, nói:

- Ồ! Cũng do từ việc dân Ba Tàu bị chèn ép trong công việc cả thôi. Làm ở hầm mỏ, trên cánh đồng, trong nhà máy... ở nước nào thì họ cũng bị chủ nhân trả lương kém hơn những sắc dân khác. Chủ thì lấy lý do là cơ thể dân Ba Tàu khi đó nhỏ con hơn tất sẽ yếu hơn và năng suất làm việc sẽ không bằng nên xử ép. Thực tế thì dân Ba Tàu làm việc rất hăng dù sức yếu hơn nhưng hầu như lúc nào họ cũng hoàn thành công việc được chủ giao cho. Điều dễ hiểu là họ tha hương nhưng còn cả một gánh nặng là thân nhân tại quê nhà đang chờ sự giúp đỡ của họ. Cho đến một tình cờ là có một ông Ba Tàu ở thủ đô Paris bên nước Pháp bị chủ sa thải sau một tai nạn lao động với chút tiền bồi thường. Hình như đó là năm 1922. Ông Ba Tàu này hồi còn ở quê nhà từng phụ việc trong một cao lâu ở Nam Kinh nên nghĩ thử mở tiệm ăn, nấu các món cho người đồng hương xem sao. Thế là một cái quán ăn người Trung Hoa ra đời trong khu phố lao động. Khởi đầu thì quán cũng nhỏ nhưng dần dà do sự ủng hộ của dân Ba Tàu trong bang hội nên đã phát triển dần lên. Quán mở rộng ra, thêm các trang trí bằng các bức tranh, bình hoa, lồng đèn đỏ cùng các hàng cột rồng-phượng-lân đã gây sự chú ý của dân địa phương. Họ kháo nhau về quán ăn này rồi tiếng lành đồn ra xa. Khách tìm đến quán bây giờ không thuần chỉ dân Ba Tàu nữa mà hầu như đều là dân địa phương, dân ngoại quốc tứ xứ. Họ đến để thử các món ăn cùng không khí kỳ bí của phương Đông mà trí óc họ tưởng tượng về cái xứ có hàng triệu triệu người, cái xứ có cách thức khám bệnh bằng tay, cái xứ có cách làm ra vải lụa từ chất nhớt của một loài sâu... Cần phải đến vì cần phải biết các món ăn với các gia vị tạo thành hương vị kỳ lạ không giống như những món ăn của người Âu tây. Quán của ông Ba Tàu này đâm ra thành công đã làm các tấm gương cho những di dân Trung Hoa ở các nơi khác rồi lan sang nhiều nước. Không thể nào và cũng không sợ đụng hàng với dân bản xứ khi kinh doanh nhà hàng Tàu, một thành công của đám di dân Trung Hoa kể từ đó và kéo dài cho đến tận bây giờ.

- Thì ra là vậy! Chị Phượng vui thích, buột miệng nói.

Ba bà người Việt đã ra khỏi quán rồi và bây giờ thì có thêm các người khách địa phương mới kéo vào quán mà trong số họ đều là dân gốc Trung Hoa. Họ gọi cà phê nóng và nhấm nháp cái bánh bía, gói đâu phọng da cá trong làn khói thuốc lá như cảnh mấy tay Ba Tàu đến quán trà gia của cữ chiều tại nước Việt. Ông tiến sĩ Tôn kể tiếp: 

- Thật ra thì buổi đầu nhà hàng Tàu cũng chật vật lắm vì sự kỳ thị. Dưới con mắt của dân Âu châu thì tự họ lúc nào cũng kiêu căng cho là món ăn của họ văn minh nhất, không một lối nấu ăn nào có thể vượt qua mặt họ được. Nhất là với cái dân Pháp. Tự cao mà không biết là ở châu Âu, các vị đế vương khi ăn thịt cừu nướng nguyên con vẫn phải lấy tay xé thịt chấm muối thì ở bên nước Tàu, ngay người dân thường đã biết chế biến thực phẩm thành hàng trăm món ăn ngon. Cái câu mình hay nghe nói ăn cơm Tàu là do cái vụ nhà hàng này mà ra. Kỳ thị nhưng rồi dân Âu châu lại tình cờ phát giác ra là thức ăn bán ở nhà hàng Tàu đã ngon miệng thì chớ mà lại còn bán giá rẻ hơn nhiều so với cũng món ăn đó ở trong các nhà hàng của dân địa phương. Cũng những thịt gà, thịt bò, hoa quả, nấm tươi... đó mà sao trong nhà hàng Tàu, đầu bếp chế biến các món ăn của dân Âu châu nó khác vị đi. Ngon hẳn, riêng biệt không thể lẫn vào đâu được.

Chia tay với ông tiến sĩ Tôn, nhóm 4 người chúng tôi quay trở về bến cảng. Anh chị Khảm-Phượng giờ đây mỗi người có thêm ít quần áo mới cất gọn trong 2 cái va ly giả da khá to. Nhìn vài người Việt khệ nệ xách khá nhiều quần áo cho việc định cư sắp đến thì anh nói nhỏ với tôi và Yến: 

- Với anh chị, vài bộ quần áo là quá đủ. Kinh nghiệm đã từng đi Mỹ cho biết rồi anh sẽ phải vất bỏ các y phục này khi qua tới bên đó vì nó không hợp kiểu. Sắm chi nhiều cho tốn tiền bạc của thân nhân mình gửi giúp. Bên đó họ làm ra đồng tiền cũng chật vật lắm.

Nhóm chúng tôi từ từ thận trọng trèo xuống các ghe chèo tay để ra con tàu cao tốc đang nằm chờ ngay chỗ đã ngừng lúc sáng. Đoạn đường biển thật ngắn nhưng vẫn giá công như buổi sáng từ miệng của dân chèo đò địa phương. Hai trăm Rupiad cho một người (Rupiad dua ratus orang) mà không thể kỳ kèo, nói họ bớt tiền. Ghe chèo đến tàu cao tốc, tôi và Yến nhanh nhẹn lách qua vài người đứng ở bên ngoài để bước xuống khoang hầm và vào đúng chỗ ngồi của mình. Xếp các gói hành lý dưới chân ghế xong xuôi, ngồi với Yến một lát thì tôi muốn ra bên ngoài để nhìn cảnh bến cảng Tanjung Pinang thêm một lần nữa trước khi trời tối hẳn. Biết đâu mình sẽ không có dịp đến lại nơi này lần thứ ba, tôi nhủ thầm. 

Trong cái nhá nhem mầu xám bạc của trời chiều, bến tàu Tanjung Pinang vẫn những con đò chèo tay, đò gắn máy chở người chạy ngược xuôi đây đó. Xa xa vài chiếc tàu sắt lớn trôi chậm rì trên hướng ra vùng nước biển rộng trong làn hơi mờ mờ từ mặt nước bốc lên. Ngắm phong cảnh trông thật giống ở bến phà Thủ Thiêm nối liền hai bờ đông-tây của sông Sài Gòn làm tôi chợt nhớ đến gia đình, đến mẹ, các em gái và quê nhà. Tôi đang là một Thôi Hiệu của quê hương khuất bóng và khói sóng trên sông đây.
Hơi nước từ mặt biển thốc lên mang theo mùi hôi như khi sáng làm tôi nhớ lại các bến tàu chân mình đã từng qua. Cái mùi đặc biệt của bến tàu Tanjung Pinang này tương tự như ở bến cảng Kompong Som, bến đò Tắc Cà Mau bên Kampuchia trong chuyến vượt biên lần trước và ở bến đò Thủ Thiêm, nơi tôi đã vài lần ngồi trên ghe máy để sang vùng Khánh Hội nằm bên kia sông Sài Gòn. Các bến đò, bến cảng tít mù khuất lấp đó đang lần lượt về lại trong tâm trí tôi như một đoạn phim ký ức. Dõi mắt nhìn các tòa cao ốc phía trên bờ đảo với các ô cửa sổ có cái sáng đèn, cái không và những cánh trắng chim hải âu chao lên đảo xuống trong vùng xám của mặt biển trời chiều mà hồn thì thả về quê nhà xa lơ xa lắc nơi các thân nhân tôi đang sống. Khuôn mặt già nua của mẹ tôi với mái tóc bạc trắng, làn da nhăn nheo và nụ cười mỗi khi bà gặp mặt người thân. Rồi còn các cô em gái trong nhà, những thân thuộc trong họ và cả bạn bè nữa... Tôi đứng yên lặng thẫn thờ, u hoài.

Một bàn tay khẽ đặt nhẹ trên vai làm tôi quay về khung cảnh hiện tại. Nhìn lại thì ra anh Khảm, tôi lắp bắp:

- Anh! Trông cảnh ở đây tự nhiên em thấy buồn…

Chưa nói hết câu thì anh Khảm đã ngắt lời tôi:

- Anh cũng vậy, chắc đây là chuyến đi lần chót của anh và Phượng. Không biết đến bao giờ trong đời sẽ có dịp gặp lại.

- Gặp lại đây, đảo Tanjung Pinang này?. Tôi hỏi anh.

- Không! Phượng ấy chứ. Vài tháng nữa tới chuyến định cư rồi, anh thì Mỹ còn cô ấy đi Úc... Biết bao giờ gặp lại? Giọng anh Khảm nho nhỏ khi lập lại câu nói. 

Trời hỡi! Thuyền nhân sống tạm dung ở trại tị nạn ai nấy chỉ mong cho mau tới ngày có list đi định cư để làm lại cuộc đời mới, sẽ khác hẳn trước giờ. Tôi tưởng anh Khảm buồn vì đứng trước cảnh sông nước quê người mà động lòng đến quê hương trong nỗi nhớ nhà, nhớ gia đình. Nào ngờ, anh buồn vì biết sắp phải chia tay với chị Phượng. Buồn! Rõ ràng... vì chính miệng anh vừa thổ lộ như lời ai oán. Anh đã quên người vợ anh cùng 2 đứa con nhỏ bên quê nhà? Ở đây chỉ là trại tị nạn, nơi sống tạm ở nhờ của thuyền nhân, nước thứ ba chính là quê hương mới của chúng ta. Anh Khảm từng nói vậy với đám học trò trong các buổi dạy Anh ngữ mà sao bây giờ lại thế. Lậm chị Phượng quá rồi anh... bớt lụy chút chút đi. Tôi định buông vài câu nói thì kịp thời trấn tĩnh khi nhìn vào khuôn mặt anh như có chút nước lấp lánh nơi khóe mắt. Tôi thở nhẹ, im lặng vì đã hiểu. Tình đã sâu, đã nặng thì dễ gì người ta quên ngay được những ngày sống tạm dung bên nhau ở đây. 


                                       (còn tiếp)