Tổng số lượt xem trang

Thứ Sáu, 1 tháng 8, 2014

PHẠM THẮNG VŨ : Con sóng dữ - KỲ 22



                                    (tiếp theo)

Tôi, Bẩy và Đào cầm túi xách bước theo chân anh Hai Nghệ ra phòng khách, khép nép ngồi xuống ghế bên chiếc bàn gỗ mặt đá rửa mầu xanh ngọc thạch hình chữ nhật trước cái tủ thờ. Ông bà Ba chủ nhà, vẻ mặt hiền lành ngồi không xa ở bộ ván ngựa lên nước láng bóng. Tôi nhìn sơ căn phòng. Bộ lư đồng cùng hai chân nến xỉn màu đặt trên nóc tủ thờ. Một lư sành nhỏ chi chít chân nhanh nằm trước các khung hình người quá cố. Trên cao sát với mái ngói, hai trang thờ phủ kín vải đỏ. Không có hình Phật Thích Ca hay tượng Phật Bà trong nhà. Nhìn qua các cột gỗ, tôi sững người khi thấy các tấm biển tổ quốc ghi công với chữ ký của gã thủ tướng Phạm Văn Đồng cạnh dấu tròn đỏ. Kín đáo liếc nhìn ông bà Ba, nhủ thầm mình đang ở trong nhà một gia đình cách mạng. Quay nhìn mé sau lưng, vài bảng nhỏ huân chương kháng chiến hạng hai, hạng ba treo trên vách nhà. Tôi đâm sợ vì các tấm biển ghi công, huân chương nhưng lại bớt lo. Gia đình cách mạng nằm trong đường dây tổ chức, chuyến vượt biên sẽ an toàn. Đón rồi ém ba chúng tôi trong nhà, ông bà Ba làm y như trước đây với cán bộ Việt Cộng khi còn hoạt động. Niềm tin vào chủ thuyết cộng sản chỉ còn trên giấy và trong khẩu hiệu. Tôi mỉm cười vì ý nghĩ trong lòng, chợt nghe anh Hai Nghệ nói:

- Mình đi bằng ta xi đến điểm hẹn tối khuya nay. Khi đủ khách, cá lớn chạy khoảng 4 tiếng đồng hồ thì sẽ gặp biển.

- Bốn tiếng đồng hồ gặp được biển. Sao nhanh giữ vậy anh? Tôi hỏi.

- Đây với biển gần lắm mấy em. Anh Hai Nghệ trả lời.

- Các cháu có tắm rửa, thay đồ gì thì làm ngay bây giờ chứ để xuống dưới ghe rồi đi mấy ngày mới tới bển khó chịu lắm. Bà Ba chen vào.

Hai Nghệ ra bên ngoài nhà xách thêm nước đổ vào lu trong buồng tắm cho ba người chúng tôi. Hai cô gái lần lượt đi tắm trước để mình tôi ngồi với hai ông bà. Ông Ba cho biết trong vùng chỗ nào cũng gặp kênh rạch cùng nhà cửa cất sát bên cạnh. Đi đâu một bước phải dùng xuồng hay ghe. Nhà dù giàu hay nghèo cũng phải có cái xuồng, chiếc ghe để làm chân đi. Ai không có ghe có xuống rất bất tiện. Ghe xuồng ở đây như xe gắn máy hai bánh của dân thành phố. Hỏi về các tấm biển tổ quốc ghi công hoặc huân chương kháng chiến, bà Ba nói của hai người con một nam một nữ đã chết từ lâu. Cô gái út còn sống là vợ anh Hai Nghệ. Điều tôi không ngờ, anh Hai Nghệ đi lính Sư đoàn 7 Bộ binh VNCH. Nhiều gia đình tại Việt Nam có tình trạng tréo ngoe tương tự. Người ở bên phía miền Nam VNCH, người đi theo phe Việt Cộng.

- Anh Hai lính chế độ cũ hả bác? Anh có đi chuyến tối nay không? Tôi hỏi ông Ba.

- Nó muốn đi lúc nào mà không được cháu, nhưng nó nói tiếng Tây tiếng U không biết sang đó làm giống gì ăn. Cháu coi, đi đâu cũng phải làm mà ở đây sống dễ chịu quá nên vượt biên làm chi. Lại nữa, nó nói bây giờ bắt đầu có tuổi rồi còn ham hố gì. Ông Ba cười nụ, trả lời.

Thiệt tình! Người muốn vượt biên lúc nào cũng có dịp lại không thèm, người tìm đủ cách vẫn không ra. Thậm chí có người bị lừa mất vàng, bị bắt còn chưa sờ tay được vào thân cá lớn nữa.

Hai Nghệ châm thêm nước xong, hối tôi đi tắm. Những giọt nước mát xối lên người cho tôi một cảm giác khoan khoái dễ chịu vô cùng. Tôi thử hớp một ngụm nước, nó có vị lờ lợ nhưng cũng rửa sạch lớp cặn mồ hôi bám lên tóc lên người trong suốt thời gian rời khỏi nhà người cậu ruột cho tới giờ. Tắm xong, tôi giặt vội bộ quần áo và đem phơi nó trên hàng dây bên hông tường. Gió từ hướng vườn cây đằng sau nhà thổi rất mạnh. Gió cùng hơi nóng buổi chiều sẽ làm bộ quần áo mau khô để tôi mang theo tối khuya nay. Đằng sau căn nhà ông bà Ba, chục khạp mầu nâu hình quả dừa chứa nước mưa để uống để nấu ăn được đậy kín miệng nằm dưới chòi lá. Nước sinh hoạt tắm giặt, gia đình ông bà Ba lấy từ con rạch gần nhà. Cơn triều lên, họ kín nước đổ đầy lu, phi sắt rồi đánh phèn làm trong trước khi dùng. Sau chòi lá, hàng cây ăn trái xum xuê cùng các bụi chuối thấp thoáng. Điệu lý cải lương réo rắt từ máy cassette xa xa vọng lại lúc nhỏ lúc to trong tiếng gió. Vùng đồng quê miền sông nước thật êm ả, bình dị khác với vùng Hố Nai ồn ào chỗ nhà cậu mợ tôi. Giờ này chắc mẹ tôi đã về nhà dưới Sài Gòn. Lúc còn ở nhà cậu mợ, bà kể gã thanh niên trẻ chạy xe đến đón đã chưng hửng khi nghe nói có người ghé nhà chở tôi đi khỏi không lâu. Nghe vậy, gã thanh niên vọt xe máy chạy liền và chiều hôm đó quay lại nhà tôi với một công an khác. Hai gã hỏi người trong gia đình về chuyện đón tôi đi lúc trưa. Mẹ tôi đành phải xí gạt, nói hoàn toàn không biết gì thêm. Dò la mãi không ra manh mối, hai gã công an hậm hực bỏ đi. Em gái tôi cho biết thằng Minh vẫn biệt tăm tích chưa về.

Người dân sống trong vùng sông nước ở đây trồng nhiều loại cây ăn trái như cam, mãng cầu, ổi, mít, xoài, chuối... và loại trái nào cũng ăn rất ngọt. Dọc đường đi, tôi đã qua các vườn cây rậm rạp, trù phú nhưng thấy chỉ có dừa được trồng nhiều nhất. Đủ loại dừa từ loại dừa lửa nhỏ trái, dừa bị xanh to hoặc dừa xiêm vừa vừa cho nước uống ngọt thanh. Dừa nhiều, dân trong vùng làm thành kẹo dẻo ăn rất ngon. Trời tối hẳn, bà Ba dọn cơm ra bàn cùng ăn chung với ba chúng tôi bữa tối cuối cùng ở nhà. Kinh nghiệm từ các chuyến đi vượt biên, tôi không dám ăn no trước khi xuống ghe. Đào, Bẩy cũng sợ say sóng sẽ ói nên chỉ lùa vài miếng qua loa. Bữa cơm chấm dứt mau lẹ, bà Ba dọn dẹp rồi mang nước lá dứa nóng và kẹo dừa ra bàn. Anh Hai Nghệ ghé miệng vào sát ngọn đèn dầu hỏa, bập vài hơi mồi lửa điếu thuốc rê rồi nói:

- Bây giờ mấy đứa có buồn ngủ thì ngủ ngay đi còn không ngồi chơi với tía má anh. Có kẹo ngọt nước nóng cứ nhâm nhi cho vui miệng. Anh đi liên lạc xem đưa đón ra sao khuya nay.

Ba người chúng tôi vẫn ngồi yên chỗ, sắp xuống taxi có ai ngủ được. Đào, Bẩy mặc bộ quần áo mầu đen cho tiệp với bóng đêm, tôi thì bộ đồ công nhân xanh cũ. Trong ánh đèn dầu vàng mờ, chúng tôi quây quần như người cùng một gia đình trò chuyện sau bữa cơm tối. Bà Ba thỉnh thoảng châm thêm nước cho mọi người uống, xởi lởi: 

- Từ đây ra ngoài vàm không xa đâu. Lên được ghe lớn rồi chịu cực vài bữa mấy cháu tới bển liền. 

Ông Ba hỏi thăm về gia đình tôi ở Sài Gòn. Từ hôm trú ẩn trong căn buồng gói cho tới giờ mới có dịp ngồi cạnh ông, tôi muốn hỏi nhiều việc để biết. Vùng này gần biển, dân cư đã sống từ lâu hay mới về lập vườn lúc gần đây. Không biết thời còn chiến tranh có ai sống đây không hay chỉ thuần một vùng đất hoang? Nhìn các tấm ảnh thờ trên tủ và những tấm biển ghi công huân chương, tự nhiên tôi tò mò:

- Hai người này chết chắc lâu? Gia đình bác liệt sĩ cách mạng hả?

Nghe câu tôi hỏi, ông Ba nhăn mặt im lặng, bà Ba cũng ngưng chuyện dở dang với hai cô gái và khẽ liếc mắt nhìn tôi. Thấy cử chỉ của hai ông bà, tôi chột dạ thầm nghĩ mình vụng về đã làm hỏng bầu không khí đang vui. Tôi vội lập bập với ông:

- Cháu lỡ lời làm bác giận, xin bác...

- Đừng hỏi chuyện ngày xưa nữa mậy. Gia đình tao dám chứa tụi bây vượt biên thì cũng đủ hiểu rồi mà còn bá láp. Mầy làm tao ghét quá! Thằng Bắc Kỳ con. Ông Ba khoát tay, đột ngột đổi cách xưng hô. 

Nói xong câu, ông hầm hầm ngồi yên và xoay mặt nhìn qua chỗ khác. Tôi thật dở ẹt khi hỏi kiểu điều tra về chuyện riêng gia đình làm ông Ba hiểu lầm, đành luống cuống ngồi im. Đào và Bẩy không biết rõ chuyện nhưng kín đáo nhìn tôi với ánh mắt trách cứ. Không khí im lặng ngột ngạt, tôi chưa biết phải làm gì chợt bà Ba xen vào:

- Ông này, có gì chấp nhứt mấy đứa cho mất vui. Lại còn Bắc Kỳ với Nam Kỳ nữa! 

Dứt câu bà cười xòa nhìn cả ba chúng tôi đầy thân thiện, thông cảm. Ông Ba không nói một lời, đứng lên bỏ đi vào trong buồng riêng. Tôi liền xin phép bà Ba đi nằm nghỉ ở bộ ván ngựa. Đào, Bẩy tản ra lấy giỏ sách rồi sắp xếp lại quần áo cùng vật dụng bên trong. Nằm trên bộ ván, tôi nhắm mắt vờ ngủ nhưng mong chuyến taxi mau đến. Đồng hồ trên tay đã 8:17 tối.

Gần tiếng đồng hồ sau thì anh Hai Nghệ về tới và hối ba chúng tôi theo chân đi ngay. Bà Ba ở lại coi nhà, cả bọn cùng kéo nhau ra bên ngoài. Xuyên qua các tàn lá cây trong vườn, bầu trời trên cao vắng lặng đầy sao không một gợn mây. Anh Hai Nghệ cầm đèn pin đi trước dẫn đường, gió thổi nhẹ lay động những tàu lá chuối cùng các cành của bụi cây thấp. Chúng tôi băng qua vườn cây cùng những con mương nhỏ dẫn nước đến chỗ taxi là chiếc xuồng ba lá đang nằm chờ sẵn dưới hàng dừa cạnh một con rạch. Hai cô gái bước xuống xuồng, tôi đứng lại từ giã anh Hai Nghệ. Quay qua ông Ba, tôi ấp úng xin lỗi về chuyện lỡ lời làm ông giận khiến anh Hai Nghệ ngạc nhiên nhìn trân trối. Nghe tôi nói, ông Ba cười độ lượng, nắm chặt tay ân cần:

- Cháu đừng bận tâm chuyện đó nữa, bác cũng nóng giờ đã quên hết. Thằng Hai gốc lính Cộng Hoà còn làm rể trong nhà thì cháu phải hiểu gia đình bác. Chúc cháu với hai cô tối nay đi đường bình an. 

Tôi ngồi vào giữa xuồng đối mặt với cô Bảy đằng trước và cô Đào sau lưng. Hai người đàn ông chèo xuồng dặn cả ba tuyệt đối ngồi yên, giữ im lặng. Xuồng bắt đầu tiến nhè nhẹ giữa hai bờ rạch tối đen, cây cối lùm xùm. Quen đường đi nước bước, hai người phu dễ dàng chèo chiếc xuồng ra khỏi con rạch và nhập vào dòng kênh rộng hơn. Cứ vậy, xuồng ba lá chạy gần một giờ thì gặp sông lớn. Trăng lờ mờ hiện ra ở đường chân trời. Gió xuôi cùng con nước ròng giúp hai người phu chèo xuồng thật nhanh thật nhẹ. Nước chảy rất xiết nên xuồng chỉ dám chạy sát bờ trong làn hơi nước từ mặt sông hòa với gió thổi mát lạnh. Nhìn mặt nước rộng, tôi không thấy được phía bờ đối diện và cũng không rõ đang ở trên sông nào? Khi chia tay ở xa cảng miền Tây, em gái tôi cho biết có thể cá lớn sẽ ra biển bằng ngã Bình Đại nhưng lại không chắc. Đám tổ chức đã chở tôi vượt qua Mỏ Cày trước khi xuống tới Rạch Dầu-Thạnh Phú. Từ đây muốn đến Bình Đại phải qua Giồng Trôm và như vậy tôi phải ở phía bên kia sông lớn. Hồi còn học giờ địa lý bậc trung học, tôi nhớ Bến Tre thông ra biển bằng các cửa sông Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên và cửa Đại. Học từ lâu nay đã quên hết, định buột miệng hỏi hai người phu nhưng nhớ lời họ đã dặn nên tôi ngồi im. Cửa sông nào cũng được, miễn sao cá lớn ra biển an toàn, tôi nhủ thầm. Ngồi yên lại nhớ chuyến đi không thành vừa qua, nhớ về mẹ tôi cùng các cô em gái trong nhà. Nhớ những lúc ngủ ngồi gà gật liền mấy ngày trong căn buồng đầy rệp đói và chuyện vô tình khiến cho ông Ba hiểu lầm. Thường thì người hiền lành ít nói như ông Ba lại có tính rất cục, lẽ ra tôi không nên hỏi vớ vẩn với ông. Đột nhiên tôi nhớ mình đã bỏ quên bộ quần áo giặt sạch phơi bên hông nhà hồi lúc chiều.


                          (còn nữa)

2 nhận xét:

  1. Piece of writing writing is also a excitement, if you be familiar with afterward you can write
    or else it is difficult to write.

    Feel free to surf to my blog dog flipping - jjungduk.net -

    Trả lờiXóa
  2. You're so interesting! I do not believe I have read something like
    that before. So wonderful to discover somebody with unique thoughts on this issue.
    Seriously.. thank you ffor starting this up. This web site is one thbing
    that's needed on the internet, someone with a little
    originality!

    Visit my webpage ... knights And dragons Cheat

    Trả lờiXóa