(tiếp theo)
Rõ
ràng, cơn mưa đột ngột đã vô tình giúp cho cá lớn thoát tay hải tặc và việc đàn
em Tám Kiệt bỏ quên túi vũ khí cũng một điều may cho cá lớn cũng như cho cả hai
con tàu Thái. Hai phía đã tránh được một đối đầu tàn khốc. Ai nấy đồng ý thêm
một điều giúp cá lớn chạy thoát là có máy ghe quá tốt. Từ lúc khởi hành tới giờ
chỉ ngưng máy một lần ngắn ngủi, thời gian còn lại chạy suốt mà tiếng nổ vẫn
dòn vẫn êm. Tài công Thuận tỉnh dậy đã vào thay cho Tám Kiệt đi nghỉ. Trời bắt
đầu về chiều, gió thổi mạnh làm mặt nước biển sao động thành những cơn sóng.
Mỗi khi chiều xuống, mặt trời vừa tắt bóng thì gió biển bắt đầu thổi mạnh liền.
Gió thổi càng mạnh, cơn sóng càng lớn thay nhau nhồi lắc thân cá lớn. Những lúc
đó, cảm giác say sóng làm cơ thể mệt nhoài trở về với nhiều người trên ghe. Chỉ
đến khuya thì trời bớt gió bớt sóng, mọi người khi đó mới dễ chịu hơn và hầu
như ai cũng lăn ra ngủ để hồi phục sức lực cho đến lúc bình minh ló dạng. Mặt
biển sẽ hoàn toàn êm ả trong ánh nắng ban mai của một ngày mới.
Trời tối dần rồi một đêm êm ả trôi qua, cá lớn vẫn không gặp bất kỳ chiếc tàu chiếc ghe nào khác trên mặt biển bao la. Trưa đứng bóng, Tám Kiệt cùng đám tay chân chụm đầu bàn chuyện riêng mà mặt cả đám lộ vẻ lo âu. Tám Kiệt cùng vài người trong nhóm tác chiến theo ông leo lên nóc buồng lái. Trên mặt ván bằng phẳng, Tám Kiệt trải tấm hải đồ khu vực biển tiếp giáp giữa vùng cực nam Việt Nam với nam Thái Lan và Malaysia rồi y nói với những người chúng tôi vây chung quanh:
- Ghe chúng ta đã đi lạc, tui nghĩ chắc chắn vậy. Bây giờ thực sự tụi tui không biết phải làm sao vì nếu cứ chạy ghe lòng vòng mãi rồi sẽ đến lúc hết dầu, mong các anh em góp ý cho đám tổ chức tụi tui.
Tám Kiệt cho biết vì phải đổi hướng chạy liên tục từ lúc gặp tàu hải tặc và sau cơn mưa nên cá lớn đã không theo đúng hải trình như hồi đầu. Nhìn trời bao la không một bóng chim và mầu nước biển xanh đen thẫm, chẳng nói thì ai cũng biết cá lớn hiện đang ở trong vùng biển rất xa với đất liền.
- Lẽ ra theo tính toán thì ghe chúng ta đã phải gặp các dàn khoan dầu Mã Lai từ ngày hôm qua. Chỉ vào tấm hải đồ, Tám Kiệt tiếp: " Tụi tui không biết ghe mình đang ở đâu trong vùng lãnh hải này? Các anh từng ở trong quân đội, thử nghiên cứu xem có cách nào giúp cho cả ghe ".
Cá lớn tuy có hải bàn, hải đồ và tài công chạy ghe giỏi nhưng đâu phải là hoa tiêu tàu hải quân viễn duyên chuyên nghiệp. Ông tên Hưng, cựu lính trinh sát sư đoàn 7 bộ binh miền Nam VNCH nhìn Tám Kiệt và hết thẩy chúng tôi, nói:
- Hồi trước mỗi lần đi công tác trong mật khu Việt Cộng, tụi tui từng dùng địa bàn định phương hướng và vị trí đứng trên mặt đất liên tục để khi xong nhiệm vụ hoặc lỡ khi bị bọn nó phát giác thì gọi trực thăng UH đến bốc cả toán ra khỏi vùng địch ngay. Khi đó thì có mang theo bản đồ với tỷ lệ xích rất rõ nên việc xác định tọa độ không khó. Ngoài địa bàn và bản đồ, tụi tui còn dựa vào mỏm núi hoặc con suối hay cây to trong vùng để biết chính xác vị trí. Còn bây giờ... Người cựu binh ngập ngừng: " Cái này... chắc tui chịu anh Tám à ".
- Tàu hải quân viễn duyên ngoài hải bàn, hải đồ hướng dẫn thì họ còn có các dụng cụ khác như kính lục phân đo chiều cao bóng mặt trời và tầm xa đường chân trời khi muốn biết tàu của họ đang ở toạ độ nào giữa kinh tuyến, vĩ tuyến trên mặt biển. Thêm vào đó, họ còn phải có niên giám hàng hải cập nhật hàng năm để đối chiếu các dịch chuyển của dòng nước biển nữa. Muốn biết chính xác hơn, các sĩ quan hoa tiêu trên tàu còn phải tính toán cả độ dời sóng. Phải dùng compa, thước kẻ đo đạc và tính toán ngay trên hải đồ. Trời! Chuyện này khó lắm các ông. Một người nói giọng miền Bắc khoát tay phân bua.
Thật đúng, biết được chính xác vị trí ghe tàu trên mặt biển bao la đâu phải một chuyện dễ dàng với những người không phải dân hải quân chuyên nghiệp như Tám Kiệt cùng đám đàn em.
Chúng tôi ngó tấm hải đồ rồi nhìn nhau, lắc đầu xác nhận bó tay. Tám Kiệt lập lại nỗi lo của y khi cho biết dầu diesel chạy máy chỉ còn khoảng trăm lít, cá lớn cứ chạy lòng vòng không phương hướng mãi thì rồi sẽ đến lúc cạn dầu phải ngừng và khi đó sẽ phải thả trôi vô định trên biển. Thấy cả bọn chúng tôi không ai góp tiếng, Tám Kiệt bồi tiếp:
- Nước uống trong phi nhựa cũng sắp cạn, đâu ngờ mình lại chạy lạc như vậy. Không có đồ ăn còn cầm cự được vài ngày nhưng cạn nước uống thì sẽ có người chết ngay. Tui lo nhất là mấy đứa trẻ, các anh em không giúp được thì đành trông vào tàu nước ngoài, may ra gặp được.
Đi vượt biên ai cũng sợ ghe đi lạc ngoài chuyện gặp hải tặc hoặc bão tố, chúng tôi buồn lo vì bó tay không giúp được chuyện Tám Kiệt cần. Tám Kiệt lệnh cho một thanh niên trong nhóm ông ở lại nóc ghe dùng ống nhòm theo dõi mặt biển chung quanh. Xong, ông cùng cả bọn chúng tôi leo xuống trở lại sàn ghe. Cá lớn giờ đây chỉ chạy tốc độ cầm chừng, ai cũng mong gặp được tàu viễn duyên và nếu họ vớt hết người chúng tôi thì quá tốt. Nếu không được như vậy, ít ra cũng sẽ có thêm nước, thực phẩm cùng dầu diesel chạy máy. Ngoài ra, điều quan trọng nhất là chúng tôi sẽ biết vị trí cá lớn ở đâu trên mặt biển và hiện đang cách đất liền bao xa.
Nắng dịu dần và gió bắt đầu thổi mạnh từng cơn khi trời bắt đầu gần chiều. Chợt anh thanh niên trên nóc ghe thò đầu xuống, thảng thốt báo tin: " Anh Tám ơi! Có tàu lớn phía sau ghe mình, ở hướng 8 giờ đó ".
Tám Kiệt cùng cả bọn chúng tôi vội trèo lên nóc ghe trở lại và lần lượt chuyền tay nhau cái ống nhòm để xem. Một chiếc tàu lớn mầu trắng chạy tuốt đằng xa và chờ khi nó đến khá gần cá lớn thì Tám Kiệt ngồi chồm hổm cúi đầu xuống buồng lái, nói lớn:
- Thuận. Thuận ơi! Tạm ngừng máy đi mậy... thả trôi ghe xem sao.
Chúng tôi đứng hết cả lên, hồi hộp nhìn con tàu lạ càng lúc càng rõ. Nó đang đến gần ghe chúng tôi đây. Một con tàu viễn duyên to như ngôi nhà lớn sơn mầu kem trắng lừng lững lướt qua trong ánh mắt theo dõi, trầm trồ của tất cả người đứng người ngồi trên cá lớn. Nhưng! Suốt dọc theo thân tàu, trên hàng barrie an toàn ở các khoang và cả trong cabin cửa kiếng trong vắt, chúng tôi không thấy một bóng người lai vãng. Con tàu này trông khác với hình ảnh thường thấy ở chỗ nó có bốn cái bồn tròn khổng lồ chiếm hết mặt khoang. Tiếng la tiếng hét cùng những cánh tay vẫy từ người ở nóc ghe, trên mặt sàn... mong có ai đó trên tàu viễn duyên thấy mà ngừng lại nhưng con tàu khổng lồ vẫn êm ả lướt nhanh làm như các hoa tiêu đã xếp đặt máy móc để nó chạy tự động. Chúng tôi tuyệt vọng nhìn vét đuôi con tàu đang dần dần trôi xa. Ai cũng cảm thấy chán nản, mệt mỏi vì con tàu viễn duyên... vô tình. Một người trong đám tay chân Tám Kiệt bực bội, hỏi đổng :
- Sao nó không ngừng lại ta? Kỳ vậy! Bộ bọn người trên tàu đó đi ngủ hết cả rồi chắc?
- Tàu nước nào mà không thấy treo cờ gì cả, phải chi mình có súng bắn hỏa pháo lên để họ biết. Một người đàn ông bảo.
Con tàu chạy đã thật xa, mọi người trên nóc ghe thất vọng, từ từ ngồi xuống trở lại. Thuận ở dưới buồng lái hỏi vọng lên: " Mình chạy theo đuôi nó hả anh Tám? Em nghĩ cứ bám đằng sau thì thế nào cũng gặp hải cảng hà ".
Ý kiến thật hay! Tám Kiệt đã cố tình cho tắt máy ghe, hy vọng con tàu trông thấy may ra sẽ dừng lại giúp nhưng nó bỏ đi thẳng vậy thì mình phải chạy theo nó. Bám theo, chúng tôi rồi sẽ tìm được đất liền vì tàu hàng viễn duyên nào cũng phải ghé vào một hải cảng. Tám Kiệt gật đầu, trả lời đồng ý. Thuận vừa cho máy ghe nổ ròn rã và chuẩn bị vào số để chạy thì có tiếng nói của ai đó: " Ê! Bà con! Tàu nó quay đầu lại kìa ". Chúng tôi lại nhìn về con tàu viễn duyên đó. Đúng vậy! Nó đánh một vòng cua rồi quay mũi chạy ngược thẳng về phía chúng tôi. Tám Kiệt thấy vậy vội nói lớn:
- Tắt máy đi, nó quay lại kìa. Tắt ngay đi... Thuận.
Tiếng máy của cá lớn lại tắt phụt, chúng tôi hồi hộp nhìn con tàu. Khi chạy đến gần, con tàu kéo một hồi còi rền vang như gửi lời chào rồi nó giảm bớt tốc độ, từ từ đánh một vòng chung quanh cá lớn và sau cùng dừng hẳn lại. Một nhúm 6, 7 người đứng lố nhố bên nhau sát cạnh hàng song sắt barrie gần một cabin cao vút. Một người trong số họ cầm cái loa pin trong tay, nói bằng Anh ngữ vang vang:
- Các bạn biết nói tiếng Anh không?
Tiếng trả lời có thật lớn cùng một lúc vọng vang từ ghe chúng tôi. Người cầm loa tay đó cho biết không thể vớt chúng tôi được vì trên tàu chở hoá chất nguy hiểm nhưng họ sẽ giúp thực phẩm và nước uống. Nghe họ báo, tôi nhìn kỹ 4 cái bồn tròn khổng lồ, đoán hóa chất chắc chứa bên trong đây. Hèn gì mà họ không thể giúp. Rồi, người cầm loa tay hỏi có cần thêm những thứ gì khác, chúng tôi nói cần dầu diesel chạy máy. Liền sau đó, vài thùng thực phẩm, nước lọc và các can nhựa đựng dầu diesel được con tàu viễn duyên vất thẳng xuống mặt biển. Trước khi bỏ đi, người cầm loa tay cho biết tàu họ đang trên đường đến cảng Kelang của Malaysia. Nghe vậy, chúng tôi vội hỏi cảng Kelang khoảng cách bao xa, ở đâu thì được họ trả lời độ 2 giờ đồng hồ đi biển cùng hướng mà cá lớn phải đi.
Chúng tôi cho nổ máy ghe trở lại và chạy tìm vớt các thùng hàng các can nhựa của chiếc tàu vừa giúp. Hai thùng giấy bọc nhựa kín chứa bánh ngọt loại cracker, mì gói ăn liền và ba thùng nước lọc đóng trong các chai nhựa nhỏ. Ba can nhựa chứa tổng cộng khoảng 90 lít dầu diesel. Bánh cracker và mì gói được chia đều cho mọi người nhấm nháp ăn liền tức khắc. Vỏ các gói thức ăn in bằng tiếng Anh và một ngôn ngữ lạ không phải tiếng Tàu hay tiếng Nhật. Nhưng khi đọc thấy hàng chữ nhỏ xíu Made in the Democratic People's Republic of Korea trên một gói mì sợi thì ai nấy hết hồn. Vài năm trước đã có vụ ghe vượt biên gặp tàu Liên Xô vớt tưởng đã an toàn nào ngờ tàu Liên Xô đó vừa từ Việt Nam ra. Vớt người vượt biên xong, tàu Liên Xô đã quay mũi trở lại cảng Vũng Tàu và giao nộp toàn bộ người trên ghe cho công an Việt Cộng. Tàu Bắc Hàn này lại khác với chuyện về tàu Liên Xô bắt người vượt biên năm xưa mà cũng có thể vì cá lớn chúng tôi đang trong vùng hải phận Malaysia nên họ mới hành xử như vậy. Thuận cho cá lớn chạy theo đuôi con tàu Bắc Hàn giờ chỉ là một chấm nhỏ nhưng không lâu nó cũng mất hút dưới đường chân trời. Nó chạy quá nhanh so với ghe chúng tôi nhưng không hề chi vì Tám Kiệt đã biết phương hướng rồi.
Không một ai trong chúng tôi biết cảng Kelang nằm ở đâu bên nước Malaysia. Làm chuyến vượt biên nhắm hướng Malaysia, thâm tâm Tám Kiệt và đám đàn em nghĩ sẽ dễ dàng đến được đảo tị nạn Bidong nhưng do đi lạc, giờ đây sẽ phải ghé vào cảng Kelang nên ai cũng lo lắng lẫn háo hức. Cảng Kelang này ra sao, cách đảo tị nạn Bidong bao xa? Hình ảnh bến Bạch Đằng cùng các cầu tàu vùng Khánh Hội lại trở về trong trí người gốc Sài Gòn như tôi, Kelang có giống như vậy không?
Nói chỉ 2 giờ đi biển thì sẽ gặp cảng Kelang vậy mà chúng tôi phải chạy ghe tới hơn 4 tiếng đồng hồ mới thấy được vầng sáng phản chiếu của một vùng đất liền khu vực gần cảng. Lúc này thì trời đã sâm sẩm tối rồi. Thấy đến được đất liền, ai nấy trên cá lớn đều mừng rỡ la hét rùm trời. Ngay cả những người nằm dưới khoang hầm cũng cố sức leo lên mặt sàn ghe để nhìn cho rõ. Chúng tôi sắp sửa đặt chân lên một vùng đất nước ngoài chỉ trong buổi tối nay hay sáng sớm ngày mai thôi. Chuyến vượt biên thành công, ai nấy đều nghĩ như vậy và nhìn nhau cười rạng rỡ. Thôi nhé, những ngày lao động chết người, cơn sốt rét rừng ở vùng kinh tế mới, đêm ngủ bất an vì sợ tiếng đập cửa xét nhà thình lình, ánh mắt cú vọ dò xét của công an khu vực... Tất cả, xin vĩnh biệt từ giờ phút này. Thật là mừng.
Tám Kiệt cho cá lớn chạy chầm chậm dọc theo bờ biển khá lâu nhưng vẫn không tìm được lối dẫn vào cảng Kelang dù thấy đường phố, đỉnh lầu các tòa nhà và các dome tròn nhà thờ đạo Hồi thấp thoáng xa xa sau các rặng cây xanh đen trong ánh sáng đèn chiếu đô thị. Vài ghe ngư dân địa phương chạy ngược chiều với cá lớn chúng tôi. Người trên các ghe đó lấy tay chỉ trỏ vào phía bờ biển phủ khói sóng như làn sương xám. Tám Kiệt rất muốn các ghe dân địa phương này ngừng lại để hỏi thăm nhưng họ bỏ chạy xa mất. Dọc bờ biển, nhiều chỗ là các vách đá cao làm chúng tôi sợ vướng đá ngầm ở gần nên không dám chạy thẳng ghe vào. Thấy trời càng lúc càng tối đen khó mà quan sát, Tám Kiệt lệnh cho Thuận kiếm chỗ an toàn, ngừng máy rồi buông neo để sáng hôm sau sẽ tính. Ai nấy rôm rả trò chuyện toàn về các tin vui rồi sau đó lăn ra ngủ ngon lành, một giấc ngủ thực sự an tâm kể từ lúc đặt chân lên cá lớn.
Trời tối dần rồi một đêm êm ả trôi qua, cá lớn vẫn không gặp bất kỳ chiếc tàu chiếc ghe nào khác trên mặt biển bao la. Trưa đứng bóng, Tám Kiệt cùng đám tay chân chụm đầu bàn chuyện riêng mà mặt cả đám lộ vẻ lo âu. Tám Kiệt cùng vài người trong nhóm tác chiến theo ông leo lên nóc buồng lái. Trên mặt ván bằng phẳng, Tám Kiệt trải tấm hải đồ khu vực biển tiếp giáp giữa vùng cực nam Việt Nam với nam Thái Lan và Malaysia rồi y nói với những người chúng tôi vây chung quanh:
- Ghe chúng ta đã đi lạc, tui nghĩ chắc chắn vậy. Bây giờ thực sự tụi tui không biết phải làm sao vì nếu cứ chạy ghe lòng vòng mãi rồi sẽ đến lúc hết dầu, mong các anh em góp ý cho đám tổ chức tụi tui.
Tám Kiệt cho biết vì phải đổi hướng chạy liên tục từ lúc gặp tàu hải tặc và sau cơn mưa nên cá lớn đã không theo đúng hải trình như hồi đầu. Nhìn trời bao la không một bóng chim và mầu nước biển xanh đen thẫm, chẳng nói thì ai cũng biết cá lớn hiện đang ở trong vùng biển rất xa với đất liền.
- Lẽ ra theo tính toán thì ghe chúng ta đã phải gặp các dàn khoan dầu Mã Lai từ ngày hôm qua. Chỉ vào tấm hải đồ, Tám Kiệt tiếp: " Tụi tui không biết ghe mình đang ở đâu trong vùng lãnh hải này? Các anh từng ở trong quân đội, thử nghiên cứu xem có cách nào giúp cho cả ghe ".
Cá lớn tuy có hải bàn, hải đồ và tài công chạy ghe giỏi nhưng đâu phải là hoa tiêu tàu hải quân viễn duyên chuyên nghiệp. Ông tên Hưng, cựu lính trinh sát sư đoàn 7 bộ binh miền Nam VNCH nhìn Tám Kiệt và hết thẩy chúng tôi, nói:
- Hồi trước mỗi lần đi công tác trong mật khu Việt Cộng, tụi tui từng dùng địa bàn định phương hướng và vị trí đứng trên mặt đất liên tục để khi xong nhiệm vụ hoặc lỡ khi bị bọn nó phát giác thì gọi trực thăng UH đến bốc cả toán ra khỏi vùng địch ngay. Khi đó thì có mang theo bản đồ với tỷ lệ xích rất rõ nên việc xác định tọa độ không khó. Ngoài địa bàn và bản đồ, tụi tui còn dựa vào mỏm núi hoặc con suối hay cây to trong vùng để biết chính xác vị trí. Còn bây giờ... Người cựu binh ngập ngừng: " Cái này... chắc tui chịu anh Tám à ".
- Tàu hải quân viễn duyên ngoài hải bàn, hải đồ hướng dẫn thì họ còn có các dụng cụ khác như kính lục phân đo chiều cao bóng mặt trời và tầm xa đường chân trời khi muốn biết tàu của họ đang ở toạ độ nào giữa kinh tuyến, vĩ tuyến trên mặt biển. Thêm vào đó, họ còn phải có niên giám hàng hải cập nhật hàng năm để đối chiếu các dịch chuyển của dòng nước biển nữa. Muốn biết chính xác hơn, các sĩ quan hoa tiêu trên tàu còn phải tính toán cả độ dời sóng. Phải dùng compa, thước kẻ đo đạc và tính toán ngay trên hải đồ. Trời! Chuyện này khó lắm các ông. Một người nói giọng miền Bắc khoát tay phân bua.
Thật đúng, biết được chính xác vị trí ghe tàu trên mặt biển bao la đâu phải một chuyện dễ dàng với những người không phải dân hải quân chuyên nghiệp như Tám Kiệt cùng đám đàn em.
Chúng tôi ngó tấm hải đồ rồi nhìn nhau, lắc đầu xác nhận bó tay. Tám Kiệt lập lại nỗi lo của y khi cho biết dầu diesel chạy máy chỉ còn khoảng trăm lít, cá lớn cứ chạy lòng vòng không phương hướng mãi thì rồi sẽ đến lúc cạn dầu phải ngừng và khi đó sẽ phải thả trôi vô định trên biển. Thấy cả bọn chúng tôi không ai góp tiếng, Tám Kiệt bồi tiếp:
- Nước uống trong phi nhựa cũng sắp cạn, đâu ngờ mình lại chạy lạc như vậy. Không có đồ ăn còn cầm cự được vài ngày nhưng cạn nước uống thì sẽ có người chết ngay. Tui lo nhất là mấy đứa trẻ, các anh em không giúp được thì đành trông vào tàu nước ngoài, may ra gặp được.
Đi vượt biên ai cũng sợ ghe đi lạc ngoài chuyện gặp hải tặc hoặc bão tố, chúng tôi buồn lo vì bó tay không giúp được chuyện Tám Kiệt cần. Tám Kiệt lệnh cho một thanh niên trong nhóm ông ở lại nóc ghe dùng ống nhòm theo dõi mặt biển chung quanh. Xong, ông cùng cả bọn chúng tôi leo xuống trở lại sàn ghe. Cá lớn giờ đây chỉ chạy tốc độ cầm chừng, ai cũng mong gặp được tàu viễn duyên và nếu họ vớt hết người chúng tôi thì quá tốt. Nếu không được như vậy, ít ra cũng sẽ có thêm nước, thực phẩm cùng dầu diesel chạy máy. Ngoài ra, điều quan trọng nhất là chúng tôi sẽ biết vị trí cá lớn ở đâu trên mặt biển và hiện đang cách đất liền bao xa.
Nắng dịu dần và gió bắt đầu thổi mạnh từng cơn khi trời bắt đầu gần chiều. Chợt anh thanh niên trên nóc ghe thò đầu xuống, thảng thốt báo tin: " Anh Tám ơi! Có tàu lớn phía sau ghe mình, ở hướng 8 giờ đó ".
Tám Kiệt cùng cả bọn chúng tôi vội trèo lên nóc ghe trở lại và lần lượt chuyền tay nhau cái ống nhòm để xem. Một chiếc tàu lớn mầu trắng chạy tuốt đằng xa và chờ khi nó đến khá gần cá lớn thì Tám Kiệt ngồi chồm hổm cúi đầu xuống buồng lái, nói lớn:
- Thuận. Thuận ơi! Tạm ngừng máy đi mậy... thả trôi ghe xem sao.
Chúng tôi đứng hết cả lên, hồi hộp nhìn con tàu lạ càng lúc càng rõ. Nó đang đến gần ghe chúng tôi đây. Một con tàu viễn duyên to như ngôi nhà lớn sơn mầu kem trắng lừng lững lướt qua trong ánh mắt theo dõi, trầm trồ của tất cả người đứng người ngồi trên cá lớn. Nhưng! Suốt dọc theo thân tàu, trên hàng barrie an toàn ở các khoang và cả trong cabin cửa kiếng trong vắt, chúng tôi không thấy một bóng người lai vãng. Con tàu này trông khác với hình ảnh thường thấy ở chỗ nó có bốn cái bồn tròn khổng lồ chiếm hết mặt khoang. Tiếng la tiếng hét cùng những cánh tay vẫy từ người ở nóc ghe, trên mặt sàn... mong có ai đó trên tàu viễn duyên thấy mà ngừng lại nhưng con tàu khổng lồ vẫn êm ả lướt nhanh làm như các hoa tiêu đã xếp đặt máy móc để nó chạy tự động. Chúng tôi tuyệt vọng nhìn vét đuôi con tàu đang dần dần trôi xa. Ai cũng cảm thấy chán nản, mệt mỏi vì con tàu viễn duyên... vô tình. Một người trong đám tay chân Tám Kiệt bực bội, hỏi đổng :
- Sao nó không ngừng lại ta? Kỳ vậy! Bộ bọn người trên tàu đó đi ngủ hết cả rồi chắc?
- Tàu nước nào mà không thấy treo cờ gì cả, phải chi mình có súng bắn hỏa pháo lên để họ biết. Một người đàn ông bảo.
Con tàu chạy đã thật xa, mọi người trên nóc ghe thất vọng, từ từ ngồi xuống trở lại. Thuận ở dưới buồng lái hỏi vọng lên: " Mình chạy theo đuôi nó hả anh Tám? Em nghĩ cứ bám đằng sau thì thế nào cũng gặp hải cảng hà ".
Ý kiến thật hay! Tám Kiệt đã cố tình cho tắt máy ghe, hy vọng con tàu trông thấy may ra sẽ dừng lại giúp nhưng nó bỏ đi thẳng vậy thì mình phải chạy theo nó. Bám theo, chúng tôi rồi sẽ tìm được đất liền vì tàu hàng viễn duyên nào cũng phải ghé vào một hải cảng. Tám Kiệt gật đầu, trả lời đồng ý. Thuận vừa cho máy ghe nổ ròn rã và chuẩn bị vào số để chạy thì có tiếng nói của ai đó: " Ê! Bà con! Tàu nó quay đầu lại kìa ". Chúng tôi lại nhìn về con tàu viễn duyên đó. Đúng vậy! Nó đánh một vòng cua rồi quay mũi chạy ngược thẳng về phía chúng tôi. Tám Kiệt thấy vậy vội nói lớn:
- Tắt máy đi, nó quay lại kìa. Tắt ngay đi... Thuận.
Tiếng máy của cá lớn lại tắt phụt, chúng tôi hồi hộp nhìn con tàu. Khi chạy đến gần, con tàu kéo một hồi còi rền vang như gửi lời chào rồi nó giảm bớt tốc độ, từ từ đánh một vòng chung quanh cá lớn và sau cùng dừng hẳn lại. Một nhúm 6, 7 người đứng lố nhố bên nhau sát cạnh hàng song sắt barrie gần một cabin cao vút. Một người trong số họ cầm cái loa pin trong tay, nói bằng Anh ngữ vang vang:
- Các bạn biết nói tiếng Anh không?
Tiếng trả lời có thật lớn cùng một lúc vọng vang từ ghe chúng tôi. Người cầm loa tay đó cho biết không thể vớt chúng tôi được vì trên tàu chở hoá chất nguy hiểm nhưng họ sẽ giúp thực phẩm và nước uống. Nghe họ báo, tôi nhìn kỹ 4 cái bồn tròn khổng lồ, đoán hóa chất chắc chứa bên trong đây. Hèn gì mà họ không thể giúp. Rồi, người cầm loa tay hỏi có cần thêm những thứ gì khác, chúng tôi nói cần dầu diesel chạy máy. Liền sau đó, vài thùng thực phẩm, nước lọc và các can nhựa đựng dầu diesel được con tàu viễn duyên vất thẳng xuống mặt biển. Trước khi bỏ đi, người cầm loa tay cho biết tàu họ đang trên đường đến cảng Kelang của Malaysia. Nghe vậy, chúng tôi vội hỏi cảng Kelang khoảng cách bao xa, ở đâu thì được họ trả lời độ 2 giờ đồng hồ đi biển cùng hướng mà cá lớn phải đi.
Chúng tôi cho nổ máy ghe trở lại và chạy tìm vớt các thùng hàng các can nhựa của chiếc tàu vừa giúp. Hai thùng giấy bọc nhựa kín chứa bánh ngọt loại cracker, mì gói ăn liền và ba thùng nước lọc đóng trong các chai nhựa nhỏ. Ba can nhựa chứa tổng cộng khoảng 90 lít dầu diesel. Bánh cracker và mì gói được chia đều cho mọi người nhấm nháp ăn liền tức khắc. Vỏ các gói thức ăn in bằng tiếng Anh và một ngôn ngữ lạ không phải tiếng Tàu hay tiếng Nhật. Nhưng khi đọc thấy hàng chữ nhỏ xíu Made in the Democratic People's Republic of Korea trên một gói mì sợi thì ai nấy hết hồn. Vài năm trước đã có vụ ghe vượt biên gặp tàu Liên Xô vớt tưởng đã an toàn nào ngờ tàu Liên Xô đó vừa từ Việt Nam ra. Vớt người vượt biên xong, tàu Liên Xô đã quay mũi trở lại cảng Vũng Tàu và giao nộp toàn bộ người trên ghe cho công an Việt Cộng. Tàu Bắc Hàn này lại khác với chuyện về tàu Liên Xô bắt người vượt biên năm xưa mà cũng có thể vì cá lớn chúng tôi đang trong vùng hải phận Malaysia nên họ mới hành xử như vậy. Thuận cho cá lớn chạy theo đuôi con tàu Bắc Hàn giờ chỉ là một chấm nhỏ nhưng không lâu nó cũng mất hút dưới đường chân trời. Nó chạy quá nhanh so với ghe chúng tôi nhưng không hề chi vì Tám Kiệt đã biết phương hướng rồi.
Không một ai trong chúng tôi biết cảng Kelang nằm ở đâu bên nước Malaysia. Làm chuyến vượt biên nhắm hướng Malaysia, thâm tâm Tám Kiệt và đám đàn em nghĩ sẽ dễ dàng đến được đảo tị nạn Bidong nhưng do đi lạc, giờ đây sẽ phải ghé vào cảng Kelang nên ai cũng lo lắng lẫn háo hức. Cảng Kelang này ra sao, cách đảo tị nạn Bidong bao xa? Hình ảnh bến Bạch Đằng cùng các cầu tàu vùng Khánh Hội lại trở về trong trí người gốc Sài Gòn như tôi, Kelang có giống như vậy không?
Nói chỉ 2 giờ đi biển thì sẽ gặp cảng Kelang vậy mà chúng tôi phải chạy ghe tới hơn 4 tiếng đồng hồ mới thấy được vầng sáng phản chiếu của một vùng đất liền khu vực gần cảng. Lúc này thì trời đã sâm sẩm tối rồi. Thấy đến được đất liền, ai nấy trên cá lớn đều mừng rỡ la hét rùm trời. Ngay cả những người nằm dưới khoang hầm cũng cố sức leo lên mặt sàn ghe để nhìn cho rõ. Chúng tôi sắp sửa đặt chân lên một vùng đất nước ngoài chỉ trong buổi tối nay hay sáng sớm ngày mai thôi. Chuyến vượt biên thành công, ai nấy đều nghĩ như vậy và nhìn nhau cười rạng rỡ. Thôi nhé, những ngày lao động chết người, cơn sốt rét rừng ở vùng kinh tế mới, đêm ngủ bất an vì sợ tiếng đập cửa xét nhà thình lình, ánh mắt cú vọ dò xét của công an khu vực... Tất cả, xin vĩnh biệt từ giờ phút này. Thật là mừng.
Tám Kiệt cho cá lớn chạy chầm chậm dọc theo bờ biển khá lâu nhưng vẫn không tìm được lối dẫn vào cảng Kelang dù thấy đường phố, đỉnh lầu các tòa nhà và các dome tròn nhà thờ đạo Hồi thấp thoáng xa xa sau các rặng cây xanh đen trong ánh sáng đèn chiếu đô thị. Vài ghe ngư dân địa phương chạy ngược chiều với cá lớn chúng tôi. Người trên các ghe đó lấy tay chỉ trỏ vào phía bờ biển phủ khói sóng như làn sương xám. Tám Kiệt rất muốn các ghe dân địa phương này ngừng lại để hỏi thăm nhưng họ bỏ chạy xa mất. Dọc bờ biển, nhiều chỗ là các vách đá cao làm chúng tôi sợ vướng đá ngầm ở gần nên không dám chạy thẳng ghe vào. Thấy trời càng lúc càng tối đen khó mà quan sát, Tám Kiệt lệnh cho Thuận kiếm chỗ an toàn, ngừng máy rồi buông neo để sáng hôm sau sẽ tính. Ai nấy rôm rả trò chuyện toàn về các tin vui rồi sau đó lăn ra ngủ ngon lành, một giấc ngủ thực sự an tâm kể từ lúc đặt chân lên cá lớn.
(còn tiếp)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét