(tiếp theo)
Chẳng
riêng nông dân, bản tính con người là “tư hữu” . Tiến hành hợp tác hoá nông
nghiệp, thu gom ruộng đất, trâu bò, nông cụ vào hợp tác xã thực chất là cưỡng
chế . Người nông dân vì áp lực chính trị, đành phải ngậm đắng nuốt cay giao sản
nghiệp cho hợp tác xã .
Đó là
sự thực hiển nhiên không ai không biết.
Ấy
thế mà ông nhà văn Nguyễn Khải tô vẽ cho sự giao nộp ấy như một tự nguyện “cao
đẹp”, như ý nguyện thiêng liêng của
người nông dân đối với cuộc vận động của Đảng .
Ông
Điệp được vào hợp tác xã, làm ngay một mâm cơm gà, cá kho mời bằng được cán bộ
xã tới ăn mừng :
“ Hôm qua chúng tôi vừa
tổ chức liên hoan vào hợp tác xã, hôm nay làm bữa cơm
nhạt mời hai bác sang uống chén rượu gọi là mừng cho anh em chúng tôi đi theo con đường xã hội chủ nghĩa…”
Không
hiểu ngày nay, đọc lại câu “đi
theo con đường xã hội chủ nghĩa” đã ấn vào mồm anh nhà quê,
ông nhà văn Nguyễn Khải có thấy “hài hước” chăng ? Hẳn ngày nay ông đã nhận ra
“con đường xã hội chủ nghĩa “ ấy càng đi càng mù mịt , càng phá tanh bành cái
hợp tác xã mà Đảng và Nhà nước tốn công xây dựng.
Mặc
dầu Đảng và Nhà nước đã dùng cả một bộ máy toàn trị để bao vây, cưỡng bách
nhưng công cuộc hợp tác hoá nông nghiệp không phải là không vấp phải sự chống
đối của nông dân. Những phản ứng của nông dân như giết trâu bò, phá huỷ nông
cụ, chây lì không chịu ký đơn…chắc chắn phải nổ ra. Tuy nhiên tất cả những
chuyện đó bị bịt đi , ngược lại việc cưỡng chế nông dân vào hợp tác xã được cả
một bộ máy tuyên truyền báo chí của Đảng tô vẽ như một cuộc đổi đời tự nguyện
của người nông dân.
Nguyễn
Khải cũng không đứng ngoài được “sự nghiệp tuyên truyền vận động hợp tác hoá”
đó. Chẳng những ông không dám đi sâu vào khai thác và phản ánh cuộc đấu tranh
ngấm ngầm cũng như ra mặt của nông dân chống lại việc cưỡng bức vào hợp tác,
ngược lại ông còn tô vẽ nó đúng như một
cán bộ tuyên truyền. Chính vì thế cái phần “xung đột” giữa Đảng và nông dân
trong tiểu thuyết “Xung đột” rất mờ nhạt. Chỉ có mỗi vụ Quảng “giả chết” ở đầu
truyện để vu vạ cán bộ xem ra còn có vẻ gay gắt còn sau đó chỉ thấy toàn thấy
nông dân “ơn Đảng, ơn chính phủ” được vào hợp tác hoá để đổi đời. Phản ánh hiện
thực nông thôn thời kỳ này, Nguyễn Khải đã thực hiện đúng theo lý luận kinh
điển của Đảng :” mâu thuẫn trong nhân dân “ là mâu thuẫn “nội bộ ”, mâu thuẫn
“thống nhất”, mâu thuẫn để ..cùng đi lên.
Trong
lúc cố xoá mờ , giảm nhẹ xung đột giữa dân và Đảng, Nguyễn Khải lại tô đậm mối
xung đột giữa “nhà thờ ” với chính quyền vừa dễ viết cho sinh động vừa đúng đường lối của Đảng coi đó là mâu
thuẫn đối kháng, mâu thuẫn “địch -
ta”. Bởi thế, phần lớn “Xung đột” phần
II xoay quanh chuyện Nhà nước o ép nhà thờ. “Gậy ông lại đập lưng ông”, ngày
nay chính những điều Nguyễn Khải mô tả trong tiểu thuyết vô tình đã lột
trần cái “tự do tín ngưỡng” , cái “tốt
đạo đẹp đời” xưa nay vẫn tuyên truyền.
Một
trong những mẹo chống nhà thờ của nhà văn Nguyễn Khải là bịa ra những bi kịch
cá nhân do nhà thờ gây ra. Cô Huệ , con gái ông Bốn sau 10 năm đi tu đã tố cáo
tội ác của nhà thờ với bố đẻ :
“ Bố ơi, khi con ở nhà
đức tin con mạnh, con vào ở đây đức tin con chẳng còn nữa , tất cả mọi người
lừa dối con. Bà Nhất thì cay nghiệt hơn dì ghẻ, đuối tay đuối sức một chút là
bị phạt rồi. Mỗi lần con nằm chực ở ngưỡng cửa cho bạn bè bước qua , cúi mặt xuống
hôn đất để tạ lỗi, con lại nhớ đến ngày ở nhà được bố mẹ nuông chiều. Sao con
lại tự đưa mình vào chốn khổ , khổ mà chẳng được ơn ích gì . Họ mặc áo bà dòng
khấn khứa từ sáng đến tối mà vẫn tằng tịu với người khác giới, có người uống
thuốc thôi thai, có người đi đẻ giấu , có
người còn đang tay bóp chết con nhỏ. Mẹ Nhất cũng có nhân tình. Con chẳng tin
vào ai cả Con chẳng tin có cái gì khác ngoài những điều mắt con trông thấy, đời
con thế là hết rồi…”
Chỉ
một năm sau gặp bố, nữ tu Huệ chết trong một cơn “giãy giụa đau đớn”. Một nơi địa ngục trần gian, đầy xấu xa và tội
lỗi như vậy mà lại là một nhà nữ tu thì
quả thực liệu người ta có thể tin vào sự trung thực của ông Nguyễn Khải chăng ?
Điều đó hoàn toàn có thể kiểm chứng được bởi lẽ nơi cô nữ tu bị đầy đoạ trong
suốt hơn mười năm trời là một địa chỉ cụ thể, theo như tác giả là thôn Bái
thuộc Bùi Chu. Nếu cuộc điều tra chính thức được mở ra , ông nhà văn rất có thể
ra Toà về tội vu cáo.
Sau
nữ tu, đến lượt các đấng chăn chiên bị ‘bôi bác”. Trước hết ông nhà văn giễu
Toà thánh :
“ Người ở thôn Hỗ vẫn
coi cái địa phương xa lắc ấy còn ruột thịt hơn cả quê hương mình, còn thiêng liêng hơn chính linh
hồn mình và ràng buộc mình bằng trăm ngàn sợi dây bền chắc”
Thậm
chí ông nhà văn còn giở giọng xỏ xiên :
“ Hầu như đức Giám ở
Bái kêu khát , con chiên ở Hỗ đã thấy cổ mình se lại; đức Giám mục đi vấp, con chiên ở đây đã thấy
đầu ngón chân mình rớm máu; đức Giám mục se mình người ta đã đồn đại nhau với
nét mặt lo âu.Ngay đến những quyết định hệ trọng nhất của đời người như nên
sống thế nào, nên đi theo đường nào , họ cũng tuỳ thuộc vào cái đầu đội mũ hàm
ếch lắc hoặc gật.Hình như cái gậy vàng của Giám mục đối với xứ Hỗ còn có hiệu
lực sai khiến hơn cả chính con chiên ở Bái. “
Và rồi “chân dung biếm hoạ” của Đức Giám mục được ông nhà
văn vẽ vời :
“Người xứ Hỗ chỉ được
nom dung nhan đức Giám khi người xuất hiện ở bàn độc, trịnh trọng trong bộ áo
lễ rực rỡ, chỉ được nghe lời nói dịu ngọt và đầy sức quyến rũ của người qua
những bức thư luân lưu, còn ở Bái thì người ta lại kháo nhau về những tính tình
quá trần tục của từng cha một . Rằng cha giám quản thích ăn trứng trụng xôi,
mỗi sáng có thể mút hàng chục quả với muối. Rằng không những đức Cha chỉ biết
đưa bàn tay cao quý cho kẻ khác hôn vào mặt nhẫn, mà cũng những ngón tay nuột
nà ấy còn biết xấp nước bọt đếm tiền nhanh như nhân viên ngân hàng…”
Quả
thực thật khó hiểu vì sao nhà văn Nguyễn Khải lại “ngậm một khối hờn căm” đối
với Thiên chúa giáo đến vậy. Một nơi của nhà thờ làm ông
nhà văn “ngứa mắt” không thua gì Toà Giám mục chính là chủng viện :
“ Ở cái trường đạo nổi tiếng ấy anh sẽ được thăm những dẫy nhà ăn hôi mốc, tanh tưởi như mùi chiếc đũa tre lâu ngày
không rửa, những đứa bé đứng ngồi, ăn húp, cười đùa gõ bát gõ đũa như những kẻ
mất dậy…”
Than
ôi, chủng viện là nơi nhà thờ đào tạo tu sĩ đâu đến nỗi như trại tạm giam trẻ móc túi ở Chí Hoà vậy? Và
đây là nhà ngủ của các học sinh chủng viện :
“ Những dẫy nhà ngủ chiếu cuộn lại từng đống
trên giường, dưới đất, hoặc nửa ở trên giường, nửa ở dưới đất, những cái gối gỗ
bong sơn , những chiếc thập giá nằm dài ở đầu giường mệt mỏi…”
Giường chiếu đã thế, sách vở còn tệ hơn :
“… những kinh sách do
chính toà giám biên soạn truyền bá đạo
lý của nhà Chúa và những sự vô luân của quân cộng sản, những truyện trinh thám, kiếm hiệp, ái tình từ cái đời thủa nào vẫn
được lưu lại…:”
Đi sâu vào chủng viện còn kinh hãi hơn :
“ Sau những dãy nhà lắm
ngách lắm cửa tối hun hút và bí hiểm kia, còn những lớp nhà phía sau nữa ,
những lớp nhà dài dằng dặc và trống rỗng đặc biệt vẫn có cái mùi hôi mốc quen
thuộc, thứ mùi của sự ngưng trệ, lười biếng. Ở tận một xó, một xó bị bỏ quên
trong vùng tối bùng nhùng ngay giữa cả lúc trời nắng vang lên những tiếng cười
lạc lõng : hai ông bõ già đang ngồi ăn cơm , một người to béo mặt mùi sần sùi
vừa câm vừa điếc lúc nào cũng nhìn người
khác với nụ cười khó hiểu và một người tay bưng bát cơm cứ run rẩy như
trong cơn sốt , vừa ăn vừa ho vung vãi…”
Người của chủng viện đã tật nguyền và tâm thần vậy, đến con chó
của chủng viện cũng không ra hồn…con chó :
“ Dưới chân họ một con chó đen đã gần trụi hết lông, trơ ra những đám
thịt héo hon đen tím , mắt đầy nhử , quanh ra quanh vào chậm chạp, thấy người
lạ nó cũng chỉ đưa được đôi mắt kèm nhèm như van vỉ nhìn lên một thoáng rồi lại
cúi xuống tha thẩn như cũ, đụng đầu vào cột, vào bậu cửa như một người đã lẫn
cẫn…”
Con chó chủng viện đã như chó hoang vậy, tu sĩ trong chủng viện
cũng chẳng hơn gì những kẻ tâm thần :
“ Nhưng đêm đến , cái xác
chết tưởng như sắp thối rữa kia khi đã ngửi thấy mùi ẩm ướt của bóng đêm lập
tức hồi sinh lại một cách nhanh chóng. Những khung cửa tối om bỗng đỏ rực lên
như hàng trăm con mắt lóng lánh. Ở nhà họp công cộng trên tầng gác, bàn ghế đã
được kê lại ngay ngắn, học sinh ngồi nghiêm chỉnh trên các ghế. Và cái anh tu
sĩ tầm thường của ban ngày, cái anh gầy gò, nhai trầu bỏm bẻm lúc nào cũng có
cái điệu bộ ngớ ngẩn , ngu dại nói lắp bắp, dưới ánh đèn của ban đêm đã thay đổi hình dạng.
Anh ta nhìn từng dãy ghế xoi mói, thuật lại một cách hoạt bát những việc xảy ra
trong ngày…”
Thầy đã thế còn trò cũng xấu xa không kém :
“ Quả thực cái bọn học
trò đã trở thành một lũ lưu manh ấy không thích về với bố mẹ chúng thật. Bây
giờ học làm thầy chúng cũng không thích, học văn hoá lại càng đáng chán hơn.
Phải học , dù học gì cũng là gò bó, trói buộc rồi. Chúng chỉ ao ước cái thời kỳ
giằng co với cộng sản sẽ kéo dài nữa. Chỉ mong được sống mãi mãi như thế này : ăn thoả thích,
chơi bời thoả thích, nói năng bậy bạ, tục tĩu thoả thích và đêm đêm lại tập hợp
nhau làm những chuyện ly kỳ…”
Than ôi, trường đào tạo linh mục của nhà thờ sao tăm tối, bệ
rạc và chủng sinh thì lưu manh quá vậy ? Cái nhà trường của giáo xứ Nguyễn Khải
mô tả “dơ dáy, xấu xa và vô tích sự” đến thế mà vẫn lo lắng nó “đào tạo gián điệp, phản động” nên Nhà nước
vẫn cứ khăng khăng giải tán nó.
Trước hết “ uỷ ban triệu
tập những gia đình trong xã có con đi học ở chủng viện Bái đến thảo luận và thi
hành quyết định của tỉnh.” Cứ căn cứ
chính sách tín ngưỡng của Đảng thì việc giáo dân cho con em đi học chủng
viện là chuyện bình thường, vậy mà khi bị triệu tập, họ vẫn phải tới trong tâm
trạng lo sợ.
“ Thời gian chờ đợi cũng
lâu, những người đến trước không trò chuyện, đùa bỡn như ở các cuộc họp khác .
Họ chỉ lặng lẽ nhìn nhau như những kẻ mất hồn, làm ra vẻ đờ đẫn, ngây
dại….Người ta dò hỏi nhau bằng con mắt, nghe ngóng một cách lo âu những việc sẽ
xảy ra và dành sự suy nghĩ cho những mưu mô sắp đem đối phó…”
(còn tiếp)

Cám ơn Bác Nhật Tuấn
Trả lờiXóaKinh khủng thật, đúng là với con chữ, người ta có thể đổi trắng thay đen, làm những gì mình muốn. Nhưng rồi thì, sau những con chữ,sự thật vẫn là sự thật. Cám ơn nhà văn Nhật Tuấn đã xới lên cái sự thật ấy cho mọi người biết.
Trả lờiXóaTrong XUNG ĐỘT có nhân vật thằng Xuân làm xã đội trưởng với câu nói nổi tiếng: Tôi xa đảng, xa nhân dân dân thì được chứ xa chợ không xa. Nó cũng giống như trong ĐÔI MẮT nhân vật Hoàng nhận xét về thằng đồ tể nó chỉ giỏi đánh tiết canh chứ làm chủ tịch phường thế nào được.Phải chăng đó là những câu nói mang tính dự báo về những sai lầm của học thuyết giai cấp trong xây dựng đội ngũ lãnh đạo? Thực tiễn mấy chục năm qua đã trả lời cho những dự báo đó là đúng, những kẻ dốt nát vô học mà cho làm lãnh đạo thì nó chỉ phá nát xã hội ra mà thôi!
Trả lờiXóaThật tởm lợm cho những "tác phẩm" của Nguyễn Khải. Cám ơn anh Nhật Tuấn
Trả lờiXóaTôi đọc được bài về Trại Cổng Trời ở miền Bắc của tù nhân
Trả lờiXóaKiều Duy Vĩnh thì thấy trại này rất khắc nghiệt mà người ta
lưu truyển câu là ở đây vào thì có,về thì không !
Nhiều linh mục bị đày đọa đến chết ở trại này,trong đó có cha Nguyễn Văn Vinh,cha xứ nhà thờ Hà Nội.
Ông Nguyễn Hữu Đang còn may mắn là vẫn về được,hình như giam
không lâu bằng các linh mục.