(tiếp
theo)
Sau khi dùng “lý lẽ ngoài đời”
doạ nạt, lung lạc mà người mẹ vẫn không chịu gọi con về, ông Chủ tịch xã
chuyển sang bài bác “lý lẽ của đạo” mong “cắt cơn nghiện của nhân dân” ( ông
Mác chẳng đã nói ” tôn giáo là thuốc phiện” mà.):
“Tôi cũng là người công
giáo đấy, nhưng nói thất lỗi với các bà, các ông, tôi không bao giờ tin được là
có Chúa thật. Nếu bảo bất cứ việc gì đều được
lên trời thì tại sao vệ tinh của Liên xô lại bay được lên trời, vậy ra
Chúa ủng hộ cộng sản ư ? Chúa ủng hộ vô thần ư ? Tại sao Toà Thánh là đất Chúa
ngự không phóng một vệ tinh bằng quyền phép thiêng liêng của Chúa cho thiên hạ
thêm lòng tin cậy. Chẳng có gì cả đâu…”
Đúng là đầu óc chứa rặt
“chủ trương chính sách của Đảng “ mới đẻ ra lý lẽ “bài bác Chúa ” ngu
muội đến vậy. Và đây là sản phẩm của “chủ nghĩa duy vật thô sơ” đã được cài đặt
vào đầu cán bộ :
“ Ai có trình độ khoa học cao, ai lao động giỏi thì kẻ
ấy làm được việc kỳ lạ. Cha Thuyết bị sưng gan chín phần chết, một phần sống ,
vậy ai cứu được mạng của cha? Chính phủ ta, các bác sĩ Liên xô, toàn những
người vô thần cả. Chính cha cũng đã từng nói với tôi:” Bố mẹ sinh ra lần thứ
nhất, các bác sĩ Liên xô sinh ra lần thứ hai…”
“Cha tuyên uý” của chủ nghĩa Mác Lê, chiến sĩ trên mặt trận tư
tưởng của Đảng, tín đồ trung thành của chủ nghĩa maoít-stalinnít - Chủ tịch xã Môn cứ thế “giác ngộ” cho đám
quần chúng đang bị “tôn giáo ru ngủ” :
“Ngay đến các cụ đạo ngày
ngày đứng trên toà giảng vị tất các ông ấy đã tin chắc là có Chúa thật, nếu họ
tin sẽ có ngày phán xét chung thì vía cũng chẳng dám làm bậy, chẳng dám nằm với
người nữ , chẳng dám cầm súng bắn giết con chiên, moi tiền của kẻ khó…”
Kết thúc bài diễn văn công kích nhà thờ – ông Chủ tịch xã sổ
toẹt :
“ Bịp bợm cả . Các bà tin
được tôi thì tin, không thì thôi, nhưng sau này các bà sẽ thấy lời tôi nói hôm
nay là đúng. Xã hội người ta cứ tiến chứ có ai chờ con các bà giác ngộ rồi
người ta mới cất bước đâu…”
Than ôi, hơn nửa thế kỷ trôi qua, “xã hội người ta cứ tiến” –
người ta đây có thể hiểu rộng ra là thế giới,
cho đến nay các “đồng chí” Chủ tịch xã “ vẫn còn ôm ấp ba cái thuyết “
đấu tranh giai cấp” và “xây dựng chủ nghĩa xã hội” loài người đã bỏ qua.
Tất nhiên, lối “giáo dục cưỡng ép” ấy khó mà chinh phục được
con tim lẫn khối óc của người dân :
“ Trong các cuộc họp
người ta đến miễn cưỡng , uể oải, cái xác ngồi đấy , nhưng tâm thần để tận đâu
đâu. Họ không cần nghe cán bộ giải thích , đằng nào cũng thế, thuế vẫn phải
đóng, đi dân công vẫn phải đi, nghe nhiều nào có lợi ích gì. Họ cứ sống như xưa
kia họ sống…”
Giáo dân với Đảng còn như vậy, linh mục với chính quyền “xung
đột” được mô tả còn dữ dội hơn bằng ngón nghề quen thuộc : “vu cáo “ và
“bôi xấu”.
Một lần có hẳn một phái
đoàn bốn linh mục và một tu sĩ ghé thăm xứ Hỗ. Đây là dịp ông nhà văn
xây dựng chân dung các nhà tu hành. Trước hết
cha Thuyết, cha chủ nhà được một cha trong đoàn giới thiệu :
“Ông ấy vừa đi nằm nhà
thương ở Hà Nội về. Phải mổ gan lọc mật mới sống sót đấy. Tôi thì cho rằng chỉ
tại cái món thịt chó cả thôi. Ăn nhiều thịt chó dễ bị tích kén lắm. Cái giống
ấy nó chẳng nhiệt quá mà…”
Vậy là một đấng chăn dắt linh hồn con chiên suýt chết vì…xơi
thịt chó thường xuyên. Rồi đến một cha khách, cha Lân, khi ngồi vào mâm cơm thì
mắt sáng lên :
“ Ở đây cha cũng cho thả
cá rô phi à. Cái giống cá ấy sinh sôi nảy nở đến nhanh. Nhưng cá này phải hầm
hoặc om kỹ mới ngon, còn rán thì xương khí rắn…Bày vẽ quá lắm, biết thế chẳng
báo trước ; làm phiền cha chủ sự…”
Rồi lần lượt cha giới
thiệu “tâm hồn ăn uống “ của các cha :
“Xin các cha cứ tự nhiên
cho…Mỗi người một ý thích một tâm tính…Như đức cha người chỉ thích ăn trứng
luộc, một lúc ăn hàng chục quả vẫn ngon lành. Tôi xin chịu. Cha Giản đi kiết
thì chỉ nghiện chè bột sắn, cứ nấu một soong to, cha đủng đỉnh ăn cả ngày cũng
hết. Cha Thuỵ ở trên tỉnh lại ưa món chim câu hầm, nhưng ông cụ không có răng,
cứ nhấm nháp qua loa rồi nhè ra đĩa, lão bõ ở đấy chỉ ăn bã nhả ra mà béo
trắng. ..Còn tôi thì được cái bình dân, toàn nghiện những món rẻ tiền như bánh
đa mật chẳng hạn. “
Quả thực không biết ở cái xứ đạo nào mà ông bõ trong nhà thờ
chỉ ăn bã do cha nhả ra mà…béo trắng thì thật nghề bôi xấu phải trao giải nhất
cho ông nhà văn. Kinh hoàng hơn nữa là khi các cha bàn về món…tiết canh gà :
“ Xin lỗi, các cha đã
được ăn tiết canh gà bao giờ chưa ?”
Cha râu dài vừa nhai nhồm
nhoàm vừa nói :
“ Mới nghe lần đầu đấy.
Chắc là tanh lắm hả ?”
“ Lậy cha, cha lạc hậu
quá. Thật tình rất thơm ngon…Rắn sần sật mà bùi lắm. Cái dân Hà Nội họ làm món
ăn thì người khó tính đến đâu cũng phải vừa lòng…”
Hết món ăn rồi đến món uống. Cha sở tại, “sau vài hớp rượu da mặt ông càng đỏ rực mãi lên một cách đáng sợ, tưởng
như bật được máu tươi :
“Chính thế, nấu rượu được
nếp thầu dầu thì quý hoá nhất – cha Thuyết đưa con mắt nhỏ tí, lóng lánh sáng
nhìn mọi người – Vâng thưa các cha, ngon nhất đấy ạ, càng để lâu càng đượm, càng thơm mà nước rượu cứ trong vắt như
nước mưa. Còn nếp bắc thì chóng nhạt rượu lắm , nước rượu cũng đục…”
Than ôi, nếu các đấng chăn chiên, các đức cha linh hồn của mấy
chục vạn giáo dân Bùi Chu – Phát Diệm mà tham ăn tục uống như trên thì đúng là
cha …“quốc doanh “ ; tức các cán bộ tuyên giáo được cài vào trường của nhà thờ
học thành linh mục trà trộn vào hàng ngũ
giáo phẩm “nắm tình hình.”
Tất nhiên năm ông linh mục này
không phải “cha quốc doanh”, sau khi bàn chuyện ăn uống chán chê họ mới bàn chuyện ứng phó của giáo hội trong
xã hội cộng sản. Dưới ngòi bút Nguyễn Khải, họ đích thị là những tên biệt
kích, đám người phản động, đối tượng của
cách mạng :
“Cha Lân ném một cái nhìn
nảy lửa, đôi lông mày rậm trở nên dữ tợn, giọng ông ta đanh lại, độc ác, tàn
nhẫn :
“ Trong tay chúng ta còn
những gì ? Chỉ còn lại mỗi cây thánh giá. Chúng ta chỉ trông cậy được vào Chúa
và các đấng thánh thần. Còn quần chúng của ta , cái lực lượng mười vạn con
người của chúng ta đâu rồi, vắng lặng bốn bề như tiếng gọi giữa sa mạc. May
thay chúng ta còn một vũ khí sắc bén mà không một kẻ nào tước nổi, đó là cái
lưỡi của chúng ta. Chúng ta hãy còn một khu vực tranh chấp mà không một kẻ nào
dám đoạt lại : đó là Toà giảng của nhà thờ. Từ đấy chúng ta sẽ tiến công ra, sẽ
chiếm đoạt lại tất cả…”
Nguyễn Khải đã vạch một chiến tuyến dứt khoát giữa giáo hội và
Nhà nước – cuộc đối đầu “ ai thắng ai”, “một mất một còn”. Mặc dầu xuất thân
nhà dòng nhưng xem ra ông nhà văn hiểu biết về Thiên chúa giáo cũng chỉ ngang
anh một cán bộ Ban tôn giáo Chính phủ .
Cuộc đối đầu “giáo hội” và “Nhà nước” diễn ra ngay khi các cha
vừa dùng cơm xong, ông Chủ tịch xã Môn và ông cán bộ huyện Mẫn ập vào. Đã không
xin phép được gặp, đã không báo trước sẽ tới, ông đại diện chính quyền xông vào
phòng khách của Toà thánh khơi khơi như vào trụ sở Uỷ ban và lại còn hậm hực :
“Ghê thật, hội họp với
nhau mà không thèm báo một lời cho uỷ ban biết. Có chứng cớ ông thử tóm cổ một
lượt xem có trắng mắt ra không ?”
Ông Mẫn , cán bộ huyện
nói thẳng :
“ Trước đây khi toà Giám
mục xin mở trường cũng có đề ra chương trình một ngày học sáu tiếng giáo lý và
hai tiếng văn hoá…Là đấng chăn chiên mà hiểu biết ít thì rao giảng cũng khó
khăn…”
Cha Lân, đại diện cho Toà Giám mục phải “nói thẽ thọt” :
“ Nhưng ông rõ cho, theo
luật lệ toà thánh thì nhà trường không phải phục quyền các vua chúa phần đời,
không để cho nhiễm thói tục phần đời. Trường đạo chỉ chịu quyền ở Toà Giám mục.
Toà Giám mục lại chịu quyền ở Toà thánh, không thể muốn thế nào cũng được…Ngay
đến chương trình học từng năm kẻ làm thầy phải giảng giải những gì, đứa học trò
phải đọc những sách gì đều do sự định liệu trước của Toà Thánh cả. Nói nôm na
toà thánh cũng như chính phủ trung ương bên tôi ấy mà…”
Trước lý lẽ rành rẽ của linh mục , ông Chủ tịch xã trở mặt,
giở ngay
cái mũ “phản động” doạ nạt :
“ Tôi xin hỏi cha, vậy
như trước kia các ông cụ đạo đi làm tuyên uý trong quân đội Pháp hay làm sĩ
quan có phải đợi lệnh của Toà Thánh cho phép không ?”
Doạ chán rồi, ông Chủ tịch xã nổi cáu :
”Nói chuyện với bọn này
cứ như người đấm bị bông, mất thì giờ mà chẳng đâu vào đâu…”.
Ông cán bộ huyện Mẫn cũng vứt bỏ những lời đường mật giở giọng
đe nẹt :
“ Nếu như Toà Giám đặt
mục tiêu cho cái trường ấy là nơi đào tạo những phần tử chống đối lại cộng sản
thi tôi xin nói trước sẽ không bao giờ cụ giám quản đạt được ý nguyện đâu, mà
có khi còn mang vạ vào thân là khác. Vì các cụ cũng biết đấy, pháp luật thì rất
vô tư…nhà trường ngày nào cũng bắt các em làm bài chửi cộng sản , chửi các cơ
quan nhà nước thì chúng tôi khó chịu đến đâu…”
Bị vu vạ “đào tạo phần tử chống đối cộng sản” linh mục phải xuống nước :
“ Chúng tôi biết địa vị
của chúng tôi lắm chứ . Chính phủ thì có trong tay nào quân đội, nào công an, còn chúng tôi thì chỉ
có tượng thánh thôi. Chỉ mong đừng ai đụng chạm đến mình là mừng chứ còn chống
đối gì.”
Rồi
biết rằng nếu nhún nhường sẽ bị “nhà cầm quyền” lấn tới, cha đánh bạo :
“Chúng tôi thì cho rằng
bắt trường đạo phải dậy văn hoá đó là một bước lấn của ông vào quyền hành giáo
hội của chúng tôi…”
Và
cha vạch trần “tim đen” của nhà cầm quyền :
“Đã dậy văn hoá thì ắt
phải có giáo viên chứ gì . Tu sĩ của Trường thì lại không có bằng cấp, chẳng qua kẻ lớn dậy kẻ bé. Mà
cử giaó viên ngoài giờ chúng tôi lấy làm e ngại …Nếu ông giáo viên theo đạo
Thích Ca chẳng hạn , ông ta sẽ quan niệm về thế giới, về vũ trụ theo
cái cách của ông ta. Hay nói cho rõ ràng hơn nếu ông ta là vô thần thì lại càng
rắc rối. Vì ông ta có thể nói với học trò rằng thế giới này là do bàn tay lao
động làm ra chứ không phải là do một đáng sáng tạo nên… ”
Lý lẽ
của cha đưa ra làm ông cán bộ huyện cứng họng. Chính bản thân anh ta cũng thấy
đòi hỏi đưa giáo viên Nhà nước vào dậy trong trường của nhà thờ là vô lý . Anh
ta triết lý :
“Tôn giáo và văn hoá
quả thực có điều điều không thể đứng cạnh nhau. Chẳng lẽ lại giảng là trái đất vuông , qua lớp mây
xanh kia là thiên đáng…Chẳng lẽ nói cây lúa mọc lên là do ý Chúa chứ không phải
do phát triển biện chứng của nó. Chẳng lẽ nói con người là đất bụi hèn hạ chứ
không phải là sinh vật cao quý…Một đằng dìm con người xuống, một đằng làm cho
con người trở nên sáng suốt biết sống một cách có ý thức. Và có thể lấy thêm
hàng nghìn thí dụ khác về sự đối lập không sao dung hoà được…”
Hiểu
biết của “nhà cầm quyền” về tôn giáo mới chỉ dừng ở mức độ coi nó như một thứ
“mê tín dị đoan” , là “thuốc phiện đầu độc nhân dân” đúng như ông thánh
Mác-Lênin đã dậy. Chính vì vậy ông cán bộ coi linh mục như kẻ có tội :
“ Có thể nói những
người ngồi quanh cái bàn này đã tượng trưng được phần nào cho cái thế giới cha cụ hết sức phức tạp
của địa phận Bái. Có những tên chống đối
cách mạng đến điên cuồng; có những người còn bán tin bán nghi…nhưng giữa cái
đám hùm sói ấy họ cũng không dám lên tiếng, vì lòng dũng cảm của họ còn ít quá,
họ còn cân nhắc quá nhiều đến cái địa vị và uy tín giả dối của mình…”
Cả 2 tập tiểu thuyết Xung đột cứ xoay quanh những “xung đột” mà
ông nhà văn tưởng tượng ra thế. Nhân vật chia làm hai “phe” địch-ta rõ ràng.
Một bên là các cha Thuyết, cha Lân, cha Bản…tham ăn, tục uống và nhát sợ cường quyền. Một bên là Môn, Chủ tịch xã,
Nhàn , Phó Chủ tịch, Mẫn,cán bộ
huyện…người nào người nấy ngùn ngụt lửa cách mạng muốn xông lên xoá nhà thờ
để…xây dựng hợp tác xã. Dù là ở bên này, hay bên kia, mỗi nhân vật đều chỉ là
cái loa phát thanh tư tưởng “cách mạng hơn cả ông Các Mác” của ông nhà văn. Thay vì cho nhân vật sống
như một con người trong cõi nhân sinh với mọi buồn vui, hạnh phúc và bất hạnh
của nó, ông lại chỉ cho nói ra đằng mồm cái tinh thần cách mạng Đảng đòi hỏi ở
cán bộ.
Xung đột tập 1 và 2 của
Nguyễn Khải một thời được giới phê bình trong nước kéo lên mây xanh, được nhắc
tới như một thành tựu xuất sắc của văn học cách mạng, được coi như một tiểu thuyết sáng giá được đưa cả
vào sách giáo khoa dậy trong trường phổ thông và đại học.
(còn tiếp)

"Thay vì cho nhân vật sống như một con người trong cõi nhân sinh với mọi buồn vui, hạnh phúc và bất hạnh của nó, ông lại chỉ cho nói ra đằng mồm cái tinh thần cách mạng Đảng đòi hỏi ở cán bộ." Nhà văn Nhật Tuấn nói chí phải! nhà văn đã bắt bệnh Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa là đây!
Trả lờiXóa