(tiếp theo)
Thực
ra tại các hợp tác xã, các địa phương cán bộ Đảng không hề bị kiểm tra, kiểm
soát bởi báo chí hoặc bất kỳ cơ chế quyền lực nào khác nên chúng ra sức tự tư
tự lợi, ăn chặn ăn bớt xã viên, ăn cắp công quỹ. Sự sa đoạ , xuống cấp của cán
bộ đã xảy ra từ rất lâu, từ thời bắt đầu xây dựng hợp tác xã nông nghiệp ở nông
thôn.
Tuy
nhiên trong các tiểu thuyết của Nguyễn Khải, cán bộ tỉnh, huyện, xã, thôn xóm
đều là “đầy tớ tận tuỵ của dân’, lặn lội đồng ruộng giúp dân nâng cao năng
suất. Như ông “bí thư tỉnh uỷ” đi sâu đi sát nhân dân, vào tận buồng riêng nhà
người ta cắt đặt việc gia đình, ông Chủ tịch huyện ăn ở lẫn lộn với cán bộ,
nghe tin ở đâu có hiện tượng xã viên xin ra khỏi hợp tác xã là phóng xe xuống bất kể ngày đêm. Cán bộ xã thì
“từ mờ sáng tới nửa đêm : mồm
nói , chân chạy, xem xét, hỏi han, tranh cãi, la hét , cáu giận , ngọt ngào , thôi thì đủ…”.
. Càng đọc “Chủ tịch huyện”
người ta càng nhận rõ cảm hứng chủ đạo là “ca ngợi một chiều”, là thực hiện đúng
nhiệm vụ ”tuyên truyền cho đường
lối chính sách của Đảng” Bởi thế tác phẩm
nhanh chóng rơi vào quên lãng. Khi nhiệm vụ chính trị qua đi, tác phẩm “phục vụ
kịp thời” cũng chết theo. Đó là “số phận” của những tiểu thuyết viết về nông
thôn Việt Nam của Nguyễn Khải.
Suốt
cả cuốn “ Chủ tịch huyện”, cán bộ từ thôn xã lên tới huyện tỉnh, anh nào anh
nấy hai bàn tay đều sạch bong , nhất mực chỉ “vì Đảng vì dân” không mảy may tơ
hào công quỹ lấy một cân gạo, không nhũng
nhiễu ăn tiền của dân lấy một
đồng bạc. Có lẽ “tô hồng” quá đáng vậy sợ bạn đọc cười, Nguyễn Khải
“liều mình” dựng lên một ông Chủ tịch xã
tự tư tư lợi, lợi dụng chức quyền ăn tiền của dân .
Nguyên
ở xã Hoà Trung có lái buôn tên Đào đề nghị Chủ tịch xã mua giúp cái dầm cầu xã bỏ đi để làm cột nhà
giá có 200 ngàn nhưng lại đưa những 300 ngàn, coi như “biếu” Chủ tịch xã chỗ
chênh lệch.
Chuyện
“tham ô” của Chủ tịch xã chỉ có thế, rất may, “đồng chí Bí thư Đảng uỷ xã” đã
có mặt kịp thời, phân tích cho Chủ tịch
xã “nhận ra sai lầm” , trả lại tiền cho lái buôn, nhờ vậy vẫn giữ được phẩm
chất cán bộ cộng sản."
Thế
là một lần nữa Nguyễn Khải “làm động tác giả” khi mon men tiến gần tới cái cốt
lõi của cán bộ Đảng ở nông thôn : máu tham ô, bòn rút của công. Tiếc thay, “Chủ tịch huyện” hoàn thành vào tháng 2 năm 1971 khi bộ mặt của “cán bộ mua đài mua xe” đã lộ ra gớm ghiếc, khi
bất công xã hội đã trở nên sâu sắc, khi “chợ vua quan” và “chợ nhân dân anh
hùng” mỗi ngày
một cách biệt, vậy nhưng ông nhà văn vẫn
nhắm mắt, bưng tai không dám nhìn, không dám nghe những xấu xa, đồi truỵ của
đám quan lại cán bộ này, vẫn hết lời ‘bốc thơm” chúng.
Kết
thúc cuốn truyện , ông nhà văn đặt vào mồm Chủ tịch xã trẻ và Chủ tịch huyện
già những đối thoại “ca ngợi “ không còn biết xấu hổ .
Chủ
tịch xã :
“ …khó khăn mấy rồi cũng
vượt qua được cả thôi . Thế hệ cha anh
đã đánh thắng bọn xâm lược Pháp , thì thế hệ chúng em
sẽ đánh thắng bọn xâm lược Mỹ. Chắc chắn
là như thế…”.
Chủ
tịch huyện :
“Chắc chắn phải là như
thế…”
Chủ
tịch xã :
“ …cái khó nhất là đoàn
kết được với nhau, không có gì phải ngờ nhau , phải đối phó với nhau thì việc gì cũng làm được . làm
được hết…”
Chủ
tịch xã nói năng như …bác Hồ kêu gọi “đoàn
kết, đại đoàn kết” . Kết thúc cuốn tiểu thuyết, ông nhà văn còn cho Chủ tịch huyện phát biểu một câu thật “lãng
mạn”…cách mạng :
“ Nói cho cùng, cái thử
thách lớn nhất, phức tạp nhất vẫn là tự mình vượt qua mình. Ngoài ra những khó khăn khác, những
thử thách khác đều không đáng sợ, có phải không, đều không có gì đáng sợ…”
Tuy
nhiên, thử thách lớn nhất, phức tạp nhất với các cán bộ chẳng phải vượt qua
chính mình mà là vượt qua…cái ghế của mình . Bởi thế họ phải trui rèn phẩm chất
… bất nhân, gian manh và đểu cáng giẫm đạp lên nhau mà leo cao. Thực ra cái khó
vượt nhất trong con người cán bộ chính là máu tham, nhu cầu hưởng thụ ,
vượt qua được cái “máu” đó còn khó
hơn con voi mượn cánh con bướm bay qua
đại dương.
Cha và con và…
Hồi
tháng 2 năm 2006, nhà văn Nguyễn Khải trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ .
” Nếu người ta gọi ông là nhà văn thời sự thì
ông buồn hay vui ?” và “ thời sự hình
như không mấy tương đồng với sức sống lâu dài của một tác phẩm. Chủ quan mình,
ông nghĩ tác phẩm nào của mình sẽ có
được cái lâu dài ấy ?”
Nhà
văn Nguyễn Khải sốt sắng trả lời :
“ Nhiều tác phẩm hay đã
được bắt đầu từ những bức xúc rất nhỏ của một “chuyện hôm nay”, của cái “bây
giờ” nhưng vẫn làm nhiều thế hệ bạn đọc xúc động…Phần mình, tôi nghĩ “ Một cõi
nhân gian bé tí”, “ Cha và con và…”, “ Điều tra về một cái chết “ cùng một số
truyện ngắn của tôi có được cái thân phận ấy của con người…”
Vậy
là trong vài chục tác phẩm, Nguyễn Khải đã chọn “ Cha và con và…” là một trong
vài tác phẩm ông cho rằng có thế để đời, còn lại mãi với thời gian. Viết xong
vào tháng 8 năm 1978 , xuất bản ngay trong năm, dày vỏn vẹn chừng 200 trang
và sách vừa in ra đã được “phê bình gia”
Vương Trí Nhàn bốc lên mây xanh trên báo Văn Nghệ với cái tựa to tát :” Cha và con và…triết luận về tôn giáo và chủ nghĩa xã hội “.
Ghê
gớm chưa ?
Vậy
giá trị thực của cuốn truyện này ra sao ?
“ Cha và con và…” lại cũng xoay quanh chủ đề ‘bôi bác nhà thờ”
như hai tập tiểu thuyết “Xung đột”. Đó là câu chuyện về một linh mục trẻ, mới
ngoài ba mươi, tên Thư được Toà Giám mục
cử về “nhậm chức thầy cả” ở xứ Nhất. Về địa phương, trước hết cha phải tới
trình diện chính quyền xã. Cái cách đối xử của cán bộ uỷ ban làm cha không được
vui, phàn nàn với ông chánh trương :
“ Cả cái uỷ ban của các
ông nữa. Họ để tôi leo cả mấy bậc thềm , tự bước vào trong nhà, tự đến trước bàn giấy của bà Chủ
tịch ngả mũ chào, rồi bà ta mới đứng lên chào lại. Bà ta là Chủ tịch thật nhưng
còn là con chiên của Chúa. Chúa chiên đến mà con chiên dám xử sự vậy sao ?”
Tuy
nhiên, đó mới chỉ là nỗi phiền lòng đầu tiên ông cha trẻ gặp phải khi tới nhậm
chức ở vùng đất mới. Chờ đợi ông ta ở phía
trước còn vô số những “ chọc phá”, những ‘đòn phép” bổ vào đầu ông mà
đau đớn thay không phải từ phía chính quyền vốn “thù địch “ với nhà thờ , mà
lại từ phía những con người thuộc phe ông – những linh mục già, chánh trương, trùm trưởng, con
chiên …luôn luôn giăng bẫy trên đường đi tới của cha linh mục trẻ mới nhậm
chức.
Trước
tiên, cha linh mục trẻ phải tới gặp cha linh mục già để nhận “bàn giao”. Mới
qua vài ba câu chuyện, cha trẻ đã nhận ra tính cách xỏ xiên của cha già :
“ Lạy Chúa ! Tại sao
ông già này lại nói nhiều về sự yếu lẫn của mình. Ông già ấy định giăng cái bẫy nào đây ?” Lời nói như
gan ruột , nhưng cái miệng thì bỡn cợt , con mắt thì hấp háy, biến ảo quá chừng
“
Cha trẻ cúi mặt thở dài
rất nhỏ, lái câu chuyện sang hướng khác…’
Một
cha trẻ mới ngoài 30 tới nhậm chức, một cha già ngoài 80 sắp về với Chúa phải
rời chức. Hai cha đối xử với nhau thật chẳng khác gì hai quan cán bộ trẻ già
hằm hè nhau khi bàn giao ghế.
Hành
hạ “cha trẻ” vậy nhưng “cha già” vẫn chưa chịu buông tha. Tới bữa ăn “cha già”
còn “quay” một hồi nữa khiến “cha trẻ”
cảm giác “bữa cơm kéo dài như
một hình phạt. Chẳng phải vì một già một trẻ , một cũ một mới , một cha quản
hạt và một cha mới nhậm chức, mà còn vì một cái gì khác nữa, chưa rõ rệt , rất
khó dò tìm đã khiến vị linh mục trẻ mất hẳn phương hướng đối đáp trong những
mẩu chuyện vặt vãnh không đầu không đuôi…”
Thoát
được “cha già” , “cha trẻ” được phái về xứ Nhất nơi còn biết bao nhiêu điều
phiền tạp chờ đợi cha. Trước hết, “ lễ nghênh tiếp vị chủ chiên của ban hành giáo hàng xứ rất đúng phép tắc , nhưng
gượng gạo, vênh váo…”. Lẽ ra theo thông lệ, cuộc tiếp rước
phải “ cờ phướn, có chè chén,
tối có đánh bạc” nhưng chính quyền không cho phép. Chỉ còn lại “ những trình bẩm, ban truyền, những ân sủng, kính cáo , toàn những chữ nghĩa đã
chôn đi, đã quên đi từ đời kiếp nào , nay phải móc lên cả lượt.”. Cái cảnh ông già bà cả
cung kính chào cha chăn dắt linh hồn được ông
nhà văn riễu là “ ông già cúi
người trước một chàng trai trẻ, xưa là thế ,
vì nó còn là con vua cháu chúa, còn nay
mà thế tự nghĩ cũng ngược lẽ, cũng nực cười…”
(còn tiếp)

Tôi cũng đã đọc “ Cha và con và…” và một số những bài viết về tác phẩm này. Hôm nay tôi chờ đợi phân tích của nhà văn Nhật Tuấn, chắc sẽ có nhiều điều khác và đáng xem.
Trả lờiXóa