Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, 4 tháng 11, 2014

HẺM BUÔN CHUYỆN - KỲ 183 - Hết thằng có tóc đến thằng trọc đầu




Cô Phượng cave vừa đi “công tác” Hànội xách cái túi lạ mắt làm thằng Bảy xe ôm la hoảng :
“ Í trời…chị Phượng cave có cái đẹp ghê chưa kìa, mà sao lại hình chữ U, túi gì vậy cà ?”
Cô Phượng cave vênh mặt :
“Túi Drew Pháp chính hiệu, hiện đang “mốt” đó…”
Chị Gái hủ tíu xuýt xoa :
“Chèn đéc ôi…túi hàng hiệu này chắc giá phải cả triệu…”
Cô Phượng cave phù mỏ :
“ Triệu đừng có sờ…phải mua bằng đô đó…1500 đô lận !!!”
Chị Gái hủ tíu tròn mắt :
“ Vậy tính sang tiền ta là nhiêu…”
Thằng Bảy xe ôm chen ngang :
“  31 triệu 500 ngàn đồng thôi chứ mấy…”
Chị Gái hủ tíu la hoảng :
“ Í chết chết…tiền đâu ra nhiều vậy ?”.
Gã Ký Quèn chen ngang :
“ Bồ cô Phượng là cán bộ cấp cao tiền chất cao như núi Ba Vì, hàng ngày tiền chảy vào túi như nước sông Hồng…1500 đô chứ 15 ngàn đo vẫn là tiền lẻ. Mà thôi, đi Hànội có gì vui không cô Phượng ?”
Cô Phượng cave hít hà :
“ Í trời ơi…gió mùa đông Bắc về rồi…đêm ngủ phải đắp chăn bông rồi…”
Thằng Bảy xe ôm cười hi hí :
“ Chị Phượng cave ra ngoài đó “cụ” cho ở khách sạn 5 sao, nóng đã có máy lạnh, lạnh đã có máy sưởi , việc gì phải đắp chăn bông ?”
Gã Ký Quèn chen ngang :
“ Phải đắp chớ…đắp chăn 37 độ…có điều “cụ” ngoài 70 xương với da không à…cái này gọi là trái tim non ấp ủ trái tim già…”
Tưởng cô Phượng cave đùng đùng nổi giận , ai ngờ cười toe toét :
“ Nói vậy mà không phải vậy nha…nấm linh chi, rượu sừng tê, cao hổ cốt… loèo khoèo như anh Ký không đọ lại được đâu nha …”
Thằng Bảy xe ôm sốt ruột :
“ Lần này ra “cụ” đãi những món gì , tôm nướng, lẩu ba ba, gà Đông Cảo hầm thuốc Bắc…chị Phượng cave kể coi…”
Cô Phượng cave bĩu môi :
“ Những món đó mùa nào chẳng có. Đầu mùa đông phải ăn của hiếm như dơi ngựa trong hang Cắc Cớ núi Thày kìa…”
Ông Tư Gà nướng sửng sốt :
“ Món này xưa tiến vua đó, tưởng tuyệt diệt rồi, giờ vẫn còn kia à ?”
Cô Phượng cave lại cao giọng :
“ Còn món cá Anh Vũ Cao Bằng nữa kìa.Í trời…hết chê…”
Thằng Bảy xe ôm cười hề hề :
“ Dơi ngựa, cá Anh Vũ…ăn xong chắc “cụ” “ngựa” lắm phải không chị Phượng cave ?”
Ông Tư Gà nướng càm ràm :
“ Dẹp ba cái chuyện “sư phụ” ấy đi. Cô Phượng cave đi Hànọi có gì hay kể nghe coi ! Nghe nói quốc hội họp mỗi ngày tốn cả tỉ bạc ?”
Cô Phượng cave trợn mát :
“ Tỷ bạc ăn thua gì ? Nội cái hội trường Diên Hồng cũng phải cả mấy trăm tỷ…”
Ga Ký Quèn sốt ruột :
“Ba cái chuyện đó nói làm gì. Có chuyện gì ngoài lề “cụ” nói kể lại cho bà con nghe đi…”
Ông đại tá hưu đập bàn :
“ Này này…con Phượng cave kia…không được tung tin đồn thất thiệt nha…”
Thằng Bảy xe ôm trấn ngay :
“ Í trời…chuyện của đồng chí cán bộ cao cấp mà chú Ba đại tá hưu dám nói là thất thiệt hả ? Bộ chú muốn mó dế ngụa hả ?”
Ông Ba đại tá hưu giật mình :
“ Là tao nói con Phượng cave thôi, có nói ai đâu ?”
Cô Phượng cave nghiêm giọng :
“Ảnh nói ngân khố đã rỗng, vét mãi chẳng được bao nhiêu, phải đi vay ngoài về ăn, đảo nợ, cũng chẳng nhằm nhò  gì nên phải làm thịt những con dê béo…”
Bà Tổ trưởng từ nãy căng tai lắng nghe, buột miệng hỏi :
“ Dê béo là ai…sao gọi dê béo ?”
Cô Phượng cave cười cười :
“ Dê béo là đám đại gia  lâu nay được nuôi , giờ sẽ lần lượt lên bàn mổ đó. “
Gã Ký Quèn gật gù :
“ Vậy chắc cái đám đại gia ngân hàng,bất động sản, các tập đoàn…Thôi đúng rồi hèn chi vừa bắt Hà Văn Thắm  Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng Đại dương (Ocean Bank),người nắm trong tay bốn cơ sở kinh doanh kinh tế - tài chính quy mô lớn trong nước. Chắc rồi còn bắt tiếp nhiều đại gia nữa…”
Thằng Bảy xe ôm cười hí hí :
“ Bắt đại gia thì cứ bắt…chớ động tới dân nghèo là được …”
Gã Ký Quèn trợn mắt :
“ Ai bảo vậy ? Hết thằng có tóc phải tới thằng trọc đầu chớ ? Vậy mày không nghe nó thu phí xe máy à ? Bắt đầu từ ngày 3 tháng 11 nó tăng phí xe máy từ 100 ngàn lên 150 ngàn…Giờ mày phải đóng, tới mồng tháng một sang năm 2015 phải đóng nữa…”
Thằng Bảy  xe ôm vọt miệng chửi :
“ĐM cả lò nhà chúng nó …tính bóp cổ dân hả ?”
Gã Ký Quèn cười  hô hố :
“ Không bóp cổ dân thì đồng chí cao cấp bồ cô Phượng cave lấy tiền đâu ra tặng túi xách hàng hiệu, xơi cá anh vũ với xơi dơi ngựa ?”
Cả quán cười ầm. Trừ ông đại tá hưu và bà tổ trưởng.


4-11-2014

Thứ Hai, 3 tháng 11, 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 121-VĂN CHƯƠNG …CHỮ NGHĨA - 1996




Năm 1996 khép lại với những hoạt động rộn ràng của Hội Nhà văn: Tổng kết năm, hội thảo tiểu thuyết, trao giải... Bức tranh trở nên sinh động hơn nếu cộng thêm những hoạt động văn học trên báo chí và các địa phương: Trại viết truyện ngắn cuối năm của Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh, Hội thảo văn học Đồng bằng sông Cửu Long, tuyển chọn truyện ngắn hay hằng năm trên báo Văn nghệ, Tuổi trẻ, cuộc thi viết tiểu thuyết do Tổng liên đoàn và Nhà xuất bản Lao Động tổ chức, thành lập câu lạc bộ nhà văn trong hội Cựu chiến binh thành phố Hồ Chí Minh...
Tuy nhiên “Cái đầu ra” của văn học 1996 xem ra không rộn rã bằng những hoạt động xoay quanh nó. Thử nhìn dự kiến tặng thưởng cuả Hội Nhà văn ta có thể thấy rõ điều đó: hai giải phê bình một cho Trần Mạnh Hảo và một cho Nguyển Văn Lưu - Hai cây bút tả xung hữu đột trong vai trò anh “gác chợ” văn chương. Một tặng thưởng văn xuôi cho Nguyễn Kiên, giám đốc nhà xuật bản Hội Nhà văn. Tặng thơ cho Thi Hoàng, Trần Hữu Mai... dù biết chắc ba cái tứ tặng thưởng đó mau chóng mất hút trong lòng người đọc. Bởi vậy có thể nói tặng thưởng năm nay có tính chất “trả công” nhiều hơn là  tuyển chọn giá trị. Cho dù các hội đồng và Ban chấp hành có xét chọn ra kết quả thế nào  chăng nữa thì cũng phản ánh một điều: 1996 lại mất mùa văn học. .
 Về tiểu thuyết người ta không thấy một cuốn nào gây được tiếng vang tốt khiến cuộc hội thảo về tiểu thuyết mới đây do Hội Nhà văn tổ chức phải rung chuông báo động: đang mất mùa tiểu thuyết. Truyện ngắn và thơ vẫn  xuất hiện trên các kệ sách, nhưng khó chọn  được tập nào có thể đứng đựơc như một thành tựu mới.
Ngược với tình trạng im ắng trong sáng tác, trong phê bình liên tục nổ ra những đợt phê phán rộn ràng. Nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã mau chóng tạm gác bút thi nhân để mang cung kiếm phê bình chém túi bụi vào mảng sách khảo cứu lí luận, giáo khoa cuả các giáo sư, học giả và các thầy dạy văn. Việc phê phán truyện ngắn Phạm Thị Hoài cũng góp cho phê bình trở nên rầm rộ. Phải chăng hai giải thưởng về lí luận dành cho Trần Mạnh Hảo và Nguyễn Văn Lưu đã nói lên điều đó. Khi một hiện tượng diễn ra rầm rộ liệu người ta đã có thể đúc kết thành qui luật chưa ?: “chừng nào các cây bút phê bình lí luận đổ càng nhiều mực thì những cây bút sáng tác viết ra càng ít chữ”.
 Đi tìm những nguyên nhân chững lại  cuả sáng tác trong nền kinh tế thị trường hiện nay, người ta  tìm thấy sự ách tắc nghiêm trọng ở khâu “đầu ra”. Sau mấy năm thị trường sách nhốn nháo bởi những đợt sóng sách hình sự, sách xào xáo chuyện tình  kiểu Hồng Kông, nguời đọc đã tìm thấy những tập truyện ngắn những tập tiêu thuyết nghiêm chỉnh được viết bởi những nhà văn tâm huyết. Thế rồi làn sóng các sách khảo cứu lí luận, các sách kích thích trí tò mò lại chùm lên sáng tác cuả các nhà văn.
Trong năm 96 với lí do không bán được sách, Công ty phát hành sách khu vực 2 đã trả lại một số lượng lớn sách cuả các nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn,Nhật Tuấn,Lê văn Thảo...sau một thời gian dài xếp đống trong kho.
Có vẻ các nhà phát hành bận bịu nhiều với các ấn phẩm ăn khách như: Bloc lịch, lịch treo tường, sách giải trí gợi tò mò... hơn là việc bán sách cho các nhà văn. Sự thực nếu sản phẩm cuả các nhà văn cũng được quảng cáo và khuyến mãi như các hàng hóa khác thì chắc chắn những sáng tác tâm huyết những tìm tòi đích thực cuả họ sẽ tìm được đầu ra.
Nản lòng biết bao khi bỏ hết óc não trong cả năm trời mới viết được một tập truyện ngắn hoặc cuốn tiểu thuyết để rồi... đút ngăn kéo, nếu không tìm đựơc một nhà Mạnh thường quân bỏ tiền ra in ấn và xuất bản. Ngay cả các nhà văn chuyên nghiệp chỉ sống được bằng ngòi bút cũng không thể uống nước lã cầm hơi để viết truyện ngắn, truyện dài với nhuận bút được trả có khi không bằng một bài báo tết.
 Có thể thấy trước rằng nếu Bộ văn hóa, Hội Nhà văn và các cơ quan hữu trách không để mắt tới công tác phát hành sách, không mở được đầu ra cho các sản phẩm văn học, thì người sản xuất - tức các nhà văn còn phải xoay sang sản xuất các mặt hàng thứ cấp khác: các bài báo, kịch bản, tạp bút...  Và như vậy có thể nói các nhà văn không làm văn chương nữa họ xoay sang bán chữ cho các tòa báo và các hãng phim... Và như vậy dự đoán từ nay đến năm 2000 thật khó  có được một mùa gặt mới trong tiểu thuyết. Bởi lẽ truyện ngắn còn có cơ in trên báo chứ còn tiểu thuyết thật là khó tìm được cơ hội để đi tới được tận tay người đọc.
Có lẽ do cấp dưới “bẩm “ lên, ông Tổng bí thư Đỗ Mười vốn quen phá các cơ sở kinh tế Sàigòn cũ mà ông gọi là “cải tạo” hơn là đọc sách là thứ mà cả đời ông chỉ sờ tới sách Mác – Lê – sờ chứ chưa hẳn đọc, đã hứa rằng sang năm 97 sẽ tài trợ cho Hội Nhà văn những…một tỷ đồng.
Đành rằng số tiền đó chỉ tương đương với tiền tài trợ cho một bộ phim sử thi, nhưng nếu đầu tư có hiệu quả thì 50 ông nhà văn “quốc doanh” mỗi ông sẽ được 20 triệu đồng đủ sống để viết mỗi người một cuốn tiểu thuyết trong đó ít nhất có 5 cuốn ca ngợi công ơn cuả đảng để Hội nhà văn làm ầm ĩ :”đã có một mùa mới trong tiểu thuyết. “
                                          

                                    Tháng 12 năm 96

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 120..Não trạng “ Diên An” còn đó…



Sau gần 20 năm được cố Tổng Bí thư Nguyễn văn Linh “cởi trói”, các nhà văn Việt Nam tưởng như đã thoát được những gông xiềng mao – ít Đảng đã nhập cảng của tàu từ đầu những năm  thập kỷ 1950 .
Những “thắt buộc ngặt nghèo” trong “đề cương văn học Diên An”  như “văn học phục vụ chính trị”, “ văn học của Đảng”, “tính Đảng, tính giai cấp trong văn học”…một thời đã thành “não trạng” cán bộ lãnh đạo văn học nghệ thuật, đã ăn sâu vào tim óc các nhà văn để sản xuất ra một thứ văn học “phục vụ kịp thời”, liền sau đó bị người đời vứt vào sọt rác...
Quan niệm văn học nặng mùi mao –ít đó những tưởng Đảng đã huỷ bỏ, tha cho văn nghệ sĩ , ngờ đâu , qua báo Tuổi Trẻ, người ta thấy nó vẫn còn sờ sờ ra đó , gây khiếp hãi cho các nhà văn trong nước vốn đã cóm róm, rụt rè như “gà phải cáo” đồng thời bộc lộ chiều hướng bảo thủ, khăng khăng không chịu thoát  khỏi “não trạng” xưa cũ .

Cánh đồng bất tận” là một truyện ngắn của nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư viết về một gia đình chăn vịt trôi nổi trên một con thuyền theo sông nước Cửu long. Ông bố trở nên trầm uất sau khi bị vợ cắm sừng bỏ đi theo trai, đứa con gái lớn và thằng em trai sống cách biệt với làng thôn, trong cuộc rong ruổi theo con nước luôn luôn chạm phải cái ác vốn đầy rẫy hai bên bờ sông. Đứa em trai bỏ đi theo đĩ, cô chị gái bị lưu manh cưỡng hiếp ngay trước mắt ông bố là chấm phá sau chót cho bức tanh của cánh đồng bất tận này.
Vốn khai bút từ những truyện ngắn sặc mùi ca ngợi cách mạng như “ngọn đèn không tắt”, “ diễn viên nghiệp dư”… Nguyễn Ngọc Tư, cây bút trẻ học lực lớp 11 ,  miệt vườn Cà Mâu, đại diện xứng đáng cho dòng văn học “Nam kỳ quốc” khởi xướng từ nhà văn Hồ Biểu Chánh. Vài năm nay những truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư được cả một bộ máy tuyên truyền của miền Nam đặc biệt là báo Tuổi Trẻ kéo lên chót vót, lại được mấy bác nhà văn già như Nguyên Ngọc, Phạm Toàn…cổ võ nên cây bút trẻ này trở thành “hiện tượng” , thành ngọn cờ cho mấy bác “thủ lãnh văn học” phía Nam ra sức giương cao.
Giá như Nguyễn Ngọc Tư cứ ‘ca ngợi truyền thống cách mạng” , viết về mặt đèm đẹp của cuộc sống thì chắc chắn ân sủng của Nhà nước vẫn còn rót xuống dài dài. Tiếc thay, cô cả gan mon men tới những “miền đất lạ” của văn chương, khai thác đề tài “cái ác” , cho dù “cái ác” đó chỉ nằm trong “bể khổ” của cõi nhân sinh, chưa hề dám hé lộ ra cha đẻ của nó chính là cuộc cách mạng do Đảng khởi xướng trên xứ sở này non một thế kỷ nay. Mới chỉ thế thôi, nhưng đòn trừng phạt đã tới tấp giáng xuống.
Ngày thứ bảy 8 tháng 4 - 2005, báo Tuổi Trẻ – người bảo trợ chính cho Nguyễn Ngọc Tư loan tin “cơ quan chức năng tỉnh Cà Mau đã yêu cầu kiểm điểm nhà văn Nguyễn Ngọc Tư về những nội dung trong tác phẩm này.” Và ý kiến trả lời phỏng vấn của hai ông Trưởng, Phó ban tuyên giáo tỉnh uỷ Cà Mâu, thay mặt Đảng chỉ đạo văn nghệ làm nhiều người sững sờ. Ong Trưởng ban Dương Việt Thắng sử dụng mẹo cũ  lấy “dư luận quần chúng” để kết tội :
“Có độc giả Việt kiều và cả các nhà nghiên cứu phê bình văn học cho rằng đây là thứ văn chương phản động, thậm chí là chống cộng; tục tĩu dâm ô; chống lại chủ trương của Đảng và Nhà nước…..Chúng tôi có buổi làm việc với lãnh đạo Hội VHNT, sau khi xem xét những vấn đề dư luận phản ánh, chúng tôi đã đề nghị có ý kiến về các mặt tích cực, hạn chế và đề nghị Hội VHNT kiểm điểm tác giả…Nhà văn NNT nằm trong biên chế của hội nên phải gặp thủ trưởng của nhà văn mới làm việc được. Ngày 24-3- 2006 chúng tôi đã làm việc với lãnh đạo Hội VHNT gồm các đồng chí Mười Thanh (chủ tịch hội) và hai phó chủ tịch hội Lê Đình Trường, Hoàng Thêm. Đã nhận xét những ý kiến khen chê…”
Ghê gớm chưa, cái mũ cối ông Trưởng ban tuyên giáo úp xuống đầu cô nhà văn miệt Cà Mâu to tổ bố không thua gì thứ ngày xưa mấy ông Trường Chinh , Tố Hữu úp lên mấy bác Nhân Văn- Giai phẩm .
Xua bộ máy “quản lý” xúm vào “đánh hội đồng” , ông Trưởng ban còn lên giọng dậy dỗ nhà văn :
Tôi thấy nói cái xấu nhiều quá! Và cũng cô đọng quá! Những nhân vật ông già, con cháu, gái làm đĩ..., kể cả cán bộ xã đều là nhân vật xấu. Quan điểm chúng tôi không phải không cho nói cái xấu, nói không biện chứng.
Tốt xấu bao giờ cũng có cả hai, tỉ lệ phải như thế nào đó. Nói xấu trong tác phẩm này có nhiều tình tiết đã nói quá hiện thực. Không đúng!”
Nhà văn viết không đúng ở chỗ nào ? Ta hãy nghe ông Trưởng ban bắt bẻ :
“Ví dụ như miêu tả gái điếm mà NNT dùng từ “dập dìu trên bờ đê” thì làm gì có. Hay như đoạn viết có nội dung: sau đợt dập dịch cúm gia cầm xong thì một phụ nữ đã buồn tiếc của mà uống thuốc tự vẫn.Thực tế trong cả nước đến nay vẫn chưa có người tự vận như vậy mà chỉ có thể buồn chán thôi. Người nuôi có gia cầm bị tiêu huỷ đều được bồi thường tiền. Hoặc như chi tiết: ông già chơi đĩ xong đã trả tiền cho đĩ ngay trước mặt con là không có.Từ những chi tiết như thế, chúng tôi cho rằng tác phẩm này không có tác dụng giáo dục xã hội, giáo dục con người. Tôi không viết văn nhưng tôi biết chức năng của văn học là chức năng giáo dục và định hướng.
Mặc dù mặt trái của kinh tế thị trường có cái xấu, cái xuống cấp nhưng đa số vẫn tốt.”
Vậy là ông Trưởng ban nêu lại nguyên xi những yêu cầu của Đảng đối với nhà văn y như thời “văn nghệ Diên An “ : viết văn để giáo dục, để định hướng xã hội chủ nghĩa, viết cái xấu phải có liều lượng để cái tốt vẫn chiếm ưu thế.
Và Ban tuyên giáo ra hẳn một nghị quyết :
“ - Hội Văn học nghệ thuật kiểm điểm phê phán tác giả một cách nghiêm khắc, rút kinh nghiệm khi viết, cần phải có thực tiễn cuộc sống, cái đẹp, cái tốt mà xã hội đang xây dựng và phát triển. Tất nhiên, cần phê phán cái chưa tốt, nhưng phải đúng hiện thực và có định hướng cho con người đến cái chân - thiện - mỹ.
- Hội Văn học nghệ thuật nên thường xuyên có định hướng cho người viết, sáng tác nên những tác phẩm hay, có phê phán nhưng phải thận trọng tránh gây nên một phản ứng xã hội gay gắt đối với tác phẩm.
- Thường xuyên tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tất cả hội viên ở các lĩnh vực (có Nguyễn Ngọc Tư) được tham gia học tập lý luận chính trị, trau dồi đạo đức phẩm chất, nâng cao ý thức trách nhiệm của người cầm bút, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn.
Riêng nội dung trả lời phỏng vấn với một số báo thiếu trách nhiệm, đề nghị Đảng, Đoàn nơi Nguyễn Ngọc Tư sinh hoạt giáo dục và kiểm điểm.”
Tất nhiên đây còn là một dịp may hiếm có cho các ông muốn nhảy ra ‘đánh hôi” lập công dâng Đảng “.
 Người nhảy ra trước tiên là ông Thạc sĩ VƯU NGHỊ LỰC phó giám đốc Sở VH-TT Cà Mau. Ong hô hoán :
“ Chẳng lẽ khi đặt tên cho tác phẩm của mình là Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư lại không biết rằng đối với người Việt, cánh đồng là một biểu tượng văn hoá nhạy cảm? …Vậy hà cớ gì lần này cô phỉ nhổ vào cái cánh đồng ấy tàn tệ đến thế?”
Ong “vạch  mặt” nhà văn :
“Cây bút nữ xứ Cà Mau ơi... Những chuyện mà cô kể không còn là chuyện của cánh đồng nữa; tôi nghĩ đó là “vũng lầy bất tận” thì đúng hơn. ..Mọi thứ do nhân xưng “tôi” cố ý xuyên tạc bằng trí tưởng tượng nhồi nhét, bằng thao tác lượm lặt và một mặc cảm về tính giao bệnh hoạn. Cánh đồng của Nguyễn Ngọc Tư tất cả đều dâm ô hết. Hình ảnh nông dân Chí Phèo - Thị Nở trở nên lưu manh hoá bởi giai đoạn xã hội thối nát. Còn những hình ảnh nông dân của Ngọc Tư trở nên dâm ô hoá, ngay hôm nay bởi cái gì, vì ai mà con người chỉ còn quan hệ tính loài? Cô chửi vào họ một cách không thương tiếc: thất học, hung hãn; nghèo đói, dốt nát tăm tối; những đứa tên Hận, tên Thù nhàu úa, cộc cằn, chửi thề là tươi rói... Cánh đồng VN sau 30 năm giải phóng phận người mà như thế?... Cánh đồng của Ngọc Tư là ở đâu vậy; một cánh đồng bệnh hoạn về nhân cách, tồn tại không kỷ, không cương, không pháp luật. Có một thứ cánh đồng của ngày hôm nay như thế sao? “”
Đọc những lời kết tội của ông Phó Giám đốc Sở văn hoá-thông tin, người ta thấy sống lại cả một thời đấu tố “cải cách ruộng đất”. Và đi xa hơn nữa, ông kết cho nhà văn cái tội “phản động” tầy đình :
“Thông điệp của Ngọc Tư trong Cánh đồng bất tận là gì, hiện thực của hôm nay mà như thế thì cô biểu mọi người phải làm sao đây hả Ngọc Tư? Có nhà giáo dạy văn học gửi thư cho các cơ quan lãnh đạo tỉnh Cà Mau cực lực lên án Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, nói rằng cô quá phản động là rất có lý! “
Vùi dập nhà văn chưa đủ, ông Phó Sở này còn lên tiếng doạ nạt cả những người ủng hộ Nguyễn Ngọc Tư :
“… những người ủng hộ Cánh đồng bất tận hãy lưu ý đất nước mình còn 80% dân số tiếp tục gắn cuộc đời trên những cánh đồng. Đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, thẩm thấu trong đó là văn hoá cánh đồng. Nếu các bạn vẫn bảo lưu đứa con bệnh hoạn này, còn định làm thành phim nữa chứ, thì tôi xin thay mặt 80% nông dân lam lũ mà trong đó có cha mẹ ông bà tôi, cha mẹ ông bà của các bạn hãy vị tình mà bỏ hai chữ “cánh đồng” đi. Nên thay vào đó là “Vũng lầy bất tận”, vì với các bạn thì “cánh đồng đã tận” rồi.”
Sự nổi đoá và những lời đao to búa lớn của quan chức văn hoá tư tưởng tỉnh Cà Mâu giáng xuống đầu Nguyễn Ngọc Tư  thực ra chẳng còn gây nên nỗi sợ hãi ghê gớm cho các nhà văn như ngày xưa nữa. Báo Tuổi Trẻ – cơ quan bảo trợ nhà văn này đã lập tức dấy lên một dư luận bảo vệ Nguyễn Ngọc Tư. Và cái sự kiện này chỉ còn mỗi ý nghĩa lớn nhất là bộc lộ não trạng của hàng ngũ cán bộ làm công tác lãnh đạo văn hoá văn nghệ hiện nay vẫn còn hết sức ù lì, mao –ít, nặng mùi trấn áp theo kiểu “văn học Diên An” ngày xưa.

                      10-4-05
                



PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 35



                            (tiếp theo)

Chúng tôi cầm hành lý cá nhân trong một tâm trạng hồi hộp vì sắp sửa bước xuống ghe để dự vào chuyến hải hành mới. Vài người lớn nắm chặt tay trẻ nhỏ như sợ chúng sẽ lạc mất. Trong những phút cuối cùng còn trên sân cảng, ông Aleck lách qua hàng người và tiến đến chỗ ông Thăng ông Phát đứng rồi đưa hai gói giấy vuông cạnh với dây mầu cột hình chiếc nơ khá đẹp cho hai người nầy. Ngay tức khắc, hai ông Thăng, Phát cùng mở hai gói giấy đó trước mặt chúng tôi rồi lấy ra hai quyển album thật đẹp. Ông Thăng giơ quyển album lên cho mọi người thấy, lắp bắp nói đây là quà của ông Aleck tặng riêng, trả công vì hai người họ đã giúp việc thông dịch cho đoàn người.

Đến giờ xuống ghe, chúng tôi lần lượt nối đuôi thành một hàng dọc theo nhau tiến về phía trước. Ông Aleck cùng các sĩ quan hải quân đứng yên tại chỗ và lần lượt bắt tay từng người chúng tôi. Đến phút phải chia tay với đất nước Malaysia thật rồi. Đám chúng tôi băng qua hết bờ cảng bê tông rồi vượt qua một cầu tàu xi măng nhỏ để đến chiếc ghe mới trong tiếng máy nổ êm nhẹ cùng dàn đèn cháy sáng choang đậu riêng biệt sát cạnh cầu tàu. Xa xa, các ghe lớn nhỏ khác nhau đậu thành hàng im lìm trong ánh sáng đèn chiếu sáng rực. Không biết những ghe đó của dân hay của quân đội vì chúng tôi đang trong khu căn cứ hải quân Johore? Tôi xuống ghe và đi dọc theo cạnh lườn sát căn buồng lái hướng về phía mũi rồi khoang hầm. Bắt chước người đi trước, tôi đu người chui xuống khoang hầm ghe. Đúng như lời ông Aleck nói, ghe này tuy to hơn chiếc cá lớn nhưng lòng nó thì cạn hơn. Khoang hầm khá rộng và được lót bằng ván gỗ mới nên trông rất sạch. Nhiều miếng vải vụn cùng các bịch nylon mới toanh được bỏ nằm vương vãi ở nhiều nơi trên mặt sàn khoang hầm. Một bóng đèn tròn lủng lẳng trên nóc soi rõ mặt từng người đám chúng tôi. Đào, Bẩy cùng Yến ngồi bó gối sát cạnh vách khoang ghe phía đối diện không xa chỗ tôi còn Đỉnh thì ngồi cùng bên cách tôi vài người. Lần đi này, trẻ em thì ngồi chung với gia đình chứ không tập trung hết trên buồng lái như ở cá lớn. Cùng một cảm giác như khi còn đang ở Việt Nam, ai cũng hồi hộp nhưng nhanh nhẹn như vừa từ taxi bước qua cá lớn và trám kín vào bất cứ chỗ nào còn trống của khoang hầm. Tám Kiệt, Thuận và hai ông Thăng, Phát thì ở trên buồng lái với đám hải quân Malaysia. Một gã lính hải quân thò đầu xuống khoang hầm cười cười và vẫy tay chào với chúng tôi. Mọi người im bặt khi có tiếng ông Phát nói vọng xuống, báo tin:

- Tàu hải quân của họ sắp sửa kéo ghe mình chạy đó bà con ơi. Ai mà cảm thấy muốn ói muốn mửa gì thì cứ ói vào mấy bịch nylon để sẵn đó và ngồi yên chỗ, đừng di chuyển tới lui nha.

Tiếng máy từ tàu hải quân nổ lớn hơn rồi sau đó thì có một chuyển động nhẹ từ tấm ván nơi tôi dựa lưng và nó càng lúc càng mạnh hơn, ghe đã bắt đầu chạy. Đúng hơn, ghe đang được tàu hải quân Malaysia kéo đi. Gần bên tôi, người thì hai mắt mở thao láo vô hồn, người thì ngồi nhưng mắt nhắm nghiền hoặc dựa lưng vào vách ghe như đang ngủ. Vài đứa bé nằm xoài người ra ngay dưới sàn hầm bên cạnh ba mẹ chúng. Đông người nhưng không quá chật vì như đã kể, khoang hầm ghe rộng bề ngang tuy không sâu như bên chiếc cá lớn. Cửa khoang hầm mở rộng do đó không khí bên ngoài thốc vào đã giúp chúng tôi bớt nóng và ngột ngạt. Nhìn trong khoang hầm và mũi ghe bầu tròn, sàn thấp thì có người nói đây không phải ghe đi biển đánh cá mà chỉ là loại chở hàng trên sông rạch hoặc trong vùng cận duyên. Số người có mặt trong ghe có lẽ chẳng là bao so với tải trọng thực của ghe và vì vậy, máy ghe chạy rất êm. Nói vậy nhưng cũng khó biết chính xác vì hiện ghe đang được tàu hải quân kéo bên ngoài. Những tấm ván mới cũ ghép bên nhau trên sàn hầm thì biết chiếc ghe này vừa được hải quân Malaysia tân trang lại. Gốc gác nó từ ngư phủ Malaysia hay của một chuyến vượt biên người Việt nào đó đã vất bỏ khi họ lên bờ? Biết đâu cá lớn chúng tôi bỏ tại cảng Kelang vừa rồi thì cũng sẽ được họ tân trang và dành cho chuyến chuyển tiếp người Việt khác sau này. Hơi đâu mà chính quyền Malaysia bỏ tiền ra đóng ghe mới cho thuyền nhân Việt. Tận dụng ghe cũ là thượng sách, có hư hỏng thì sửa lại là xong. Và, để phòng các chuyện không hay xẩy ra thì cách tốt nhất họ dùng tàu hải quân kéo hẳn ghe ra tới biển lớn là hết trách nhiệm. Có bóng đèn chiếu sáng lủng lẳng trên đầu, tôi xem lại cái áo phao mới toanh đang mặc. Ngay cổ áo, không có miếng vải nhỏ ghi xuất xứ làm tôi nhớ lời của ông Aleck và các sĩ quan hải quân đã dặn không được tiết lộ ghe này xuất phát từ cảng Johore ra. Đúng rồi. Họ cố tình không muốn ai biết về hành động của họ. Lúc mới xuống dưới ghe, tôi đã thấy trong buồng lái cũng có các bao thực phẩm y chang loại đã tiếp tế cho cá lớn khi còn ở cảng Kelang. Họ giúp nhưng lại muốn che dấu tung tích về chuyện đã tiếp xúc với chúng tôi, những người vượt biên quá trễ. Lòng nhân đạo của các nước lân bang đã quá mỏi mệt vì phải giúp thuyền nhân cả một thời gian dài khiến họ lúng túng trong cách đối xử với người vượt biên như chúng tôi bây giờ. Họ đã tàn ác hay vụng về khi kéo ghe trở ngược ra biển? Cũng khó mà hiểu tâm trạng cùng hoàn cảnh của người nước họ. Tiếng người nói chuyện lao xao chợt im bặt vì một tiếng giật mạnh chuyển vào thân ghe để rồi tiếp sau đó làm mọi người bắt đầu có cảm giác nôn nao.

Tàu kéo hải quân Malaysia đã tăng tốc độ, ai trong khoang hầm cũng biết.

Ghe bây giờ chạy nhanh hơn, nước biển bên ngoài có lúc tung cao hắt văng xuống lòng khoang hầm làm những người ngồi gần ô cửa phải lết sang chỗ khác tránh. Cảm giác khó chịu của cơ thể vì chuyển động từ ghe càng lúc càng tăng và đã có người bắt đầu vớ lấy các bịch nylon hờm sẵn trong tay. Chỉ một lát sau, tiếng nôn oẹ ợ lên trong khoang hầm và đã có người bắt đầu ói. Hai phụ nữ ngồi gần tôi đã bắt đầu ói lọt bọt vào các bịch nylon. May là bụng ai cũng trống rỗng nên muốn ói mà chẳng có gì để mửa ra. Lúc còn đứng tập trung ở mặt sân bê tông tại cảng, đã có người trong đám chúng tôi than đói than khát và trách móc bọn lính Malaysia cho ăn uống quá ít lại không phát thêm chút gì khác để dằn bụng. Nhờ vậy mà hay vì nếu có sẵn thức ăn bên cạnh, thể nào có người cũng sẽ nốc cho cố xác. No bụng, sẽ khổ cho cái thân và cho cả người ngồi cạnh. Để chúng tôi phải chịu đói khát trước giờ hải hành, hải quân Malaysia ở căn cứ Johore rõ ra đã cố ý làm vậy và như thế, họ đã từng kéo ghe người Việt.

Chạy tiếp mãi như vậy khoảng bốn tiếng đồng hồ thì ghe bắt đầu từ từ chậm lại rồi ngừng hẳn. Tàu hải quân Malaysia đến bên ghe và tiếng người nói lao xao ở phía trên, hai gã lính Malaysia đi theo ghe từ lúc khởi hành lại thò đầu xuống khoang hầm cười cười rồi vẫy tay từ biệt chúng tôi. Giờ đây, đã đến lúc chúng tôi phải tự lái ghe lấy. Một hồi còi rít vang lanh lảnh, tàu hải quân Malaysia từ từ tách ra xa rồi tiếng máy của nó nhỏ dần và mất hẳn. Tàu hải quân đi xa rồi, vài người trong khoang hầm tiến đến gần chỗ cửa để chuẩn bị trèo lên nhưng còn phải nghe ngóng chờ ý của Tám Kiệt đã. Nếu họ trèo lên thì mình cũng sẽ theo chân, tôi nhủ thầm. Chợt thấy Đỉnh trong số những người vừa lết lại gần cửa khoang hầm, nó cũng thấy tôi và khẽ giơ ngón tay trỏ quay quay vào đầu như cho biết đang cơn choáng váng. Không phải chờ lâu, tiếng chân người trên mặt sàn ghe bước đến gần và giọng Tám Kiệt vọng xuống:

- Ai muốn lên thì lên còn không cứ ở dưới. Bây giờ thì bọn mình giống y như lúc chưa ghé vào Kelang đó.

Tôi vội theo chân những người đu mình leo lên trên mặt sàn ghe rồi sau đó phóng tầm mắt nhìn biển chung quanh tối đen. Gió đêm thổi mát lạnh, xa xa trên mặt biển chỉ một chấm đèn nhỏ có lẽ là chiếc tầu hải quân vừa bỏ ghe chúng tôi. Một vầng sáng lờ mờ hắt lên từ dưới mặt nước biển ở đường chân trời, ai cũng cho chắc đó là cảng Johore. Bầu trời đen thui không một ánh sao đêm, Tám Kiệt đứng lẫn trong nhóm người vừa từ khoang hầm ghe vọt lên, nói:

- Bây giờ chúng ta nhắm hướng ánh đèn hải đăng phía trước mặt cho đến khi nào trông thấy cái hải đăng thứ hai thì đổi hướng theo ngay nó. Cứ theo như vậy lần lượt, mình gặp đến cái hải đăng thứ năm thì ghe sẽ vào Indonesia. Mấy cha hải quân nói khi gần sáng chúng ta sẽ đến nơi đó.

- Nơi đó là Galang hả anh Tám? Một người đứng gần tôi, hỏi.

- Không. Tám Kiệt lắc đầu mà không trả lời. Ông Thăng nhìn người vừa hỏi, xen vào:

- Lúc nãy tôi cũng hỏi như anh nhưng mấy bố hải quân nói Galang còn xa lắm. Galang cũng chỉ là một hòn đảo nhưng phải là dân Indo thì mới biết đường. Bây giờ, bọn mình chỉ còn cách duy nhất là đi theo ánh đèn hải đăng thôi.

Mọi người nhìn theo hướng tay của ông Thăng về một chấm nhỏ loé sáng rồi tắt sau đó lại sáng và tắt trở lại nằm tuốt tận chân trời xa xa tương tự như ánh đèn hải đăng nơi đỉnh núi Lớn ở Vũng Tàu. Vài người lấy tay che ngang trán ráng nhìn, người khác hỏi ống nhòm thì Tám Kiệt lắc đầu, trả lời không có.Từ khi còn ở trong nước, hầu như ai có máu vượt biên cũng đều biết bên Indonesia có trại tị nạn người Việt tên là Galang. Giờ đây mới rõ Galang chỉ là một hòn đảo và nằm đâu đó trong số hàng ngàn hòn đảo của Indonesia. Làm sao ghe chúng tôi đến được đảo tị nạn Galang đây?

Nhìn đồng hồ tay đã hơn 1 giờ sáng, chỉ còn vài tiếng nữa thì ghe chúng tôi sẽ cập vào Indonesia. Thấy có hải đăng chỉ đường nên ai nấy lộ vẻ vui mừng, nghĩ mọi việc rồi sẽ ổn. Có người rủ nhau leo xuống trở lại khoang hầm để ngủ trong khi chờ trời sáng. Tám Kiệt và Thuận đứng bên nhau trong buồng lái, chạy ghe nhắm theo ánh đèn hải đăng. Cảm giác nôn nao bớt hẳn trong người tôi nhưng lại thấy lạnh vì gió. Có tiếng gọi nho nhỏ, tôi quay mặt tìm và thấy Đỉnh đã ngồi trên mặt sàn ghe không xa, tôi liền lại gần bên, hỏi:

- Bớt nhức đầu chưa Đỉnh? Ráng lên, trời sáng là ghe mình sẽ cập được bến mới rồi.

Đỉnh nhìn tôi thật yếu ớt, nó khẽ gật đầu rồi cười. Chắc ai trên ghe cũng đều chung một ý nghĩ như tôi nhưng ngờ đâu, chỉ chốc lát nữa thôi thì mọi dự tính sẽ đảo lộn hết tất cả.


                                           (còn tiếp)

Thứ Bảy, 1 tháng 11, 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 119 - Xiếc ...chữ...


                                            

             Người ta nói nhà văn chính là nhũng nhà xiếc ...chữ.
            Hơn nưả thế kỷ qua,trong văn chương Việt Nam,giải quán quân phải giành cho văn sĩ Nguyễn Tuân.Ông nhào nặn,tung hứng,vặn vẹo  chữ nghiã thật chẳng khác gì một  ảo thuật gia .Tuy nhiên,cái trò đó dễ làm ngưá tai gai mắt  lãnh đạo vốn coi văn chương phải phục vụ chú bộ đội,anh công nhân,chị xã viên,bởi thế nó  phải dễ nghe,dễ hiểu,nói năng cho từ tốn, lễ phép,đừng có xếch mé,nói chõ lên mà móc máy lãnh đạo.Chẳng thế,thời đó,có anh đã phải đi tù chỉ vì làm hai câu thơ :
            “ Tiến lên ta quyết tiến lên,
           Tiến lên ta gọi cấp trên bằng...thằng..”
         
Nguyễn Tuân chả dại gì nói năng bộc tuệch thế,ông nhẹ nhàng,uyển chuyển,lươn lẹo và xỏ xiên tinh vi hơn.Bút ký “Sông Đà” cuả ông tuy lắm thác nhiều ghềnh nhưng vẫn còn êm tai tai lãnh đạo lắm,kịp đến khi ông viết về “Phở” thì giọng đã hơi khang khác rồi,cả nước đang khó khăn,sao không viết về “ngô bổ hơn gạo” mà lại viết về “Phở”,ý gì đây ?
Rồi tới bài “giò” thì “ngưá tai” quá,đồng chí Tố Hữu không chịu nổi -,đành vẫy tay cho cả một đội ngũ đâm thuê chém mướn vào cuộc khiến cho nhà văn Nguyễn Tuân phải đứng giưã hồ Gươm mà than rằng :
”Than ôi,giò cuả ta giã đã kỹ đến thế rồi mà người đời  vẫn còn giã lại...”.
Sau đó nhà xiếc chữ đành phải chuyển giọng theo thời mà hô hoán lên “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi” làm người đời phải nhỏ to với  nhau rằng ông Nguyễn Tuân giống như người làm xiếc trên giây,chỉ tiếc rằng sợi dây không còn căng trên cao nưã,nó đã được đặt xuống ngay dưới đất,ấy vậy mà ông đâu có biết,ông tưởng ông vẫn còn ở trên cao nên ông vẫn cứ đu đưa,vẫn cứ ẹo qua ẹo lại mãi trong một lọat bút ký tiếp theo.
Các nhà văn Việt Nam từ đó thôi không bắt chước ông làm “xiếc chữ” nưã,ngày nay may ra sót lại có nhà văn gái Phạm thị Hoài là còn mải mê với cái trò ném chữ vào “vô tăm tích” .
Ấy vậy tại hội truờng Ba Đình Hà Nội,nguời ta được chứng kiến các ngài Bộ truởng trả lời chất vấn cuả quốc hội Việt Nam,còn “xiếc chữ” giỏi hơn cả ông Nguyễn Tuân lẫn em gái Phạm thị Hoài.
Trước tiên là ngài Lê Ngọc Hoàn,Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải,người vốn đã tai tiếng một thời vì đã ký lén duyệt thầu xây dựng cảng ở Quảng Ninh rồi,lại giả vờ là chưa,vẫn cho gọi thầu làm thiên hạ tưởng bở ào ào nộp hồ sơ.Đến khi gói thầu mở ra,thiên hạ mới bổ ngưả là đã có anh được chỉ định thầu rồi.
Phải nói cái nghề giao thông vận tải này  vào thời chiến tranh quả là vất vả,gian khổ và nguy hiểm.Chỗ nào có đường có cầu là có bom đạn Mỹ ,bởi vậy nói đến giao thông vận tải là nói đến công binh,thanh niên xung phong – nhũng ngưới đã đổ cả tuổi thanh xuân trên các tuyến đường  khói lưả.Vậy nhưng sang thời mở cưả thì khác lắm rồi,chưa có bất cứ một ngành nào mà vốn ADB,vốn nước ngoài đổ vào nhiều như thế để làm đường,làm cầu,làm cơ sở hạ tầng.
Từ chỗ chỉ có đất với đá,các quan chức Giao Thông vận tải bỗng dưng nắm trong tay cả trăm tỷ ,ngàn tỷ.Tiền như nước thế,mà,lập hồ sơ giả,ăn chênh lệch giá dễ như trở bàn tay,tội gì không… ăn.
Còn nhớ hồi mới mở cưả,người tiền nhiệm ông Hoàn hiện nay là Bộ Truởng Bùi Danh Lưu,khi đi công tác sang Thái Lan được đối tác đưa cho cái phong bì để tiêu vặt có 500 đô la,ngài  đã ngẩn ngơ hỏi tuỳ tùng:”cái này mình có được nhận không nhỉ?”.Khi tuỳ tùng bảo nhận chứ sao không,Bộ truởng mới vui mừng : “chỗ này đủ cho bà xã tớ làm cái gác xép đây...”.
Ô hô,từ lúc đó tới lúc  về hưu hạ cánh an toàn,ngài Bộ trưởng Bùi Danh Lưu  đã có thể đưa tiền cho bà xã làm cả triệu cái “gác xép” rồi.Không đâu “ăn dầy”,”ăn dễ” lại khó đổ bể  như ở ngành giao thông vận tải trừ khi...”hòn đất mà biết nói năng” thì hồ sơ giả,con số ma bị chôn dưới những con đường,nhũng cây cầu,mới phơi bày được ra hết.
Đến như mấy năm trước đây,người ta thưà biết ông Ngô Lực Tải, nguyên Giám đốc Sở giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh  ăn chênh lệch giá không biết bao nhiêu đô la trong mua tàu cũ  thành tàu mới ,trong đủ các trò phù phép,gian lận mà mấy lần ra toà đều không kết nổi tội cho ông,đành phải để ông ....cập bờ an toàn.
 Trong số báo ra ngày 1/12/00 mới đây,báo Tuổi Trẻ ở Sàigòn chạy một tít đậm ngay trang nhất:”
” Những sai phạm ấy,thưa ngài Bộ truởng,chẳng có gì nghiêm trọng ư ?”.
Theo thông lệ từ ngàn xưa,báo chí của Đảng mà ăn nói hỗn hào thế ,“mó dế ngựa “ thế là hiếm có trong lịch sử,người viết chắc ăn một cú đá quay lơ. Vậy nhưng lỗi cũng là tự ông Bộ trưởng Hoàng Đức Nghi,ai đời giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban dân tộc  và miền núi lại xuất hiện giữa hội trương Ba Đình,ống kính truyền hình trực tiếp cho cả nước coi,người ta lại thấy ông có cái dáng vẻ sang trọng,bệ vệ như quan kinh lý ngày xưa chứ không phải người cách mệnh lặn lội núi rừng,lo toan cho  các sắc dân miền thượng.
Rút kinh nghiệm Sarajêvô,Đông Timore,dải Gaza...Đảng và Nhà nước ta rất chăm chút tình hũu nghị giữa các dân tộc,mấy năm qua nào phân loại các gia đình đặc biệt khó khăn,nào tài trợ xây dựng làng bản, nào xây dựng trung tâm thị trấn,nào trợ giá mua máy “radô” nghe đài Tiếng nói Việt Nam,tiền của ngược lên miền núi không phải là ít,ấy thế mà chao ôi,lên đến nới thì thất thoát dọc đường chẳng còn là bao.
Nói có sách,mách có chứng,năm 2000 nhà nước chi hỗ trợ cho đồng bào Lùng Vai (Lài Cai) tới 200 triệu ,ấy thế mà cái Ủy ban dân tộc và miền núi của ngài Bộ truởng nỡ lòng ăn chặn hết 133 triệu,còn lại tới tay dân đen con đỏ chia theo đầu người chắc được đâu vài ngàn.
Nhưng đó mới chỉ là ba cái vụ lẻ tẻ, thực hiện chủ trương của Nhà nước hỗ trợ đồng bào chặt bỏ cây thuốc phiện để trồng cây khác 1,757 tỷ đồng,đến khi thanh tra,Ủy ban của ngài Bộ truởng đã làm “thất thoát” hơn ...1 tỷ đồng.Kinh hoàng hơn nữa là trong số 6,43 tỷ đồng Nhà nước cứu đói cho đồng bào dân tộc thì ngài chi tiếp khách ,hội họp,chi cho cán bộ Ủy ban  hết ...2 tỷ 2,nghĩa là đồng bào khó khăn bị ăn chặn mất 33%...Còn nhiều chuyện động trời như thế nữa,vậy  mà khi trả lời, ngài Bộ truởng vòng vo Tam quốc,câu giờ như cầu thủ đá banh nằm trên sân , hỏa mù chũ nghĩa nào là chủ trương 135,chương trình 06/CP ,chỉ thị 393 ,nghị định 807 vân vân  và vân vân làm người nghe ù cả tai,mờ cả mắt, rối mù tăng tít khiến nhiều vị quốc hội đâm ra ngờ rằng có khi chính Bộ truởng cũng chẳng biết Bộ truởng đang nói cái gì.
Thế rồi khi được hỏi rằng cái số 248.000 máy radô mua cho dân sao không đấu thầu,sao mang lên miền núi thì đài địch lại nghe đuợc ,đài ta thì không ,như vậy có phải là phản tác dụng không ?
Ngài Bộ truởng trả lời bừa rằng làm  sao mà biết đuợc chỗ nào có sóng ta,chỗ nào có sóng địch,để rồi lần sau bảo ba thằng Sony,Hitachi với National phải lên đó mà điều nghiên thử coi chỗ nào có sóng ta thì bắt,sóng địch thì tránh ,liệu mà thiết kế cái máy cho hiệu dụng...
Rồi tới phiên ông Chánh án tòa án nhân tối cao và Viện truởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao  trả lời,ngôn từ chữ nghĩa đuợc mang ra vận dụng vào điều nọ khoản kia, Bộ luật này Thông tư nọ mới thực sự là vỡ đầu bà con.
Các đại bieu sốt ruột : Tóm lại là năm qua các ông bắt sai,xử oan mấy người? Báo cáo 97 người đã được tuyên bố vô tội.Bao nhiêu người đã được bồi thường cả danh dự lẫn vật chất.Báo cáo...5 người.Tại sao lại sử oan sai ? Báo cáo,do trình độ thẩm phán còn thấp .Có trưòng hợp nào do cố tình xử sai,sử oan không ? Báo cáo..chưa phát hiện ra truờng hợp nào ? Vậy 97 ông thẩm phán xử oan sai có ông nào ra tòa không ? Báo cáo không,không có ai,tất cả đều là do ...nhận thức chưa đầy đủ vậy thôi.
Nghe ông Chánh án và ông Viện trưởng  chuyền bóng cho nhau,ông Nguyễn Minh Hồng đại biểu An Giang đứng lên phàn nàn “cán cứ đổ cho dao” mãi thế này thì tôi xin nói thực “Bộ Binh,Bộ Hộ,Bộ Hình...ba bộ đồng tình bóp .. vú con tôi ”
Ối trời ôi,ở dưới quê nhà,bác Ba Phi đang lai rai ba xị đế với ba trái  cóc phải vỗ đùi đen đét :
”Tầm bậy,nói tầm bậy quá,dân tui lũ lụt đói teo cả vú lại,đến cái cọotxê  còn chẳng có chỗ mà treo nữa,lấy đâu ra vú cho mấy ông bóp..”.
Ấy thế mà nghe ông Nguyễn Minh Hồng than vậy,khối vị đại biểu quốc hội  phải đỏ mặt kia đấy.Bởi lẽ bằng cách nào đó,thử làm cuộc điều tra bỏ túi coi trong các quý ông  ngồi đây có bao nhiêu người đã từng giật giải “bàn tay vàng” trong các cuộc thi hát karaaoke tại các quán đèn mờ đang mọc rộ như lúa chín đòng trên khắp đất nước.
Nhưng mà nói cho ngay,nhìn thấy hai ông quan nhất phẩm trào đình,thường ngày nhả ra khói,nói ra lửa vầy mà hôm nay một điều thưa,hai điều báo cáo,ông Viện truởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao lại còn xin lỗi các đồng bào bị oan sai nữa kia chứ,bà con ngồi nghe radô,coi truyền hình trực tiếp cũng thấy mát ruột.
Ủa... vậy còn cái vụ ông Hà Sĩ Phu nạp đơn cho ông Chủ tịch Nông Đức Mạnh xin cứu xét trường hợp của ông sớm mở phiên tòa xét xử thì không thấy ai nói vậy cà ?  À...chắc là do đường bị tắc lũ,kẹt xe,vướng tai nạn giao thông tùm lum như ông Bộ truởng giao thông mới điều trần, nên đơn của ông Hà Sĩ Phu nghe nói có gửi từ hồi tháng 8 nhưng cũng chưa tới nới được.Thôi để kỳ họp sau,giả dụ có quý vị quốc hội nào chất vấn thì bên công an sẽ trả lời bằng văn bản vậy .Nói giả dụ thế thôi,nhưng có ai đâu ?
            Trong các quý vị Bộ truởng ra điều trần truớc quốc hội,nguời ít chơi trò “xiếc chữ” nhất chính là Bộ truởng nông nghiệp và phát triển nông thôn Lê Duy Ngọ.Trong mấy tháng lũ lụt vừa qua ông Ngọ lặn lội cùng khắp đồng bằng sông Cửu Long,đối đãi với bà con theo tình làng nghĩa xóm nên được bác Ba Phi rất có cảm tình ,tự cạn ngay một ly chúc sức khỏe ông Bộ truởng.
Quả nhiên ông Ngọ cứ nôm na phăng ra rằng  tiền đầu tư cho nghiên cứu khoa học chỉ đủ để...xóa đói giảm nghèo cho cán bộ nghiên cứu,rằng trong các trái cây nhập khẩu sao mà biết được có hóa chất hay là không,đợi đến khi mang về phòng thí nghiệm và có kết quả rồi thì bà bán hàng cũng đã đi từ tám đời,rằng trong 13.000 hợp tác xã có nguy cơ tan rã thì chỉ mới có 32% đăng ký lại.
Cái vướng nhất là xử lý nợ,các hợp tác xã nợ tới 132 tỷ,đang xin chính phủ xóa nợ...Ấy ấy,chỗ này nói năng phải cẩn thận đây,kỳ vừa rồi Tổng thống Clinton có chào mừng Việt nam đã giải tán được các hợp tác xã, bị ông Tổng bí thư  Lê Khả Phiêu quật lại :”chúng tôi không giải tán,chúng tôi chỉ sắp xếp lại thôi”.
Vậy mà ông Ngọ lại nói rằng có thể săp xếp lại nhưng lại vướng nhũng quy định của luật Vậy chẳng hóa ra tổ chức lại hợp tác xã là trái luật hả ? Ông Chủ tịch Nông Đức Mạnh đang nghĩ ngợi gì đó cũng phải giật mình,uốn nắn ngay :
“Không sợ vuớng luật vì luật cũng chỉ là...thủ tục hành chính thôi...” Hi hi...từ đầu kỳ họp tới giờ ông Nông Đức Mạnh mới nói được câu này nghe ra là...”hay” nhất,nếu không thì suốt buổi Ngài cứ “cảm ơn””xin cảm ơn” túa lua xua và tuy quốc hội còn đang tiếp tục họp nhưng ngưòi ta đã đã sẵn sàng bầu cho ông là người nói hai chữ “cảm ơn” nhiều nhất .
Vậy còn ai là người  “xiếc chữ” giỏi nhất trong kỳ họp quốc hội này.Kể ra cũng khó chọn được một người như thế thật.Trong cái tháng vừa qua,theo như bà con ở quê nhà đuợc coi qua truyền hình thì giải quán quân về nghệ thuật “xiếc chữ” phải được trân trọng trao cho ngài Bill Clinton,Tổng Thống Hoa Kỳ. Bởi lẽ suốt mấy ngày “xiếc chữ “ ở Việt Nam ông đã làm hài lòng được cả nhà nước cộng sản,cả cộng đồng bà con hải ngoại,cả các quý vị đa nguyên,kháng chiến lẫn  các cán bộ lão thành cách mạng trong nước,cả các cựu binh nghị sĩ trrong quốc hội và nhất là hài lòng cả giới thưong gia Hoa kỳ...
Ôi xiếc chữ như vậy thì nghề này phải lấy ông này tiên sư...

2/12/00



Phỏng vấn Giáo sư NGUYỄN VĂN TRUNG: - KỲ 3

“Không ở chế độ nào tôi làm người đối lập!”  

                                                            ĐỖ QUYÊN thực hiện



                                               (tiếp theo)

+ Anh đã xem tập truyện của ông Trần Thư chưa? Ở đó có nói đôi chút về sự “thú tội” này.

- Nguyễn Văn Trung: Chưa, hiện tôi chưa có, anh nhớ cho tôi xem! Tôi chỉ "đòi" ở ông Nguyễn Kiến Giang nói ra chuyện đó cho mọi người hiểu biết thật sự Cộng sản là gì. Chứ còn những điều ông khác viết, tôi nói thật, tôi chả buồn đọc. Nó chẳng ăn thua gì trong lúc này.

+ Ông Nguyễn Kiến Giang còn là Mácxít...

- Nguyễn Văn Trung: Thì ông Giang vẫn viết: "Tôi vẫn còn là một đảng viên kiên cường", thế làm sao ra khỏi Mácxít được! Chính thế lần đó tôi nói với ông rằng: "Anh có thể làm công tác đảng được!" (Xem Phụ Bản của Phụ Bản "Tin Nhà" - do Nguyễn Văn Trung thực hiện tại Montréal 6.1996; gồm "Phụ Bản Tin Nhà - Bên Lề Cuộc Đối Thoại Dân Chủ Lữ Phương, Nguyễn Kiến Giang và Nguyễn Văn Trung" Paris, 12.1995; và bốn tài liệu khác. - Đ. Q.) Theo tôi hiểu đảng Cộng sản là một đảng rất tôn trọng kỷ luật đảng, vi phạm kỷ luật đảng tức là tiêu rồi. Tôi nhớ vụ ông Trần Bạch Đằng. Ông Đằng là người thích "cà chớn". Thời đó một người đảng viên khi có liên lạc với nước ngoài đều phải báo cáo thì ông Đằng đã dám viết bài gửi ra các báo Việt kiều yêu nước. Người ta phê ông: "Anh là lãnh đạo mà lại vi phạm kỷ luật đảng! Đảng ta thành công là nhờ có kỷ luật!" Thế là ông Đằng phải chịu thôi! Đảng không có chỉ thị cấm một số việc cụ thể và chỉ làm khó dễ cốt để xem đảng viên có xác tín được điều đó hay không. Đấy mới là cái sâu sắc của đảng. Từ đó họ nhận ra ai là người của đảng. Giống như chuyện "công tác Mỹ chống Mỹ" của người Mỹ cũng sâu sắc như thế. Trước 1975 tôi biết rất nhiều người khác có thể phê bình Mỹ, phê bình Cộng sản... Nhưng CIA của Mỹ có bảo vậy đâu. Họ tạo ra một hoàn cảnh khách quan để anh là người được học, được đào tạo thì tất sẽ phản ứng phù hợp với đường lối của họ. Mấy ông Cộng sản còn tinh vi hơn cả người Mỹ nữa chứ! Ở hoàn cảnh hiện nay họ cứ để những người "đối lập", những điều như của ông Nguyễn Kiến Giang phát biểu (dù nằm ngoài ý muốn của ông Giang, của những người đối lập) vì họ thấy đều chưa ăn nhằm gì!

+ Nhưng với ông Trần Độ thì anh lại chịu?

- Nguyễn Văn Trung: Vì tư cách của ông Độ!

+ Thế nào là "tư cách" giữa hai ông Trần Độ và Nguyễn Kiến Giang?

- Nguyễn Văn Trung: Tôi chỉ thuần tùy xét ở điểm rằng ông Trần Độ không hề tự gửi bài ra ngoài này để in, còn ông Nguyễn Kiến Giang thì gửi.


III. NGƯỜI LÀM CHỨNG TÁ CHO MỘT LÝ TƯỞNG KHÁC

+ Đỗ Quyên: Hôm nọ có lần anh nói người ở chế độ tư bản thì chỉ có thể phê bình được chế độ tư bản thôi.

- Nguyễn Văn Trung: Chế độ tư bản là một xã hội mở nên những qui luật của nó dù ta không sống bên trong ta vẫn có thể thấy được. Đó là cái mạnh và cũng là cái yếu của chế độ này. Nó mở, vì nó thấy có bị phê bình cũng chẳng sao. Nó chấp nhận sự phê bình vì phê bình làm nó thích nghi hơn.
Còn xã hội Cộng sản là xã hội khép kín, che giấu những gì có thể là tốt, là xấu nhưng do người ta chưa có thể hiểu được mà sự che giấu đó theo ý muốn đầu tiên là ý tốt. Ông Lênin cho rằng phải che giấu, vì thời đầu người dân chưa được trưởng thành, dễ bị ảnh hưởng do tuyên truyền của đối phương, nên nếu nói hết cả ra sẽ làm cho người dân tin đối phương hơn, và do đó phải đợi đến một thực tế nào đó mới có thể nói thật. Ông Hồ Chí Minh cũng lập lại ý như thế khi bảo rằng vì lý tưởng Cộng sản là không gia đình, không tổ quốc, không dân tộc nhưng khi mới tuyên truyền mà lại nói ngay ra như thế thì không ai theo cả.
Đấy! Cả chuyện này tôi thấy tương tự như trong giáo hội Công giáo. Hội đồng các Hồng Y cùng với Đức Giáo hoàng thì nói với nhau bằng một kiểu, y như là chuyện trong Bộ chính trị đảng Cộng sản. Khi thông báo xuống các hàng Giáo phẩm, Linh mục, như cấp tỉnh ủy của đảng, thì được nói ở mức nhẹ hơn. Rồi xuống đến các giáo dân lại là mức nhẹ hơn nữa... Cứ như thế thông tin của họ không giống nhau ở mỗi cấp.
Theo Lênin, đó chính là cơ sở lý luận của sự che giấu, nói dối trong hệ thống đảng Cộng sản. Chắc anh cũng biết chuyện hồi 1945-1946 để chống lại Đệ Tam, Phòng Nhì Pháp đã ủng hộ Đệ Tứ. Pháp nó nói toạc ra rằng: "Cộng sản nó là như thế đấy, chứ nó có dân tộc mẹ gì đâu!", thế là nó phá Cộng sản rồi còn gì nữa. Cánh Đệ Tứ như Hàn Thuyên, Trương Tửu, Nguyễn Đức Quỳnh viết các sách lý luận đúng theo lý luận Mácxít, tức là nói thật ra. Trong khi đó sách báo Đệ Tam chỉ nói mỗi nguyện vọng đánh Tây thực dân thôi, kẻ nào dù có mang danh Cộng sản mà lại nói chuyện đấu tranh giai cấp thì đều bị Đệ Tam coi là kẻ thù. Tạm nói như vậy cũng đủ thấy cái lý của Đệ Tam khi nó đòi diệt Đệ Tứ. Đọc lại các tài liệu Phòng Nhì Pháp dạo đó khi nó sử dụng sách của Đệ Tứ để diệt Đệ Tam tôi mới thấy nó thâm. Nó làm cho khối người sợ Cộng sản bỏ xừ đi chứ! Như thế, nếu xét về phương diện "sự nghiệp cách mạng" thì việc đảng Cộng sản phải che giấu các vấn đề từ những sự kiện trong đảng cho đến các vấn đề về lý tưởng - đó là một ý tốt cho sự nghiệp của họ. Và đảng Cộng sản sở dĩ thành công được chính là ở chỗ đó! Về sau sự che giấu đó bị lạm dụng và từ một kỹ thuật đã trở thành bản chất của chế độ. Các lý tưởng và mục tiêu Cộng sản, tôi gọi nó là phản tự nhiên, phản con người. Bởi người ta không thể nào sống mãi với những gì ngược lý tính, tâm tình của con người. Một khi đã đi vào thành bản chất thì không thể ra được, kể cả ở những người lãnh đạo.
Nói thế để thấy hết cái khái niệm "engrenage" (guồng máy) ấy. Anh vào guồng máy, anh bị quay theo các răng khớp của nó thôi! Rồi anh không nói ra được, không viết ra được. Khi anh đi qua một chặng của guồng máy đó thì mới thấy rằng nó đâu phải là thế, nhưng lỡ qua rồi và cứ thế đi vào chặng tiếp với sự tiếp tục im lặng. Ai mà nói ra sẽ bị khử đầu tiên: Stalin cũng bị thế, cả Hồ Chí Minh cũng phải thế! À này, tôi còn đang nghe nói người ta lại sắp đưa ra một cái Di chúc “thật nữa” của ông Hồ...

+ Có phải từ những suy nghĩ đó mà trong "Nhận Định - VII" anh viết một câu khiến tôi nhớ: "Kẻ sát nhân cuối cùng tự sát"?

- Nguyễn Văn Trung: Ừ thế đấy! Bi đát lắm! Đi vào thế giới người Cộng sản anh phải nhìn ra được những cái vượt lý, những cái không lý của nó. Vào rồi anh không ra nổi. Đó là nghĩa của chữ "xã hội khép kín" trong thế giới Cộng sản. Một khi anh chống lại nó tức là anh củng cố, góp một phần tạo ra thái độ thực tế hơn ở trong đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề Giáo hội. Theo tôi hiểu, sau 1975 đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã có một kế hoạch di dân đưa người Công giáo lên vùng kinh tế mới. Anh cũng biết xung quanh Sài Gòn có vành đai chiến lược gồm những người Công giáo di cư chiếm 1/4 dân Sài Gòn, tức là cỡ 600-700 ngàn người. Trước 1975 mọi người đều biết là dân Công giáo mà đi biểu tình thì họ tập trung ở Nhà Thờ rồi kéo đi, Hố Nai kéo xuống, Xóm Mới kéo lên... Cứ thế một lúc có thể cho tới 100 ngàn người! Nhưng rồi có lẽ các thành phần ôn hòa khác đã cản trở thành phần quá khích trong đảng Cộng sản ở việc giải tỏa vành đai chiến lược đó. Có lẽ họ cũng nhận ra rằng, thành phần Công giáo miền Nam là một trong ba yếu tố thuận lợi cho Cách mạng và họ muốn sử dụng Công giáo với tư cách khác.

+ Ba yếu tố thuận lợi nào vậy?

-          Nguyễn Văn Trung: Thứ nhất là viên chức hành chánh và sĩ quan kỹ thuật Việt Nam Cộng Hòa; thứ hai là người Việt gốc Hoa; thứ ba là người Công giáo. Theo tôi, người Cộng sản hiểu rằng tầng lớp Công giáo là lực lượng quần chúng đã chịu ảnh hưởng rất nhiều các chương trình đô thị hóa của người Mỹ trước đây. Xét về phổ cập dân chúng thì Công giáo là tầng lớp có tri thức khá nhất. Đội ngũ trí thức Công giáo, và công chúng Công giáo nói chung, chấp nhận Cách mạng không phải vì Cách mạng mà vì lý tưởng tông đồ Vatican II. Tức là người trí thức Công giáo chủ trương phải sống với người Cộng sản để làm chứng tá đối với họ. Tôi thấy Thành ủy Sài Gòn nhìn ra được điều đó. Một thí dụ: chỉ ở Sài Gòn mới sử dụng lại hệ thống nữ tu sĩ ở các bệnh viện, còn các nơi khác thì dẹp hết! Trong bối cảnh đó Đức Cha Bình là linh hồn của những người Công giáo có thái độ như vậy. Cũng nhờ đó mà dẫu có một vài cuộc bạo động nhưng không đủ thành lý do để đảng Cộng sản dẹp Công giáo miền Nam. Anh có nhớ người Công giáo bị coi như công dân hạng hai ở miền Nam sau 1975 không? Một số ngành nghề như sư phạm, y tế thì đám con của tôi đã không được học, vì đó là hai ngành có ảnh hưởng trực tiếp đến quần chúng. Nếu dạo đó không phải là Đức Cha Bình mà là một Đức Cha khác có thái độ cứng rắn thì lại rất "hợp" với đường lối cứng rắn của đảng Cộng sản Việt Nam.



                                                       (còn 1 kỳ)


CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 118- Thay dân hay thay ... đảng ???



Thay ..dân ?
Í chết…dân là cái gốc, sao mà thay ?
Vậy mới đau đầu nhà cầm quyền khi dân ngày càng láo !
 Từ thời con nguời tụ tập thành quốc gia ,đa số các nhà tư tưởng đều xui dại nhà cầm quyền  phải  tôn trọng dân.Đẩy thuyền là dân,lật thuyền cũng là dân - hình như thấu hiểu được tiềm năng khổng lồ trong đám dân đen nên tinh thần "trọng dân" thời nào cũng có  .
Bên tàu có ông Khổng tử viết "dân vi ban bản",bên tây có các ông Ánh Sáng như Rousseau trong "Contrat Social" (Khế ước xã hội) cũng lấy " công dân " làm viên gạch cơ bản xây nền cộng hoà.
Rồi đến thời cộng sản Nga,Tàu...đâu đâu cũng “bốc phét “  "vì dân hy sinh...vì dân quên mình....", Quần chúng đã trở thành cái ...quần mà lãnh tụ cộng sản nào cũng muốn xỏ . Ở ta, dù là  cường quyền,bạo quyền,hay dân quyền nhà cầm quyền nào cũng leo lẻo  "dân làm gốc".
  Ở vào thời IT con người đã tìm ra cái còn nhanh hơn cả ánh sáng (làm lung lay ghế ngồi của ngài Einstein ) ,vào thời hệ thống gien của con người - nơi bộ máy huyền vi của con tạo khiến người ta phải nghĩ tới sự có mặt của thuợng đế - đã bị khám phá,săm soi đưa cả lên...bản đồ, làm cho chúng ta,nhũng con người "hàng hiệu", nhũng con "người Việt cao quý" (tiếc thay,cái nhà ông Vũ Hạnh này,bây giờ thành cây bỉnh bút đắc lực cho ...báo Công an Hồ Chí Minh  ,chuyên đâm bút vào hai tầng lớp mạt hạng nhất xã hội :chị em ta và nhà văn),vâng, chúng ta phải đỏ cả mặt khi liếc qua cái bản đồ gien ấy thật chẳng khác gì cô gái dậy thì bị đưa lên bàn khám,rọi đèn  coi có còn ...trinh hay không ,vâng,ở cái thời mất có 3 thập kỷ con người đã hoàn tất cuộc cách mạng tin học thay vì 300 năm cho công nghiệp và 3000 năm cho nông nghiệp - vâng,ở cái thời đó "đám dân đen con đỏ " vẫn cứ bị hỏi “ai người lớn” ?.
    Trong các chuyện kể trên đời,phải nói thâm nhất là ba chuyện tàu.
Chuyện kể từ thời xửa thời xưa,từ thời hồng hoang Bành Tổ,ở biển Bột Hải có một gã tên Ngột.Gã này tuy không mắt không mũi không tai không mồm nhưng lại sống hồn nhiên vui vẻ .Hàng ngày gã nô rỡn,nhảy nhót cùng nắng trời và sóng biển.Nguời đời sau thấy gã,thương lắm mới đục cho gã ngũ khiếu để gã có thể sờ mó,nói năng,nghe ngóng ....Ngờ đâu  sau khi đã có đủ ngũ quan ,Ngột liền lăn ra chết.
Lại có chuyện về gã A.Q của nhà văn Lỗ Tấn, kể  gã nhà quê này kỳ cục lắm - thời phong kiến ,những lúc phải lên quan ,hắn quỳ đã đành,kịp tới thời cách mạng Tân Hợi (1911),đổi đời rồi,vậy mà khi lên huyện gặp chủ tịch,hai đầu gối hắn cũng cứ tụt xuống,tụt xuống,hoá ra gã vẫn quỳ, khiến cho ông Lỗ Tấn phải thốt lên :"quen cái thói nô lệ...".
Hai cái truyện này ngẫm đi chả có gì,nghĩ lại mới thấy anh tàu thật  thâm.Suy cho cùng cái gã tên Ngột với gã tên A,Q cũng là một gã nhà quê có tên là "dân đen con đỏ" đó thôi. Hắn chẳng có trăm tay nghìn mắt như Phật bà Quan âm,hắn chẳng có cái bụng chứa đầy chữ nghĩa như các môn sinh của Đức Khổng tử,bởi thế hắn  biết 'tự do " với 'dân chủ' là cái quỷ gì ?
Tính hắn thế,nếu đưa cho hắn chọn một trong hai thứ : cái bánh bao và nền dân chủ thì chắc chắn hắn sẽ vồ lấy bánh bao .
Còn bắt ép hắn hãy khoan ăn bánh bao,hưởng thụ dân chủ trước đã, thì có khi lại giống kiểu đục cho tên Ngột 5 cái khiếu để rồi gã lăn ra chết.
Một ngàn năm nô lệ giặc tàu,một trăm năm nô lệ giặc tây,cái anh Ngột -AQ Việt Nam  chẳng  thua gì người anh em bên  tàu về cái máu..."quen cái thói nô lệ".
Chẳng thế hồi mở cửa,ông Nguyễn văn Linh mới he hé một chút dân chủ thế là các ông nhà văn đã chửi nhau loạn xạ ,ông nọ chửi ông kia là "văn chương phải đạo","văn chương minh hoạ""ta mới là đổi mới chính hiệu đây " khiến người trong nước ôm bụng cười :"thôi đi các cha,vừa mới có một hớp dân chủ đã ho sặc sụa".
Vừa rồi,có dịp về thăm Hà Nội,gặp lại các bác các chú trong họ đều đã hưu cả rồi,vậy mà mời đi chơi xa vài bưã,các cụ cứ chổi đây đẩy :"bận lắm...bận lắm...".Hỏi rằng hưu rồi còn bận nỗi gì ? Các cụ bảo chỉ hưu trong sổ lương thôi,còn vẫn thèm họp hành,thèm cơ quan,thèm được lãnh đạo lắm,vắng 'thủ trưởng" cứ thấy...thiêu thiếu thế nào ấy.Các cụ lại nói :
Hoá ra sống vào cái thời bao cấp tuy vật chất  thiếu một tý nhưng lại đâm ra sướng..."
Hỏi sống với ba cái tem phiếu ấy  sướng nỗi gì .Các cụ bảo :
'Cơ quan thời đó vui lắm,trên dưới rõ ràng,thủ trưởng nhân viên hoà đồng lắm..."
Ấy đấy,cái sự bức xúc thiếu dân chủ hoá  ra đã cao lắm đâu ở cái tầng lớp "phó thường dân" hay còn gọi là lớp người "nhân viên 3 cán sự 1" đấy. Tất nhiên,nói chuyện này không có nghĩa  rằng dân Mít  ta mãi mãi cứ phải là chàng Ngột đừng có ai "đục khiếu" cho gã mà gã chết.Hoàn toàn không ạ,cứ cái đà toàn cầu hoá này sẽ có ngày anh Mít ta vốn sẵn máu Chí Phèo tỏ mặt anh hào khắp năm châu bốn biển cho coi.Nhưng đó là cả một kịch bản lắt léo và phức tạp lắm chứ chả đơn giản,dễ dàng  như thiên hạ đang  hè nhau đi "đục khiếu " cho chàng Ngột  An nam mít.
Đói cơm thì dân ta đã chết 2 triệu người,còn đói dân chủ thì sĩ nông công thương mỗi anh đói một cách - anh đói ít,anh đói nhiều - người bất đồng chính kiến như bà Dương Thu Hương,cụ Trần Độ...chắc chắn phải đói dân chủ hơn một anh thợ cắt tóc,thợ điện.
Cho nên với người này thì cái truớc hết là "dân chủ ",với người kia lại là "bánh mì ".Tiếc thay ,cái đám cần bánh mì này lại là đám đông dân Mít ta.
Từ anh xe ôm mong có du khách vào thật nhiều chị công nhân dệt may mong có việc dài dài cho chồng con mát mặt,em gái karaoke mong có nhiều khách tới để kiếm tiền "bo"....Cái đám đông thầm lặng này thật ra có biết "thương ước Việt- Mỹ " mặt ngang mũi dọc  ra làm sao ,nhưng nếu họ biết đó là cái "bánh mì" có thê mang tới cho họ thì ta thừa hiểu họ nghĩ gì nếu ai đó định giật nó ra khỏi miệng họ.
Bởi vậy chắc không ai không hồ hởi,phấn khởi với thương ước,nhất là người mũi tẹt da vàng, con Rồng cháu Tiên . Ấy thế mà than ôi,có đấy ạ.Khối anh  hăng hái viết đơn cho quý vị dân biểu  tại 53 đơn vị vùng Cali yêu cầu  CSVN phải thực thi dân chủ,phải thả tù chính trị,phải xoá bỏ điều 4 trong hiến pháp...rồi hãy giơ tay thông qua thương ước.
Than ôi,đòi hỏi thế  khác nào bảo mấy ông Mẽo đừng ký,cứ để cho dân nó chết,nhà nước cộng sản nó sập rồi hẵng...ký.
"Chọc gậy bánh xe" thương ước ,nhà nước CS chưa thấy sập đã thấy dân đói đổ ngang đổ ngửa vì công nhân thất nghiệp, hàng hóa không vào được Mỹ ,vậy thì các quý vị đó đang ..lật đổ dân chứ còn ai ?
Đến người hăng hái chửi  chế độ CSVN như bà Dương Thu Huơng cũng phải "bấm bụng" ủng hộ thương ước Việt -Mỹ sau khi đã tiếc rẻ nói rằng :
"Tôi đã nói với một người bất đồng chính kiến thuộc thế hệ đàn anh rằng nếu chỉ có chúng ta thôi thì tôi cứ muốn Hoa Kỳ cấm vận cho tới khi nào chính quyền này sụp mới thôi..."
Bây giờ lại đến lượt Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).có thể giúp VN thoát “vỡ nợ”, Nhật Bản xóa bỏ thuế nhập khẩu cho hàng nông sản, các mặt hàng  dệt may, giày dép, thủy sản, đồ gỗ và nông sản. được hưởng lợi lớn, góp phần cải thiện đời sống cho dân đen chút nào chăng ?
Việc ủng hộ hay phản đối TPP giống thời thương ước Việt-Mỹ lại được đặt ra với  các nhà hoạt động dân chủ .
Họ chọn sao đây ?


NT