Tổng số lượt xem trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2015

I VỀ NƠI HOANG DÃ - Tiểu thuyết NHẬT TUẤN - KỲ 23

Hai mươi hai.


Bản Mù Cang khá đông đúc và sầm uất với của hàng ăn, trạm bưu điện, phòng lương thực... và một bến xe ngựa xuôi thị trấn. Tôi nhớn nhác đi giữa con đường lớn hai bên san sát những gôi nhà sàn cao ráo, bên trong, những người đàn bà cho con bú, những cụ già quay sợi và những đứa trẻ la hét, huỳnh huỵch đuổi nhau. Mặt trời đã chìm khuất sau rặng núi lô nhô hình răng cưa, còn sót lại vệt nắng nhạt trên khoảng đất rộng lổn nhổn phân ngựa. Chợ họp ở đó, lâu lắm, lâu lắm rồi tôi mới gặp lại những quán hàng bây đủ thứ linh tinh từ cuộn chỉ màu, cái kim băng, cho tới cuốn vở học trò, những người đàn bà chân quấn sà cạp, ngổn ngang trên đất những chai mật ong, những con gà bị trói chân, những tảng thịt rừng... cạnh đó những con ngựa ve vảy đuôi đuổi đàn ruồi bu đầy một khoảng lưng rắn chắc. Gió chiều lành lạnh thoảng tới mùi thịt nướng khét lẹt. Tôi cứ đứng ngẩn ngắm nhìn quang cảnh xã hội con người tôi vừa trở về sau một thời gian dài lặn lội nơi hoang dã. Một nỗi xao xuyến bồi hồi cứ quặn lên làm tôi rưng rưng nước mắt.
Một người đàn bà địu con, tay dắt một đứa khác, đi tới và giơ ra trớc mặt tôi cái lọ nhỏ trong đựng một thứ nước đen đen:
“Huyết lình đấy, mua đi cán bộ...”
Tôi giảng cho thằng liên lạc nghe đó là cái món máu kinh của khỉ cái người ta lấy được trên các lớp lá khỉ ngồi và là loại thuốc bổ còn hơn cả cái mật gấu nó vẫn khư khư giữ kia làm nó bùi tai móc tiền ra mua với giá cắt cổ. Một bà già ăn mặc theo hiểu người Mèo đưa tới một gùi quả, mời mọc:
“Mua đào đi, mua đào đi cán bộ, đào này nhiều vitamin lắm vớ...”
Vâng thì tôi cũng xin mua lấy vài quả ăn coi có nhiều vitamin như bà già vừa quảng cáo chăng? Về sống với xã hội con người kề ra cũng lắm cái lý thú đấy chứ. Tôi cứ vẩn vơ đi hết hàng này sang hàng khác làm thằng liên lạc sốt ruột dục tôi sang cửa hàng nhận gạo để mai nó về sớm.
Không được, tôi từ chối phắt và kéo nó vào một quán cơm, cố ý dềnh dàng giữ chân nó lại khỏi đuổi kịp thằng hộ pháp.
“ Hai cán bộ ăn món gì?”
Cô chủ quán xinh xắn trong bộ váy người miền núi đón chúng tôi với nụ cười lộ hàm răng trắng bóng, tròn mắt vì bộ dạng nhếch nhác của hai anh chàng cứ như mới đứt giây trên trời rơi xuống. Tôi giải thích với cô, bọn tôi sống trên đỉnh núi, đi công tác qua và nói chung, cô món gì ngon nhất cô cứ bưng ra. Nhìn cái dáng uyển chuyển của cô bước vào bếp, thằng liên lạc nháy mắt:
“Ăn đứt con gái miền xuôi, tao như mày lấy béng vợ trên này lại sướng”.
Tôi phải xóa ngay cái cảm giác rạo rực rất hiếm thấy dâng lên. Thôi thôi, chớ có dính vào đàn bà cho rắc rối cuộc đời Tốt hơn hết là xắn tay áo, tập trung giác quan vào eác món ăn cô ta bưng lên bây la liệt trên bàn kia. Thịt gà luộc, cải xào thịt trâu, canh rau ngót nấu thịt lợn... thêm một nậm rượu trắng, chao ôi vua chúa chắc cũng chẳng sướng hơn tôi lúc này.
“Ăn đi, ăn thoải mái, tao đãi mày, khỏi lo...”
Thằng liên lạc tươi mặt, vẻ lo lắng biến mất, trịnh trọng cầm chén rượu lên chúc tôi lập đư ợc nhiều thành tích, mau chóng tiến bộ, cuối năm được bình bầu chiến sĩ thi đua. Tôi dốc ào chén rượu vào cổ họng chẳng cần biết nó chúc thực hay xỏ xiên. Rồi tôi bảo tôi cũng chúc nó như vậy có điều muốn được thế nó phải bớt cái việc buôn bán trong khi đi công tác các miền xuôi ngược đi. Nó trợn mắt:
“Sao mày biết tao buôn? “.
“Sa nhân, trầm, quế ở đây mang được xuống dưới xuôi mày lời gấp bốn, đúng không?”
Nó tái mặt, vừa mở miệng định cãi, tôi đã chẹn ngang:
“Tao chỉ khuyên mày thế thôi, mày thích thì cứ làm, tao chả hé răng ra với ai đâu mà sợ.”
Vẻ mặt nó làm tôi hiểu đã bắt nọn đúng vào tim đen khi ở ngoài chợ tôi thấy nó hỏi giá cả mọi thứ tỷ mỉ quá.
Tôi rót chén rượu nữa và đề nó yên tâm ăn uống cho ngon miệng, tôi quyết định lật ngửa con bài:
“Cái mật gấu đâu rồi?”
Nó há hốc miệng:
“Tao cất kỹ trong sắc cốt, mày hỏi làm gì? “ .
“Cái đó của tao một nửa, của mày một nửa, đúng không?”
“Tất nhiên rồi, hoặc ta cắt đôi hoặc để tao mang về xuôi bán lấy tiền rồi chia nhau.”
“Tao đánh đổi sự im lặng của tao lấy cái kín miệng của mày cược thêm một nửa cái mật gấu nữa đấy”.
Nó tươi mặt, hỏi thêm cho chắc:
“Thế là thế nào?”
“Tao sẽ không nói với ai việc mày đi buôn, mày cũng không được hé răng chuyện thằng hộ pháp bỏ trốn, cam kết vậy cái mật gấu sẽ là của mày cả.”
Nó giơ chén rượu lên cụng với tôi:
“Nhất trí cả hai tay. Coi như tao không biết, không nghe, không thấy chuyện đó. Được chưa?”
Nó phấn khởi ra mặt, ăn uống ào ào, cuối bữa mới hỏi:
“ Tao không hiểu sao mày bao che cho thằng hộ pháp ghê thế?”
Tôi nghiêm mặt:.
“Nó là anh em kết nghĩa của tao”.
Hôm sau tôi giữ thằng liên lạc nấn ná thêm ngày nữa cho thằng hộ pháp chắc chắn đi thoát và cũng vì máy bữa thường ăn ở quán đó nên cũng có phần quyến luyến cô chủ quán. Thực ra tôi không tán tỉnh hỏi han gì cô hết, tôi chỉ nhìn ngắm cô đi lại bưng thức ăn giữa các bàn với cái vẻ làm cô phải nói riêng với thằng liên lạc:
“Anh kia sao buồn quá vớ?”
“Kín khẩu bồ mi sằng cặp, nõn lắp bồ mi sao cọt...”*
 (* ăn cơm chẳng có thịt k èm, đi ngủ không có gái ôm)
Thằng liên lạc buông ra một câu đùa cợt rồi lại ra vẻ trịnh trọng:
“Nó buồn vì chưa có vợ đấy, nó thích cô lắm, chỉ sợ không “nên nhau” thôi”.
“Khắc đi khắc đến, khắc hỏi khắc được mà...”
Nói xong mặt cô đỏ lên như gấc, ba chân bốn cẳng bỏ vào nhà trong. Thằng liên lạc vỗ vai tôi cười sằng sặc.
“Thấy chưa, nó muốn “nên nhau” với mày đấy. Xốc tới đi thôi”.
Tôi cao hứng gọi thêm nậm rượu và đĩa thịt trâu luộc để được nấn ná ngồi lại nhìn ngắm cô nàng nhỏ nhắn. Phải công nhận rằng chỉ có sự trong trẻo và khoáng đạt nơi rừng núi mới hun đúc nên một nhan sắc thanh khiết: hồn nhiên không gợn chút làm duyên thế, khiến tôi chỉ dám cúi đầu chiêm ngưỡng chứ không đành lòng lôi kéo cô vào cuộc sống đầy gian truân và phiền tạp như tôi. Cái đẹp theo tôi cũng như trăng lên, hoa nở vậy, chẳng nên biến nó vốn chỉ tồn tại trong khoảng khắc thành cái thường ngày trong khuôn khổ chật chội, rối bời của gia đình. Buồi tối, tôi đang nằm nhờ một nhà trong xóm, gối đầu lên bậc cửa sổ ngắm nhìn vành trăng tròn treo lừng lững trên đầu ngọn núi, thằng liên lạc ở đâu chạy về hốt hải:.
“Chết cha con bán cơm nó mê mày thật rồi. Đày, nó gửi tặng mày cái này đây...”
Tôi chưa hết ngạc nhiên, nó đã ấn vào tay tôi chiếc khăn tay lụa đỏ có viền quanh chỉ vàng và bảo cô ta mời tôi sang chơi.
“Lạ lắm mày ạ, tao tán nó mà nó lại toàn hỏi chuyện mày mới đểu chứ. Thôi, dậy đi đi, vớ bở rồi.”
Tôi cất chiếc khăn tay vào túi ngực. Lò mò xuống thang gác và bước ra ngoài đường. Ánh trăng vằng vặc trên con đường đất lượn vòng qua bóng tối sẫm của những quả núi đá, ánh lửa bếp le lói trong những ngôi nhà sàn nép trong lùm cây, tiếng chó sủa vu vơ đâu đó. Tôi cứ bước thấp bước cao, nửa muốn quay về, - nửa muốn đi tới, trống ngực đánh không thua gì tiếng chiêng, cồng đang vang lên từ một đám xòe nhộn nhịp quay tròn trước cửa nhà cô. Thế rồi tôi bị lôi vào đám đông trai gái đang bước lui, bước tới theo nhịp chiêng mỗi lúc một dồn dập. Một giọng ca nữ mượt mà, trong vắt vừa cất lên cao, lập tức được hòa theo bằng một giọng nam trầm nặng nề, buồn bã và tuy không hiểu tôi cũng cảm được đó là những lời bây tỏ tình yêu của chàng trai đang làm rung động trái tim cô gái. Tôi cứ bị đưa đẩy theo nhịp chân trong vòng người mỗi lúc tiếng hát, tiếng chiêng và cả ánh trăng huyền ảo nữa làm cho dồn sát vào nhau và rồi tôi bủn rủn khi người con gái tôi đang cầm lấy hai bàn tay đung đưaa theo nhịp xòe chính là cô, người vừa gửi tặng tôi chiếc khăn tay thêu chỉ vàng. Đôi mắt cô lóng lánh nhìn tôi, miệng he hé cười và không nói một lời, cô bấm ngón tay vào bàn tay tôi và theo quy ước của đám xòe như thế là tôi có thể đưa cô tách khỏi cái ầm ĩ náo nhiệt kia đến một chỗ nào đó thật êm đềm, vắng vẻ để trò chuyện tâm tình. Than ôi, đôi khi số phận đưa đến cho ta một hạnh phúc quá lớn lao quá bất ngờ đến nỗi ta run sợ không đám đưa tay ra nhận nó. Sau này chẳng khi nào nghĩ tới cái hành động ngu ngốc ấy mà tôi không nhoi nhói trong lòng.
Vâng, chính vào cái lúc tôi phải kéo tay cô ra khỏi đám xòe thong dong đưa cô đến một chỗ nào đó tôi lại đẩy cô ra và rồi cái vòng quay của đám xòe vẫn cứ quay để cho hai bàn tay ngoan ngoãn của cô gái rơi vào một chàng trai nào đó, đôi mắt lóng lánh của cô vụt tối và đó là hình ảnh cuối cùng tôi thu nhận ở nơi cô.
Đám xòe vẫn xoay tròn, nhưng vòng quay của nó không còn đưa cô tới tôi nữa, cũng giống như vành trăng đã chìm sau đỉnh núi đá, cô cũng biến đâu mất, tôi đành trở về trên con đường khấp khểnh và tối mù. Thằng liên lạc vẫn còn thức, bật cười nham nhở:
“Sao về sơm thế? Xong cuộc rồi kia à?”
Tôi lẳng lặng lấy chăn trùm kín mặt. Thôi, ngủ đi lấv sức sớm mai gánh gạo trở về. Tôi đặt tay lên ngực và chạm vào chiếc khăn tay cô gái gởi tặng. Phải chăng tôi đã đánh mất hết ý nghĩa của nó, còn lại bây giờ chỉ là một mảnh vải vô tri?
                                  (Còn tiếp)

       ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ
         Một thiên đường mù của trí tuệ.
                                                   Hoàng Khởi Phong    
                             (tiếp theo)
Năm người đó do hoàn cảnh tạo thành một toán thám thính trên một địa bàn rừng núi, cho một con đường sẽ làm, và những thành thị sẽ mọc lên từ rừng xanh, núi đỏ bên cạnh con đường như một mạch máu chẩy qua tim. Ông già "Thủ trưởng" là một người đã có thời làm to, từng có uy quyền, ông có vợ nhưng không có con nối dõi, do đó dường như ông không tha thiết lắm với gia đình. Vì có chức, có quyền, ông được đề cử đi dậy một khóa bồi dưỡng văn hóa cho các cán bộ trung cấp của Đảng, và chính tại đây ông có quan hệ bất chính với một nữ học viên đang giữ chức vụ Trưởng Phòng, vì quá ham thi hành công tác tốt, vì muốn leo lên những chức vụ cao hơn, đến khi ngoảnh mặt lại thì đã quá thì, đã xấp xỉ bốn chục. Trong những buổi tối người nữ học viên trưởng phòng đã quá thì được ông kèm thêm, và rồi bà ngã vào vòng tay của ông, trong một đêm ngoài trời đầy gió lớn. Và rồi bà có bầu. Để giữ kín thể diện và địa vị cho chính mình và cho ông, bà buộc bụng thật chặt, tự sinh lén trong phòng, rồi nhẫn tâm đem hài nhi sơ sinh bỏ vào thùng giấy vệ sinh. Nào ngờ có người phát giác và thế là chưa kịp mãn khóa ông đã bị đưa lên mạn Bắc, làm lại công tác thám thính thực địa, một công tác ông đã làm từ khi còn trai tráng. Phần bà thì hai mẹ con phải vào sinh sống trong một nông trường tập thể tuốt luốt tại miền Nam.Từ đây ông không còn được lên giọng kẻ cả, ban phát ơn huệ cho người dưới, mà làm gì còn kẻ dưới, giờ đây ông chỉ còn có 4 anh thanh niên lực lưỡng, lúc nào cũng sẵn sàng phát rồ. Liên hệ duy nhất của ông với cuộc đời, với quyền lực là cái máy liên lạc vô tuyến, nối liền vị trí của ông với cấp trên không bao giờ lộ mặt. Cấp trên chính là Trung Ương, là Đảng như một quyền lực vô hình trong toàn bộ câu chuyện.
          Dưới ngòi bút của Nhật Tuấn ông già thủ trưởng có thể coi là đại diện ngay tại chỗ của Đảng, và Đảng thì ở xa, xa tuốt tận mây xanh. Đảng không bao giờ sai, con đường Đảng đã vạch ra cho toán thám thính trên bản đồ, tất nhiên phải đúng trên thực địa không thể trệch một ly.
          Cứ mỗi buổi chiều sau khi thổi còi thu quân, ông già lại lăm lăm cái thước giây đo khoảng đường đã hoàn tất trong ngày. Mỗi ngày hai ngàn thước tiến về phía trước, hướng mà ông già đã ngắm trên địa bàn. Tất nhiên ông ta cũng như Đảng, không thể nào ngắm hướng sai. Cứ mỗi tối trước khi đi ngủ, ông già lại chui vào lều rì rầm với cái máy vô tuyến, để rồi tùy theo hoàn cảnh, tùy theo tâm lý của bốn gã trai mà ban phát hiệu lệnh. Khi thì ôn tồn khuyên nhủ, khi thì thân mật ân cần, khi thì đe nẹt lầm lì, khi thì chửi toáng nhưng ngay lập tức lại im lìm như những con cóc trong hang, mỗi khi các thanh niên lực lưỡng này vùng lên phản ứng. Ông già thủ trưởng luôn mồm nói tới đạo đức cách mạng, nói đến "mình vì mọi người" nhưng lại dấu mì chính, thịt hộp trong ba lô để ăn riêng. Ông nghiêm cấm mọi người dưới phải đứng đắn với phụ nữ, khi vào ngủ trọ trong nhà dân chúng. Thế nhưng Thằng Cấp Dưỡng có lần cùng ông vào ngủ trọ trong nhà dân, nhìn thấy cái đồng hồ dạ quang đeo tay của ông như một con giời bò trên thân thể bà chủ nhà, trong đêm đó nó còn nghe được tiếng thở hổn hển, gấp gáp của ông thủ trưởng. Ông chính là hình ảnh điển hình của cán bộ Đảng từ trung cấp trở lên. Chức càng cao thì thái độ khệnh khạng kẻ cả càng nhiều, mặt trái càng tởm, càng làm cho con người nhìn nhau tệ hại hơn, xã hội u tối hơn.
          Sau cùng dưới ngòi bút Nhật Tuấn, con người dẫu sao vẫn là con người, tuy có bị guồng máy nghiền nát thành những mảnh vụn thịt xương vẫn cứ là con người, vì những mảnh vụn thịt xương này vẫn đa mang một góc nhỏ tâm hồn. Ông già thủ trưởng cũng vậy, ông đóng kịch suốt một đời, ông giả dối quanh năm suốt tháng. Thế nhưng có một lúc nào đó con người nguyên thủy của ông phải ló ra, dẫu chỉ là một hành động thoảng qua, cũng đủ làm cho người đọc ấm lại, thương sót một con người bị xô đẩy. đẽo gọt đến độ thường nhật không còn hình dạng con người. Phải đợi đến khi thằng hộ pháp đào ngũ, cũng có thể do hoàn cảnh của thằng hộ pháp cũng gần giống như hoàn cảnh ông, và lòng trắc ẩn của ông bung ra"Cái thằng lạ thế, làm gì cũng tâm ngẩm, chẳng hé răng với ai. Không biết liệu rồi nó có quay về đây nữa không?Tôi thốt lên một câu chắc nịch, cốt an ủi ông đang rầu rĩ trong nỗi buồn từ trước tới nay tôi chưa hề nhận thấy ở ông, nỗi buồn của người cha thương đứa con lận đận nơi chân trời xa."
          Bốn người thanh niên còn lại đại diện cho xã hội bị cai trị, bị đè nén. Do những hoàn cảnh khác nhau, mỗi người có một bi kịch riêng. Trước tiên là "Thằng Học Giả". Nhân vật này sinh ra
trong một gia đình buôn bán giầu có, lại là con một. Trước khi Hà Nội bị tiếp thu, anh là người muốn gì được cha mẹ chiều nấy. Anh có tất cả những gì một thanh niên Hà Nội thời đó mong muốn: Xe gắn máy, đồng hồ, máy hát và tiền rả rích trong túi. Tiền lẻ tiêu vặt trong một túi, tiền chẵn trong một túi khác, để khi hứng lên anh có thể làm những việc ngông cuồng của tuổi trẻ. Anh đã chán lối sống thừa mừa kiểu "ăn giò nhả bã" lên tận cổ. Khi Hà Nội bị tiếp thu, anh ngợp trong hào quang cách mạng. Anh đọc sách quá nhiều và mơ ước được thật sự tham dự vào cuộc cách mạng lớn của dân tộc. Cuộc cách mạng đó khởi đi bằng cách ghét cay ghét đắng lối sống của những người không sản xuất, chỉ mua đi bán lại mà giầu có ngồi mát ăn bát vàng. Cuộc cách mạng đó khởi đi bằng cách triệt hạ một số giai cấp trong xã hội, mà giai cấp tư sản mại bản của bố anh đứng đầu trong bảng phong thần. Cách mạng dậy cho anh việc đầu tiên là do thám của dấu trong nhà. Anh cũng cực kỳ thất vọng khi thấy bố anh không hưởng ứng, những chỉ thị của chính quyền cách mạng. Do đó chính anh chỉ điểm nơi chôn cất số vàng cả đời bố anh dành dụm được, cho cán bộ kiểm kê tài sản tịch thu. Đêm đó bố anh treo cổ tự tử. Mẹ anh rú lên là anh đã giết chết bố anh. Anh có một người yêu mà anh gọi là cô nàng búp bê, và anh tin là cô nàng hiểu việc anh đã làm. Anh biết rất rõ về giai cấp anh đã xuất thân, nên tình nguyện dấn mình vào công tác thám thính thực địa, những mong một ngày về có được một chút sự nghiệp, tranh thủ được một chức vụ nào đó trong guồng máy quyền lực, rồi từ từ bò lên cao hơn. Sau một ngày quần quật phát quang, anh thường hay chúi đầu vào những quyển sách, anh tự học tiếng Nga mỗi ngày 10 từ, và mỗi khi có liên lạc tới, anh là người nhận được thư nhà nhiều nhất, những lá thơ của cô bé búp bê. Anh cúi mặt xuống để gìn giữ những hơi thở, tiết kiệm sức lực cho những ngày dài khai quang, và thỉnh thoảng phản ứng chớp nhoáng đối với ông già thủ trưởng, mỗi khi bị ép tới cùng. Anh là người có học, do đó anh nhìn rất rõ mọi cử chỉ, suy nghĩ của ông già thủ trưởng. Anh cũng biết rất rõ những gì ông già nghĩ về anh. Cho tới khi anh nhận được thiệp cưới của người yêu, anh trở thành một con người khác. Tàn nhẫn, thủ đoạn, nham hiểm hơn bất kỳ ai trong cả năm người. Tuy nhiên đã có lần anh thú nhận: "Tao đã bắt đầu cái đó... bằng cách giết bố tao". Cái đó là cái sự nghiệp quỷ quái nào đó nằm sâu trong đầu thằng học giả.
          Nhân vật kế tiếp là "Thằng Hộ Pháp". Anh là nông dân, là bần cố nông chính hiệu. Anh không được đi học, nên mọi hành động, nghĩ suy thuần do phản ứng tự nhiên. Dường như anh có óc, như"Thằng Học Giả" coi bộ óc đó là "óc bã đậu". Anh có mặt trong đoàn người vì anh bị tên xã đội trong làng, bắt quả tang đang làm tình với vợ tên xã đội. Anh bị bắn hụt, ngay đêm đó anh bỏ làng mà đi. Anh xung vào đoàn người như thể tìm một nơi nào đó hoang dã, tự trồng lúa mà ăn, xúc cá tôm trong suối, săn bắn thú rừng. Không cần mua bán đổi chác, không bị hoạnh họe về hộ khẩu, không lo mất tem phiếu...Khác với "Thằng Học Giả” hay triết lý về cuộc đời, con
người và tình yêu, "Thằng Hộ Pháp” làm gì có chữ nghĩa, có đầu óc. Song cả người anh là khối cơ bắp cuồn cuộn đã hấp dẫn phụ nữ hơn những lời triết lý vụn, thành thử phụ nữ lăn xả vào anh.
Chính chị vợ tên xã đội chỉ nhờ anh bê hộ cái cối đá vào nhà, chỉ trong nhấp nháy chị đã dí cặp vú thỗn thện vào mặt anh, và cũng ngay lập tức anh bồng chị lên giường. Có lần anh và nhân vật xưng "Tôi” đi mua thực phẩm, khi ngủ đỗ ở nhà một người dân sơn cước, anh đổ rượu cho ông chồng khù khờ ngủ quay lơ, và trong đêm đó anh đã ngoại tình được với người phụ nữừ miền núi. Anh kể cho cá bạn nghe, anh biết khá nhiều đàn bà, song chỉ mê đắm cô vợ anh xã đội.Có lần nhớ quá chịu không nổi, anh mò về thăm. Mới xuống bến xe tỉnh, thì một cơn mưa như trút ập xuống. Anh còn đang lúng túng trùm cái áo mưa qua đầu, thì chị vợ anh xã đội ở đâu chui tọt vào trong áo mưa. Và cứ thế cả hai bện lấy nhau như hai con rắn dưới cơn mưa tầm tã. Anh ấp ủ một ngày nào đó anh sẽ về làng cũ, mang chị vợ anh xã đội đi đến một nơi không một ai có thể làm phiền hai người, giải thoát cho chị những trận đòn ghen bão táp.
          "Thằng Cấp Dưỡng” là nhân vật thứ tư của toán. Anh này cũng cốt nông dân, nhưng anh hơn "Thằng Hộ Pháp” vì anh biết chữ. Anh có mặt trong toán vì anh có họ với ông "Thủ Trưởng”.
Hồi nhỏ anh đau yếu quặt quẹo, khi lớn lên nhà nghèo không có phương tiện làm ăn, anh nghe lời mẹ tình nguyện ra đi, với ước mong sau một thời gian sống trong rừng núi, không hề tiêu tới lương sẽ đủ tiền mang về cho mẹ cất lại mái nhà. Không bao giờ anh tiêu phí một đồng, ngay cả những lúc hiếm muộn cả toán được tạt qua những nơi có bóng con người, có hàng quán, anh vẫn uống nước trong cái bi-đông cá nhân. Vì là cháu họ của ông già trưởng toán, vả lại yếu ớt nhất trong đoàn, nên anh chỉ phải lo nấu ăn cho cả toán, không phải phát quang như ba người còn lại.Anh biết thật rõ con người thật của "Thủ Trưởng", nhưngbản tính lành, lành như con giun, anh cắm cúi lẽo đẽo theo sau các bạn, tận tâm lo miếng ăn cho các bạn, gạt bỏ ngoài tai những lời êm ái dịu dàng của ông toán trưởng. Song "con giun xéo lắm cũng quằn”, huống hồ con người, nên vì đó mà chân tướng của ông già thủ trưởng mỗi ngày mỗi bị lộ. Có lần anh bắn "Thằng Hộ Pháp"  rách cả màng tai Định mạng đã đánh anh một đòn chí tử, khi anh làm rơi mất bọc tiền dành dụm để cất nhà cho mẹ. Cái lần đó anh cuống cuồng không cơm nước gì cả, một mình đi ngược lại khúc đường đã khai quang mấy hôm trước, và chính anh đã phạt nát những bụi cây ven đường, thành một lối đi thênh thang tới tận chân trời.

                                  (còn tiếp)
           


Thứ Tư, 16 tháng 9, 2015

ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ - Tiểu thuyết NHẬT TUẤN - KỲ 22

                     (tiếp theo)

Hai mươi mốt.


Trước lúc xảy ra những bất ngờ như vậy, tôi đã có một khoảnh khắc yên tĩnh nằm dài trên chiếc chiếu trải dưới sàn, đầu kê lên chiếc gối bông và eao trên kia là một mái nhà hẳn hoi chứ không phải bầu trời như mọi lần tôi ngủ ngoài rừng. Chuyện đó chả là gì đôi với ngời đời, nhưng với tôi quả cái vi khí hậu của “mái ấm gia đình” đó đã gợi ra biết bao cảm nghĩ nhất là khi ngước nhìn lên vách, tôi thấy treo một bức ảnh cắt từ họa báo chụp một bà mẹ đang bế trên tay một đứa bé trai. Giá như lúc này thằng liên lạc đừng chạy đi làm thịt chồn với anh chủ nhà, thằng hộ pháp đừng có trốn biến đâu mất, giá tôi không chỉ có một mình, chẳng biết làm cái gì, giá như vậy, hình ảnh hai mẹ con kia hẳn đã thoảng đi. Vậy nhưng tôi đã nằm ruổi dài, ngắm mãi nó mà ngẫm nghĩ về cái người đời vẫn gọi là tình mẫu tử mà trong ký ức tôi chẳng lưu giữ một chút gì về nó. Nếu như tôi có một ngời mẹ như cái đứa bé trong ảnh kia rất có thể tôi đã sống khác bây giờ. Người ta thường nói đến những đứa trẻ mồ côi khi lớn lên tính nết thường khô khan, thính cô độc, và thích sống lang thang hơn là bó mình trong quy củ gia đình. -Không hiểu điều đó nghiệm vào tôi có đúng không nhưng tôi luôn cảm thấy thiếu hụt một cái gì đó rất căn bản so với người đời và bởi thế đôi khi tôi thường bị chìm đắm trong một nỗi buồn nặng nề mà chẳng do một nguyên cớ nào. Chẳng hạn lúc này đây, lẽ ra tôi có thể sung sướng trong tiện nghi dù là tối thiểu, vậy mà kỳ chung tôi vẫn thấy lòng nặng chịu, toàn thân bải hoải, chân tay như dính chặt xuống chiếu không nhấc nổi lên nữa. Bỗng dưng tôi thèm được gọi tên một người nào đó, nhưng là ai bây giờ chằng có ai cả và cái điều đó đâm nhói trong ngực tôi, rồi thật ngớ ngẩn, những giọt nước nóng ấm không hiểu sao cứ ứa ra hai hàng mi. Có tiếng chân bước cót két dẫm lên thang tre làm tôi vội vàng chùi mắt và ngồi nhỏm dậy.
Người đàn bà trẻ tuổi vừa đi đâu đó, mặt đỏ bừng và nhìn tôi miệng cười tươi:
“Sao mình buồn thế? “ .
“Không mình có buồn đâu. Khói thui con chồn làm chảy nước mắt đấy.”
“Không phải đâu, mình nói dối, mình nhớ vợ ở nhà phải
không? ôi, các mình khổ quá mình ơi.”
Tôi ngạc nhiên về cái nhạy cảm của cô ta:
“Tại sao biết mình khổ?”
Người đàn bà trẻ tuổi lại nhoẻn một nụ cười làm sáng khuôn mặt:
“Anh kia nói mà, anh kia nói là các mình không có nhà ở không có cơm ăn, không có vợ ôm, khổ quá mà.”
Tôi hiểu ngay anh kia là ai, nhưng lúc đó tôi chẳng có ý nghi ngờ nào hết, tôi chỉ thấy buồn cười cái nhìn nguyên sơ của cô gái miền cao. Rồi lúc còn lại một mình, tôi lại nghĩ có khi cô ta nói đúng, tôi đã quen quá rồi không còn biết thế nào là khổ và điều đó chỉ người ngoài cuộc mới nhận ra: Vậy thì tại sao tôi không thử sống khác đi? Bằng cách nào? Lăm le đào nhiệm như thằng hộ pháp? Hay xây dựng “sự nghiệp” theo kiểu thằng học giả? Không được tôi không liều lĩnh và cũng không kiên tâm như hai thằng đó cái phẩm chất đáng kể nhất tôi có thể có là cam chịu dạt trôi khắp nơi theo sự đời đa đẩy. Rồi, một lúc nào đó nó đẩy tôi khỏi cái kiếp sống “lấy sương làm màn, lấy làm chiếu” để tới một mái nhà cố định nào chứ? Chắc còn lâu lắm, khi tôi đã lưng còng, đầu bạc hơn cả ông toán trưởng bây giờ. Mặc dù hai mẹ con trong ảnh trên vách nhìn tôi với ánh mắt trìu mến, ân cần, nhưng họ vẫn thuộc một thế giới xa xôi nào đó mà tôi không thể với tới? Đến bao giờ số phận đưa đến cho tôi một người con gái gắn bó để có được những đứa con xinh xắn như thế kia? Quả thực điều đó còn xa xôi quá khi những người con gái tôi đã gặp chẳng lưu lại ký ức hình ảnh nào. Kể ra cô cấp dữơng trường thanh niên vừa học vừa làm cũng có để ý đến tôi đấy, nhng hồi đó tôi quá trẻ để có thể đáp lại những biểu hiện tinh tế eô giành eho tôi ngoài cái việc lắp bắp cảm ơn mỗi khi trong cạp lồng cơm của tôi được cô chia thêm cho một miếng cháy đen xạm. Ngày tôi rời trường cô bắt tôi hứa viết thư một khi tôi đã sống ổn định ở một nơi nào đó. Hỡi ôi, cho tới nay, mấy năm trôi qua, lá thư đó vẫn chưa được viết vì tôi vẫn chưa có được một địa chỉ cố định như lời cô dặn. Bây giờ chắc cô đã quên tôi, riêng tôi đôi kh. i còn nhớ, nhất vào những lúc thằng cấp dưỡng cho tôi cạo cháy trong nồi cơm của nó.
Vẻ mới mẻ của ngời đàn bà trẻ vừa bước ra từ bên trong cánh màn làm tôi ngạc nhiên. Cô ta đã thay váy mới, thêm một cái khăn xanh quàng quanh bụng và cái áo chẽn trắng bó sát người khắc hẳn người đàn bà lấm láp vác bó củi dựng cột nhà lúc tôi mới tới. Hóa ra ở nơi u tỳ này thật hiếm cơ hội cho cô trang điểm, làm đẹp. Bởi vậy tôi tự thấy có nghĩa vụ phải ngắm nhìn đôi chút nếu không cô sẽ buồn biết bao.
“Đẹp lắm, cô mặc the này đẹp lắm...” .
Lời khen làm cô sung sướng đỏ ngời gương mặt. Tuy nhiên tôi ehỉ nói được có thế thôi. Cô ngập ngừng chờ đợi rồi uyển chuyển bước ra ngoài. Nếu như tôi biết trước được “phép lạ” sẽ xảy ra trong đêm ấy, có lẽ tôi cũng chẳng làm gì được hơn. Cái giới hạn ấy tôi không thể vượt qua đù cho có được khuyến khích đi chăng nữa.
Mãi về sau, mỗi lần nhớ tới đêm hôm đó, tôi thường suy nghĩ về thế giới bên trong người đàn bà, bà Trởng phòng dạo trước của ông toán trởng, cô nàng búp bê của thằng học giả, cô vợ ông xã đội của thằng hộ pháp, và nhãn tiền là người đàn bà ngoại tình chớp mắt trong đêm, không, tôi không trách cứ và cũng chẳng nghĩ xấu về họ, bên trong những hành động người đời thường coi là nông nổi và nhẹ dạ, còn chứa một cái gì đó khó cắt nghĩa, khó tách bạch rạch ròi như ta thường thấy trong các cuộc họp kiểm điểm, cái đó như một thôi thúc vô hình chi phôi họ và ta không thể nào không mỉm một nụ cười cảm thông của người đàn ông. Ôi cái trách nhiệm sinh nở đè nặng trong trái tim người đàn bà mới thiêng liêng, cao quý làm sao, dẫu có thế nào, họ cũng mang tới cho nhân loại cái sản phẩm vẫn được coi là “vốn quý nhất”: con người. Với ý nghĩ đó, tôi cứ nằm ngắm nhìn bức ảnh hai mẹ con treo trên vách cho tới khi thằng liên lạc nhà từ dưới sân lên, hốt hoảng:
“Chết roi, mày nằm đây lâu chưaa? Cái sắc cốt của tao...”
Nó vội vàng lật chiếu lên, nhăn răng ra cười:
“May quá, tao nhãng đi, cứ để đây suốt từ trưa. Cả một đống tiền của đơn vị chứ ít đâu?”
Nó nhìn ngược nhìn xuôi rồi ghé tai tôi nói nhỏ:
“Mày phải canh chừng thằng hộ pháp, tao thấy nó cứ xoắn lấy con vợ thằng chủ nhà!”
“Tôi bảo nó đừng quá lo, sáng mai đi rồi, có tài thánh cũng chẳng tán nhanh được thế, trừ ra thằng đó có “phép la”. Nó bảo tôi không được chủ quan, cứ đề phòng là hơn cả, lòng dạ đàn bà biết đâu lường, lại cả con bé kia nữa, mắt cứ long sòng sọc, thằng chồng thì lại đần quá. Thằng liên lạc cứ lải nhải dặn dò làm tôi phát bực:
“Kệ xác nó, nó tán được thì nó hưởng, con kia có của phải giữ, của mày đâu mà lo.”
“Không được, nếu xảy ra chuyện gì chết luôn cả tao lẫn mày. Ông toán trưởng nhà mày kể cũng lạ, cái thằng đứng đắn tử tế xung phong thì không cho di, cử ngay cái thằng động đực này cho rách việc ra.”
Thằng liên lạc khoác sắc cốt đi rồi, tôi cứ cười thầm mãi cái tính lo xa của nó. Ây thế rồi, thật khó mà tin được, “phép lạ” đã xảy ra trong đêm. Sáng hôm sau, tôi còn đang ngủ rất say, thằng liên lạc lay tôi rôl rít:
“Dậy, dậy, thằng hộ pháp bỏ trốn rồi”.
“Trốn đâu, chắc nó ra ngoài rừng đấy thôi”.
Mắt vẫn ríu lại vì ngủ chưa đẫy giấc, tôi quắp người ngủ tiếp Thằng liên lạc lôi bật tôi dậy:
“Nó trốn thật rồi. Nó lấy cả tiền của tao đây này”.
Quả thực, cái sắc cốt thằng liên lạc gí vào mắt tôi không còn căng phồng như chiều qua nữa, tôi choàng dậy:
“Nó trốn hồi nào?”
“Làm sao tao biết đợc, tối qua nó chuốc rượu cho tao ngủ say như chết. Thức dậy nó đã đi từ tám đời.”
Nó chửi rất tục, lồng lộn đi lại trong căn nhà sàn và giục tôi sửa soạn gấp, đuổi theo thằng hộ pháp. A, chuyện này không được rồi, “Nếu mày không giúp gì được thì mày cũng đừng làm cái gì hại tao”, thằng hộ pháp đã nói thế, làm sao tôi đuổi theo nó được, đành tìm ke hoãn binh thôi.
Tôi xuống thang, đủng đỉnh đi ra suối rửa mặt. Hai vợ chồng chủ nhà đã kéo nhau đi làm nương từ sáng sớm, chắc anh chồng chẳng hề biết chuyện gì đã xảy ra với vợ mình đêm qua, nếu không hẳn ầm ĩ lên rồi. Nước lạnh làm tôi tỉnh táo và bỗng thấy nhớ thằng hộ pháp, chiều qua nó còn vùng vẫy với tôi ở đoạn suối này, còn cười nói và liếc tình cô chủ nhà, bây giờ nó ở đâu, liệu tôi có gặp lại nó không?
Ngày thường có lúc nào tôi và nó rời nhau, việc nó bỏ trốn bỗng tạo nên một lỗ hổng rất lớn trong tôi. Tôi giận mình có ít tiền không đưa cho nó ngay chiều qua để nó phải xoáy của thằng liên lạc làm thằng này chạy cả ra suối tìm tôi.
“Bo n mình đi ngay sao được, tôi bảo nó, phải chờ vợ chồng chủ nhà về để chào, cảm ơn đã chứ”.
Ôi dào, vẽ chuyện, mình cứ đi, miễn không xoáy cái gì là được rồi.. Tôi không chịu, tôi bảo nó dù sao cũng phải làm tốt công tác dân vận, nhất thiết phải chờ chủ nhà về, truớc mắt cứ đặt nồi cơm lên ăn cho no bụng đã. Nghe tôi nói, nó nổi cáu:
“Vậy đến tối họ mới về mày cũng bắt tao chờ hả? “.
“Đành vậy chứ còn biết làm sao?”
“Nếu vậy thằng hộ pháp đã bay tận đâu ròi. Thôi được, mày cứ nấu cơm đi, tao chạy ra nương báo chủ nhà mình phải đi đột xuất vậy.”
Thằng liên lạc xăm xăm bỏ đi, tôi leo lên nhà đánh ngay giấc nữa. Liên tiếp hai việc tày đình thằng hộ pháp gây ra làm tôi choáng váng đầu óc, người mỏi nhừ, không còn muốn động chân động tay làm gì nữa. Thằng liên lạc quay lại thấy tôi đang ngủ ngon lành, nó tru tréo ầm ĩ. Tôi biết nó sốt ruột đuổi theo thằng hộ pháp chẳng qua vì món tiền kia thôi.
“Mày mất bao nhiêu? Ngần này đủ không? “, tôi rút phăng ngay cả số tiền giành giụm được trong mấy năm, ấn vào tay nó. Nó đếm kỹ lưỡng từng tờ rồi trả lại tôi chỗ lẻ.
“Cũng may tao cất làm ba nơi không thì bán cả mày đi cũng không đền nổi. Giờ tính sao đây? Tao đã chào chủ nhà rồi, hắn cố giữ ở chơi thêm ngày nữa, nhưng tao từ chối, riêng con vợ hắn rất lạ, cứ hỏi cuống lên: “Đi à, các mình đi thật à? Sao anh kia bảo vài ngày nữa mới đi? “.
Tôi thở ra nhẹ nhõm, thế là đã rõ, câu chuyện đêm qua chỉ có tôi là người thứ ba biết được, thôi cứ coi nó là một giấc mộng. Tôi bảo thằng liên lạc:
“Mày đã eầm tiền rồi, tiền này không dính dáng gì đến mày nữa. Tao cấm mày về tâu với Ban chỉ huy.”
Nó sợ tôi đòi lại tiền nên bằng lòng ngay, vui vẻ đi nấu cơm để tôi ngủ thêm lát nữa. Tôi cố chợp mắt mãi chẳng được đành nằm nhớ lại mọi biểu hiện eủa thằng hộ pháp mấy hôm nay, hóa ra nó đã có ý bỏ trốn từ lâu nên mới nói chuyện sinh sống, làm ăn ở bản Mù U say sưa vậy. Cái thằng liều thật, tôi sẽ ăn nói làm sao với ông toán trưởng để ông đừng có điện về Ban chỉ huy gửi giấy về địa phương truy nã? Nếu không ngăn được chuyện đó, thằng hộ pháp chỉ đặt chân về nhà chắc bị tóm ngay, nói gì đến việc rủ rê vợ thằng xã đội đi trốn? Càng nghĩ tôi càng giận nó đã giấu cả tôi và rồi không khéo thằng học giả nói đúng: “Manh động chỉ có chết”. Vậy nhưng nếu không thế thì sao? Nếu nó tin cậy bàn bạc với tôi liệu giúp gì được? Chịu, tôi không tìm ra câu trả lời, thôi cứ kệ, “bấc đến đâu dầu đến đấy”.
Cơm nước xong, sợ cô vợ chàng chủ nhà về không thấy thằng hộ pháp lại hỏi han lôi thôi, rắc rối, tôi bèn giục thằng liên lạc đi ngay. Trước khi ra hỏi nhà, tôi ngoái nhìn lần nữa bức ảnh hai mẹ con, thầm chúc cho vợ chồng nhà này nay mai sẽ có đứa con xinh đẹp như thế.
Thằng liên lạc khoác xắc cốt, chống gậy đi truớct tôi khoác ba lô rỗng theo sau. Con đư ờng nhỏ leo qua những tảng đá rêu phong, len lỏi dọc theo những khe cạn tối om rồi đổ ra một khu rừng toàn lau lách. Mặt trời trên đỉnh đầu dội xuống cái nắng như có cả ngàn con kiến châm vào da thịt, thằng liên lạc hăng hái là thế cũng phải vuốt mồ hôi mặt nằm lăn ra trên đám cỏ tranh thở hồng hộc.
“chịu thôi, tao mệt quá rồi, nằm lại đây thôi”.
Tôi rút dao, chui vào bụi cây dọn dẹp một chỗ đủ nằm rồi cũng lăn kềnh ra, dốc bi đông nước tu ừng ực. Ngước nhìn bầu trời chói sáng qua kẽ lá tôi chợt nhận ra suốt từ đêm qua, đầu óc tôi không lúc nào dứt nổi hình ảnh thằng hộ pháp. Lúc nào rảnh rỗi tao phải nhờ mày viết hộ tao một bức thư cho con vợ thằng xã đội, nó đã nói với tôi vậy. Tao đang quặn ruột quặn gan nhớ nó đây, nhưng diễn tả ra như hằng học giả thì tao chịu, mẹ kiếp, cái bọn trí thức nó hơn mình chỗ đó. Nhưng tao không cần mày thêm muối mắm gì hết, có thế nào cứ viết ra thế ấy. Chẳng hạn như lúc này, tao với mày vừa phá xong bụi tre gai phải không, cái gốc tre vừa rồi mày chặt ẩu, bật lên suýt nữa tao không nhanh thì nó đâm chột con mắt rồi, mày cứ viết mẹ nó ra như thế, rồi thì bên cạnh mình toàn bụi gai cả thôi, chả có chỗ nào ngả cái lưng, mày phải ngồi xổm trên hòn đá nhọn, còn tao thì đu đưa trên cái rễ cây như khỉ leo giây, suốt từ sáng hai thằng làm như trâu ấy, có bi đông nước dốc hết vào miệng rồi, ba bát cơm nhét bụng cũng ra bã hết rồi, bồ hôi mẹ, bồ hôi con bò ra khắp người, ấy thế mà lúc này tao lại nghĩ thương. Hôm tao đi, nó trốn mãi mới thoát đợc thằng xã đội để chạy ra bến xe đưaa cho tao ba cái bánh chưng và hai cái bánh giò. Nó còn dặn tao bánh chưng để lâu được, anh ăn bánh giò trước. Rồi khi xe chuyển bánh, mắt đỏ đòng đọc, nó chạy theo dặn với: “Nhớ biên thư cho em gửi về đằng nhà mẹ. “ Tao quát: “chạy xa ra không xe đè chết. “ Giời ơi, tao nghĩ tao cứ hối mãi, sao mình quát nó, sao không nói được câu nào ngọt ngào, tử tế, đêm nào không ngủ được, nhớ tới chuyện đó tao cứ sôi gan sốt tiết lên. Tao định bụng phải biên thư, ấy thế rồi nấn ná mãi đến giờ vẫn chưa được hột chữ nào. Mày viết hộ tao nhé, mày cứ viết y như tao nói vừa nãy ấy, chả cần gì màu mỡ riêu cua, văn chương chữ nghĩa làm đếch gì, cứ người thật việc thật mày viết cho tao thôi. Than ôi, cho tới lúc này thằng hộ pháp đã trôi dạt tới tận chân trời nào, tôi vẫn chưa viết hộ nó được một chữ. Tôi đành an ủi rằng thư từ, chữ nghĩa chả được cái tích sự gì, viết cả ki lô như thằng học giả rốt cuộc vẫn bị con búp bê kia nó đá lăn quay, tình yêu hóa thành tình hận, người tử tế biến ra kẻ bất lương, hoa thơm trái ngọt trở nên mật đắng, rượu chua.
Tôi đang loay hoay với mớ triết lý vụn, thằng giao liên đã bò tới bên thì thào:
“ Ở đằng kia có xác con gì chết, quạ kéo tới đông quá mày ạ.”
Tôi giật thót, nghĩ tới đêm qua thằng hộ pháp mò mẫm đi đêm không tiểu có xảy ra chuyện gì không? Tôi chui vội ra khỏi bụi cây và nhìn theo tay thằng liên lạc, quả nhiên phía trước tôi thấy một đàn quạ nhớn nhác bay lên bay xuống, rối rít gọi nhau. Thằng liên lạc lò dò theo tôi tới gần cái hố, ở bên dưới lấp ló cái gì đó màu đen đen, mùi thịt khắm bốc lên cùng với đàn ruồi nhặng bay tứ tung. Đàn quạ thấy người đã bay hết lên cây ngó xuống la hét ầm ĩ.
Tôi bước lại gần kêu to:
“Con gấu, con gấu chết...”
“Sao nó chết ở đây? “
“Sập bẫy chứ sao.”
Tôi phải lấy khăn tay bịt mũi, cầm dao phát quang miệng hố mới thấy rõ con gấu bị mũi dáo xuyên lưng chắc chết từ lâu lắm Người đặt bẫy hẳn đã chuyển bản, hoặc đã bỏ quên nó. Thằng liên lạc run bần bật:
“May là con gấu chứ không phải tao hoặc mày.”
Tôi nghĩ tới thằng hộ pháp lò dò đi đêm qua chẳng may rơi xuống một cái bẫy bị bỏ quên thế này có thánh cũng chẳng tìm ra, lúc đó hẳn chỉ còn cách quy cho nó cái tội vượt biên. Thằng liên lạc dục tôi:
“ Xả nó lấy mật đi, tao với mày chia nhau...”
Hì hục cả tiếng đồng hồ tôi mới moi được túi mật nhỏ bằng hai đốt ngón tay đưa cho thằng liên lạc. Nó mừng rỡ:
“ Rõ thật của trời cho, mang về xuôi bán được khối tiền, chỉ tiếc thịt thối cả rồi, nếu không tao với mày được bữa no.”
Tôi rùng mình nhớ tới cái lần ăn thịt bò chết năm ngoái.
Bữa đó bọn tôi ngủ lại một cái lán ven đường, cạnh một trại bò. Nửa đêm thằng hộ pháp dựng tôi dậy thì thào:
“Mày có biết lúc tối bọn trong trại chôn con bò đằng sau lán mình không? “.
Bị phá giấc ngủ tôi nổi cáu:
“ Mày định thắp hương cúng nó hả?”
“Không, mình ra đào lên-xả thịt đánh chén.”
“Bò chết bệnh đấy bố ạ, có thế bọn nó mới đem chôn ch ứ.”
“ Ôi dào, bệnh với bò chứ đâu với người “.
Tôi nghe bùi tai, theo nó đi đào mả bò, ruột gan phèo phổi vứt đi hết chỉ lấy mỗi hai cái đùi sau lúi húi xào nấu suốt đêm. Sáng ra chỉ có thằng học giả sợ hết hồn không dám động đũa, cả ông toán trưởng cũng lắc đầu, chỉ có tôi, thằng hộ pháp, thằng cấp dưỡng ăn ào ào. Lúc đi làm, thỉnh thoảng tôi lại hỏi nó:
“Sao? Mày có thấy làm sao không?”
Nó vỗ bụng cười hềnh hệch:
“Chả sao cả, mày cứ lo hão, hổ với sói còn ăn thịt thối bằng mười mình cũng có sao? Còn một cẳng bò nữa, chiều về tụi mình “tế nốt.”
Quả nhiên sau cái trận ấy tôi và thằng hộ pháp chẳng làm sao cả, lại có vẻ khoẻ ra, chỉ có thằng cấp dưỡng ốm một trận, trọc cả đầu, nhưng chắc không phải do ăn thịt bò chết. Tuy nhiên cái con gấu này chết lâu quá rồi, giờ có thằng hộ pháp ở đây cũng chịu không dám nghĩ tới chuyện ăn thịt, thôi trả lại nó cho bày quạ. Tôi kéo thằng liên lạc đi tiếp con đuờng qua đồi lau lúc này đã nhạt nắng. Nó chưa hết hí hửng với cái mật gấu buộc trên đầu gậy vừa đi vừa giơ lên phơi khô. Mãi gần chiều, hai đưá mới qua hết dãy đồi bát úp đi tới chân dãy núi con đường sắp sửa leo ngược lên. Bụng đói, đôi chân rời rã, tôi kéo thằng liên lạc ngồi lại bên một gốc cây lớn, giở cơm nắm ra ăn.
“Leo qua dãy núi này là nhìn thấy Mù Cang...”
Chân tôi vừa đá phải vật gì sang sáng nên không để ý tới thằng liên lạc nói gì. Tôi cui xuống nhặt lên một con dao bằng nhôm, trời, con dao của thằng hộ pháp, hình đôi chim câu châu mỏ vào nhau làm tôi nhớ tới ý định “cắt dái thằng xã đội” của nó. Hoá ra nó đã đi qua đây, đã ngồi nghỉ lại. Tôi bỗng thấy nhói buồn, con dao của nó nằm đây, còn chính nó bây giờ ở đâu?
                                     
        (còn tiếp)

                PHỤ LỤC

ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ
         Một thiên đường mù của trí tuệ.
                                                   Hoàng Khởi Phong
         
                             (tiếp theo)

       Vấn đề chính ít ai nhắc tới là giá trị văn chương của những tác phẩm này, cũng như sự khác biệt giữa hai phong trào: Các nhân vật trong phong trào Nhân Văn quá ít ỏi, không đi ra khỏi quỹ đạo của Đảng, lại bị nhà nước chi phối bao tử qua hình thức phân phối nhu yếu phẩm bao cấp và tem phiếu... Do đó các nhà văn trong phong trào Nhân Văn chỉ đòi hỏi một điều là chính trị không được can thiệp thô bạo vào văn nghệ. Trong giai đoạn 87-91 các nhà văn tham gia đông đảo hơn, số lượng tác phẩm nhiều hơn, mức độ phản kháng mạnh hơn và đã đi xa hơn. Những người làm văn nghệ trong giai đoạn này không chỉ đòi tự do cho văn ngh? sĩ, mà còn đòi thay đổi cả một cơ chế, cả một chế độ. Và quan trọng hơn nữa những tác phẩm này đồ sộ hơn, có chất văn chương hơn.
Năm 1990 trong cương vị chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Văn Học, chúng tôi thực hiện một số Văn Học đặc biệt, số 49 với chủ đề Văn Chương Phản Kháng. Đây là tờ báo đầu tiên tại hải ngoại đề cập tới tới phong trào văn chương phản kháng ở trong nước.
 Kế đó nhà xuất bản Lê Trần thực hiện một tập sách biên khảo công phu: "Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương", với 27 cây bút  hải ngoại viết về 79 nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo, kịch tác gia, nhà đạo diễn ở trong nước. Cuốn sách dầy khoảng tám trăm trang khổ lớn này được một số nhà báo tại quận Cam, cùng với một số hội viên của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại biểu tình chống đối, kéo lê đi giữa đường phố của Little Saigon, và nếu không có sự can thiệp của Sở Cứu Hỏa thành phố, cuốn sách này còn bị đốt ngay trước cửa chợ.
Mười năm đã qua đi, tôi không hiểu những vị toan đốt sách đó, đã làm được gì cho văn học Việt Nam hải ngoại. Chỉ biết rằng Văn Bút Việt  Nam Hải Ngoại càng ngày càng phân hóa. Đây là tổ chức duy nhất của miền Nam, còn duy trì được tiếng nói của mình đối với quốc tế. Sự chia rẽ không thể hàn gắn của Văn Bút  Việt Nam Hải Ngoại, khiến cho Văn Bút Quốc Tế phải quyết định cho tổ chức này ngủ một giấc đông miên kéo dài tới mấy năm. Hiện nay Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại đã hợp nhất, nhưng ngay lập tức đã có những tiếng xì xèo từ trong nội bộ. Việc phó hội trong những kỳ Đại Hội Văn Bút Quốc Tế sắp tới chưa biết sẽ đi về đâu, nhưng có điều chắc chắn vì mải tranh dành các chức vụ, mà dường như các hội viên của Văn Bút  Việt  Nam Hải Ngoại đã dồn mọi nỗ lực trong việc tranh cãi, hơn là sáng tác những tác phẩm có giá trị văn học. Thời gian thực hiện cuốn "Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương”, nhà xuất bản Lê Trần qua các anh Trần Vịnh, Thân Trọng Mẫn và Lê Bửu Tấn gợi ý, để tạp chí Văn Học đảm trách phần chọn lựa bài vở, vì lý do tạp chí Văn Học là tờ báo đầu tiên đã nêu vấn đ? văn chương phản kháng ở trong nước. Tôi nghĩ cuốn sách biên khảo này quá thiên về chính trị, không phải là sở trường của anh em Văn Học, nên chúng tôi chỉ nhận lời tham gia với tư cách cá nhân đóng góp bài vở qua các anh Nguyễn Mộng Giác, Nhật Tiến, chị Thụy Khuê và tôi. Tôi định viết về tác phẩm Đi Về Nơi Hoang Dã của Nhật Tuấn, nhưng rútcục phải viết bài dẫn nhập về Đại Hội các nhà văn lần thứ IV. Từ đó tới nay hơn 10 năm đã qua đi, tôi không có dịp viết về tác phẩm này, nhưng mỗi khi đề cập tới văn chương trong nước, đặc biệt là văn chương phản kháng, chưa bao giờ tôi quên nhắc tới tác phẩm này. Đi Về Nơi Hoang Dã lần đầu tiên do nhà xuất bản Văn Học (miền Nam) tại Sài Gòn xuất bản vào năm 1990. Trong lần in này nhà xuất bản phát hành 10.000 cuốn, chỉ trong một thời gian ngắn ngủi  đã không còn một cuốn nào nơi những kệ sách.
Ngay lập tức nhà xuất bản Văn Học xin tái bản, nhưng từ đó tới nay cuốn sách này không bao giờ có ấn bản mới ở trong nước. Năm 1995, nhà xuất bản Việt Nam tại hải ngoại in lại cuốn sách này, và mới đây nhất nhà xuất bản Huyền Trân cho tái bản lần thứ hai tại hải ngoại. Đó là chưa kể có những cuốn được in lại tại đây mà không đề nhà xuất bản, chỉ đề giá bán và địa chỉ để mua là một hộp thư.
Nhật Tuấn mở đầu cuốn tiểu thuyết của ông như sau:
"Chúng tôi gồm năm người đàn ông, một ông già và bốn gã đàn ông lực lưỡng sẵn sàng làm chồng các cô gái khỏe mạnh, làm cha những đứa bé chập chững, làm chủ những gia đình vào chiều đông xám lạnh như chiều nay hẳn đang quây quần quanh bữa cơm nóng sốt. Vậy mà đằng đẵng bao năm nay, chúng tôi bị quăng lên những đỉnh núii quanh năm mây phủ, không có cả đến một tiếng chó, một bãi phân trâu, cái thứ ở dưới miền đồng ruộng kia, ta bắt gặp nhan nhản ngay khi chưa bước chân vào cổng làng...".
Đó là những câu mở đầu cho cuốn sách. Nó mở ra cho người đọc một chân trời kỳ bí lạ lùng. Cái lạ lùng bí hiểm không phải do không gian núi co rừng thẳm của chuyệmà khởi đi từ các nhân vật trong tác phẩm này. Không một nhân vật nào trong cuốn sách có tên riêng, bởi vì mỗi một nhân vật như điển hình cho một  lứa người trong xã hội. Ông già là "Toán Trưởng", với bốn gã đàn ông lực lưỡng dưới quyền, được Nhật Tuấn gọi bằng những biệt  hiệu "Thằng Hộ Pháp, Thằng Cấp Dưỡng, Thằng Học Giả" tượng trưng cho ba mẫu người và nhân vật chót cùng là "Tôi" như là một nhân chứng cho những xung đột diễn ra giữa những nhân vật nói trên. Chính vì là nhân chứng nên nhân vật tôi này điển hình cho mọi tầng lớp nhân dân, anh như một khán giả duy nhất của vở kịch có bốn diễn viên. Anh dửng dưng với mọi đấu đá, anh đứng ngoài những tranh chấp, và sau cùng anh cùng là người có lòng nhân nhất trong toàn bộ câu chuyện.

             (còn nữa)




Thứ Năm, 27 tháng 8, 2015

ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ - Tiểu thuyết NHẬT TUẤN - KỲ 20



Mười chín.
   
“Nếu hoài trên đỉnh Phăngxipăng
“Anh chỉ hát trong mây mờ huyền diệu
“anh Hiếu ơi... dù muôn ngàn giai điệu...
“ Có bao giờ ấm được giá băng”

Đấy nàng viết cho tao vẻn vẹn có bằng đấy thôi, kèm theo là cái thiệp báo nàng đi lấy chồng. Tao cứ cười, cười mãi để rồi thấy nó là chuyện thực chứ không phải là mơ. Cay đắng cho tao chưa? Tao đã đánh bạc cả cuộc đời tao vào tình yêu của nàng, thế ròi bỗng mở bát lên: một con số không to tướng. Lần cuối cùng giáp mặt, mẹ tao chửi tao tên là Hiếu mà bất hiếu, nàng bảo tao rằng không hề gì, thời đại mới, chứ hiếu phải hiểu theo nghĩa mới. Khi tao bị từ chối không được nhận vào trường đại học, nàng bảo tao rằng không sao, anh cứ đi lao động miền núi dăm ba năm rồi về học cũng chưa muộn. Khi tao về phép với hai bàn tay trắng, nàng lại vui vẻ bảo tao rằng vật chất chẳng đáng kể gì, anh về với em đã là một quà tặng vô giá rồi... Đấy, trên đời này còn có ai cảm thông, an ủi, khuyến khích tao như nàng được không? Nàng viết cho tao những lá thư chan chứa nhớ thương, tin cậy và hy vọng. Trời ơi, mày không thể biết được đâu, “sông sâu cá lội biệt tăm, phải duyên chồng vợ ngàn năm em vẫn chờ, “ nàng đã viết cho tao như thế đấy, ha ha, ngàn năm em vẫn chờ... vẫn chờ... Đến thế thì ai mà tính đến chứ ngờ, không, lần về phép năm ngoái nàng vẫn nồng nàn, vẫn thắm thiết, vẫn đưa tao ra tận bến xe ấn vào tay nắm cơm, không một dấu hiệu nào, không một linh cảm nào gợi lên sự ngờ vực cả “ Khi xe anh chạy xa rồi, em vẫn còn nhìn theo, nhìn theo mãi...”
Nàng còn viết cho tao như thế đấy. Ấy thế rồi như sét đánh giữa trời quang, đùng một cái nàng bỏ tao đi lấy chồng, như thế là thế nào, tao hỏi mày như thế là thế nào?
Đầu óc tao đông cứng lại, miệng đắng ngắt, cơn rét run làm da nổi gai, ngực tao đau nhói như máu trong tim đã khô kiệt, tao bất lực, phó mặc thân xác cho tuyệt vọng nó hành hạ, cấu xé. Ôi, mày không thể hiểu được đâu, một khi Thượng đế đã chết trong ta, một khi cái bệ đỡ cho ta trụ được trong cái kiếp sống lầm than này đã sụp đổ và rồi đúng như người ta nói “Ngó tới tương lai trào nước mắt, ngoảnh nhìn quá khứ toát mồ hôi”, với tao chỉ còn cái chết là cách giải thoát thuận tiện nhất. Đúng lúc chúng mày xúm xít quanh mâm rượu, tao lẻn tới võng thằng cấp dưỡng ăn cắp khẩu súng chạy ra rừng. Tao chọn đám cỏ tranh sạch sẽ nằm xuống, tiếng chim gõ kiến cứ bổ “cộc cộe” trên đầu, tới số rồi, nó giống như tiếng gõ cửa của định mệnh trong bản giao hưởng của Beethoven đấy, tao kê súng vào cằm và nhắm mắt lại. Thế rồi khi tao đặt ngón tay vào cò súng làm nốt cái động tác cuối cùng trong đời, bên tai bỗng vang lên những tiếng cười khả ố của chúng mày. Một cơn giận ngùn ngụt bốc lên trong tao. Bọn khốn nạn, chúng nó cười ngay bên cái chết của mình. Tao nghĩ ngay đến chuyện một thằng công nhân địa chất khổ cực quá không chịu nổi đã tự tử chết trong rừng để rồi phải kỷ luật khai trừ Đoàn rồi mới được chôn. Chắc chắn rồi tao cũng thế, cũng nằm dưới dáy huyệt chờ lão toán trưởng đọc cho xong cái quyết định khốn nạn kia rồi mới được lấp đất. A ha, đừng hòng nhé, cứ chờ đấy mà phê phán, kỷ luật tao, không, tao không được chết, tao phải sống, sống để chọi nhau với mọi thứ xấu xa, bỉ ổi đề vượt lên đầu tất cả chúng mày, cả lão toán trưởng, cả cái con búp bê phản bội kia, tất cả... Như một tia chớp lóe lên trong tao, bỗng chốc tao thấu hiểu rằng chính từ nay tao mới bắt tay vào xây dựng sự nghiệp, một sự nghiệp hiển hách tao đã mơ tới từ những ngày bị hành hạ bởi cái mà mày gọi là “nỗi buồn con nhà giàu, đúng như thế đấy, chỉ chạm mặt với cái chết, tao mới bừng tỉnh ngộ. Thế là tao nghiến răng bóp cò, a ha, tao không bắn vào thân xác tao đâu. Tao ghếch súng lên bắn con gõ kiến, bắn vào cái định mệnh khốn nạn cho thôi đừng gõ nữa, bắn vào con người cũ của tao, con người ngớ ngẩn, ngây thơ chỉ “biết hát trong sương mù huyền diệu trên đỉnh Phăngxipăng. “Đúng đấy, nàng búp bê đã viết cho tao rất đúng đấy. Bây giờ thì tao đã hiểu, chính cái hố thẳm trong con người nàng đã dạy nàng cách gọi sự vật đúng với tên của nó. Bây giờ thì tao đã hiểu cuộc đời này nằm trong chính hai bàn tay tao. Thế là quả tên lửa đã được đặt lên bê phóng. Bay lên đi, bay lên đi hỡi chú ngựa chiến...


PHỤ LỤC :

 LES GOUFFRES DE L’ÂME

Entretien de Mireille Gansel avec Phan Huy Duong

La Quinzaine Littéraire, n° 840
          
                                (suite)

MG : A propos d’amour et d’histoire personnelle, ce qui me semble tout à fait novateur dans ce livre, c’est aussi le fait que des hommes se remettent en question à travers leurs relations à la femme.
PHD : Dans ce roman, les femmes ont un rôle particulier. Ce sont elles qui, en définitive, donnent un sens à la vie de ces nouveaux damnés de la terre. Le Cantinier supporte cette existence absurde par amour pour sa mère : il veut lui payer une maison avec un vrai toit. Le Gendarme déserte sa mission par amour pour la femme du chef de la milice de son village. Il ne renonce à cet amour qu’en apprenant que la femme est enceinte de son mari. Respect de la mère, respect de la vie. Le Chef, au seuil de la mort, réaffirme le seul véritable amour de sa vie, une femme qu’il a été forcé, par le Parti, d’abandonner avec son enfant. Il la réhabilite à ses yeux et aux yeux de ses compagnons sinon à ceux de la société. Le narrateur achève le récit sur la seule note un peu optimiste : son amour pour une jeune femme des minorités des montagnes rencontrée au cours de ses pérégrinations. « Dans cette maison sur pilotis, devant ce feu joyeux, je me sentis vivre dans une autre humanité où chaque rire du vieillard, chaque parole de la jeune femme faisait résonner en moi un nouveau rythme […] En moi montait un désir d’embellir l’âme humaine. »
MG : Ce personnage du narrateur m’amène à une question : qui est Nhât Tuân, l’auteur du roman ?
Voici ce que l’auteur dit de lui-même. Né à Hanoi en 1942, je l’ai quitté à 16 ans pour travailler en forêt afin de rééduquer l’homme ancien en moi et créer l’homme nouveau. En 1964, je suis parti construire la ‘piste Ho Chi Minh’ à travers la Cordillère Truong Son. En 1968, je suis revenu à Hanoi pour travailler en informatique. En 1973, j’ai été réengagé comme éclaireur dans le génie militaire au Sud-Vietnam. En 1976, j’ai travaillé aux Éditions de la Culture de Hanoi. Actuellement, je travaille comme journaliste à Saigon. J’ai publié dix romans, cinq recueils de nouvelles. Après Retour à la Jungle, Flamme froide publiée en 1991 à Saigon a retenu l’attention du public.

                                (à suivre)

      HỐ THẲM TRONG TÂM HỒN

           Trao đổi giữa Mireille Gansel và Phan Huy Duong
                      La Quinzaine Littéraire, n° 840

                                          (tiếp theo)
   M.G :Về chủ đề tình yêu và đời sống cá nhân , với tôi dường như hoàn toàn được sáng tạo trong cuốn sách này,nó cũng là vấn đề những người đàn  ông luôn luôn phải đối diện với vấn đề quan hệ của họ với phụ nữ.
PHD : Trong cuốn tiểu thuyết này, phụ nữ đóng một vai trò rất quan trọng. Chính họ thực tế đã tạo cho những người  đàn ông bị đầy đọa một ý nghĩa của cuộc sống. Thằng cấp dưỡng chịu đựng cái cuộc sống phi lý này bởi tình yêu với mẹ.Nó muốn kiếm tiền để làm một cái mái ngói cho mẹ.Thằng hộ pháp bỏ việc để tìm về với con vợ thằng xã đội. Nó đành phải bỏ lỡ cuộc tình khi nhận ra người yêu đã có bầu với chồng. Tôn trọng tình mẫu tử. Tôn trọng cái quy tắc của đời sống. Ông toán trưởng, trước khi chết , xác nhận tình yêu đích thực nhất trong đời ông chính là người  phụ nữ ông đã bỏ rơi kể cả đứa con theo lệnh Đảng.Ông đã phục thiện trong con mắt của chính ông, của đồng đội và của cả xã hội.Người kể chuyện kết thức cuốn sách ở một điểm duy nhất lạc quan :tình yêu của anh ta với cố thiếu nữ người thiểu số trên vùng núi gặp trong một chuyến lang thang." Dưới mái nhà sàn và ngọn lửa đang reo vui kia, tôi như được sống trong một nhân loại khác, ở đó, mỗi tiếng cười của ông già, mỗi lời nói của cô gái đều ngân vang trong lòng ta một âm điệu mới khiến ta cảm giác như được nghỉ ngơi trong yên ổn thinh không và chỉ còn lâng lâng một khao khát làm đẹp tâm hồn con người.
MG :" Nhân vật dẫn truyện này đưa ta đến một câu hỏi :Nhật Tuấn, tác giả tiểu thuyết là ai ?
PHD : Đây là những lời tự thuật của chính tác giả. Sinh ở Hànội năm 1942, năm 16 tuổi tôi phải lên rừng làm việc để cải tạo con người cũ và xây dựng con người mới.Năm 1964 tôi tham gia xây dựng đường Hồ Chí Minh dọc theo dải Trường Sơn. Năm 1968 tôi trở về Hànội làm công tác thông tin khoa học kỹ thuật.Năm 1973 tôi tình nguyện tham gia trinh sát công binh  ở miền Nam Việt Nam. Năm 1976 tôi làm việc ở Nhà xuất bản Văn học Hànội. Hiện nay tôi làm việc như nhà báo ở Sàigòn. Sau "Đi về nơi hoang dã", năm 1991, tôi xuất bản "Lửa lạnh"ở Sàigòn được công chúng chú ý.

                   (còn nữa)


Thứ Hai, 24 tháng 8, 2015

ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ - Tiểu thuyết NHẬT TUẤN - KỲ 19

Mười tám.
Những gì sẽ chờ đợi ông toán trưởng nếu ông cả gan chống lại cấp trên, đình cái công việc trọng đại người ta đã tín nhiệm giao phó cho ông chỉ vì cái cớ rất vớ vẩn là đi mua gạo ở bản Mù Càng? Và rồi khi những cơn mưa rừng đầu tiên đổ xuống, chúng tôi vẫn còn lò mò giữa rừng xanh núi đỏ, chẳng thấy cái đỉnh Hua Ca ấy ở nơi đâu thì rồi ông sẽ nói năng thế nào với Ban chỉ huy?
May mắn thay, ông toán trưởng chưa kịp phạm cái sai lầm tày đình ấy, vào buổi chiều hôm sau, khi chúng tôi vừa buông bát buông đũa đã nghe thằng học giả reo tướng:
“Có ngừời.. có người đang đi tới..”
Bọn tôi ùa ra đầu núi nơi thằng học giả đang ngong ngóng xuống đường tuyến chúng tôi mới phát vài hôm trước. Trời ơi, còn ai đi tới cái nơi u tỳ này nữa ngoài thằng liên lạc? Bọn tôi reo đến vỡ lồng ngực khi hộc tốc chạy cả xuống chân dốc đón nó.
“Gạo đâu? Gạo đâu? Sao mày chỉ đeo có ba lô thôi?
Thằng liên lạc thở hồng hộc, xua xua tay, hạ cái ba lô xuống quăng cho thằng hộ pháp. Thằng này đón lấy, hềnh hệch cười:
“Chà, nặng thế này chắc nhiều cái đớp lắm đây. Thằng cấp dưỡng đâu, chạy lên trước bắc nồi, nổi lửa lên em”.
“Mày có mang thư lên không? Mày có mang thư lên không?”
Thằng học giả vừa hỏi vừa quạt lia lịa cho thằng liên lạc khi tất cả bọn tôi vây quanh nhìn nó thong thả mở nắp chiếc ba lô. Thịt hộp, đường, sữa, thuốc lá... Chao ôi mắt tôi hoa cả lên khi các thứ được bây la liệt trên mặt đất đến mức tôi chỉ thoáng thấy bàn tay thằng học giả chộp lấy một lá thư để lẫn trong tập báo và công văn rồi chẳng để ý gì đến nó nữa, tôi xé toạc một gói kẹo Hải châu, bóc vội vàng bỏ vào miệng. Ôi cái vị sô cô la vừa bùi bùi, vừa ngọt ngọt chọc thẳng vào lưỡi rồi xông lên đến tận chân tóc, chảy xuống tận gót chân. Tôi nhắm nghiền cả mắt tận hưởng cảm giác lâng lâng khi cái kẹo đã đi hết đoạn đường của nó và đang yên vị trong dạ dày. Thằng hộ pháp không thèm ăn kẹo, thoắt một cái nó đã bật nắp được hộp cá chích ngâm dầu và không kịp cho thằng cấp dưỡng hốt hoảng giằng lại, tôi đã thấy miệng nó nhai nhồrn nhoàm. Ngay đến ông toán trưởng cũng chẳng chịu ngồi yên, ông bóc ngay một bao thuốc lá, rút một điếu và bật lửa rít lấy rít để. Ôi, nếu có ai đã từng trải qua những ngày tháng như bọn tôi, khi chứng kiến cái cảnh đang diễn ra mới cảm thông với người trong cuộc. Đúng vào lúc cuộc lục soát ba lô thằng liên lạc diễn ra náo nhiệt nhất bất chợt tôi tôi nghe thấy tiếng cười như thét: “Ha ha... ha ha... ha ha...”
Tựa lưng vào gốc cây chò chỉ khổng lồ, thằng học giảđang há hốc miệng, từ trong liên tiếp bắn ra những tràng cười như pháo nổ.
“Thằng học giả làm sao thế kia?”
Tôi kêu to, chạy tới chỗ nó đang dang tay chới với ôm lấy gốc cây, hai chân giãy đành đạch như thằng động dại. Tôi đỡ nó dậy, bị nó đạp cho một cái, rồi lắc đầu quày quậy:
“Bước đi, đừng có thằng nào động tới tao”.
“Mày sao thế? “ -
“Chẳng sao hết, mặc tao...”
Rồi nó lại rống lên:
“ Nếu hoài trên đỉnh Phăngxipăng... Ha ha... ha ha...”
Tôi lắc đầu quay trở lại chỗ cả bọn đang ngồi:
“Nó điên thật rồi mày ạ”.
Thằng liên lạc giải thích:
“Nó nhận được thư người yêu, sướng phát rồ lên đấy.
Nó cứ hỏi tao sao lại chỉ có một lá thôi, mày có đánh rơi dọc đường không. Tao mới bảo còn nữa đấy, còn cả trăm lá nữa kia, có điều cái con đĩ mày nó chưa gửi.”
Thằng hộ pháp cắt ngang lời thằng liên lạc:
“Mày nói sai rồi. Nó sướng đâu mà sướng khóc rưng rức rồi kìa! Để tao thoi cho nó một cái cho tỉnh ra.”
Tôi kéo tay thằng hộ pháp can mấy đứa cứ để mặc thằng học giả khóc chán rồi phải cười, chẳng chết được đâu mà lo. Ông toán trởng búng mẩu thuốc đã cháy tới tận tay, quay sang hỏi chuyện thằng liên lạc. Tôi giở ra tờ báo, đọc chưa hết một trang, thằng hộ pháp đã nắm cổ áo tôi lôi xềnh xệch: “Thôi thôi, tế sớm khỏi ruồi mày. “ Rồi nó oang oang gọi mọi người tới chỗ thằng cấp dưỡng đã bây la liệt thịt hộp, khoai tây rán, lạc rang... Ông toán trưởng sớt mỗi thứ một ít vào cái xoong phần thằng học giả rồi mở chai rượu cam lần lượt rót mỗi đứa một chén. Chao ôi, cái thứ nước thánh này, uống vào nó chạy rần rần khắp người khiến thằng nào thằng nấy mặt mày đỏ tía, hoa chân múa tay cứ như là những gian truân, khổ ải chẳng hề có trong cuộc đời và cái đỉnh cao tít mù sương này chính là trung tâm của vũ trụ ở đó duy nhất tồn tại có mấy thằng tôi thôi.
Ấy đấy đúng vào lúc cơn cao hứng lên tới tuyệt đỉnh của nó, đùng một cái, tiếng súng vang lên như sét đánh bên tai. Thằng học giả, thằng học giả đâu rồi? Nó không còn nằm ở cái gốc cây chò chỉ nữa, nó đã biến đâu mất rồi. Tôi thoáng nghĩ tới khẩu súng thằng cấp dưỡng vẫn dựng đầu võng giờ không còn ở đó nữa. Thôi rồi, trong cơn tuyệt vọng vì tình, thằng học giả chắc chắn đã tự bắn một phát vào đầu. Trời ơi, sao tôi không nghĩ tới chuyện đó, cứ phó mặc nó tự hành hạ, tự dằn vặt để đến nỗi nó phẫn chí lên như vậy Tôi chạy cuồng lên về phía có tiếng súng, chẳng kể gì tới những gai góc cào rách toang quần áo và da thịt, tôi cứ chạy mãi, chạy mãi và rồi khi đâm sầm vào một bụi gai mây, tôi nhìn thấy thằng học giả nằm sõng soài trên một nền cỏ tranh dập nát, cạnh đó vứt lăn lóc khẩu súng trường và một tờ giấy nhàu nát. “Cộc, cộc, cộc...”, tiếng chim gõ kiến dội xuống ngay trên đầu tôi. Đôi mắt thằng học giả nhắm nghiền, khi tôi quỳ xuống nâng đầu nó dậy, từ trong đôi hốc sâu và tối ấy, chợt ứa ra hai hàng nước mắt...
                                  (còn  tiếp)



PHỤ LỤC :

Lời phát biểu của nhà văn Nguyễn Mộng Giác.
 
 ( trong buổi ra mắt "Đi về nơi hoang dã"  tại trụ sở "LittleSaigon Radio " - Westminster - Quận Cam - California ngày 7-4-2001 )

                               (tiếp theo)

Chỉ có 5 nhân vật một ông toán trưởng và bốn nhân viên của một đoàn khảo sát tuyến đường theo lệnh của cấp trên, vạch con đường trên rừng để đến một cái đỉnh mục tiêu và ông trưởng toán hàng ngày dùng vô tuyến liên lạc với Ban chỉ huy ở đồng bằng để nhận lệnh là phải tiến về phía đó , thì cái lệnh cấp trên theo ông trưởng toán tuyên bố , bao giờ cũng đúng cả, tuy là nó sai be sai bét, và do cái việc chỉ đạo sai đó mà bao nhiêu thảm họa đã xảy ra, và cuối cùng cả đoàn đến một cái chỗ không phải là mục tiêu , và để gỡ thể diện cho cấp trên có thể nói là toàn năng đó, ông trưởng toán cũng phải tuyên bố là " chúng ta đến được mục tiêu rồi "
Cái câu chuyện biểu trưng đó, tuy không nói đến chủ nghĩa cộng sản, nhưng mà đã tuyên bố cho cả thế giới biết rằng , tất cả những việc các anh làm, chẳng  ra cái gì hết trơn, là con số không hoàn toàn, không có gì để bàn cãi, không có gì để lý luận, không có gì để nói năng, đó là một con số không hoàn toàn, một sự phủ nhận tuyệt đối và tôi cho đó là một cái lời gửi gắm mà Nhật Tuấn muốn gửi cho tất cả mọi người , trước hết là đồng đội của mình, cho thế hệ của mình , và  cho tất cả những người đọc.

NGUYỄN MỘNG GIÁC



Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2015

ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ - Tiểu thuyết NHẬT TUẤN - KỲ 18

Mưòi bảy.

Lâu lắm rồi, những tia mặt trời mới chọc thủng được tầng sương dày quanh năm bao phủ để soi xuống cái hẻm núi nơi bọn tôi đang mang hết quần áo ra phơi trên những sợi dây chăng dọc ngang. Nắng lên xua tan vẻ ngoài ảm đạm của cảnh vật, xua tan cả những ý nghĩ nặng nề trong đêm, bọn tôi trở lại công việc muôn thủa hàng ngày là đi tuyến, phát cây, nhích dần lên đỉnh Hua Ca. Tiến bộ kế hoạch như một mũi tên lạnh lùng và khắc nghiệt, tồn tại bên ngoài mọi biến cố, muốn ra sao thì ra, nó luôn luôn phải được tiến tới và tiến tới. Bởi vậy ngay sau khi thằng học giả qua được cơn kiết lỵ, nó đã phải thay thằng cấp dưỡng ở nhà nấu cơm đề thằng kia cùng đi làm với bọn tôi.
Bây giờ, ông toán trưởng thôi không còn xét nét nh ư trước nữa, ông mặc kệ bọn tôi muốn làm gì thì làm, trò chuyện tán phét khuya mấy cũng mặc, ông chỉ tập trung vào mỗi cái mục tiêu mỗi ngày phải đi cho đợc hai ngàn mét, để tới đỉnh Hua Ca trước mùa mưa. Ngày nào cũng như ngày nào, ông chỉ nhắc chuyện đó và dường như ông quên hẳn cái việc trọng dại nhất đối với bọn tôi lúc này là thằng liên lạc mang gạo, đường, thịt hộp liệu có leo lên được đây không? Kẻ bồn chồn, nóng ruột nhất vẫn là thằng học giả, hầu như lúc nào nó cũng chỉ nghe bọn tôi có một tai, còn tai kia nó để ngoài rừng hóng thằng liên lạc. Càng ngày mặt nó càng bần thần và những lúc rảnh, tôi thấy nó chỉ quanh quẩn ở đầu núi nhìn sang con đường mòn phía bên kia. Rồi sự chờ đợi dường như làm nó không chịu nổi, nó kêu lên với tôi:
“Hay thằng đó đi lạc mất rồi.”
“Lạc sao đợc, tới bản Mù U, cứ thẳng đường tuyến đã phát là tới đây, nhắm mắt vẫn đi được.”
Thằng học giả nhỏ giọng:
“Tao nghi lắm mày ạ, có khi ông toán trưởng dựng chuyện động viên bọn mình cũng nên. Biết đâu lúc này thằng liên lạc vẫn nằm khểnh ở Ban chỉ huy?”
“ Nếu đúng thế thì mày tính sao?”
Thằng học giả tái mặt, đôi môi mỏng của nó mím chặt, không thốt ra một tiếng. Tôi chợt thấy sợ cái lầm lì, khó hiểu của nó. Nó có thể làm gì? Đào ngũ chăng? Không, không bao giờ nó dám trở về với cô hàng xóm trong cái nỗi nhục nhã đó. Nổi điên, gào thét, chửi mắng ông toán trưởng? Không, tưởng tượng của tôi đã đi quá xa. Tuy nhiên, tôi cứ phân vân, nếu đúng thế thật, thằng học giả sẽ giở cái trò gì? Chịu, không đoán đợc, tôi đành an ủi nó sơm muộn thằng liên lạc cũng phải tới, thư của mày chưa đọc vẫn còn đó, chẳng mất đi chữ nào, đừng quá nghĩ ngợi sinh bực bội, vừa ốm người vừa mất lòng ông toán trưởng, ảnh hưởng tới chuyến đi phép cuối năm. Nó nghe tôi, mắt rưng rưng:
“Mày không phải là cái đứa đang yêu mày hiểu sao được tao. Mấy đêm nay, không đêm nào tao chợp mắt, một linh cảm lạ lắm cứ thúc nhoi nhói trong ngực tao. Bố tao chết rồi, mẹ tao bỏ vào chùa đi tu, nhất định không thèm nhìn mặt tao, bây giờ tao chỉ còn có nàng mà thôi. Nàng vừa yêu thương tao, vừa cảm thông, hiểu rõ được mọi ngóc ngách trong tâm tao, nàng vừa là điểm tựa, vừa là nguồn sống của tao trong cuộc đời này. Mày vẫn bảo tao sợ cái hố thẳm trong lòng nàng. Tao không sợ, tao chỉ hồ nghi không hiểu nó có hay không? Chính cái đó mới kinh khủng. Nó như cái lưỡi câu móc vào đầu tao nhức nhối. Nhiều lúc tao muốn phát điên muốn chuồn thẳng về nhà nhìn thẳng vào sự thật, phá tan cái mối ngờ vực này đi. Nhưng... tao sợ...”
“Mày sợ ông toán trưởng kỷ luật?
Thằng học giả cười nhạt:
“Không, tao sợ sự thật. Thà chịu đựng sự ngờ vực còn hơn phía trước chẳng có gì mà chờ đợi nữa.”
“Nếu thế mày chẳng nên sốt ruột vì thằng giao liên chậm tới làm gì.”
“Không, tao vẫn nóng lòng mong nó tới. Nhất định nó sẽ mang đến cho tao tin vui.”
Mẹ kiếp, cái thằng trí thức rởm này rõ rắc rối, mong mà lại sợ, sợ mà vẫn mong, đúng là thân làm tội đời. Tuy nhiên, chuyện trò một lúc, thằng học giả có vẻ nhẹ nhõm, tươi tỉnh hơn, cứ như đã trút bớt được sang tôi đôi chút buồn đời. Tôi cũng vái trời cho thằng liên lạc mau mau mang những bức thư thắm tình thương nhớ của cô nàng búp bê cho thằng học giả khỏi ốm đau sầu não, khỏe khoắn lên mà đi phát cây, chứ để thằng cấp dưỡng thay nó, lóng ngóng và chậm chạp lắm biết đến thủa nào chúng tôi mới tới được đỉnh Hua Ca. Việc đi đến đó, ông toán trưởng còn sốt ruột hơn tôi nhiều, cứ cuối ngày cộng sổ đo tuyến thường thường chỉ được trên một kilômét, ông lại thở dài sưòn sượt. Cái năng xuất hai ngàn mét một ngày đã lùi xa vào dĩ vãng, phần vì ăn sắn mãi bọn tôi quá mệt nhọc, phần vì càng đi tới, rừng càng ken đặc với những tùm búi song mây, tre gai, dao bổ vào cứ bật văng ra sái cả tay. Cứ như thế chúng tôi nhích tới với tốc độ chậm kinh ngời. Mặc dầu vậy, ông toán trởng cũng không dám hối thúc, cũng không bắt chúng tôi viết khẩu hiệu dán mũ nữa. Tối nào ông cũng lại lôi ra tờ bản đồ, giở kính lúp soi, đánh dấu đoạn đường đã đi và phỏng đoán địa hình sắp tới. Ông thôi không còn ý định giao phó tôi thay ông khi có sự cố nữa, tôi chắc ông đã thất vọng về tôi và đã nhằm tới đứa khác.
Theo tôi, tốt nhất là ông nên đào tạo thằng cấp dưõng, nó vừa là cháu họ ông, vừa là cái thằng tuy chậm mà chắc, tính nết cẩn thận, đắn đo mà lại không vướng cái đường tình làm phân tán tư tưởng như hai thằng kia. Một buổi tối, tôi thấy nó lúi húi giở ra lại buộc vào gói tiền, tôi mới bảo nó:
“ông toán trởng đang cần một thằng để đào tạo mai kia thay thế ông. Sao mày không hăng hái lên, nhảy vào cái chân đó lại chẳng hơn là tối nào cũng ngồi đếm tiền? Có ngần ấy thôi, đếm đi đếm lại có đẻ thêm được đồng nào đâu? Sau này mày thành lãnh đạo ấy à, khối tiền, nhiều gấp mấy lần chỗ đó. Tội gì eứ làm mãi thằng công nhân quèn, lương ít bổng chả có.”
Nó nhét kỹ gói tiền xuống đáy ba lô mới thủng thẳng bảo tôi:
“Mày có biết các cụ ta ngày xa nói câu gì không, có an cư rồi mới lạc nghiệp, nói thực với mày, tao có mỗi mục tiêu là cái nhà thôi. Năm ngoái tao về phép đúng mùa mưa, chao ôi, trong nhà chẳng khác gì ngoài sân, nước cứ qua các lỗ hồng trên mái tranh tuôn vào, ban đêm chỉ còn cách là khoác nylông ngồi chờ sáng. Tường vách cũng mục hết rồi, chỗ này che tấm tôn, chỗ kia chắnmảnh gỗ, thật chả khác gì cái áo thằng ăn mày, rách bươm mà cứ vá mãi, vá mãi. Trớc khi vác ba lô lên đơn vị, tao bảo mẹ tao:
“Nhà mình phải xây lại mẹ ạ. Chừng nào gom đủ tiền eon sẽ mua gạch ngói. Mẹ yên tâm, mình sẽ có một ngôi nhà to đẹp bằng mấy thế này.”
Từ đó tao không còn nghĩ gì khác ngoài cái nhà, bóp mồm bóp miệng vì nó, đêm không ngủ được vì nó. Tao cứ hình dung nó phải chắc chắn, chống được mưa bão, rồi lại phải rộng mát và đẹp nữa. Tao chẳng eần thuê đứa nào vẽ kiểu sất, tự tao nghĩ ra thôi. Này nhé, nhà phải có hai buồng ngủ, một cho mẹ tao, một cho tao, rồi buồng ăn riêng, buồng tiếp khách riêng, hiên phải thật rộng có hàng lan can. Riêng có cái mái tao còn đang nghĩ, mày bảo nên làm mái nghiêng lợp ngói hay là đổ bằng eả...”
Tôi cứ ngồi trố mắt ra trước cái nhà tưởng tượng của nó. Nếu nó xây được đúng như thế, nhà nó đẹp không kém gì nhà ông chủ tịch xã. Mà cứ cái vẻ tầm ngầm thế kia, tôi tin rằng nó làm đưọc, thằng này gớm chứ chẳng phải lờ đờ như cái vẻ bề ngoài của nó. Hóa ra trong bọn tôi, vô tích sự nhất lại là thằng tôi. Hay là tôi cũng dành dụm như thằng cấp dưỡng lấy một cái vốn làm nhà và cưới vợ? Tôi bật cười ý nghĩ của mình, chao ôi, bóp miệng lại như thằng cấp dưỡng? thà chết còn hơn, chăm chăm vào có cái mục tiêu như thằng học giả? chịu thôi, không khéo lại thành thằng dở người, cũng đành, xin lại cứ “bấc đến đâu dầu đến đấy” vậy. Hóa ra đến giờ tôi mới hiểu tại sao mấy thằng đó chỉ có dốc bầu tâm sự ra với tôi thôi, còn giữa chúng nó với nhau, chẳng thằng nào chịu làm cái thùng để cho thằng kia giải tỏa tâm tình cả. Riêng có ông toán trưởng vẫn kín bưng, suốt từ hôm tôi hỏi thăm bà trưởng phòng dạo trước ấy, ông có vẻ ngại chuyện riêng với tôi, chắc ông sợ tôi lại thọc mạch vào những điều ông muốn giấu. Cho tới tối nay, sự chờ đợi thằng liên lạc đã làm mấy thằng kia sắp phát rồ cả rồi, tôi mới đành gặp riêng ông để hỏi cho ra nhẽ. Ngược với tôi tưởng, khi tôi bước tới chỗ ông mắc võng ông rời tờ bản đồ, vồn vã mời tôi ngồi ghé bên, nhờ tôi cộng sổ đo tuyến rồi với giọng ngậm ngùi ông bảo:
“Ăn sắn mãi, đi làm mệt lắm phải không? Tôi rất thông cảm với các cậu, khó khăn khắc phục vậy, mai mốt có liên lạc lên, tha hồ ăn bồi dưỡng”..
Tôi hỏi ông chuyện đó có thực hay ông dựng lên để trấn an tinh thần anh em? ông trừng mắt nhìn tôi, giọng buòn buồn:
“Tôi không ngờ các cậu nghĩ về tôi tệ đến thế. Nhưng tôi biết thắc mắc này không phải của cậu, cậu chỉ là cái loa phát ngôn cho kẻ khác thôi, kẻ đó là ai thì tôi thừa biết”
Tôi thò tay vặn to ngọn đèn bão, ánh sáng làm gương mặt ông bớt ảm đạm, tôi chợt nhói lên thương cái dáng ngồi còm cõi của ông. Lúc này tôi mới nhận thấy trong cả toán, ông là ngời gầy sút đi nhiều nhất, bởi những vất vả, thiếu đói, lo toan đủ mọi bề. Suy cho cùng, ông có hưởng thụ hơn bọn tôi là mấy mà phải chịu gánh nặng gãy lưng như vậy. Ơ tuổi ông, nhiều ngời đã có cháu nội, vợ con quây quần, cơm bưng nước rót yên tâm sửa soạn bước vào tuổi già chứ chẳng phải xông pha, vất vả, đơn côi, lạnh lẽo như ông. Nhưng tôi giúp gì ông được, phận số đã qui định vậy rồi, ông đã nhận con đường ông đã đi, chẳng thể nào thay đổi được nữa.
“Thôi được, nếu hai ngày nữa không có liên lạc tới, tôi sẽ để các cậu đi theo đường mòn xuống bản Mù Cang mua gạo và thức ăn.”
Tôi ngẩn người trước giọng nói quả quyết của ông. Ông giở tấm bản đồ ra, chỉ cho tôi một chấm nhỏ xíu, nơi đó, vừa đi vừa về nhanh nhất cũng mất vài ngày trong khi để chạy đua với mùa mưa, ông phải tính đếm từng giờ để tiến tới đỉnh Hùa Ca. Tôi ái ngại nhìn ông:
“Thế còn công việc thăm dò?”
“Đành phải tạm đình lại. Kéo dài tình trạng thiếu đói mãi thế này, các cậu lăn ra ốm hết thì càng chết”.
“Vậy bác đã điện báo cáo Ban chỉ huy chưa?”
Ông nín lặng, do vậy tôi hiểu rằng ông chưa xin ý kiến cấp trên, có lẽ đây là lần đầu tiên ông dám thế, một việc trước đây ông tối kỵ, nhất nhất cái gì ông cũng phải chờ ý kiến Ban Chỉ huy. Chính thế tôi lại áy náy, tôi lo cho ông sau này, tôi khuyên ông cứ đánh điện hỏi, việc đình sản xuất đâu phải chuyện chơi. Ông lặng lẽ moi trong túi ra một điếu thuốc nhầu nát, trời, ông vẫn giữ được thứ cuả quý này? ông là người nghiện nặng, ngày ít cũng phải một gói, vậy nhưng từ hơn một tháng nay tôi không thấy ông hút nữa, tôi chắc ông đã hết thuốc và đành ngấm ngầm chịu cho cơn nghiện hành hạ. Thật ứa nước mắt nhìn ông kính cẩn vuốt điếu thuốc cho thẳng, bật lửa rít một hơi thật dài, bao nhiêu khói dường như đã chui hết vào phổi, ông nhắm nghiền mắt, những nếp nhăn trên gương mặt giãn ra, run bần bật, ông rít một hơi nữa rồi dụi điếu thuốc, cẩn thận lấy tờ giấy gói lại, nhét túi áo.
“Cảm ơn cậu đã lo cho tôi, tôi đã đánh điện về hỏi rồi, Ban chỉ huy không cho phép đình chỉ sản xuất, thôi đành, hai ngày nữa nếu không có liên lạc tới, các cậu sẽ nghỉ đi tuyến, xuống bản mua gạo”.
Ông vịn vào người tôi trèo lên võng, co ro trong tấm mền bông mỏng chùm kín mặt. Tôi quay trở lại đống lửa, cả ba thằng vẫn đang ngồi đợi. Thằng học giả nhổm người lên, rối rít:
“Sao? Thế nào? Đúng thế không? Đúng lão ấy dựng chuyện để trấn an tinh thần anh em phải không?”
Tôi không trả lời, chỉ đư a mắt nhìn quanh một lượt rồi sẵng giọng:
“Bọn mày đúng là một lũ khốn nạn...”
                            
                               (còn tiếp)

PHỤ LỤC :

Lời phát biểu của nhà văn Nguyễn Mộng Giác.
 
 ( trong buổi ra mắt "Đi về nơi hoang dã"  tại trụ sở "LittleSaigon Radio " - Westminster - Quận Cam - California ngày 7-4-2001 )

                               (tiếp theo)

Sự trừng trị , hay là biện pháp kỷ luật của nhà nước cộng sản VN đốt tác phẩm, dĩ nhiên là cái nhu cầu của họ , nhưng mà trong cái sự tính toán của Nhà nước , và nhất là công an văn hóa cộng sản , thì có thể là có những tính toán xa hơn chúng ta tưởng , chẳng hạn có những tính toán là áp dụng biện pháp kỷ luật đối với một tác phẩm nào đó , thì là vô tình tuyên truyền cho tác phẩm đó , cho nên cái giải pháp tốt nhất là coi như không có . đó là giải pháp mà nhà nước cộng sản VN hiện nay áp dụng cho Dương Thu Hương và Nguyễn Huy Thiệp, Phạm thị Hoài, coi như không được nhắc nhở gì tới, dù là một chữ đến DTH, NHT, PTH , đó là biện pháp mà họ thấy là có hữu hiệu  và tôi cho rằng cái cuốn sách mà tôi muốn nhắc tới hôm nay , nó đã bị cố tình quên lãng và không nhắc tới trên 10 năm là do tính toán rất kỹ của công an văn hóa lúc bấy giờ , vì trong tác phẩm , so với giá trị tố cáo chế độ và giá trọ văn chương , thì một cách công bằng mà nói, thì tôi cho rằng cái cuốn này vượt xa cái cuốn "Thiên đường mù" của Dương Thu Hương , hay là cuốn "Thời xa vắng" của Lê Lựu, hay là cuốn sách của Mai văn Thái.
Tôi tin là nếu  quý vị đọc cuốn sách này thì sẽ thấy đúng như vậy.
Cái điều bất thường tiếp theo nữa , là một sự mâu thuẫn giữa yêu cầu chính trị giai đoaạn và yêu cầu dài lâu về văn chương. Cái việc tác phẩm không được dư luận chú ý ngay , một phần là do cách lựa chọn, cách viết của Nhật Tuấn.
Nếu ông đặt vấn đề hẳn với chế độ như là Dương Thu Hương đã đặt trong "Thiên đường mù" , nếu ông xét lại toàn bộ giá trị của chiến tranh với nhưng hậu quả của nó , cuộc chiến tranh mà cộng sản cho la giải phóng, mà thực chất chỉ là xâm lược , thì nó đập vào mắt người ta và thành đề tài thảo luận sôi nổi đó. Nhật Tuấn không chọn lối viết đó . Qúy vị sẽ thấy trong tác phẩm này một câu chuyện hết sức là biểu trưng. Nó không đề cập tới xã hội nào cả. Nó không đưa Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm văn Đồng ra chửi bới. Nó không tố cáo cái phong trào cải xách ruộng đất, nó không tố cáo ông cán bộ tham nhũng, hủ hóa một cách trực tiếp, không có…


                             (còn tiếp)