Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 3 tháng 11, 2014

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 35



                            (tiếp theo)

Chúng tôi cầm hành lý cá nhân trong một tâm trạng hồi hộp vì sắp sửa bước xuống ghe để dự vào chuyến hải hành mới. Vài người lớn nắm chặt tay trẻ nhỏ như sợ chúng sẽ lạc mất. Trong những phút cuối cùng còn trên sân cảng, ông Aleck lách qua hàng người và tiến đến chỗ ông Thăng ông Phát đứng rồi đưa hai gói giấy vuông cạnh với dây mầu cột hình chiếc nơ khá đẹp cho hai người nầy. Ngay tức khắc, hai ông Thăng, Phát cùng mở hai gói giấy đó trước mặt chúng tôi rồi lấy ra hai quyển album thật đẹp. Ông Thăng giơ quyển album lên cho mọi người thấy, lắp bắp nói đây là quà của ông Aleck tặng riêng, trả công vì hai người họ đã giúp việc thông dịch cho đoàn người.

Đến giờ xuống ghe, chúng tôi lần lượt nối đuôi thành một hàng dọc theo nhau tiến về phía trước. Ông Aleck cùng các sĩ quan hải quân đứng yên tại chỗ và lần lượt bắt tay từng người chúng tôi. Đến phút phải chia tay với đất nước Malaysia thật rồi. Đám chúng tôi băng qua hết bờ cảng bê tông rồi vượt qua một cầu tàu xi măng nhỏ để đến chiếc ghe mới trong tiếng máy nổ êm nhẹ cùng dàn đèn cháy sáng choang đậu riêng biệt sát cạnh cầu tàu. Xa xa, các ghe lớn nhỏ khác nhau đậu thành hàng im lìm trong ánh sáng đèn chiếu sáng rực. Không biết những ghe đó của dân hay của quân đội vì chúng tôi đang trong khu căn cứ hải quân Johore? Tôi xuống ghe và đi dọc theo cạnh lườn sát căn buồng lái hướng về phía mũi rồi khoang hầm. Bắt chước người đi trước, tôi đu người chui xuống khoang hầm ghe. Đúng như lời ông Aleck nói, ghe này tuy to hơn chiếc cá lớn nhưng lòng nó thì cạn hơn. Khoang hầm khá rộng và được lót bằng ván gỗ mới nên trông rất sạch. Nhiều miếng vải vụn cùng các bịch nylon mới toanh được bỏ nằm vương vãi ở nhiều nơi trên mặt sàn khoang hầm. Một bóng đèn tròn lủng lẳng trên nóc soi rõ mặt từng người đám chúng tôi. Đào, Bẩy cùng Yến ngồi bó gối sát cạnh vách khoang ghe phía đối diện không xa chỗ tôi còn Đỉnh thì ngồi cùng bên cách tôi vài người. Lần đi này, trẻ em thì ngồi chung với gia đình chứ không tập trung hết trên buồng lái như ở cá lớn. Cùng một cảm giác như khi còn đang ở Việt Nam, ai cũng hồi hộp nhưng nhanh nhẹn như vừa từ taxi bước qua cá lớn và trám kín vào bất cứ chỗ nào còn trống của khoang hầm. Tám Kiệt, Thuận và hai ông Thăng, Phát thì ở trên buồng lái với đám hải quân Malaysia. Một gã lính hải quân thò đầu xuống khoang hầm cười cười và vẫy tay chào với chúng tôi. Mọi người im bặt khi có tiếng ông Phát nói vọng xuống, báo tin:

- Tàu hải quân của họ sắp sửa kéo ghe mình chạy đó bà con ơi. Ai mà cảm thấy muốn ói muốn mửa gì thì cứ ói vào mấy bịch nylon để sẵn đó và ngồi yên chỗ, đừng di chuyển tới lui nha.

Tiếng máy từ tàu hải quân nổ lớn hơn rồi sau đó thì có một chuyển động nhẹ từ tấm ván nơi tôi dựa lưng và nó càng lúc càng mạnh hơn, ghe đã bắt đầu chạy. Đúng hơn, ghe đang được tàu hải quân Malaysia kéo đi. Gần bên tôi, người thì hai mắt mở thao láo vô hồn, người thì ngồi nhưng mắt nhắm nghiền hoặc dựa lưng vào vách ghe như đang ngủ. Vài đứa bé nằm xoài người ra ngay dưới sàn hầm bên cạnh ba mẹ chúng. Đông người nhưng không quá chật vì như đã kể, khoang hầm ghe rộng bề ngang tuy không sâu như bên chiếc cá lớn. Cửa khoang hầm mở rộng do đó không khí bên ngoài thốc vào đã giúp chúng tôi bớt nóng và ngột ngạt. Nhìn trong khoang hầm và mũi ghe bầu tròn, sàn thấp thì có người nói đây không phải ghe đi biển đánh cá mà chỉ là loại chở hàng trên sông rạch hoặc trong vùng cận duyên. Số người có mặt trong ghe có lẽ chẳng là bao so với tải trọng thực của ghe và vì vậy, máy ghe chạy rất êm. Nói vậy nhưng cũng khó biết chính xác vì hiện ghe đang được tàu hải quân kéo bên ngoài. Những tấm ván mới cũ ghép bên nhau trên sàn hầm thì biết chiếc ghe này vừa được hải quân Malaysia tân trang lại. Gốc gác nó từ ngư phủ Malaysia hay của một chuyến vượt biên người Việt nào đó đã vất bỏ khi họ lên bờ? Biết đâu cá lớn chúng tôi bỏ tại cảng Kelang vừa rồi thì cũng sẽ được họ tân trang và dành cho chuyến chuyển tiếp người Việt khác sau này. Hơi đâu mà chính quyền Malaysia bỏ tiền ra đóng ghe mới cho thuyền nhân Việt. Tận dụng ghe cũ là thượng sách, có hư hỏng thì sửa lại là xong. Và, để phòng các chuyện không hay xẩy ra thì cách tốt nhất họ dùng tàu hải quân kéo hẳn ghe ra tới biển lớn là hết trách nhiệm. Có bóng đèn chiếu sáng lủng lẳng trên đầu, tôi xem lại cái áo phao mới toanh đang mặc. Ngay cổ áo, không có miếng vải nhỏ ghi xuất xứ làm tôi nhớ lời của ông Aleck và các sĩ quan hải quân đã dặn không được tiết lộ ghe này xuất phát từ cảng Johore ra. Đúng rồi. Họ cố tình không muốn ai biết về hành động của họ. Lúc mới xuống dưới ghe, tôi đã thấy trong buồng lái cũng có các bao thực phẩm y chang loại đã tiếp tế cho cá lớn khi còn ở cảng Kelang. Họ giúp nhưng lại muốn che dấu tung tích về chuyện đã tiếp xúc với chúng tôi, những người vượt biên quá trễ. Lòng nhân đạo của các nước lân bang đã quá mỏi mệt vì phải giúp thuyền nhân cả một thời gian dài khiến họ lúng túng trong cách đối xử với người vượt biên như chúng tôi bây giờ. Họ đã tàn ác hay vụng về khi kéo ghe trở ngược ra biển? Cũng khó mà hiểu tâm trạng cùng hoàn cảnh của người nước họ. Tiếng người nói chuyện lao xao chợt im bặt vì một tiếng giật mạnh chuyển vào thân ghe để rồi tiếp sau đó làm mọi người bắt đầu có cảm giác nôn nao.

Tàu kéo hải quân Malaysia đã tăng tốc độ, ai trong khoang hầm cũng biết.

Ghe bây giờ chạy nhanh hơn, nước biển bên ngoài có lúc tung cao hắt văng xuống lòng khoang hầm làm những người ngồi gần ô cửa phải lết sang chỗ khác tránh. Cảm giác khó chịu của cơ thể vì chuyển động từ ghe càng lúc càng tăng và đã có người bắt đầu vớ lấy các bịch nylon hờm sẵn trong tay. Chỉ một lát sau, tiếng nôn oẹ ợ lên trong khoang hầm và đã có người bắt đầu ói. Hai phụ nữ ngồi gần tôi đã bắt đầu ói lọt bọt vào các bịch nylon. May là bụng ai cũng trống rỗng nên muốn ói mà chẳng có gì để mửa ra. Lúc còn đứng tập trung ở mặt sân bê tông tại cảng, đã có người trong đám chúng tôi than đói than khát và trách móc bọn lính Malaysia cho ăn uống quá ít lại không phát thêm chút gì khác để dằn bụng. Nhờ vậy mà hay vì nếu có sẵn thức ăn bên cạnh, thể nào có người cũng sẽ nốc cho cố xác. No bụng, sẽ khổ cho cái thân và cho cả người ngồi cạnh. Để chúng tôi phải chịu đói khát trước giờ hải hành, hải quân Malaysia ở căn cứ Johore rõ ra đã cố ý làm vậy và như thế, họ đã từng kéo ghe người Việt.

Chạy tiếp mãi như vậy khoảng bốn tiếng đồng hồ thì ghe bắt đầu từ từ chậm lại rồi ngừng hẳn. Tàu hải quân Malaysia đến bên ghe và tiếng người nói lao xao ở phía trên, hai gã lính Malaysia đi theo ghe từ lúc khởi hành lại thò đầu xuống khoang hầm cười cười rồi vẫy tay từ biệt chúng tôi. Giờ đây, đã đến lúc chúng tôi phải tự lái ghe lấy. Một hồi còi rít vang lanh lảnh, tàu hải quân Malaysia từ từ tách ra xa rồi tiếng máy của nó nhỏ dần và mất hẳn. Tàu hải quân đi xa rồi, vài người trong khoang hầm tiến đến gần chỗ cửa để chuẩn bị trèo lên nhưng còn phải nghe ngóng chờ ý của Tám Kiệt đã. Nếu họ trèo lên thì mình cũng sẽ theo chân, tôi nhủ thầm. Chợt thấy Đỉnh trong số những người vừa lết lại gần cửa khoang hầm, nó cũng thấy tôi và khẽ giơ ngón tay trỏ quay quay vào đầu như cho biết đang cơn choáng váng. Không phải chờ lâu, tiếng chân người trên mặt sàn ghe bước đến gần và giọng Tám Kiệt vọng xuống:

- Ai muốn lên thì lên còn không cứ ở dưới. Bây giờ thì bọn mình giống y như lúc chưa ghé vào Kelang đó.

Tôi vội theo chân những người đu mình leo lên trên mặt sàn ghe rồi sau đó phóng tầm mắt nhìn biển chung quanh tối đen. Gió đêm thổi mát lạnh, xa xa trên mặt biển chỉ một chấm đèn nhỏ có lẽ là chiếc tầu hải quân vừa bỏ ghe chúng tôi. Một vầng sáng lờ mờ hắt lên từ dưới mặt nước biển ở đường chân trời, ai cũng cho chắc đó là cảng Johore. Bầu trời đen thui không một ánh sao đêm, Tám Kiệt đứng lẫn trong nhóm người vừa từ khoang hầm ghe vọt lên, nói:

- Bây giờ chúng ta nhắm hướng ánh đèn hải đăng phía trước mặt cho đến khi nào trông thấy cái hải đăng thứ hai thì đổi hướng theo ngay nó. Cứ theo như vậy lần lượt, mình gặp đến cái hải đăng thứ năm thì ghe sẽ vào Indonesia. Mấy cha hải quân nói khi gần sáng chúng ta sẽ đến nơi đó.

- Nơi đó là Galang hả anh Tám? Một người đứng gần tôi, hỏi.

- Không. Tám Kiệt lắc đầu mà không trả lời. Ông Thăng nhìn người vừa hỏi, xen vào:

- Lúc nãy tôi cũng hỏi như anh nhưng mấy bố hải quân nói Galang còn xa lắm. Galang cũng chỉ là một hòn đảo nhưng phải là dân Indo thì mới biết đường. Bây giờ, bọn mình chỉ còn cách duy nhất là đi theo ánh đèn hải đăng thôi.

Mọi người nhìn theo hướng tay của ông Thăng về một chấm nhỏ loé sáng rồi tắt sau đó lại sáng và tắt trở lại nằm tuốt tận chân trời xa xa tương tự như ánh đèn hải đăng nơi đỉnh núi Lớn ở Vũng Tàu. Vài người lấy tay che ngang trán ráng nhìn, người khác hỏi ống nhòm thì Tám Kiệt lắc đầu, trả lời không có.Từ khi còn ở trong nước, hầu như ai có máu vượt biên cũng đều biết bên Indonesia có trại tị nạn người Việt tên là Galang. Giờ đây mới rõ Galang chỉ là một hòn đảo và nằm đâu đó trong số hàng ngàn hòn đảo của Indonesia. Làm sao ghe chúng tôi đến được đảo tị nạn Galang đây?

Nhìn đồng hồ tay đã hơn 1 giờ sáng, chỉ còn vài tiếng nữa thì ghe chúng tôi sẽ cập vào Indonesia. Thấy có hải đăng chỉ đường nên ai nấy lộ vẻ vui mừng, nghĩ mọi việc rồi sẽ ổn. Có người rủ nhau leo xuống trở lại khoang hầm để ngủ trong khi chờ trời sáng. Tám Kiệt và Thuận đứng bên nhau trong buồng lái, chạy ghe nhắm theo ánh đèn hải đăng. Cảm giác nôn nao bớt hẳn trong người tôi nhưng lại thấy lạnh vì gió. Có tiếng gọi nho nhỏ, tôi quay mặt tìm và thấy Đỉnh đã ngồi trên mặt sàn ghe không xa, tôi liền lại gần bên, hỏi:

- Bớt nhức đầu chưa Đỉnh? Ráng lên, trời sáng là ghe mình sẽ cập được bến mới rồi.

Đỉnh nhìn tôi thật yếu ớt, nó khẽ gật đầu rồi cười. Chắc ai trên ghe cũng đều chung một ý nghĩ như tôi nhưng ngờ đâu, chỉ chốc lát nữa thôi thì mọi dự tính sẽ đảo lộn hết tất cả.


                                           (còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét