Có hai lý do để gia đình ông Bà Thái nhận bảo trợ cho thằng Quang. Một là từ hồi bẩy mươi lăm qua đây, ông bà đã chịu ơn của Hội Nhà Thờ rất nhiều, vì thế khi được ngỏ lời yêu cầu bảo lãnh cho một đứa nhỏ không thân nhân, cả hai người đều đồng ý ngay. Lý do thứ hai cũng không kém phần quan trọng, đó là gia đình này có hai đứa bé, thằng Phú mười bốn và con Lan lên chín. Một đứa thì khả năng tiếng Việt còn lõm bõm được đôi câu, còn đứa kia thì gần như mù tịt, mặc dù nghe bố mẹ nói, chúng nó vấn hiểu, dĩ nhiên chỉ là hiểu những câu đối thoại binh thường. Tình trạng này kéo dài thì nguy hiểm quá. Cho nên ông Bà Thái nhận ngay với nhà thờ việc bảo lãnh một đứa con trai. Thằng Quang đã được chọn trong một danh sách dài thòng: lý do chỉ giản dị ở có mỗi một điểm là nó ở tuổi mười lăm. Mười lăm tuổi mà mới rời Việt
Hôm đón Quang ở phi trường, cả nhà đều hài lòng ngay. Mặt mũi Quang không đến nỗi tệ. Nó có vẻ dè dặt chứ không nhút nhát, cặp mặt to và trong sáng chứ không láo liên, trợn chừng trợn chửng. Chỉ có nước da của nó là xấu xí. Vừa đen, vừa sạm. Ông Thái giải thích nhỏ bên tai vợ :
- Mới ở đảo qua ai cũng thế. Nắng gió ngoài biển mà.
Bà Thái giơ vòng tay ra đón nó ở ngay cửa ra của chuyến phi cơ đến từ Đông Nam Á. Quang cũng quàng lên hai bờ vai của bà mặc dù cử chỉ thân thiết ấy mang lại cho nó cảm giác kỳ kỳ, giả tạo. Cái cảnh hai bên lạ hoắc mà biểu lộ tình cảm thân thiết, coi nó khó lăm sao. Rồi bà Thái dẫn Quang lại chỗ thằng Phú, con Lan đang đứng với cặp mắt mở to vì tò mõ. Lan thì chỉ biết trố mắt ra nhìn. Hình như nó cảm thấy lúc này mà cất nên lời bằng tiếng Mỹ thì có sự gì bất ổn. Con Phú thì nói tiếng Việt giọng khó khăn:
- Chào anh! Chúng tôi rất vui lòng gặp anh.
Quang nghe rồi cũng thấy bất ổn thế nào. Tiếng Việt đâu có nói thế ! Nó định đáp lời thằng Phú mà rồi đầu óc cứ tịt mít lại. Rút cục thì nó chỉ còn biết mỉm cười. Cuộc gặp gỡ mà cả hai bên chuẩn bị, sắp xếp tính toán từ hàng tháng trước, rút cục chỉ diễn tiến vỏn vẹn có thế! Rồi cả gia đình kéo nhau ra xe. Ông bà Thái ngồi phía trước. Băng ghế sau dành cho ba đứa. Quang được ngồi giữa. Phú một bên, Lan một bên. Sự sắp xếp có nhã ý của bà Thái chỉ làm khổ sở cho cả ba đứa. Con Lan cất lời nói một câu tiếng Mỹ gì đó bị bà Thái suỵt nên ngồi ngay đơ. Thằng Phú bên cạnh thì nhúc nhích cái mồm và nhấp nhổm cái đít hoài, hình như nó định nói chuyện gì đó với thằng Quang nhưng loay hoay sắp xếp câu văn mãi trong đầu không xong, nên chưa dám nói ra. Quang thì như bị bó cứng trong một cái khuôn vô hình. Nó thấy ngứa ở cổ, ngứa ở lưng, nhưng cứ ngồi im thin thít không dám cựa quậy. Mà khổ nỗi, càng nhịn gãi nó càng thấy ngứa thêm. Thật là khổ sở, nhưng nó cảm thấy nếu mình giơ tay lên gãi sồn sột ngay ở trong cái xe mới toanh sang trọng này thì có điều gì như không được tốt đẹp lắm. Vì thế nó cố chịu đựng.
Bây giờ nó mới thấy thèm, thấy nhớ cái bầu không khí nhởn nhơ trong trại tỵ nạn. Cái gì ở đó cũng nghèo, cũng thiếu thốn, nhưng sao thoải mái thế. Giữa trưa nắng mà bận quần sà lỏn, cởi trần trùng trục ra đánh bi ở phía sau những lô lều, hay chạy đuổi nhau trên bãi cát, đến chiều mát tới giờ được tắm biển, cả lũ kéo nhau ra nhẩy ùm xuống, vùng vẫy trong nước, còn gì sướng bằng. Tối đến, cả bọn kéo nhau lên ngồi dựa lưng vào vách sau của nhà thờ để nói chuyện om sòm, chán chê thì chui vào lớp ghế gỗ bên trong nhà thờ nằm quay ra ngủ khò. Có hôm thì chúng nó ngủ ở bên hông của bệnh xá hay trên bục cao của dẫy văn phòng Ban đại diện Trại, cũng có hôm răm ba đứa ngủ quên ngay cả trên đống cát, dưới rặng phi lao ngoài bãi biển nữa.
Đã có một thời gian dài, mọi người trong trại quên bẵng ngay sự hiện diện của chúng nó hay nói cho đúng ra, quên bẵng thân phận của chúng nó là những đứa trẻ không thân nhân. Có lẽ là vì đời sống ở đây có quá nhiều thảm kịch nên ai cũng chỉ gậm nhấm cho nỗi đau riêng của mình cũng đã đủ thấm mệt, đó là chưa kể tới những chuyện đang xẩy tới mỗi ngày mà chuyện nào, hoàn cảnh nào cũng ghê gớm não lòng gấp trăm gấp nghìn lần so với số phận của những đứa trẻ không thân nhân bây giờ đã được ăn no và chạy nhẩy nhởn nhơ nơi đầu ghềnh cuối bãi. Sinh hoạt trong trại phần chính là được theo dõi qua những cái loa mắc dọc theo những dẫy lô lều. Mọi tin tức đều được từ đó loan đi, như báo tin có phái đoàn vào trại phỏng vấn, như đọc danh sách những người sẽ đi định cư trong chuyến tới, như thông báo chuyến xe thư của bà Osborne đã vào tới nơi, như công bố khẩu phần hôm nay bà con được ăn gì, có su su, có cá tươi (nhưng đã chết queo và dính đầy bụi cát) hoặc có hôm thay bằng cá hộp. Nhưng ồn ào, rộn rã nhưng cũng ớn lạnh hơn hết là mỗi khi cái loa đang nằm im lìn bỗng rú to lên:
- Đồng bào mới tới...Đồng bào mới tới...yêu cầu Ban tiếp Cư chuẩn bị ra tiếp đón ghe mới nhập trại.....
Thế là cả trại náo loạn cả lên, người thì háo hức mong sẽ gặp được thân nhân hay ít ra thì cũng mong nghe ngóng được chút tin tức nào của thân nhân, người thì tò mò muốn chạy ra coi hoàn cảnh của ghe mới nhập trại thê thảm tới mức nào, vì chắc chắn họ chẳng thể thoát khỏi những hoàn cảnh đau thương mà hầu hết những người trong trại đã từng trải qua, may mắn lắm thì số người đi trên ghe vẫn còn sống sót đầy đủ khi nhập trại, nhưng thông thường thì ghe nào cũng sứt mẻ vài ba người, không bị chết khát, chết bệnh thì cũng bị bị đục thuyền, bị đâm chém, bị vứt xuống biển...v.v...
Ở đây hầu như ngày nào cũng có "ghe mới nhập trại”, có ngày vài ba ghe, cho nên chỉ nội cái bầu không khí rộn rã, ồn ào xen lẫn với những lời râm ran kể lể chan hòa nước mắt cũng đủ làm cho ai nấy đều quên đi lũ nhỏ không cha, không mẹ, không thân nhân mà nhân số của chúng cứ lặng lẽ tăng vòn vọt lên tự lúc nào. May nhờ có cha Joe Devlin, một vị tu sĩ người Hoa Kỳ, có lòng nhân từ như một ông Thánh sống, một hôm thấy một đứa bé lên năm ngồi khóc ở lề đường trong trại, Cha cúi xuống thăm hỏi mới biết nó chẳng có một ai đi cùng. Thế là Cha gầm thét, nét mặt đỏ rừ như Trương Phi, cặp môi khi nói còn run rẩy vì giận dữ, bất chấp thủ tục, bất chấp khó khăn về phương tiện hay tài chánh, đòi thiết lập ngay một nơi ăn chốn ở dành riêng cho những đứa trẻ bất hạnh này. Thế là chỉ một tuần lễ sau, một chỗ trú ngụ khang trang được mọi người trong trại, hầu hết là thanh niên và các cựu quân nhân xúm lại dựng lên, có treo biển "Trung Tâm Trẻ Em Không Thân Nhân" đàng hoàng. Nhờ thế, lũ nhỏ được tập trung lại, có người săn sóc, nấu nướng cho, bữa ăn vì thế không còn cảnh no đói thất thường, đêm tối không còn đứa nào phải ngủ đường, ngủ chợ nữa.
Tuy nhiên, vào thời gian mà trước khi cái trung tâm ấy được thành lập, thì lũ nhỏ tuy bữa no bữa đói thất thường thật đấy, nhưng chúng nó vẫn cứ chạy nhẩy nhớn nhơ, chui rúc sục sạo ở mọi ngõ ngách trong trại đê vui đùa. Trong số này có cả thằng Quang.
Quang cầm đầu một nhóm bốn đứa. Cả bọn sàn sàn tuổi như nhau. Một đứa chết trọn gia đình ngay giữa biển cả. Một đứa đi với mẹ và chị cùng một con em gái. Mẹ chết vì kiệt sức. Chị bị bắt cóc đem đi biệt tích. Thằng nhỏ tên Hiếu mới lên mười hai phải lãnh trách nhiệm trông nom đứa em gái mới lên sáu, tên Hạnh. Thằng Quang tuy thế còn là may. Bố nó hãy còn nằm ở trại cải tạo. Mẹ nó còn sống để tần tảo đi thăm nuôi chồng. Bà cũng chỉ gom góp được đủ tiền để gửi nó đi, theo gia đình một người quen. Khi nhập trại, có ai xui khôn xui khéo ông chủ ghe rằng nếu đeo thêm một đứa không hề có họ hàng, thân thuộc gì cả thì sẽ khó đi định cư. Thế là thằng Quang bị khai tách ra một "form" riêng biệt. Trước thì chỉ còn là hình thức trên giấy tờ, sau thì mọi người quên nó thật. Vì thế nó nghiễm nhiên chấp nhận hoàn cảnh bơ vơ và nhập bầy với một lũ lốc nhốc vất vưởng, mỗi đứa một trường hợp, một hoàn cảnh, mà trường hợp hay hoàn cảnh nào thì cũng bi thương như nhau cả.
Bọn thằng Quang hay đàn đúm ở bên hông nhà thờ. Nhóm bốn đứa đeo dính lấy Quang vì nhiều lý do. Trước hết là nó lớn hơn cả bọn, lại nhanh nhẩu, tháo vát, và lại nhập trại lâu hơn cả lũ nên ngõ ngách, xó xỉnh nào ở đây nó cũng đều thông thuộc hết. Thằng Quang cũng lại là một đứa có lòng. Nó buồn cho cảnh ngộ của mình và xót thương cả những cảnh ngộ của bạn bè cùng lứa. Nhất là trường hợp thằng Hiếu với con Hạnh.
Hạnh lên sáu nhưng người ốm tong teo, mặt mũi vêu vao như một đứa thiếu thốn kinh niên đủ mọi thứ. Nhưng cái thiếu thốn nhất của nó bây giờ là bàn tay săn sóc của mẹ và chị. Trong một sớm một chiều, nó mất cả hai thứ ấy nên người nó trông thất thần hẳn ra. Trước nó còn khóc đòi gặp mẹ, gặp chị. Sau thì nó biết thân, chỉ đeo dính lấy thằng anh, bắt thằng anh bế vẹo cả xương sườn, không cho nó nghỉ lấy một lúc. Nhưng Hiếu thương em lắm, lúc nào cũng chỉ nghĩ tới em, và dù có ham chơi cách mấy thì nó cũng tha theo con bé để cùng tham dự cuộc chơi. Xin ở đâu được cục kẹo nào, Hiếu cũng dành cho em trước. Chỉ khi có từ hai cục kẹo trở lên thì mới đến phần nó, mà ngay khi có hai cục kẹo thôi, nhiều lúc Hiếu cũng lại nhường phần mình cho thằng Quang. Nó muốn lấy lòng Quang vì trong đám đông hỗn độn ở đây, Quang là chỗ tựa gần gũi nhất của nó.
May cho nó là Quang tốt bụng. Nó quan tâm đến con Hạnh chỉ thua có thằng Hiếu mà thôi. Có những buổi tối, Hiếu không thấy Quang đâu, nháo đi tìm. Nhưng lúc gặp lại thì thế nào trên tay thằng Quang cũng có một món gì đó, có thể là một túi nylon đựng chè hay một khoanh bánh ngọt gói trong một mảnh lá khô. Quang trao những thứ đó cho con Hạnh. Hạnh buồn ngủ cách mấy cũng tỉnh như sáo sậu ngay vì con bé thích ăn ngọt. Trong bóng tối nhá nhem của dẫy vách nhà gỗ dựng lên bên hông nhà thờ, mấy đứa ngồi thủ thỉ truyền cho nhau những muỗng chè còn nóng hổi do thằng Quang đem lại. Quang ních no một bụng rồi nên ngồi yên ngắm cả bọn sì sụp như một ông anh cả hiền từ. Nó cảm thấy vui sướng trong lòng khi nhìn cái Hạnh chu cái miệng xinh xinh ra đón những muỗng chè do thằng Hiếu bón cho nó. Ánh đèn duy nhất ở phía cột điện phía xa hắt lại, chiếu vào đôi mắt của con bé làm cho Quang thấy những tia sáng long lanh, linh động, khác hẳn với cái vẻ thẫn thờ, vô càm của nó khi mới nhập trại. Ăn chè xong, Hạnh ngủ gục trên cánh tay của thằng Hiếu. Đôi mắt nó nhắm nghiền, cặp môi hơi bĩu ra, bàn tay xinh xinh của nó còn bấu lấy vạt áo của anh nó như vẫn muốn cậy nhờ một sự che chở. Nhưng trong tư thế ấy, nó dã có một giấc ngủ rất bình an. Chờ nó ngủ thật say, Hiếu mới giải rộng tấm giấy dầu ra và đặt con bé lên đó. Bây giờ nó làm công việc ấy gọn ghẽ chẳng kém gì ngày trước mẹ nó, chị nó đã làm. Còn Quang thì phủ lên mình con bé chiếc áo sơ mi mỏng. Trời không lạnh nhưng đầy muỗi, nhất là vào những hôm trời đứng gió thì không biết chúng ở đâu ra mà nhiều như trấu.
Cứ cảnh sống như thế, chúng nó đã trải qua được mấy mùa ở đây. Trư*ớc hết là Noel, rồi Tết Nguyên Đán, rồi Rằm Tháng Bẩy. Chỉ còn thiếu có một cái tết Trung Thu là quay đủ vòng các ngày lễ lớn trong năm.
Trước Tết Trung Thu cả gần hai tháng, Quang đã hứa hẹn đủ thứ với những người bạn nhỏ của mình. Ở đây có sẵn nứa, sẵn dây, keo hồ không thành vấn đề, giấy bóng và giấy trang kim có thể mua ngoài chợ, một cái chợ được thiếp lập ngay gần hàng rào của trại tỵ nạn do người bản xứ tụ tập tại đó để buôn bán. Như thế nó dư sức làm được những lồng đèn hình ông sao, hình con thỏ, máy bay, tầu bò cá chép hay thiềm thừ. Thằng Hiếu hỏi thiềm thừ là con gì thì Quang tịt mít không trả lời được. Thật ra nó chỉ biết làm có mỗi cái đèn ông sao, nhưng nó cứ phịa ra như thế để gây hào hứng cho cả lũ. Hồi xưa, khi bố nó còn ở trong quân đội và chưa bị đi cải tạo thì mỗi mùa Trung Thu, nhà nó có đủ loại đèn, toàn mua ở trên phố.
Ôi cha, phố xá vào dịp đó thì phải biết ! Cả con đường Trương Minh Ký đỏ rực những đèn. Tiệm bánh Đông Hưng Viên ở Chợ Bến Thành chen chân không lọt. Trong khi người lớn xếp hàng mua bánh nướng, bánh dẻo thì lũ trẻ con đứng ngoài ngẩn ra coi đèn, ngắm những con giống nặn bằng bột đủ loại mầu sắc rực rỡ. Trước cửa những tiệm lớn còn treo những loại đèn đặc biệt như cá hóa long, thiềm thừ vọng nguyệt, nhất là đèn kéo quân có diễn đủ thứ sự tích như Võ Tòng đả hổ, thầy Mẫn Tử đẩy xe cho cha, Trâu xay lúa, Cọp giã gạo, cảnh nào thì người và vật cũng đều cử động được nhờ những bánh xe gió chạy quanh lồng đèn.
Quang đem những thứ đó ra kể cho lũ bạn nghe, bọn chúng mê tít thò lò và đứa nào cũng háo hức chờ tới tết Trung Thu. Có đứa đòi Quang gấp đèn xếp, có đứa đòi sáng chế đèn kéo quân, đèn thiềm thừ, đèn cá hóa long. Quang đang cao hứng ba hoa chích chòe nên hứa hẹn tuốt luốt, mặc dầu trong đầu nó mới chỉ hình dung ra được có mỗi cách làm đèn hình ông sao. Nhưng làm được đèn ông sao thì cũng thích rồi. Nó sẽ làm đủ năm cái, cái xinh nhất dĩ nhiên là cho cái Hạnh, rồi cả bọn sẽ kéo nhau ra chơi rước đèn ở ngoài bãi biển. Trăng rằm ở đó chắc sẽ tròn và sáng vô cùng. Nó chỉ mới vẽ ra như thế cũng đủ làm cho cả bọn thích mê đi, trong lòng đứa nào cũng hăm hở, háo hức. Chúng nó vỗ tay hoan nghênh "anh Quang " hết mình. Con bé hạnh ngồi lọt thỏm trong vòng tay gầy như que sậy của thằng Hiếu, nhưng cũng vẫn chẫu mặt ra ngó về phía anh Quang, đôi mắt sáng ngời vì những hình ảnh đèn xếp, đèn ngôi sao, đèn kéo quân.
Đùng một cái, chưa tới đầu tháng Tám ta, thằng Quang có danh sách lên đường đi định cư !
Lúc nghe tên của thằng Quang được đọc réo trên loa phóng thanh, thằng Hiếu hớt hải bế em chạy bổ đi tìm.
Mấy đứa gặp nhau ở sau lưng vách nhà thờ. Mồm thằng Hiếu méo sệch. Con Hạnh thì òa lên khóc. Quang cố nén xúc động nhưng nư*ớc mắt ở đâu cứ ùa tới, chẩy ròng ròng trên má.
Mới quen nhau chia đầy nửa năm, nhưng chúng nó đã cảm thấy thân thiết như ruột thịt. Thời gian tuy ngắn ngủi nhưng đầy ắp những chia sớt, san sẻ đã kéo chúng nó lại gần nhau. Lần đầu tiên Quang giang hai cánh tay ra đón lấy cái Hạnh. Hạnh cũng xà sang, ôm cứng lấy cổ nó. Mái tóc mềm mại của con bé áp sát lên mặt của Quang. Những sợi tóc bây giờ cũng ướt nhèm nước mắt.
Hôm ra xe ca, Quang cũng bế cái Hạnh trong suốt lúc chờ xe chạy. Quang luôn mồm dặn Hiếu đủ thứ phải lo săn sóc bé Hạnh. Đừng cho nó ra nắng. Đừng thả nó một mình ngoài bãi biển. Đừng ngủ quên sau vách nhà thờ sợ con bé nhiễm sương khuya. Nhớ đắp mền hay áo cho con bé khi ngủ kẻo không bị muỗi. Tiền công bưng bát, đĩa, ly cho quán phở ở đầu lô số 10 mà Quang dành dụm, đâu cỡ ba bốn chục Bạt tiền Thái, Quang dúi cả vào tay thằng Hiếu. Hiếu nắm mớ giấy bạc trong tay mà khóc ròng.
Rồi xe chuyển bánh. Thằng Quang thò đầu qua cửa sổ nhìn lại, thấy thằng Hiếu bế con em như con mèo tha con chuột, chạy lẽo đẽo theo bên vệ đưởng. Hình ảnh của hai đứa chợt bị lấp đi trong dám bụi mịt mù.
Trại ty nạn Songkhla, với tấm biển cao nghệu ghi hàng chữ "Fluctuat Nec Mergiture" (Trôi Nổi Nhưng Không Chìm) với những mái lều san sát chạy dọc theo bờ biển trong khoảnh khắc cũng bị lấp đi sau những rặng dừa xanh. Quang cảm thấy xót xa như vừa bị ai cắt lìa một phần cuộc đời của mình.
Ở trại chuyển tiếp non hai tuần thì Quang lên đường vào Mỹ. Nó tính nhẩm chỉ còn hai ngày nữa thì sẽ tới tết Trung Thu. Quang không kịp thực hiện lới hứa của mình là sẽ làm lồng đèn cho cả bọn, nhất là cái lồng đèn xinh xinh cho bé Hạnh mà con bé háo hức đợi chờ.
Ngồi trên xe từ phi trường trở về nhà ông bà Thái, Quang vẫn có cái cảm giác bị bó cẳng bởi hai nhân vật xa lạ ngồi hai bên. Thằng Phú thì quay ra cửa sổ nhìn lơ đãng ra hai bên vệ đường. Con Lan thì vẫn ôm một con gấu bông trắng muốt, tay thì cứ loay hoay với cái nơ cột ở cổ con gấu. Mọi thứ ở đây đều sang trọng quá làm Quang lại trạnh nghĩ đến hình ảnh khốn khổ của anh em thằng Hiếu. Bao giờ thì chúng nó có người bảo lãnh? Bao giờ thì chúng nó rời xa được cái vùng đất khốn khổ, thiếu tốn và tràn ngập những kỷ niệm đau thuơng đó?
Quang phải trấn áp tình cảm để những giọt nước mắt khỏi ứa ra ở hai bên bờ mi. Nó vội nhìn ra hai bên kính xe và thấy lần đầu tiên quang cảnh nước Mỹ vớí những đường xá chằng chịt, trên có những dòng xe cộ chạy vùn vụt.
Lúc xe đi vào thành phố, mọi thứ đều to, đều sang, đều ngăn nắp sạch sẽ . Tuy nhiên chỉ có hai hôm nữa là tớí tết Trung Thu nhưng chẳng thấy đâu có dấu hiệu chuẩn bị cả. Hình như cả thành phố này không ai biết tới rằng lại có một cái tết trọng đại như thế đối với những nhi đồng Việt
NT

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét