CHƯƠNG 1
Thời điểm Hà Nội 1950 -1954
Năm mươi năm trời khi đã trôi qua thì phải kể
là những năm cũ, và những con người đã từng sinh hoạt với nhau trong thời điểm
ấy phải là những người thuộc bao năm cũ. Tôi muốn nói đến những bạn bè văn nghệ
vào thời kỳ họ còn trẻ trung, còn mang những tâm hồn tràn đầy tươi sáng và tấm
lòng yêu văn chương nghệ thuật của họ còn đầy sôi nổi, nhiệt thành. Họ chính là
những bạn đồng lứa, đồng hành với tôi, hoặc trước tôi chỉ vài ba tuổi và tất cả
hầu như chỉ mới vừa mới chính thức bước vào làng văn hay mới chập chững những
bước đầu tiên với ước mơ trở thành người cầm bút. Có người hiện còn sống, cũng
có nhiều người đã vĩnh viễn ra đi. Tên tuổi của họ cho đến nay, có thể vẫn còn
được độc giả nhớ đến nhưng cũng có nhiều bút hiệu hầu như nay đã bị vùi sâu
theo dòng đời quên lãng. Đó là những Nguyễn Quốc Trinh, Hoàng Phụng Tỵ, Song
Nhất Nữ, Nguyễn Nam Tê, Mọc Đình Nhân, Vũ Mai Anh, Hùng Phong, Kiều Liên Sơn,
Huy Sơn, Hiệp Nhân, Lê Ninh, Hồ My, Song Hồ, Tạ Vũ..vân...vân...
Tại Hà Nội, vào thời điểm đầu thập niên 50,
bọn trẻ chúng tôi đã bước vào thế giới của văn nghệ một cách vô cùng say mê.
Tuy chưa bước qua hay vừa bước qua tuổi mười tám mà nhiều người đã có thơ, có
văn, có truyện in trên báo hay thậm chí, in cả thành sách. Hùng Phong, bút hiệu
của Nguyễn Đức Cầu, năm ấy mới là cậu học trò lớp đệ lục (năm thứ hai bậc trung
học) mà đã được đăng một phóng sự dài nhiều kỳ lấy tên là Con Cò Mày Đi Ăn Đêm
(viết về những đường dây buôn lậu từ hậu phương vào thành) trên tờ nhật báo
Liên Hiệp của ông Soubrier Văn Tuyên. Rồi Vũ Mai Anh học trò lớp đệ ngũ Chu văn
An được nhà xuất bản Chính Ký ở phố Sinh Từ in những tiểu thuyết Duyên Kiếp,
Phũ Phàng; Hiệp Nhân lớp đệ tam tự in lấy truyện dài Linh Hồn Ngọc; Lê Ninh ra
giai phẩm Lửa Lựu; Nguyễn Nam Tê vừa đạp xích lô, vừa làm thơ để ra tập Tin Về
Đất Bắc; Mọc Đình Nhân in Hương Mùa Loạn; Nguyễn Quốc Trinh, Hoàng Phụng Tỵ ra
chung tập thơ Ươm Đẹp; Song Hồ, Kiều Liên Sơn, Hồ My, Tạ Vũ v.v… có thơ in trên
các báo như Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, Hồ Gươm, Thời Tập, Tia Sáng, Giang Sơn, Liên
Hiệp ở Hà Nội hay Thẩm Mỹ, Mùa Lúa Mới, Nhân Loại ở Sài Gòn.
Đất nước vào thời kỳ đó vẫn còn đang chìm đắm
trong chiến tranh, nhưng sự tàn phá của nó so ra không bằng một góc của cuộc
chiến Quốc Cộng vừa qua. Ở nhiều nơi, nhiều thành phố đời sống dân chúng vẫn
mang vẻ thanh bình, và cái đời sống thanh bình của thuở ấy so ra không có những
thay đổi khốc liệt hay những tệ nạn kinh hoàng như cuộc sống thanh bình ở quê
nhà hiện nay.
Song Hồ Nguyễn Thanh Đạm hồi cư về sinh sống ở Hà Nội vào khoảng 1952. Hình
như trước đó, năm 1949, tuy mới 16, 17 chưa tới tuổi thành niên nhưng anh đã là
một chiến sĩ tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp. Lăn lộn qua nhiều chiến
trường, lòng “anh chiến sĩ” không nguôi nhớ về Hà Nội. Chẳng hiểu chàng nhớ tới
ai mà ngay giữa rừng thông Thái Nguyên, vùng núi rừng Việt Bắc, Song Hồ đã viết
bài thơ đầu tiên mang tên “Thư Gửi người Em Hà Nội” trong có những câu :
Anh viết lá thư về Hà Nội
Giữa lúc
bóng chiều
Ngả mầu
sắc tối
Lòng người
chiến sĩ căm căm
Đã bao
tháng năm ?
Chưa bức thư nào
Về thăm người em gái nhỏ
Không biết
anh đi từ độ nọ
Người em
còn nhớ tới không?
Hay ở nơi
đây
Ánh sáng
Kinh Thành
Em cười
trên tay kẻ khác
Nhưng anh
vẫn tin
Tình em
còn mộc mạc
Như tình
anh
Mối tình
giữa buổi chiến tranh…..
Song Hồ (1949)
Sau này, khi
trở về Hà Nội, Song Hồ tiếp tục đi học lại (trường Văn Hóa của Giáo sư Nguyễn
Khắc Kham) và tiếp tục làm thơ. Thơ của anh khi đó không còn vấn vương tình ái
nữa mà mang nặng tính cảm hoài về thời cuộc, thế sự :
Đây Hà
Nội trời mưa tuôn rả rích
Bê bết bùn
lầy nước đọng nhớp nhơ
Đèn nê-ông
tỏa ánh điện xanh lơ
Nhạc cuồng
loạn, gót giầy lay lắc ván
Một rồi
hai, trăm ngàn rồi đến vạn
Đèn nhạt đèn xanh đèn tím đèn vàng
Nhạc điên cuồng vẫn réo rắt reo vang
Mầu biến đổi là lòng người biến đổi
Hiện dần trong bóng tối
Có người
con gái miền quê
Khăn yếm bỏ đi rồi
Làn tóc loăn xoăn
Đỏ mọng đôi môi
Chiều thứ bẩy
Giầy đinh vang hè phố…..
Song Hồ (1953)
Nhắc đến Song Hồ thì sau này bạn bè không thể
quên được bài thơ anh đã làm vào năm 1981, tuy ngắn gọn mà đã diễn tả được hoàn
cảnh tan hoang, kinh hoàng, khốn khổ mà dân chúng miền Nam đã phải chịu đựng
sau khi CS vừa tiến chiếm miền Nam :
HỠI EM NHỎ CÔ ĐƠN
Hỡi
em nhỏ cô đơn!
Đang
lang thang ngoài phố.
Em
ơi đi đâu đó?
Cho
ta hỏi đôi lời:
-
Cha đâu? - Bị cải tạo !
-
Mẹ đâu? - Buôn chợ trời !
-
Anh đâu? - Ở Cam Bốt !
-
Chị đâu? - Vượt biên rồi !
-
Ông đâu? - Đấu tố chết !
-
Bà đâu? - Buồn qua đời !
-
Cô đâu? - Kinh tế mới !
-
Bác đâu? - Tự tử rồi
Thôi
! thôi ! Không hỏi nữa !
Tim
ta quá bồi hồi
Sao
em còn nhỏ tuổi
Đã biết nhiều chuyện đời
Sao mảnh đất nhỏ bé
Xẩy nhiều chuyện rụng rời….
…….
(1981)
Trở lại khuynh hướng sáng tác của những người
làm văn nghệ trẻ ở thời kỳ giữa thập niên 50, khoảng từ 1951 đến 1954, ngoài ca
ngợi tình yêu, quê hương, đất nước, nội dung sáng tác cũng đã mang nhiều dấu
tích xã hội vì họ cũng suy tư về các hoàn cảnh sống lầm than, những cuộc đời bị
đối xử bất công, bị chìm đắm trong sự cùng quẫn nghèo khó. Nhẹ nhàng mang tính
chất học trò nghèo khó thì có những câu thơ của Tạ Vũ viết năm 1952:
Bạn ơi
Trên
trang giấy trắng,
Dòng
mực chảy đều
Tai
nóng bừng vì bài toán không ra
Có nhớ
đến tôi
Bỏ
trường - không học phí
Duyên
thế hệ thôi từ nay cách biệt !
Tạ Vũ mồ côi cả cha lẫn mẹ, sống nhờ bà dì,
có lúc lại vào nằm ở khu nuôi trẻ không nhà trong chùa Tầu gần phố Sinh Từ Hà
Nội, chen chúc cùng với đám mồ côi cùng lứa tuổi để viết những dòng thơ như sau
:
Ánh đèn
không soi mái phố
Linh
hồn dắt díu về đây
Chăn
đâu cho đầy giấc ngủ !
Nôn nao
cơm lưng dạ dầy !
Thao
thức nằm nhìn bóng tối
Nghẹn
ngào khóc dưới cửa ô
đêm mơ
thấy đời đổi mới
Sáng ra
buồn hơn bao giờ ....
50 năm trời không gặp lại, nhưng tôi được
biết, sau này Tạ Vũ vẫn tiếp tục làm thơ, và anh đã có thời nổi tiếng là một
thi sĩ của những công nhân trong ngành khuân vác.
Sâu sắc, già giặn hơn Tạ Vũ của năm 1953 thì
có Song Nhất Nữ vơi bài Cửa Ô cũng được chúng tôi truyền tụng trong thời kỳ ấy
:
Cửa Ô
(Gửi năm Cửa Ô Hà Nội)
Mầu sắc
u huyền,
Đất
trời nghiêng ngửa,
Đô
thành bừng lửa.
Ngoại ô
này lành lạnh sống trong đêm...
Ánh đèn
le lói
Chìm
đắm triền miên
Nơi đây
son phấn,
Nơi đây
kim tiền,
Nơi đây
trụy lạc,
Nơi đây
nghèo hèn
Đêm về
những giấc mơ điên
Đêm về
ngùn ngụt túi phiền lầm than
Đêm về
vàng bệch đèn tàn
Đêm về
điên loạn cung đàn xót xa
Cửa Ô
xa...
Có
nhiều bóng ma...
Đi
trong bê tha...
Đi
trong xênh phách
Đi
trong đói rách
Đi
trong lệ nhòa
Thất
thểu... la cà...
Bóng
ma... bóng ma...
Đâu đây
vàng ngọc lụa là,
Cửa
ô... ngõ hẻm... a ha! Cuộc đời!
Song
Nhất Nữ
1953 (Nhựa Mới)
Nguyễn Quốc Trinh, tác giả tập thơ Ươm Đẹp
ngoài những vần thơ trữ tình:
Hoa
bừng dưới gót em qua
Tôi
cười dưới gót em xa
Bát
ngát Thơ ngân tiếng guốc
Đường
hương mở đón chân ngà,
chàng trai ấy
cũng có khuynh hướng xã hội như bài thơ Dễ Hiểu sau đây:
Dễ Hiểu
Vì mải
gò lưng kéo
Cày cho
kẻ khác no
Chiều
về nhai cỏ héo
Chuồng
hẹp nằm co ro
Vì sống
như trâu bò
Kiếp
này sang kiếp khác
Cha già
cha phát ho
Mẹ già
xương xộc xạc
Vì đời
buồn xơ xác
U ám
như đêm nghèo
Mồ hôi
chua áo rách
Muối
mặn quả cà meo
Hoa đẹp
nở vườn nào
Thơ bầy
trong tủ kính
Con
choắt vợ xanh xao
Ngựa xe
người đủng đỉnh
Vì tôi
muốn anh muốn
Vì
chúng ta cùng muốn
Đêm
già: xô ngã xiên !
Ngày
non: cười thẳng dướn !
NGUYỄN QUỐC TRINH
(Ươm Đẹp-1953)
Một nhà thơ khác cũng rất nổi tiếng trong
giới bạn bè non trẻ chúng tôi là Nguyễn Thị Hồ My (sau đổi thành Hồ My). Đó
chẳng phải là một nhà thơ nữ mỹ miều nào mà chỉ là bút hiệu của một chàng thư
sinh cũng đang mài đũng quần ở bậc trung học. Cái sự tuy là nam nhi mà lại ưa
lấy bút hiệu phái nữ hình như là một cái mốt của đám sáng tác trẻ trung ở thời
kỳ đó, như Song Nhất Nữ là bút hiệu của
anh Đặng Bá Ngư (nay anh đã không còn nữa) hay Nguyễn Thị Yếm Thắm là bút hiệu
của Nguyễn Yên Tri, một anh chàng học trò cùng lớp, cùng trường với tôi từ khi
còn ở bậc tiểu học. Xin nhắc lại một bài thơ của Hồ My sáng tác năm 1953:
Đi Đêm
Viết tặng người lầm than
Bên mái
hàng hiên
Một
bóng người thấp thoáng đi đêm
Gót mòn
xiết tiếng rên rên,
Như
khóc cuộc đời tăm tối.
Đêm nay
dưới ánh đèn le lói
Bóng mẹ
già, vợ dại, con thơ,
Đang bơ
vơ
Đang
thao thức
Đang
rạo rực
Đang
mong chờ
Nóng
lòng mong kẻ bên bờ đường khuya.
Tiếng
guốc kéo lê thê
lóc cóc
lách
cách
Như nửa
tỉnh nửa mê
Đau
thương lên bước bên hè
Đêm
dài, phố vắng, đường khuya một mình
Bên
hiên cố ý hay vô tình
Guốc lê
mãi gieo buồn người mất ngủ
Mẹ già,
con nhỏ.
Vợ dại
ai nuôi!
Lang
thang giữa lúc tối trời
Lệ trào
mặn chát trên môi!
Vang hè
phố vắng
Tiếng
bước vọng xa xôi
Chập
chờn chiếc bóng chơi vơi
Hỡi ôi!
Thương lấy kiếp người đi đêm.
HỒ MY
Ngoại Ô Hà Nội 20-10-53
(Báo Tia Sáng
/ tháng 10-1953)
****
Bây
giờ là thời điểm tháng 12 năm 2002, kể như là 50 năm tròn đã trôi qua. Ngồi đọc
lại những tác phẩm cũ của bạn bè bao năm cũ, tôi như sống lại cái không khí của
một thời “Ươm đẹp”, cái thời mà cũng đã từng có nhiều chàng trai vừa lớn, mang
những ước mơ dùng văn chương nghệ thuật để làm đẹp cho cuộc đời, mong cuộc đời
vơi đi những nhọc nhằn, những bất công, những nghèo hèn, những thiếu thốn.
Nhưng nằm giữa lòng Hà Nội vào một đêm của
thời điểm năm 2000, tôi vẫn còn nghe thấy tiếng rao hàng trong ngõ hẻm của một
ngày đông lạnh giá. Tiếng rao sà sã cố ngoi lên từ một làn hơi đã sắp tàn lụi
đập vào cái tĩnh lặng của nửa khuya về sáng nghe ai oán như tiếng vạc kêu đêm,
nó cũng ám ảnh giấc ngủ của tôi như tiếng guốc kéo lê trên hè phố mà Hồ
My đã diễn tả cách đây một nửa thế kỷ. Nghĩa là vẫn còn có những cuộc sống lầm
than ngay giữa lòng Hà Nội dù 50 năm trời cách biệt đã trôi qua. Đó là chưa kể
tới những cảnh huống đau lòng khác mà xưa nay chưa bao giờ có, như bán máu trở thành một phương tiệân kiếm
sốùng, bán thân xác cho đàn ông Đài Loan, Trung Quốc dưới danh nghĩa đi làm dâu
xứ người và trong lòng của những thành phố sa hoa rực rỡ, có những kẻ đốt tiền
bằng cả năm lương của người lao động để mua một trận cười. Như thế, những hình
ảnh Cửa Ô xa của Song Nhất Nữ: Cửa Ô
xa... Có nhiều bóng ma... Đi trong bê tha...Đi trong xênh phách Đi trong đói
rách Đi trong lệ nhòa Thất thểu... la cà... Bóng ma... bóng ma... nào có
khác gì hình ảnh của những con người thất thểu đi trong bóng đêm của các thành
phố bây giờ, ngủ dưới gậm cầu, chen chúc nhau dưới những mái hiên hay lang
thang trên những đống rác cao ngút đầu để xăm xoi đào bới.
Hà Nội vào những năm đầu thiên niên kỷ 21 còn
nhiều bất công, nhiều chênh lệch, nhiều hoàn cảnh xót xa, não lòng hơn 50 năm
trước. Những câu thơ của Nguyễn Quốc Trinh viết từ 50 năm trước bỗng trở thành
những lời như vừa được sáng tác gần đây :
Vì mải gò lưng kéo
Cày cho kẻ khác no
Chiều về nhai cỏ héo
Chuồng hẹp nằm co ro!
Tôi không hiểu tuổi trẻ Hà Nội bây giờ có ươm những giấc mơ làm đẹp xã
hội như những tuổi trẻ Hà Nội thời 50 năm trước hay không? Họ bị chèn ép để
không còn sáng tác được hay lòng họ đã lạnh tanh trước những biến đổi phũ phàng
của thời kỳ kinh tế thị trường, hay vì cả hai? Nhưng dù là vì bất cứ lý do nào
thì khi mở lại những trang sách cũ, tôi không khỏi bùi ngùi nhớ lại những con
người của bao năm cũ. Thành phố xưa bây
giờ đã có biết bao nhiêu thay đổi. Hồ Gươm xưa hẳn đã chứng kiến biết
bao nhiêu vật đổi sao dời. Tôi mong mỏi thế hệ trẻ bây giờ đừng bao giờ lạnh
tanh trước những nỗi bất công của đời sống, trước những hoàn cảnh thống khổ của
con người, bởi vì thế hệ chúng tôi, vốn cũng mang nhiều xót xa, buồn bã nhưng
bao giờ cũng ngước lên nhìn cuộc đời với ánh mắt tin tưởng, tin ở đất nước, tin
ở con người, và dù trong hoàn cảnh nào cũng vẫn
tìm mọi cơ hội để vươn lên.
(còn tiếp)


