Mười bốn.
Không phải tiếng còi mọi khi của ông toán trưởng,
chính cái đạp của thằng hộ pháp đã làm tôi choàng dậy, xóa tan giấc mơ ngọt
ngào mà lúc này lười nhác oằn người trên võng, tôi không thể nào nhớ lại. Buổi
sáng đã lâu, nhưng trời mù phà qua cửa sổ những mảng sương đặc sệt làm trong
nhà vẫn còn mờ tối.
“Dậy đi bắn chó mày”.
Thằng hộ pháp cúi xuống gương mặt đầy hí hửng,
hềnh hệch cái cười quen thuộc buộc tôi phải hiểu rằng nó đang bày ra một trò
đùa và tôi trả lời bằng kéo chăn kín mặt.
“Thật mà, thằng cấp dưỡng tìm thấy một con chó
hoang...”.
Hai chứ “chó hoang” làm tôi sửng sốt, lập tức nhớ
lại giấc mơ đêm qua. Đúng rồi, tôi nằm mơ thấy mình khoác ba lô trở về góc vườn
cũ, con Mực mừng quơ lên rối rít nhảy cả hai chân lên ngực tôi. Tôi giở trong túi
ra bao nhiêu là bánh ngọt mà mỗi lần tôi ném, nó lại há miệng ra đớp, vừa nhai
vừa sủa ăng ẳng.
“Đi ra đó đi, trưa nay tao đánh mỗi thằng một đĩa
tiết canh chó, ăn vào cứ gọi là chết lịm người.”
Tôi vội vàng mặc quần áo theo chân bọn nó, thằng
cấp dưỡng vác súng hùng hổ dẫn đầu, thằng học giả đi sau luôn miệng:
“Đúng con chó tao nghe sủa đêm hôm trước khi vào
bản.”
Tôi cũng tin thế, chỉ lạ một điều sao nó không
theo chủ ra đi, lại quanh quẩn đây làm kiếp chó hoang và sao đêm qua lại tru
lên ai oán thế.
Thằng cấp dưỡng dẫn bọn tôi quanh co qua những
quả đồi thấp, những nương lúa bỏ hoang những chòi canh xiêu vẹo rồi chui qua
một lùm cây ken đặc, vệt đường mòn bị cỏ dại xâm lấn chỉ còn lờ mờ, trước mặt
tôi chợt hiện ra khu nhà mồ. khu nhà mồ. Thằng cấp dưỡng ra hiệu chúng tôi đi
chậm lại, và rồi sau khi vòng vèo qua rải rác những ngôi mộ mới, nó chỉ tay ra
trước thì thào: “Nó đấy”. Bên cạnh chiếc nhà mồ thấp lè tè, ghép bằng tre và lá
gói, tôi nhìn thấy con chó hoang ấy, hay đúng hơn một đống xương lẫn da trụi
lông và người ta chỉ nhận ra sự sống ở hơi thở làm phập phồng những chỗ lõm
xuống của thân thể.
“Nó kiệt sức rồi, không sủa được nữa đâu”.
Thằng cấp dưỡng lại thì thào bên tai tôi và
giương khẩu súng lên, cứ như là cái đống xương da kia sắp sửa nhảy lên cắn cổ
nó. Tôi bước lại gần nhìn rõ cả bộ xương sườn nhô lên, những cẳng chân khô quắt
và đôi mắt nhắm nghiền.
“Nó chỉ còn thở được thôi”.
Thằng cấp dưỡng lại nói và lại giơ súng lên. Tôi
gạt thằng đó ra khuỵu một chân xương để có thể nhìn kỹ con chó hơn. Có lẽ thằng
cấp dưỡng nói đúng, trong cả đống xương da khô này chỉ còn mỗi quả tim là đang
co bóp. Bất giác đôi mắt con chó mở ra nhìn tôi. Không giống như con chó hoang
ngày trước, vật nài và uất hận, đôi mắt nầy đầy vẻ dửng dưng cứ như mọi thứ
xung quanh: bọn tôi, ngôi mộ và bầu trời thăm thẳm xanh chẳng còn dính dáng gì
tới nó nữa.
“Thôi đủ rồi, xích ra tao bắn về làm tiết
canh...”
Thằng cấp dưỡng lại giơ khẩu súng lên. Trong
những lý lẽ của tôi chẳng có thứ nào lọt tai để ngăn nó lại. Tôi đành dùng lý
lẽ của nó:
“Chúng mày nhìn kỹ coi, nó chỉ còn xương bọc da
thế kia, ăn thế quái nào được. Thôi, tha cho nó, để yên cho nó nằm chết theo
chủ”.
“Không được, xương da gì cũng được một bữa. Mình
đang thiếu đạm động vật mà.”
Thằng cấp dưỡng lại đẩy tôi ra. Tôi còn đang nghĩ
xem còn có lý lẽ nào khác, thằng học giả đã bước tới:
“Đúng đấy, xương bọc da thế này, ăn làm gì tổ
tanh miệng. Thôi, tha cho nó.”
Nó kéo thằng cấp dưỡng ra xa, thì thầm gì đó, chỉ
thấy thằng này gật gật. Khi cả bọn kéo nhau về trước, thằng hộ pháp còn quay
lại cười hềnh hệch với tôi:
“Kỳ này tao lại giành cho mày quả tim như lần
giết con lợn rừng.”
Đôi mắt con chó đã nhắm lại. Thật khó hiểu được
tại sao tôi lại ngồi xuống bên nó, bôi rối và bứt rứt vì một chuyện gì đó. Hình
như tôi muốn nắm lấy cẳng chân truyền cho nó hơi ấm là thứ duy nhất lúc này tôi
có được. Vậy nhưng tôi vẫn ngồi im, co cả người lại không dám thở mạnh. Tôi cứ
ngồi như thế rất lâu, không động đậy tay chân, không động đậy cả đôi mi mắt đã
nhắm nghiền, cơ thể tôi lúc này phần nào đó cũng giống như con chó cũng chỉ có
quả tim là đang co bóp. Tôi cứ ngồi như thế cho tới lúc tôi cảm thấy nôn nao,
choáng váng hệt như lúc đang bám víu bên vách đá cheo leo. Và rồi không chỉ là
cảm giác nữa, tôi thấy rõ ràng tôi đang chới với, dãy dua giữa khoảng không,
bên dưới là một vực sâu chóng mặt. Tôi kinh khủng ngửa mặt, nhìn ngước lên
trông chờ một ai đó tới kéo tôi lên. Ông toán trưởng mải cúi xuống tấm bản đồ
thằng hộ pháp cười hềnh hệch, thằng cấp dưỡng giương súng lên ngắm cái gì đó eòn
thằng học giả đang đứng trên cao giảng giải về nghịch lý để nhận ra cái hố
thẳm. Tôi cứ chờ, chờ mãi và rồi tuyệt vọng buông người rơi xuống chiều sâu hun
hút tối tăm và giá lạnh. Rất có thể tôi cứ trong trạng thái rơi mãi, rơi mãi
như thế, nếu không có vật gì đó mềm mềm và ấm nóng lướt trên mặt làm tôi tỉnh
giấc và rét run lẩy bẩy. Trời ơi, con chó hoang đã lết tới, nằm bên tôi lúc nào
và đang nhẹ nhàng liếm lưỡi trên gương mặt tôi. Trời tối tự bao giờ, mảnh trăng
uốn cong đã lại treo lơ lững giữa bầu trời giá lạnh. Và rồi chẳng giống như ý
định ban đầu truyền hơi ấm của mình cho con chó, mà chính là tôi đang quàng tay
ôm lấy nó để nhận được sức nóng của nó truyền sang tôi...
(còn nữa)
PHỤ LỤC :
LES GOUFFRES
DE L’ÂME
Entretien de
Mireille Gansel avec Phan Huy Duong
La Quinzaine
Littéraire, n° 840
(suite)
MG : Mais ce livre n’a-t-il pas à cet égard une
originalité tout à fait novatrice ?
PHD : Au départ, dans cette communauté on
retrouve des ‘types’ humains familiers dans la vie, la littérature et le
théâtre populaire : « Une fois la bête abattue, l’Érudit reçut le cerveau, le
courageux Gendarme qui avait frappé le sanglier à la tête hérita du foie. Ils
me réservèrent le cS_ur à cause de la pitié que j’avais témoignée à l’animal et
le Cantinier, bon dernier à courir, reçut la queue. » On trouve ici un élément
commun avec Kafka : l’humour noir.
Mais ces hommes obligés de risquer
quotidiennement leur vie pour une mission absurde finissent par prendre
conscience d’eux-mêmes et découvrir les ‘gouffres de l’âme’ individuelle.
MG : N’est-ce pas là la critique la plus radicale
du système, du slogan qui accompagne toute cette traversée de la jungle (la fin
justifie les moyens), puisque dorénavant ce qui prime, c’est l’humain ?
PHD : Effectivement. Et pas seulement critique du
système socialiste. Dans la culture traditionnelle, l’homme vietnamien prend
conscience de soi en tant que sujet à travers ses relations concrètes à sa
communauté : la famille, le clan, le village, la région, le pays. ‘Dông bào’
qu’on traduit par compatriote signifie étymologiquement ‘né de la même
matrice’. Sur cette forme de conscience de soi, au vingtième siècle, s’est
greffée une autre forme de conscience communautaire de soi : l’idéal
communiste, le Parti. Face à l’effondrement de la mission, nos héros découvrent
qu’ils sont aussi des invidus nés d’une histoire personnelle, d’amours et
d’aspirations singulières. Le narrateur est à ce titre emblématique. C’est un
orphelin, il n’a pas de famille, donc pas d’ancêtres, donc pas d’origine
sociale identifiable dans cette société confucéenne où le PC exige dans tout CV
politique de remonter au moins jusqu’à la troisième génération. Il ne peut se
raccrocher à aucune communauté humaine. La seule amitié qu’il ait connue est
celle d’un chien. Par ses questions nạves, libres, il amène chaque personnage à
jeter le masque, à assumer son histoire personnelle, à affronter son propre
gouffre.
(à
suivre)
HỐ THẲM TRONG TÂM HỒN
Trao đổi giữa Mireille Gansel và
Phan Huy Duong
La Quinzaine Littéraire,
n° 840
(tiếp theo)
MG : " Nhưng cuốn sách này dường như không
nhằm tới cách …tân ?"
PHD : " Ngay đầu truyện ta đã thấy những mẫu
nhân vật quen thuộc trong đời sống, trong văn học, trong sân khấu dân gian :" Thằng học giả sính chữ nghĩa nhường
cho nó trọn bộ óc, thằng hộ pháp dũng cảm đập gậy vào đầu con lợn thưởng cho nó
buồng gan, tôi được quả tim vì đã tỏ vẻ xót thương con lợn bị băm vằm mổ xẻ,
còn thằng cấp dưỡng chạy sau cùng bị phạt phải ăn khấu đuôi. " Ở đây
ta thấy yếu tố chung với Kafka :" hài
hước đen".."
NG :" Nhưng những con người này hằng
ngày buộc phải mạo hiểm cuộc sống cho
một sứ mạng phi lý cuối cùng tự nhận ra mình và cả cái hố thẳm trong con người
mình"
MG :" Phải chăng phê phán tận gốc rễ cái hệ
thống , cái khẩu hiện thúc đẩy đi cho hết cánh rừng ( cứu cánh biện minh cho
phương tiện) cho đến khi nhận ra con người là trên hết ?"
PHĐ : " Thực ra,,,không chỉ phê phán hệ
thống xã hội chủ nghĩa.Trong văn hóa cổ truyền , con người Việt nam rất chú
trọng tới những mối quan hệ chặt chẽ trong cộng đồng : gia đình, họ hàng, vùng
miền. Từ "đồng bào" có nghĩa là sinh ra từ cùng trong bọc mẹ. Với
kiểu suy nghĩ này, vào thế kỷ 20, nó được ghép với một hình thức khác của ý
thức cộng đồng về chính mình :" lý tưởng cộng sản, Đảng" . Đối mặt
với sự sụp đổ của nhiệm vụ, những nhân vật của chúng ta mới phát hiện ra rằng
họ cũng là một cá nhân, có cuộc đời riêng, tình yêu riêng và khát vọng riêng.
Người kể chuyện là một cá nhân mang tính biểu tượng. Đó là một đứa con mồ côi,
không gia đình, không tổ tiên, không nguồn gốc xuất thân trong cái xã hội nho
giáo mà Đảng cộng sản đòi hỏi lý lịch phải rõ ràng tới ba đời. Hắn chẳng có dây
mơ rễ má với bất kỳ ai trong cộng đồng nhân loại này. Hắn chỉ có tinh bạn thân
thiết với một con chó. Bằng những câu hỏi thật thà, thoải mái hắn lột mặt nạ
của mỗi người, làm họ nhận rõ hoàn cảnh
mình và đối diện với hổ thẳm trong từng mỗi người.
(còn tiếp)
Tiểu thuyết do
Phan Huy Đường và Đặng Trần Phương dịch từ tiếng Việt
Nhà xuất bản Philippe Picquier

