Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2015

ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ - Tiểu thuyết NHẬT TUẤN - KỲ 15


Mười bốn.

Không phải tiếng còi mọi khi của ông toán trưởng, chính cái đạp của thằng hộ pháp đã làm tôi choàng dậy, xóa tan giấc mơ ngọt ngào mà lúc này lười nhác oằn người trên võng, tôi không thể nào nhớ lại. Buổi sáng đã lâu, nhưng trời mù phà qua cửa sổ những mảng sương đặc sệt làm trong nhà vẫn còn mờ tối.
“Dậy đi bắn chó mày”.
Thằng hộ pháp cúi xuống gương mặt đầy hí hửng, hềnh hệch cái cười quen thuộc buộc tôi phải hiểu rằng nó đang bày ra một trò đùa và tôi trả lời bằng kéo chăn kín mặt.
“Thật mà, thằng cấp dưỡng tìm thấy một con chó hoang...”.
Hai chứ “chó hoang” làm tôi sửng sốt, lập tức nhớ lại giấc mơ đêm qua. Đúng rồi, tôi nằm mơ thấy mình khoác ba lô trở về góc vườn cũ, con Mực mừng quơ lên rối rít nhảy cả hai chân lên ngực tôi. Tôi giở trong túi ra bao nhiêu là bánh ngọt mà mỗi lần tôi ném, nó lại há miệng ra đớp, vừa nhai vừa sủa ăng ẳng.
“Đi ra đó đi, trưa nay tao đánh mỗi thằng một đĩa tiết canh chó, ăn vào cứ gọi là chết lịm người.”
Tôi vội vàng mặc quần áo theo chân bọn nó, thằng cấp dưỡng vác súng hùng hổ dẫn đầu, thằng học giả đi sau luôn miệng:
“Đúng con chó tao nghe sủa đêm hôm trước khi vào bản.”
Tôi cũng tin thế, chỉ lạ một điều sao nó không theo chủ ra đi, lại quanh quẩn đây làm kiếp chó hoang và sao đêm qua lại tru lên ai oán thế.
Thằng cấp dưỡng dẫn bọn tôi quanh co qua những quả đồi thấp, những nương lúa bỏ hoang những chòi canh xiêu vẹo rồi chui qua một lùm cây ken đặc, vệt đường mòn bị cỏ dại xâm lấn chỉ còn lờ mờ, trước mặt tôi chợt hiện ra khu nhà mồ. khu nhà mồ. Thằng cấp dưỡng ra hiệu chúng tôi đi chậm lại, và rồi sau khi vòng vèo qua rải rác những ngôi mộ mới, nó chỉ tay ra trước thì thào: “Nó đấy”. Bên cạnh chiếc nhà mồ thấp lè tè, ghép bằng tre và lá gói, tôi nhìn thấy con chó hoang ấy, hay đúng hơn một đống xương lẫn da trụi lông và người ta chỉ nhận ra sự sống ở hơi thở làm phập phồng những chỗ lõm xuống của thân thể.
“Nó kiệt sức rồi, không sủa được nữa đâu”.
Thằng cấp dưỡng lại thì thào bên tai tôi và giương khẩu súng lên, cứ như là cái đống xương da kia sắp sửa nhảy lên cắn cổ nó. Tôi bước lại gần nhìn rõ cả bộ xương sườn nhô lên, những cẳng chân khô quắt và đôi mắt nhắm nghiền.
“Nó chỉ còn thở được thôi”.
Thằng cấp dưỡng lại nói và lại giơ súng lên. Tôi gạt thằng đó ra khuỵu một chân xương để có thể nhìn kỹ con chó hơn. Có lẽ thằng cấp dưỡng nói đúng, trong cả đống xương da khô này chỉ còn mỗi quả tim là đang co bóp. Bất giác đôi mắt con chó mở ra nhìn tôi. Không giống như con chó hoang ngày trước, vật nài và uất hận, đôi mắt nầy đầy vẻ dửng dưng cứ như mọi thứ xung quanh: bọn tôi, ngôi mộ và bầu trời thăm thẳm xanh chẳng còn dính dáng gì tới nó nữa.
“Thôi đủ rồi, xích ra tao bắn về làm tiết canh...”
Thằng cấp dưỡng lại giơ khẩu súng lên. Trong những lý lẽ của tôi chẳng có thứ nào lọt tai để ngăn nó lại. Tôi đành dùng lý lẽ của nó:
“Chúng mày nhìn kỹ coi, nó chỉ còn xương bọc da thế kia, ăn thế quái nào được. Thôi, tha cho nó, để yên cho nó nằm chết theo chủ”.
“Không được, xương da gì cũng được một bữa. Mình đang thiếu đạm động vật mà.”
Thằng cấp dưỡng lại đẩy tôi ra. Tôi còn đang nghĩ xem còn có lý lẽ nào khác, thằng học giả đã bước tới:
“Đúng đấy, xương bọc da thế này, ăn làm gì tổ tanh miệng. Thôi, tha cho nó.”
Nó kéo thằng cấp dưỡng ra xa, thì thầm gì đó, chỉ thấy thằng này gật gật. Khi cả bọn kéo nhau về trước, thằng hộ pháp còn quay lại cười hềnh hệch với tôi:
“Kỳ này tao lại giành cho mày quả tim như lần giết con lợn rừng.”
Đôi mắt con chó đã nhắm lại. Thật khó hiểu được tại sao tôi lại ngồi xuống bên nó, bôi rối và bứt rứt vì một chuyện gì đó. Hình như tôi muốn nắm lấy cẳng chân truyền cho nó hơi ấm là thứ duy nhất lúc này tôi có được. Vậy nhưng tôi vẫn ngồi im, co cả người lại không dám thở mạnh. Tôi cứ ngồi như thế rất lâu, không động đậy tay chân, không động đậy cả đôi mi mắt đã nhắm nghiền, cơ thể tôi lúc này phần nào đó cũng giống như con chó cũng chỉ có quả tim là đang co bóp. Tôi cứ ngồi như thế cho tới lúc tôi cảm thấy nôn nao, choáng váng hệt như lúc đang bám víu bên vách đá cheo leo. Và rồi không chỉ là cảm giác nữa, tôi thấy rõ ràng tôi đang chới với, dãy dua giữa khoảng không, bên dưới là một vực sâu chóng mặt. Tôi kinh khủng ngửa mặt, nhìn ngước lên trông chờ một ai đó tới kéo tôi lên. Ông toán trưởng mải cúi xuống tấm bản đồ thằng hộ pháp cười hềnh hệch, thằng cấp dưỡng giương súng lên ngắm cái gì đó eòn thằng học giả đang đứng trên cao giảng giải về nghịch lý để nhận ra cái hố thẳm. Tôi cứ chờ, chờ mãi và rồi tuyệt vọng buông người rơi xuống chiều sâu hun hút tối tăm và giá lạnh. Rất có thể tôi cứ trong trạng thái rơi mãi, rơi mãi như thế, nếu không có vật gì đó mềm mềm và ấm nóng lướt trên mặt làm tôi tỉnh giấc và rét run lẩy bẩy. Trời ơi, con chó hoang đã lết tới, nằm bên tôi lúc nào và đang nhẹ nhàng liếm lưỡi trên gương mặt tôi. Trời tối tự bao giờ, mảnh trăng uốn cong đã lại treo lơ lững giữa bầu trời giá lạnh. Và rồi chẳng giống như ý định ban đầu truyền hơi ấm của mình cho con chó, mà chính là tôi đang quàng tay ôm lấy nó để nhận được sức nóng của nó truyền sang tôi...

                                                (còn nữa)

PHỤ LỤC :

 LES GOUFFRES DE L’ÂME

Entretien de Mireille Gansel avec Phan Huy Duong

La Quinzaine Littéraire, n° 840
          
                                (suite)

MG : Mais ce livre n’a-t-il pas à cet égard une originalité tout à fait novatrice ?
PHD : Au départ, dans cette communauté on retrouve des ‘types’ humains familiers dans la vie, la littérature et le théâtre populaire : « Une fois la bête abattue, l’Érudit reçut le cerveau, le courageux Gendarme qui avait frappé le sanglier à la tête hérita du foie. Ils me réservèrent le cS_ur à cause de la pitié que j’avais témoignée à l’animal et le Cantinier, bon dernier à courir, reçut la queue. » On trouve ici un élément commun avec Kafka : l’humour noir.
Mais ces hommes obligés de risquer quotidiennement leur vie pour une mission absurde finissent par prendre conscience d’eux-mêmes et découvrir les ‘gouffres de l’âme’ individuelle.
MG : N’est-ce pas là la critique la plus radicale du système, du slogan qui accompagne toute cette traversée de la jungle (la fin justifie les moyens), puisque dorénavant ce qui prime, c’est l’humain ?
PHD : Effectivement. Et pas seulement critique du système socialiste. Dans la culture traditionnelle, l’homme vietnamien prend conscience de soi en tant que sujet à travers ses relations concrètes à sa communauté : la famille, le clan, le village, la région, le pays. ‘Dông bào’ qu’on traduit par compatriote signifie étymologiquement ‘né de la même matrice’. Sur cette forme de conscience de soi, au vingtième siècle, s’est greffée une autre forme de conscience communautaire de soi : l’idéal communiste, le Parti. Face à l’effondrement de la mission, nos héros découvrent qu’ils sont aussi des invidus nés d’une histoire personnelle, d’amours et d’aspirations singulières. Le narrateur est à ce titre emblématique. C’est un orphelin, il n’a pas de famille, donc pas d’ancêtres, donc pas d’origine sociale identifiable dans cette société confucéenne où le PC exige dans tout CV politique de remonter au moins jusqu’à la troisième génération. Il ne peut se raccrocher à aucune communauté humaine. La seule amitié qu’il ait connue est celle d’un chien. Par ses questions nạves, libres, il amène chaque personnage à jeter le masque, à assumer son histoire personnelle, à affronter son propre gouffre.
                                              
                                        (à suivre)

      HỐ THẲM TRONG TÂM HỒN

           Trao đổi giữa Mireille Gansel và Phan Huy Duong
                      La Quinzaine Littéraire, n° 840

                                          (tiếp theo)

MG : " Nhưng cuốn sách này dường như không nhằm tới cách …tân ?"
PHD : " Ngay đầu truyện ta đã thấy những mẫu nhân vật quen thuộc trong đời sống, trong văn học, trong sân khấu dân gian :" Thằng học giả sính chữ nghĩa nhường cho nó trọn bộ óc, thằng hộ pháp dũng cảm đập gậy vào đầu con lợn thưởng cho nó buồng gan, tôi được quả tim vì đã tỏ vẻ xót thương con lợn bị băm vằm mổ xẻ, còn thằng cấp dưỡng chạy sau cùng bị phạt phải ăn khấu đuôi. " Ở đây ta thấy yếu tố chung với Kafka :" hài hước đen".."
NG :" Nhưng những con người này hằng ngày  buộc phải mạo hiểm cuộc sống cho một sứ mạng phi lý cuối cùng tự nhận ra mình và cả cái hố thẳm trong con người mình"
MG :" Phải chăng phê phán tận gốc rễ cái hệ thống , cái khẩu hiện thúc đẩy đi cho hết cánh rừng ( cứu cánh biện minh cho phương tiện) cho đến khi nhận ra con người là trên hết ?"
PHĐ : " Thực ra,,,không chỉ phê phán hệ thống xã hội chủ nghĩa.Trong văn hóa cổ truyền , con người Việt nam rất chú trọng tới những mối quan hệ chặt chẽ trong cộng đồng : gia đình, họ hàng, vùng miền. Từ "đồng bào" có nghĩa là sinh ra từ cùng trong bọc mẹ. Với kiểu suy nghĩ này, vào thế kỷ 20, nó được ghép với một hình thức khác của ý thức cộng đồng về chính mình :" lý tưởng cộng sản, Đảng" . Đối mặt với sự sụp đổ của nhiệm vụ, những nhân vật của chúng ta mới phát hiện ra rằng họ cũng là một cá nhân, có cuộc đời riêng, tình yêu riêng và khát vọng riêng. Người kể chuyện là một cá nhân mang tính biểu tượng. Đó là một đứa con mồ côi, không gia đình, không tổ tiên, không nguồn gốc xuất thân trong cái xã hội nho giáo mà Đảng cộng sản đòi hỏi lý lịch phải rõ ràng tới ba đời. Hắn chẳng có dây mơ rễ má với bất kỳ ai trong cộng đồng nhân loại này. Hắn chỉ có tinh bạn thân thiết với một con chó. Bằng những câu hỏi thật thà, thoải mái hắn lột mặt nạ của mỗi người, làm  họ nhận rõ hoàn cảnh mình và đối diện với hổ thẳm trong từng mỗi người.

                                                (còn tiếp)

Tiểu thuyết do Phan Huy Đường và Đặng Trần Phương dịch từ tiếng Việt
Nhà  xuất bản Philippe Picquier





SỐNG NHƯ LÀ CHẾT - -Tiểu thuyết NHẬT TUẤN - KỲ 24

                                 

                         Chương 24



Đêm đó, cơn đói thuốc và những kỷ niệm xưa dầy vò làm mắt gã cứ chong chong, không sao ngủ được. Bực mình, trở dậy mở  vi tính. Theo thói quen gã vào ngay FaceBook - một không gian đủ rộng để thế giới "đại đồng". Từ cô bé bán bánh cuốn Hànội, anh xe ôm Sàigòn …cho tới Tổng Thống Mỹ, ngôi sao ca nhạc thế giới…tất cả đều có thể "vòng tròn" quanh chiếc bàn "magic"  của FB.
Liếc qua vài status - một chị đang transit máy bay ở Dài Loan than sốt ruột, một anh khoe mới làm được bài thơ "não tình" , một nhà dân chủ chửi một nhà dân chủ khác là "con đĩ"…cả ngàn FBker từng giờ từng phút đưa lên mạng liên thông toàn cầu đủ thứ chuyện trên trời dưới biển.
Chưa bao giờ việc "xuất bản" những "sáng tác mới" lại tự do và nhanh như chớp đến thế. Gã vừa định chuyển sang web khác bỗng có tin nhắn "Anh ơi…". Em gái có cái nick name thật thơ mộng " Dạ hương". Mới chat một tuần em đã khai tuốt luốt. Em tuổi Thân, ba năm nữa ngũ tuần, vậy phải gọi bằng mợ, Giám đốc Công ty địa ốc, chồng bỏ sống độc thân cả chục năm nay, không con cái, tiền nhiều mà tình không có. Nhìn loạt ảnh mợ selfish trên FB cũng sang trọng và…phồn thực. Tất nhiên rải tiền thẩm mỹ , diện mạo phải khác nguyên bản . Mợ hỏi sao thức khuya thế  ? Gã bảo không có thuốc lá không ngủ được. Mợ kêu trời và đòi ngày mai chở đến cho gã một thùng. Gã ỡm ờ :
" Em dám tới không ?"
" Anh có phải cọp đâu mà em không dám tới. Ghi địa chỉ đi mai em mang thuốc tới cho anh . Mà anh hút thuốc gì ?"
" Thuốc râu ngô tẩm nước điếu…"
Mợ cười ré. He he he…dài trên tin nhắn…
" Anh nom hiền lành thế mà cũng đáo để nhỉ ?"
" Sao biết anh hiền ?"
" Hình anh la liệt trên FB kìa. Ra anh cũng thích "tự sướng " nhỉ ?"
" Thua xa em…hình em có thể bày kín một phòng triển lãm…"
Mợ lại cười…ha ha ha trên tin nhắn…
" Anh ơi…mình chat web cam nha…vào skype đi !"
Ừ thì vào…Í trời … qua camera mợ hấp dẫn gấp mấy lần qua hình. Mợ ghé sát vào máy hiện lên cặp môi hình quả tim làm gã nhớ tới thơ Xuân Diệu :" Hõi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi ".
" Nom ngon quá !" - gã tán …
" Cái gì ngon hả anh…" - mợ hơi nũng nịu..
" Môi em…môi em ngon quá…"
Mợ gửi một cái hôn gió làm gã bủn rủn cả người.
" Ước gì anh theo sóng wifi chui sang với em…" - gã lại tán.
Mợ cười rũ. Giờ nghe rõ tiếng cười như nước chảy bên tai.
" Sang đây đi…sang đây với em đi…:
"Anh sang nè…"
Mợ không nói nữa lại gõ chữ trên máy :
" Anh ơi…anh ôm em đi…"
" Anh ôm em nè…gì nữa nào…"
Hóa ra chat-sex online là thế này đây. Mợ gõ nhoay nhoáy :
"A a a a a a a a…"
Gã hùa theo đáp ứng những yêu cầu của mợ. Gã cười thầm. Thành thạo thế này chắc mợ nghiện rồi. Xưa nay cứ bảo người đàn bà phải yêu mới chịu dâng hiến thân xác. Hóa ra không phải. Chẳng yêu đương gì cũng vẫn làm tình được .
Mấy ngày sau, vào buổi chiều gã đang nằm đọc cuốn sách dậy nấu ăn, ngoài cổng chợt có tiếng còi xe hơi. Một chiếc Lexus trắng, bóng lộn đậu trước cổng, từ trên bước xuống phu nhân váy ngắn, áo không tay sang trọng, tay xách túi Hermes da cá sấu. 
Ôi thổ địa thánh thần ơi, chính là nàng Dạ Hương, Giám đốc Công ty địa ốc bằng xương bằng thịt chứ không còn là người ảo trên FB nữa. Mợ uyển chuyển trên đôi giày cao gót,  đi tới đâu mùi nước hoa Chanel hảo hạng thoảng lên tới đó. Mợ trải một khăn rộng lên ghế đá rồi mới chéo chân ngồi lên.Mợ cười nhếch mép :
" Sao…em lạ  lắm sao anh nhìn kỹ thế ?"
Gã lúng túng :
" Anh…bất ngờ quá…sao em không gọi điện báo trước ?"
" Em muốn bắt quả tang coi anh có sống  độc thân thật không ?"
Mợ đưa mắt nhìn quanh :
" Vườn rộng nhưng hoang vu quá…sao anh không thuê kỹ sư nó thiết kế cho ?"
Gã lắc đầu :
" Anh không thích trồng tỉa…cứ để cây mọc tự nhiên…"
" Anh coi em có khác hình trên web-cam không ?"
Gã gật gù :
" Ngoài đời xinh đẹp và sang trọng hơn trong cõi ảo nhiều ."
Mợ cười  sung sướng :
" Còn anh nom bụi đời hơn là trên Face Book…"
Mợ đưa chìa khóa cho gã ra xe mở cốp khuân đồ vào. Gã thắc mắc :
" Lái xe đâu ?"
Mợ cười thích chí :
" Thì đi du hành bí mật, bất ngờ còn cho lái xe đi theo làm gì ? Em lái lấy …"
Gã lễ mễ bưng vào nào gà rán Kentucky, vịt quay, hàu sống, sushi, phó mát…Mợ phụ gã bày la liệt trên bàn. Mợ khui chai Hennessy 18 years olds rất thành thạo.
" Nào…chúc mừng gặp gỡ" - Mợ cụng ly cái cốp rồi nhanh nhẹn múc mù tạt đổ vào con hàu nhai ngon lành.
" Lần sau em có  tới khỏi mua bán gì, để anh trổ tài nấu nướng…"
" Thôi thôi mất thì giờ…ăn fastfood chẳng hơn ư ? Anh sống một mình cứ ăn tiệm là hơn…"
Hóa ra mợ rất nhiều chuyện. Nào bất động sản sẽ tan băng, nào chơi chứng khoán như đánh bạc, cứ lời chút là rút ngay, nào doanh nhân thời nay mới đúng là nhân vật thời đại…Không mảy may chuyện văn chương nghệ thuật, cũng tuyệt nhiên không động chạm tới đảng bóp nghẹt tự do dân chủ và đàn áp trí thức đa nguyên…
" Em đúng là nhân vật thời đại…" - sau cùng gã thốt lên.
" Chứ lại không à ? Anh có biết năm rồi em đóng thuế bao nhiêu không ? 20 tỉ …xứng đáng là công dân danh dự rồi còn gì ?"
"Vậy em có cướp đất của dân phân lô bán nền không ?"  
Mợ cười  khanh khách:
" Anh lơ mơ chẳng hiểu gì Em có cướp đất của dân đâu, Nhà nước chớ…Nhà nước giải tỏa bán cho tụi em làm dự án…"
Gã nghĩ bụng chẳng nên tranh cãi với mợ. Hai người ở hai hệ thống với hai lý thuyết khác nhau, sao mà gặp nhau. Vạch đầu gối ra nói còn có lý hơn.
" Ạnh sao thế ?"
" Anh chẳng sao cả.."
" Chẳng sao mà mặt cứ lì lì…à thôi em hiểu rồi…anh sốt ruột phải không ? Yên tâm…cứ từ từ rồi khoai cũng nhừ …"
Nói xong mợ thích chí cười  rinh rích. Gã cứ đực mặt không hiểu mợ nói gì, sao lại " rồi khoai cũng nhừ" ?
Chập tối, trong lúc mợ đánh xe vào sân thì gã pha càphê. Mợ quay vào :
" Đừng uống càphê, em có trà Ô Long mua ở Đài Loan, 500 đô một hộp uống cho…tỉnh táo…"
Mợ nhìn vào mặt gã và lại cười  rinh rích. Rồi…đêm nay thế nào cũng phải quyết đấu một trận với mợ rồi . Vậy nhưng theo "phép lịch sự" gã cũng sắp xếp cho mợ phòng ngủ riêng, có máy lạnh, có toa-lét…đầy đủ tiện nghi như khách sạn 5 sao. Gã đưa mợ vào phòng rồi chào :
" Em hơi say rồi…Ngủ ngon nha…"
Mợ cười lẳng :
" Đêm nay anh ngủ được không ? "
" Được chứ…anh cứ lên giường là ngủ lăn quay…chẳng trằn trọc, chập chờn gì hết…"
" Ở…để coi…"
Mợ nguýt gã, đặt ngón tay lên trán gã, đẩy gã khỏi phòng ngủ rồi đóng cửa lại. Gã trở về phòng riêng, nằm thẳng cảng trên giường và nhắm mắt . Nhưng thật lạ…hệt như đêm thiếu thuốc, mắt gã cứ chong chong, tỉnh  queo, không chút buồn ngủ. Gã cứ vật mình hết bên này lại bên kia, đầu óc vẫn trong veo chẳng chút gì là giấc ngủ. Sao  lạ vậy ? Mọi đêm gã có thao thức bao giờ ? Gã đành trở dậy mở nhạc thính phòng nhè nhẹ, cố theo tiếng nhạc luồn vào giấc ngủ.Vẫn vô phương…đồng hồ trên tường đã chỉ 1 giờ sáng. Gã bực mình trùm chăn lên đầu cố nhắm mắt …

                   (còn nữa)

       30-7-2015




Thứ Ba, 28 tháng 7, 2015

YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU – KỲ 202


                                    (tiếp theo)



Những ngày chờ đợi kết quả thử máu, quả thực là vô cùng căng thẳng đối với ông Bí thư huyện và cả mẹ ông nữa. Vài ba ngày ông lại phóng xe về quê coi mặt thằng bé  đã nảy ra nét nào giống ông chưa ? Một lần từ trong phòng thằng bé, ông đâm bổ ra chỗ mẹ ông ngồi :
“ Đúng con mình rồi…đúng con mình rồi…”
Bà mẹ ông giật  mình :
“ Thật thế hả ? Có kết quả rồi hả ? Thế thì đại phúc cho họ nhà này…”
Ong lắc đầu :
“ Không không…chưa có kết quả chính thức nhưng hôm nay coi cái mắt nó giống mắt con như tạc. Mẹ sang mà coi…”
Bà mẹ tiu nghỉu :
“ Tôi tưởng đã có kết quả xét nghiệm rồi chứ…giống cái mắt hay giống cái mũi thì có ăn thua gì ?”
Ong Bí thư huyện  phản đối :
“ Cần gì xét nghiệm. Xét nghiệm chắc đâu đã đúng. Cứ có nét gì giống mình thì là con mình chứ còn gì. Mẹ sang thử  xem cái mắt nó coi có giống mắt con không ?”
Bà mẹ đang giở công việc trong bếp cũng phải chiều ông con chạy lên nhà coi mắt thằng bé. Lúc này nó đang ngủ trong nôi. Công bằng mà nói nó chẳng giống ông Bí thư huyện chút nào. Mặt ông hình vuông chữ điền thì mặt nó lại hơi tròn tròn giống cô Doan, mũi ông bèn bẹt thì mũi nó lai cao . Chỉ riêng đôi mắt nó có cặp lông mày hơi cong cong giống như của ông Bí thư huyện. Tuy nhiên chỉ có vậy thôi làm sao xác định nó là con ông ? Bà mẹ ông thở dài :
“ Kể ra đôi lông mày của nó hơi cong cong giống con thật nhưng mới chỉ có thế thôi sao dám xác định nó là con mình ?”
Ong Bí thư huyện bực mình :
“ Thì cái chính là mình đúc nó cả hai tháng nay thì nó phải là con của mình chớ. Lại thêm cái lông mày cong cong thế này, không của mình thì còn của ai dám lộn sòng vào đây ?”
Bà mẹ ông lắc đầu :
“ Kể ra cái con mụ vợ cả của ông nó đừng bầy đặt chuyện thử máu thử da thì  chẳng nói làm gì. Dù chỉ có đôi lông mày giống bố thôi cũng được, thậm chí chẳng có gì giống cũng không sao ? Suốt hai tháng trời ông lui tới với cô Doan chứ còn có thằng đàn ông nào lọt vào được đó . Mà vạn nhất có chuyện này chuyện kia thì “cá vào ao ta, ta được ” chứ có gì đâu. Ngặt vì con vợ cả ông nó đã bầy đặt chuyện thử máu rồi thì mình cũng phải theo đến cùng vậy thôi…”
Ong Bí thư huyện tròn mắt :
“ Trời đất ơi đến mẹ mà cũng còn nói “cá vào ao ta, ta được ” thì đúng là mẹ cũng thừa nhận thằng bé này không phải con của con rồi còn gì ?”
 Bà mẹ ông Bí thư huyện xua xua tay :
“ Thôi thôi…có cãi nhau cũng vô ích . Cứ chờ đến lúc có kết quả thì trắng đen rõ ràng thôi.Lúc đó ai gian ai ngay khắc lòi ra hết…”
Trong lúc hai mẹ con ông Bí thư huyện đang lo đứng lo ngồi thì bà vợ ông suốt ngày cứ cười khảy. Nếu không ai động tới chuyện đó thì thôi, nhưng nếu có ai nhắc tới, bà lại sồn sồn :
“ Làm sao thằng bé đó là con ông ấy được. Một đằng già xấp xỉ 60 , một đằng còn hơ hớ tuổi 22, làm sao thoả mãn nó được mà đòi có con có cái. Không phải thằng  nặn bụt thằng nặn bệ thì tôi cứ đi bằng đầu…”
Càng ngày bà càng tin chắc thằng nhỏ đó không phải con ông nên hôm đi lấy kết quả xét nghiệm, bà khăng khăng đòi đưa ông chồng tới bệnh viện để cùng chính mắt trông coi không ông lại bán tin bán nghi, sợ bà cạo sửa kết quả, vu oan giáng hoạ cho cô Doan.
Lúc đầu ông khăng khăng từ chối, viện cớ bận họp bà cứ đi một mình cầm giấy xét nghiệm về ông coi, bất chấp kết quả ra sao ông cũng chấp nhận , nhưng thực ra ông ngại cái cảnh chầu chực chờ đợi kết quả trong hồi hộp và nóng ruột. Nhỡ ra ông vác mặt tới tận nơi, giấy kết quả lại báo thằng bé không phải con ông thì thật xấu hổ. Tuy nhiên, bà cương quyết  :
“ Nếu ông chắc chắn nó là con ông thì việc gì ông phải tránh mặt tới bệnh viện. Cầm tờ giấy xác nhận thằng nhỏ đó là con thì ông càng tự hào chứ có sao ? Hay có tật giật mình hả ?”
Ong giật mình thật. Quả thực từ hôm bà bày trò thử máu, ông cũng không còn tin tưởng trăm phần trăm vào tính trung thực của cô Doan nữa. Biét đâu chờ cả tháng không thấy kết quả gì  cô không tin ông có thể làm bố được nữa nên đã nhờ thằng khác thay thế cũng chưa biết chừng. Cái giá của hợp đồng quá hấp dẫn nên rất có thể cô qua mặt ông để có con bằng mọi giá , ngay cả không phải con ông. Vì tiền mà, vì tiền đến ruột thịt trong nhà còn giết nhau huống hồ chỉ nguỵ tạo một đứa bé sơ sinh.
Nghĩ ra chuyện đó ông đau nhói trong tim. Nếu đúng vậy thì quả thực quá đau cho ông. Cái đứa bé vẫn nằm trong nôi đặt trong phòng mẹ ông ở dưới quê mà mỗi lần có dịp về thăm ông đều bế lên hôn hít ôm ấp như khúc ruột của chính mình chẳng hoá ra lại là con thằng khác. Y nghĩ đó làm ông tức muốn ói máu. Ong chỉ muốn phóng xe về tận nơi, lôi cô cái con Doan phản bội kia để hỏi cho ra nhẽ. Thế rồi khi nhận ra đó cũng chỉ là giả thiết, ông lại cố xoá nó đi để vùi đầu vào công việc cho quên đi mối nghi ngờ đau đớn đó.
Thế rồi sau cùng cũng tới cái buổi sáng đẹp trời ông Bí thư huyện buộc phải lên xe cùng bà vợ để tới bệnh viện phụ sản lấy kết quả thử ADN. Ong Bí thư huyện đã từng được coi một cuốn phim chiếu trên ti vi về một ông Giám đốc cũng trong tâm trạng hồi hộp đến quặn thắt tới bệnh viện để lấy kết quả xét nghiệm máu. Nhưng khác với ông Bí thư huyện lấy kết quả thử ADN, ông Gián đốc kia lấy kết quả thử máu để coi mình có dính bệnh AIDS – căn bệnh thế kỷ – không ? Khi có kết quả dương tính, trời đất như quay cuồng, sụp đổ trong con mắt ông Giám đốc.
Ong Bí thư huyện khi ngồi ở phòng chờ lấy kết quả xét nghiệm nhớ lại đoạn phim ông đã coi và tự hỏi nếu có kết quả thằng bé không phải con ông, liệu trời đất có quay cuồng trong con mắt ông như ông Giám đốc trong phim. Ong quên hết mọi chuyện, người cứ ngọ nguậy liên tục làm bà vợ ngồi bên phải kêu lên :
“ Ong cứ ngồi yên coi sao ? Làm gì mà sốt ruột quá thế ? Chỉ chốc lát thôi là mọi chuyện trắng đen rõ ràng mà…”
Ong đành cố gắng ngòi yên , mắt dán vào cửa buồng từ trong đó cô y tá sẽ đi ra và thông báo kết quả. Sau cùng cánh cửa cũng mở ra, cả hai vợ chồng ông Bí thư huyện  uỷ được lịch sự mời vào gặp bác sĩ xét nghiệm.
” Có kết quả rồi đây” – ông run lên lập cập ngồi xuống chiếc ghế cô y tá chỉ cho ông.
Không đầy 5 phút sau, một ông đeo kính trắng có vẻ là bác sĩ, ôm cặp giấy từ  bên trong bước ra, trịnh trọng ngồi xuống chiếc bàn cả hai vợ chồng ông Bí thư huyện uỷ đang nóng lòng ngồi chờ . Ong ta trạc ngoài 50 , mặt mũi trắng trẻo rõ ra là người trí thức. Ong đặt cặp giấy lên bàn. Giở ra la liệt giấy tờ. Xem đi xem lại từng tờ một như để kiểm tra lần cuối trước khi tuyên bố một chuyện hệ trọng.
Sau cùng ông bác sĩ cất giọng hỏi :
“ Ong tên là…..bà tên là…”
Cả hai vợ chồng ông Bí thư cùng cất giọng lễ phép một cách hiếm hoi trước nay chưa hề có :
“ Dạ đúng…dạ phải…”
Ong bác sĩ cất giọng tỉnh bơ :
“ Đứa bé này không phải con của bà…”
Ong Bí thư huyện uỷ vội vã :
“ Thế còn tôi…nó có phải con của tôi không ạ…”
Ong bác sĩ hạ một câu như bắn súng :
“ Không…không phải…nó cũng không phải con của ông…”
Ong Bí thư đau nhói ở trong ngực.tối sầm mặt mũi, lảo dảo muốn ngã làm bà vợ vội vã ôm lấy ông :
“ Kìa…ông làm sao thế ? Bình tĩnh chớ…mở mắt ra coi nào !”
Og Bí thư huyện mở hé mắt rên hư hừ :
“ Thế là tôi bị nó lừa rồi…đồ đểu…con đàn bà phản bội…”
Bà vợ giọng chì chiết :
“ Không phải con ông thì trả lại cho nó…đòi lại tiền…có gì đâu mà ông phải đớn đau sầu não vậy ?”
Ong Bí thư huyện nghiến răng :
“ Tôi phải giết…tôi phải giết nó…”
Bà vợ bật cười :
“ Nói phét…ông nói phét thì có…ông thì giết được ai…có nó giết ông thì có đấy…”
Ong Bí thư vẫn nói như mê sảng :
“ Tôi sợ gì không giết nó…nó lừa tôi…trời ơi…nó lừa tôi…”
Ong Bí thư  lảm nhảm và bước đi như người mộng du làm bà vợ hoảng quá phải đưa ông vào nằm phòng cấp cứu. Cũng may bà vợ đã lo xa nên giấu biến chức vụ của ông khi đưa ông tới bệnh viện không thì cả cái phòng cấp cứu sẽ tràn ngập cán bộ huyện  uỷ và uỷ ban huyện tới thăm .
Tất nhiên khách thăm chen nhau nhìn mặt ông Bí thư huyện  uỷ  không phải lo cho sức khoẻ của ông mà chính là tò mò hỏi cho biết vì sao ông quan đầu huyện lại nằm cấp cứu ở bệnh viện phụ sản ?
Lúc đó chuyện đồng chí Bí thư huyện bỏ tiền ra thuê đẻ sẽ lan ra khắp huyện  với đủ thứ đồn đại của miệng lưỡi người đời. Nào là đẻ thuê bằng cách nào ? Thụ tinh trong ống nghiệm hay là thụ thai…trực tiếp. Như vậy chẳng hoá ra đồng chí Bí thư huyện quan hệ nam nữ bất chính . thậm chí mắc tội hủ hoá hoặc chí ít cũng vi phạm luật hôn nhân mà Đảng và Nhà nước đã quy định chặt chẽ mỗi người chỉ có một vợ hoặc một chồng.  Nào là đẻ thuê như vậy hết mấy trăm triệu ? Tiền công quỹ hay là tiền túi đồng chí Bí thư huyện uỷ. Và nếu là tiền túi thì lấy đâu ra khi lương bí thư cấp huyện chỉ ngang lương Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện tức khoảng 6 – 7 triệu/tháng ?
Oi chao ôi nếu sự việc diễn ra đúng như vậy thì ông Bí thư huyện mất chức là cái chắc, còn bà vợ thì chắc không có lỗ mà chui, phải dọn nhà khỏi cái huyện xép này lên tỉnh mà sống thì may ra mới tránh được búa rìu dư luận.
Ngồi ở phòng cấp cứu chờ đức ông chồng lai tỉnh mà ruột gan bà vợ ông Bí thư huyện cứ rối bời bời. Bà cho gọi ngay mấy tên gia nhân thân tín đến đứng trấn cửa bệnh viện hễ thấy cán bộ nào trong huyện lảng vảng tới dò hỏi tin tức ông Bí thư huyện thì lập tức phải dập ngay và đuổi tụi nó đi nơi khác, tuyệt đối không để lộ chuyện ông Bí thư huyện đang nằm phòng cấp cứu. Bà lại cẩn thận bắt thằng lái xe đánh xe chạy xa khỏi bệnh viện, không cho đậu trước cổng, chỉ khi nào ông Bí thư huyện tỉnh lại, lên xe được thì bà sẽ điện thoại cho lái đánh xe tới.
Chuẩn bị kỹ lưỡng vậy mà bà Bí thư huyện uỷ vẫn ruột nóng như lửa đốt. Bà cầu trời khấn phật cho ông mau mau tỉnh lại lên xe về nhà ngay khỏi lộ chuyện ông phải nằm cấp cứu vì nghe tin đứa bé ông thuê đẻ không phải con ông thì lôi thôi to.
Bà đang lo lắng bồn  chồn như vậy bất chợt từ ngoài cửa bước vào một ông to béo mặc đồ bác sĩ và hai cô y tá sầm sầm đi tới. Vừa tới gần giường ông Bí thư huyện nằm , ông to béo cuống queo la lên :
“ Trời đất ơi…sao lại để đồng chí Bí thư huyện nằm đây…”
Rồi ông quay sang bà vợ ông Bí thư huyện :
“ Chào chị ạ…em vừa đi hội chẩn về nghe lính tráng nó báo có đồng chí Bí thư huyện ghé đây em bán tín bán nghi vội chạy xuống hoá ra là thật…”
Bà vợ ông Bí thư huyện sợ hãi :
“ Ay chết…xin bác sĩ be bé cái miệng cho…nhà tôi không muốn ai biết ông ấy tới đây…”
Ong bác sĩ to béo ưỡn ngực :
“ Chị yên tâm…em sẽ tuyệt đối chấp hành ý kiến của chị. Em xin tự giới thiệu em là bác sĩ Giám đốc bệnh viện…”
Bà vợ ông Bí thư huyện thở hắt ra. Lôi thôi to rồi. Giám đốc bệnh viện mà biết tin nhất định định hắn sẽ phải báo cáo lên cấp trên, cấp trên nhất định phải báo cáo lên thành uỷ, thế là mọi chuyện  vỡ lở, chắc chắn ông Bí thư huyện sẽ bị rầy rà. Rồi cái xảy nảy cái ung, biết đâu chẳng vì chuyện này mà ông mất chức cũng nên.
Bà vội vàng kéo ông Giám đốc bệnh viện vào góc buồng, nhỏ giọng :
“ Tôi có chuyện này muốn đề nghị bác sĩ được không ?
Ong Giám đốc kêu lên :
“ Ây chết…sao chị nói thế ? Chị cần gì cứ ra lệnh, bất kỳ chuyện  gì em cũng giải quyết được hết…”
Bà lắc quày quạy :
“ Không cần, tôi không cần gì hết, tôi chỉ cần bác sĩ Giám đốc tuyệt đối giữ kín tung tích ông nhà tôi thôi.Đây là chuyện nội bộ gia đình, tôi muốn tuyệt đối giữ kín không muốn lộ chuyện ra ngoài…”
Ong Giám đốc bệnh viện toét miệng ra cười :
“ Tưởng chuyện gì . Quá dễ …Chị khỏi lo đi… em sẽ xin giữ kín như bưng. Bí mật nội bộ mà.”
Bà vợ ông Bí thư căn dặn :
“ Vẫn biết vậy rồi. Nhưng tôi đề nghị bác sĩ Giám đốc Viện không cần báo cáo lên cấp trên. Việc này coi như chỉ có tôi với Giám đốc biết thôi. Như vậy có được không ?”
Bà vợ ông Bí thư chỉ hai cô y tá đang lấy mạch và huyết áp cho ông Bí thư huyện, giọng lo lắng :
“ Tôi sợ hai cô y tá kia trống mồm lắm…”
Ong Giám đốc chối bai bải :
“ Khong không, chị không sợ, hai cô ấy có biết ai với ai đâu ?”
Bà vợ ông Bí thư huyện lo lắng :
“ Biết chứ sao không ? Lúc mới vào bác sĩ Giám đốc chẳng kêu toáng lên là sao để đồng chí Bí thư huyện nằm đây là gì ?”
Ong Giám đốc ngẩn mặt ra :
“ Ừ nhỉ…chút nữa em quên mất. Nhưng chị không lo, em sẽ chỉ thị cho hai cô ấy sẽ ba không : không nói , không nghe, không biết. Vậy được chưa ?”
Bà Bí thư gật đầu :
“ Nếu hai cô quán triệt ý kiến chỉ đạo của thủ trưởng thì tốt quá, chỉ sợ …”
Bác sĩ Giám đốc vội vàng :
“ Yên trí…chị yên trí…nhất định em sẽ làm cho hai cô đó quán triệt tầm quan trọng lớn lao của việc này để hai cô không bép xép …”
Rồi để bà Bí thư huyện yên tâm, ông vẫy hai cô y tá lại gần :
“ Hai cô có biết bệnh nhân nằm kia là ai không ?”
Cả hai đồng thanh :
“ Báo cáo Giám đốc đó là đồng chí Bí thư huyện uỷ ạ…”

                                               (còn tiếp)



ĐỖ QUYÊN - Trung-Việt Việt-Trung - Truyện - KỲ 18



                                                  (tiếp theo)     

Trong học vấn, Thiết Ngôn vốn không xỏ nhầm giầy người khác. Giầy dịch thuật và ngôn ngữ đã vừa vặn rồi. Dân tộc học, đây chẳng rành chút nào, nói thẳng là chí ghét. (Mấy lần quên kể: bạn gái đầu đời của Ngôn tôi thời sinh viên đã bỏ tôi theo một giáo sư dân tộc học!). Tôi kể các chuyện tung ra giả thuyết mới về nguồn gốc người Việt, người Trung chỉ vì chúng xảy ra gần vụ giàn khoan. Thế thôi. Chứ trong khoa học, các giả thuyết sinh ra chết đi, như trong văn học nghệ thuật với các trường phái. Hơi đâu mà để tâm cho nặng tim.

Trước khi xong vụ 3 nhà dân tộc học Việt tận tụy vì lịch sử giống nòi Việt là Tạ Đạo, Hà Văn Thúy (giàn khoan đã rút, Trung-Việt tạm đuề huề, nhưng hai bác này vẫn còn uýnh nhau trên mạng, vui lắm!) và Đỗ Kiên Cương, xin nói lại đôi chút kiến thức phổ cập. Để cho vấn đề nó được rõ rành rành như canh nấu hẹ…

Đến giờ phút này, chưa kịp xem phần tiếng Trung, bên tiếng Việt của Từ điển Wikipedia tôi chưa thấy các khảo cứu của 3 bác đó được bổ sung vào 2 hạng mục “’Người Việt’ và ‘Nguồn gốc các dân tộc Việt’.
Vẫn đang trơ gan cùng tuế nguyệt nơi đây 3 giả thuyết chính về nguồn gốc người Việt, dựa trên 2 quan điểm bản địa và thiên di.

Theo thuyết thiên di, một số học giả Pháp cho rằng người Việt xưa đã phát tích từ giống gốc Mông Cổ ở xứ Tây Tạng dọc theo sông Nhị Hà tràn xuống miền bắc và miền trung của đất Việt ngày nay; (tuy nhiên trong các năm qua nhiều kết quả từ khai tích, khảo cổ và sử sách cho thấy thuyết này sai lầm).
Cũng theo thuyết thiên di, từ sử sách hai nước Trung-Việt, giả thuyết khác được công nhận rộng rãi nhất: người Việt cổ có gốc từ hạ lưu sông Dương Tử tới vùng Bắc Việt gồm nhiều nhóm gọi chung người Bách Việt. Khi người Hoa Hạ tràn xuống chiếm lãnh thổ, các nhóm này bị đồng hóa dần với người Trung. Chỉ duy nhất nhóm Lạc Việt ở miền Bắc Việt tồn tại làm nên tổ tiên của người Việt hiện đại.

Theo thuyết bản địa, trong đó có nhà dân tộc học Pháp L. Finot và nhà khảo cổ học Việt Hà Văn Tấn, thì người từ xứ Ấn chạy tới quần đảo Indonesia rồi vòng lại bán đảo Mã Lai, Thái Lan đến định cư tại đồng bằng Bắc Bộ và hợp với giống Mongolian từ Tây Tạng kéo xuống để sinh hạ ra người Việt cổ.

* *
À nữa, với nghiên cứu gia Hà Văn Thúy, tôi nghe các sếp lớn nói Tổng cục An ninh văn hóa Trung vừa bổ sung một văn bản mới vào hồ sơ mật. Bài này phải nói là thú vị. (Thì cũng từ lấy từ trang mạng xuống, mật mỡ gì đâu nhỉ? Vào vanhoanghean.info.vn gặp liền.) Tiện, dẫn lại cho nữ sĩ tỏ. Tôi rút gọn, lược các chỗ chuyên môn sâu và không kiểm duyệt các chỗ nhạy cảm Trung-Việt Việt-Trung.

            ‘Tường trình về nẻo đường 14 năm ngậm ngải tìm trầm - Nguồn gốc dân tộc Việt:

Gần 45 năm trước, quyết định bỏ cái nghề vi trùng học được đào tạo đàng hoàng ở nước bạn Liên Xô, bắt đầu cầm bút viết văn tôi nhủ đáy lòng đầu tim: Muốn thành nhà văn chân chính phải tìm hiểu lịch sử dân tộc từ cội nguồn; còn muốn  đoạt giải Nobel, bét ra cũng phải thấu tường lịch sử nước nhà 500 năm qua.
Không hài lòng với các tài liệu chính thống cũng như không chính thống mà tất cả đều theo thuyết của Viễn Đông Bác Cổ, tôi cảm thấy xấu hổ và không thể tin tổ tiên của tộc Việt mình không chỉ là dân Tàu lai lại còn phạm tội tổ tông diệt chủng sắc tộc tiền nhiệm là dân bản địa Nguyên Đông Dương.

Thế rồi một ngày đẹp trời của năm 2000 - một thiên niên kỷ mới của nhân loại và biết đâu cũng là một kỷ nguyên khai minh nguồn gốc dân Việt - vô tình tôi coi thấy một đoạn tin nói rằng: loài người chỉ có quê hương duy nhất là Đông Phi và người tiền sử từ châu Phi theo ven biển Nam Á tới Đại Việt từ 70.000 năm trước.
Khi ấy đang ở Cà Mau, đêm tôi nằm mơ cầm bài báo chạy tuốt ra tận ngoài Hà Thành tới hồ Hoàn Kiếm và reo to: ‘Ơ-rê-ca! Độc lập dân tộc đây rồi! Cơm áo là đây!’ Tâm trí tôi tỏa sáng, dạ bảo bụng: nếu thực vậy thì phát minh này không chỉ làm chao đảo lịch sử phương Đông mà còn biến đổi thân phận dân tộc Việt. Nhờ ông bạn Gu Văn Gồ tốt bụng và thông minh, tôi xác minh thông tin trên là tin cậy.
Rồi sau 15 phút suy nghĩ, tôi vứt thẳng tưng vào ngăn kéo tập bản thảo tiểu thuyết dang dở và kỳ vọng ứng cử viên Nobel, đoạn ra bàn thờ song thân thắp hương nguyện dồn góp hết tâm sức, thời gian, tài sản, thậm chí cả hạnh phúc gia đình nếu cần, vào công cuộc tìm nguồn gốc dân tộc.

Trong 14 năm, như độc giả cũng biết ít nhiều, tôi cho xuất bản 6 đầu sách: Tìm Về Cội Nguồn Văn Hóa Việt (2004), Con Đường Tìm Lại Cội Nguồn (2006), Về Cội Nguồn Bằng Di Truyền Học (2008), Người Việt Là Ai (2009), Viết Lại Lịch Sử Trung (2011), Hành Trình Lịch Sử Văn Hóa Việt (2014). Bốn cuốn đầu đều của nhà xuất bản Văn Học Dân Tộc, đến 2 cuốn sau thì cạn tiền, may có Amazon nó phát hành miễn phí trên liên mạng không thì công toi.

Bản tường trình này là kỷ niệm 14 năm của đêm mơ ‘Ơ-rê-ca!’ từ Cà Mau chạy một mạch về Thủ đô, như một niềm tri ân những đồng nghiệp, độc giả từng cộng tác và ủng hộ cũng như những vị phê phán, bài bác.

Bốn câu hỏi trong 14 năm tôi từng đặt ra: 1. Tộc người đầu tiên hiện diện trên đất Đại Việt là ai? 2. Vào khoảng thời gian nào? 3. Họ từ đâu tới? 4. Việc tiến hóa, di chuyển thế nào để trở thành người Việt chủng Mongoloid phương Nam ngày nay?

Với tôi chỉ câu hỏi đầu là có sẵn lời đáp: Từ cuối thế kỷ 20 chúng ta có kết quả rằng, thoạt kỳ thủy 2 đại chủng Australoid và Mongoloid có mặt trên đất nước ta. Từ khoảng 30.000-4.500 năm trước, duy nhất người Australoid tồn tại. Nhưng từ 4.500 năm trước, người Mongoloid xuất hiện trở lại và chiếm đa số dân cư, trong khi đó, người Australoid dần biến mất. Như vậy, qua khảo cổ và cổ nhân chủng học, hiện nay chúng ta chỉ biết thực trạng dân cư Đại Việt và Đông Nam Á từ khoảng 30.000 năm trước tới hiện nay.
Nhấn mạnh: theo tôi thấy, chính vì chưa trả lời được 3 câu hỏi cốt yếu trên mà từ những năm 1970, nền khoa học nhân văn Đại Việt bị khủng hoảng.

Có 3 nghiên cứu chính được công bố trong 15 năm qua giúp tôi xây dựng giả thuyết của mình. Đó là công trình Quan Hệ Di Truyền Của Dân Cư Trung của nhóm Giáo sư P. Chu; sách Cuộc Hành Trình Của Loài Người của J. Wells.; và công trình Rời Địa Đàng Chiếm Mặt Đất của T. Oppenheimer. Cả 3 nhóm tác giả đều khẳng định con người xuất hiện đầu tiên tại Đông Phi khoảng 160.000-180.000 năm trước.
Kết hợp nhiều nghiên cứu khác, tôi mạnh bạo đề xướng luận điểm mới toanh như sau về nguồn gốc tộc Việt: 70.000 năm trước, hai đại chủng Australoid và Mongoloid từ châu Phi theo ven biển Nam Á tới thềm Biển Đông của Đại Việt. (Nhấn rất mạnh: Biển Đông của Đại Việt!). Tại đó họ giao lưu hòa huyết sinh ra 4 chủng người Việt cổ Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid, mà người Lạc Việt Indonesian làm đầu đàn về ngôn ngữ, xã hội… Rồi khoảng 50.000 năm trước, người từ Đại Việt di cư ra các đảo Đông Nam Á, sang Ấn Độ, Miến Điện... Đến khoảng 40.000 năm trước, người Việt đi lên chinh phục Trung, và 30.000 năm trước qua eo biển Bering chiếm lĩnh châu Mỹ. Nhấn tương đối mạnh: Giáo sư Chu và các vị khác chỉ nói về ‘người Đông Nam Á’ nói chung, tôi nói về ‘người Việt’ cụ thể.

Thế là 3 câu hỏi đầu đã được trả lời. Hy vọng ít tháng tới tôi sẽ có thể cập nhật về vấn đề đã nêu trong sách: Vì sao một thời gian dài người Mongoloid biến mất; từ đâu và lý do gì khiến người Mongoloid trở lại vào thời Kim khí để thành dân cư Đông Nam Á hiện nay?

Về nguồn gốc người Hoa Hạ. Đây là kết quả thống khoái của tôi. Xưa nay, người Trung cho rằng tổ tiên mình là người Hoa Hạ. Thế nhưng 2 câu hỏi tiên quyết người Hoa Hạ là ai, hình thành sao vẫn còn là câu hỏi.
Giả thuyết của tôi: sau cuộc xâm chiếm phía nam sông Hoàng Hà lập nhà nước hoàng đế, người Mông Cổ hòa huyết với dân bản địa Mongoloid phương Nam, sinh ra nhóm người tự gọi là Hoa Hạ. Do giao lưu được hai nền văn minh, Hoa Hạ trở thành lớp người ưu tú cai trị xã hội và dựng ra thời kỳ hoàng kim trong lịch sử Trung từ Nghiêu, Thuấn… đến Thương, Chu... Do số lượng ít lại chung sống với người Việt đông đúc, người Hoa Hạ dễ dàng được Việt hóa cả về huyết thống lẫn văn hóa. Trong hơn 2.000 năm, các triều đại Hoa Hạ chỉ chiếm vùng đất nhỏ ở lưu vực Hoàng Hà và bị vây quanh bởi các bộ lạc hay quốc gia Việt: người Tây Nhung, Ba Thục, Đông Di và nhà nước Văn Lang ở nam Dương Tử. Khi nước Văn Lang tan rã, các nước Việt, Ngô, Sở xuất hiện và xung đột với các nước Thương, Chu… Cuối thời Chiến quốc, các bộ lạc Tây Nhung người Việt lập ra nhà Tần, diệt lục quốc và xây dựng vương triều Tần. Từ khi nhà Chu bị diệt, tầng lớp Hoa Hạ hết vị trí lãnh đạo và hòa nhập trong cộng đồng Việt đông đảo của vương triều Tần. Thủ lĩnh người Việt nước Sở là Lưu Bang đã diệt nhà Tần, lập vương triều Hán. Trên thực tế, từ thời Tần-Hán, đại đa số dân Trung là người Việt. Dù không có quan hệ huyết thống với hoàng đế nhưng vì muốn hưởng hào quang của người Hoa Hạ trong quá khứ, nên các vương triều Trung về sau vẫn tự nhận là Hoa Hạ.

                                     (còn tiếp)



Thứ Hai, 27 tháng 7, 2015

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 81





                                                (tiếp theo)           

- Lấy được hài cốt cùng thẻ bài của 2 phi công đó rồi thì bọn tui mới nhờ người thảo đơn gửi sang tòa đại sứ Hoa Kỳ bên Bangkok-Thái Lan ở số 131 đường Soi Tien Shan gì đó... Anh Chu cũng gửi đơn cho thân nhân bên Mỹ biết nhưng người đó lại phải nhờ các người Việt khác nữa thì mới liên lạc được với viên chức trong chính phủ biết về các hài cốt tụi tui đang cất giữ. Đơn thì lớp phải chịu giá cao nhân viên bưu điện mới chịu gửi thư an toàn cho, lớp thì nhờ người xuất cảnh mang đi gửi giùm... Ôi thôi mọi thứ tốn tiền lắm mà rồi cứ nghĩ khi chính phủ Hoa Kỳ biết về các bộ hài cốt thì họ sẽ cho người đến tiếp xúc với mình ngay nên cũng ráng chịu các phí tổn. Gia đình tui, gia đình anh Chu cùng gia đình các anh khác... sẽ được chính phủ Mỹ cho định cư ở nước họ hết cả thẩy trong một ngày không xa. Ai cũng nghĩ vậy nên ngay cả những người mà thân nhân anh Chu bên Mỹ nhờ liên lạc, cũng buộc tụi tui phải ghi tên của bà con họ đang còn ở Việt Nam vào bản danh sách người tìm ra 2 bộ hài cốt thì họ mới chịu giúp. Chờ rất lâu, tụi tui mới nhận được các hồi báo từ chính phủ Mỹ và khi nhờ người dịch ra tiếng Việt rồi ai nấy đều thất vọng vì không ngờ kết cuộc như vậy. Hồi báo nào cũng một nội dung chính phủ Hoa Kỳ quan niệm vấn đề tìm kiếm tù binh Mỹ mất tích cũng như hài cốt quân nhân Mỹ tử trận tại Việt Nam là một cố gắng có tính nhân đạo. Tại Việt Nam, những ai biết tin tức về các vấn đề này nên lập tức thông báo đến các cơ quan hữu trách chính thức của chính phủ. Tóm lại, chỉ với tinh thần nhân đạo, những người nào biết tin tức về quân nhân Mỹ mất tích hoặc hài cốt Mỹ sẽ không được hưởng ân huệ đặc biệt nào, và sẽ không nhận được bất cứ phần thưởng hay sự giúp đỡ nào từ chính phủ Hoa Kỳ. Chú nghe có nản không... Chẳng được gì hết lại còn khuyên mình nên đi báo cho công an biết ngay. Ai mà dám.

- Làm sao mà báo cho công an được, bị bắt là cái chắc. Tôi tán đồng.

- Đúng! Ông Nhật gật đầu rồi nói: " Tụi tui bàn nhau là không nên vì thực tế công an Việt Cộng ngoài mặt làm ra vẻ hợp tác với chính phủ Hoa Kỳ trong việc tìm kiếm tung tích quân nhân Hoa Kỳ thất tung tại Việt Nam nhưng đồng thời, họ âm thầm trừng phạt rất nặng với bất kỳ ai dính líu vào các vụ hài cốt Mỹ. Đã có người tìm được hài cốt Mỹ, rủi để công an biết và người đó đã bị nhốt tù với lý do khơi lại vết đau của các bà mẹ liệt sĩ Việt Cộng. Rõ ràng tâm lý thù ghét chính quyền Mỹ vẫn còn trong não trạng của công an. Thấy sự việc mình tính đi vào ngõ cụt, tụi tui thất vọng chẳng biết làm gì về 2 bộ hài cốt đó ngoài việc cất kín trong nhà. Cứ vậy cho đến khi ngoài xã hội rộ lên vụ mua bán hài cốt Mỹ với giá cao làm anh em tụi tui bất hòa vì có người muốn nhân cơ hội này bán đi sẽ kiếm được tiền, bù cho chi phí đã bỏ ra khi đào. Tui và anh Chu không đồng ý nên nội bộ gây lộn với nhau. Bán đi, biết đâu có khi hai nước Hoa Kỳ-Việt Nam bang giao với nhau, họ cho người đến nhận thì làm gì còn hài cốt mà nộp? Anh Chu và tui thuyết phục các anh bạn kia rằng cả bọn mình đứng tên trong các lá đơn đó nên không thể bán hài cốt được nhưng họ khăng khăng không nghe. Cuối cùng, anh Chu đành phải đưa cho mấy người họ một bộ để họ muốn làm gì thì làm, coi như tình bạn bè đã mất và không còn dính dáng đến chuyện hài cốt nữa ".

- Rồi ông vượt biên sang đây một mình với... nó. Còn ông bạn tên Chu gì đấy, bây giờ ra sao?

- Anh Chu chơi với bạn bè rất được... Phải công nhận! Bảo tui cứ giữ lấy bộ hài cốt và khuyên nên mang nó theo khi vượt biên, đến trại tị nạn gặp phái đoàn Mỹ may ra sẽ dễ dàng hơn ở bên quê nhà. Bây giờ anh ấy cũng đang chờ đi bảo lãnh sang Mỹ.

Nói tới đây ông Nhật đưa cho tôi xem tấm hình chụp 2 cái thẻ bài của viên phi công Mỹ mà ông đã tìm được và mang theo. Chỉ vào tấm hình, ông giải thích: " Thẻ bài Mỹ cũng như thẻ bài của quân nhân miền Nam VNCH đều làm bằng loại thép Inox không rỉ và chỉ khác nhau ở chỗ của Mỹ có khắc thêm phần tôn giáo người mang nó. Chú thấy hàng chữ Baptist thì có nghĩa người phi công này theo đạo Tin Lành ". Ông Nhật cũng cho tôi xem một ve thủy tinh cỡ bằng lọ chao đậu phụ cho người ăn chay trong có chứa chút xương nhỏ, vài cái răng, những sợi tóc cùng ít bột trắng xám lụn vụn ở dưới đáy. Ông Nhật thổ lộ: " Hài cốt của phi công Mỹ đây, mang theo bên mình trên ghe, tui khấn ông ta phù hộ đến được trại tị nạn để tui có dịp trả ổng về lại cố hương. Tui tin là ổng sẽ giúp tui được đi định cư sớm ".


Kể xong chuyện, ông Nhật ngồi thừ một chỗ, khuôn mặt đầy vẻ buồn như vừa mới thổ lộ tâm tình với linh hồn viên phi công Mỹ đang lảng vảng chung quanh. Tôi cũng yên lặng, chia xẻ niềm tâm linh của ông và trước khi chia tay, hứa sẽ thảo lá đơn sơm sớm để có cho ông gửi phòng JVA mà trong trí nghĩ phần số con người ở thời chiến thật mong manh như một cái chớp mắt.

Buổi tối ngày thứ Bẩy khi ngồi ở quán nước của bác sĩ Luân, tôi thuật lại chuyện của ông Nhật thì anh Khảm bảo: " Máy bay đó chắc cháy từ trên trời cho đến khi phải đâm đầu rớt xuống đất và anh nghĩ phi công đã chết trong cockpit nên họ mới không thể bung dù thoát hiểm. Còn hài cốt, hồi còn bên quê nhà anh từng nghe các chuyện này. Thực ra do đám chính khách Mỹ muốn lấy lòng dân chúng Hoa kỳ cả thôi và có thể đây cũng là dịp để họ thăm dò thái độ bọn đầu lãnh Cộng Sản nước mình. Từ những năm cuối thập niên 80 thì chính phủ Hoa Kỳ đã phái cựu tướng John Vessey sang Việt Nam nói để bàn chuyện thu nhặt hài cốt và truy tìm tung tích tù binh Mỹ còn sống. Thời chiến tranh Cao Ly, quân nhân Mỹ bỏ xác bên nước đó thiếu gì mà họ có để ý mấy đến đâu... Đấy là người đã chết, anh còn biết có những người vượt biên đến Mỹ báo tin đã trông thấy tù binh Mỹ còn sống khi bị tù cải tạo ở nơi nào đó trong rừng sâu Bắc Việt mà chính phủ Mỹ vẫn phớt lờ, coi đó là tin thất thiệt. Ngay ở trại Galang này, cũng có người báo cho phòng JVA biết về chuyện đã thấy tù binh Mỹ còn sống và kèm theo các bằng chứng mà chẳng ăn thua gì. Cái ông Nhật mà em kể nhờ thảo tờ đơn, anh nghĩ ông ta đã hy vọng quá cao về hài cốt mang theo... nhưng biết đâu ".

- Sao kỳ vậy. Bộ chính phủ Hoa Kỳ không thương dân họ sao? Tôi thắc mắc.

- Chính phủ nước nào cũng phải thương dân nước họ trước. Có dân thì mới có chính phủ, đó là lẽ thường tình của con người vì máu chảy, ruột mềm và tình đồng bào với nhau. Chính phủ mà không biết thương dân thì chỉ là bọn cơ hội, kiểu đục nước béo cò để vinh thân phì gia thôi. Còn nếu em hỏi sao chính phủ Hoa Kỳ không thương đến tù binh Mỹ còn sống vất vưởng đâu đó thì thực sự, có thể vì đầu óc thực dụng của bọn chính trị gia luôn nghĩ đến các mối lợi từ quan hệ thương mãi trước mắt nên đành lờ đi các chuyện báo cáo này. Nên nhớ Hoa Kỳ là một quốc gia hợp chủng và không có người nào là người Mỹ chính cống cả. Sắc dân Mỹ chính cống! Nếu ta nhận có thì thực sự chỉ là người thuộc các sắc dân da đỏ trong các bộ phim cao bồi viễn Tây-Hoa Kỳ. Còn riêng với dân tị nạn Việt Nam mình, bây giờ thì Hoa Kỳ vẫn chưa chấp nhận chuyện cưỡng bức hồi hương nhưng mai hậu có thể sẽ có ngày đấy đấy. Biết đâu! Do vậy, em, Đỉnh và Yến ráng cố gắng vượt qua được cuộc thanh lọc như anh chị bây giờ... Chẳng biết gì về nhiều về thời cuộc nhưng có lúc anh nghĩ thuyền nhân Việt, ít nhiều cũng là nạn nhân của bọn chính khách Mỹ.

Anh Khảm cho biết thay vì đi định cư Mỹ thì chị Phượng lại chọn đi Úc vì chị có giấy bảo lãnh của thân nhân bên đấy gửi sang. " Phượng gốc là nhân viên bộ Dân Vận-Chiêu Hồi trước đây nên thuộc diện đi Mỹ ", anh tư lự vài phút rồi trải lòng: " Thấy Phượng xin đi Úc thì anh buồn lắm vì em biết có lúc anh muốn ngày nào đó sẽ gặp lại Phượng ở Hoa Kỳ. Còn Phượng cũng thế, dù bảo với anh như vậy đủ rồi... Dầu sao anh và Phượng cũng một thời gian sống chung với nhau ở đây, khác gì vợ chồng nhưng mà anh còn... trách nhiệm với gia đình bên quê nhà nữa. Thà rằng đừng biết nhau thì hơn, có lúc anh đã nghĩ vậy nhưng cuộc đời cũng khó nói trước lắm phải không Vũ, em thấy sao? Cho anh một lời khuyên, một lời góp ý... Phải làm gì bây giờ? ".

Tôi ngồi yên không trả lời, thầm nghĩ anh Khảm gặp lại chị Phượng tại Hoa Kỳ để làm gì khi mà chị Hoa và 2 đứa con bên quê nhà rất cần bảo lãnh sang sống chung nữa. Nhưng đúng như anh vừa nói, cuộc đời cũng như chuyện tình cảm nam nữ khó nói trước lắm. Đổ cho tại anh ham hố, đèo bòng hay tại cái số anh và chị Phượng phải gặp nhau trong chuyến vượt biên để sống chung! Chẳng biết phải khuyên, góp ý thế nào nữa trong chuyện tình cảm của anh với chị Phượng đây! Vì, ngay cả chuyện của bản thân mình và Yến, tôi cũng chưa biết nó sẽ ra sao sau này.

Biết trước chuyến định cư ở đệ tam quốc gia thường sẽ đến đột ngột nên cũng giống khá nhiều người trong trại sau khi được Cao Ủy ban cho vé tị nạn, anh chị Khảm-Phượng bàn nhau sẽ đi sang Tanjung Pinang để mua sắm ít quần áo, giầy dép, túi xách... Yến nhân dịp này cũng rủ tôi và Đỉnh cùng đi chung một chuyến với họ cho vui vì vé tàu cao tốc giá chỉ có 15.000 Rupias không cao lắm. Đỉnh thì lắc đầu, nói với tôi là anh có Yến cùng đi quá vui rồi còn em chỉ một mình sang đó làm chi cho tốn tiền. Tanjung Pinang là hòn đảo mà chúng tôi đã ghé vào rồi gặp chiếc ghe chở 225 người khi trước. Tôi ngần ngại vì bản thân không sẵn tiền dù thực lòng cũng muốn đi sang đó một chuyến cho biết. Nói cho Yến nghe thì nàng bảo là đã đi với chị Phượng đến phòng An ninh P3V mua vé xong xuôi cả rồi.

Chuyến đi Tanjung Pinang nào cũng đều vào buổi sáng thứ Bẩy và về lại Galang lúc chiều tối cùng ngày. Chung với những người khác, tôi, Yến và anh chị Khảm-Phượng đứng tập trung ngay đầu con dốc giữa zone 3 và zone 4, Galang 1 về hướng cầu tàu để chờ chiếc xe tải chở khách của phòng An ninh P3V. Trời vẫn còn mờ mờ tối dù đồng hồ tay đã gần 7 giờ sáng, sương khuya đọng ướt trên các bờ cây, bụi hoa của những căn nhà đóng kín cửa sát bên cạnh đường. Anh Khảm cho biết tàu cao tốc chạy hơn 1 giờ đồng hồ thì sẽ đến Tanjung Pinang và mỗi chuyến đi chỉ chở khoảng 60 người. " Lúc đi thì không sao, chỉ khi về mới chật chội vì đa số người mình sang đó để mua hàng về bán lại kiếm lời ". Chiếc xe đến, nhóm chúng tôi cùng các người khác lục tục trèo lên nhanh chóng. Xe chạy và dừng lại ở nhà thương đế đón thêm người rồi tiếp tục trực chỉ hướng cầu tàu. Đến nơi, tất cả người trên xe cùng kéo xuống cầu tàu bê tông và trình vé cho nhân viên của con tàu đứng kiểm tra nơi khoang cửa. Mới vài tháng trước đây, tôi và Yến cũng từ cầu tàu bê tông này để lên bờ nhập vào trại làm dân tị nạn Galang. Tôi quay nhìn chung quanh, những căn nhà của người bản xứ nằm im lìm dọc theo các lối đi nho nhỏ. Không một bóng người lai vãng, chỉ duy nhất một con chó đang chạy thong dong trên đường nhựa lớn. Cảnh vật buổi ban mai ở khu vực cầu tàu Galang nầy thật êm ả, vắng lặng. Nào ai biết phía sau những căn nhà ở đây, chạy sâu tuốt vào bên trong đảo là một xã hội Việt Nam thu gọn với đủ dạng người tứ xứ của mảnh đất hình chữ S đang sống kiếp tha phương, chờ ngày mai đến mà chưa rõ số phần sẽ tốt hoặc xấu hơn cho cuộc đời mình.

Theo số ghi trên vé nên tôi, Yến cùng anh chị Khảm-Phượng ngồi chung một dãy ghế sát với khoang cửa sổ kiếng tròn nhưng kiếng lại khá cao nên không thể ngắm cảnh bên ngoài được. Thêm các đợt khách khác xuống dưới khoang tàu cao tốc và cứ vậy cho đến khi tài công nổ máy để khởi hành. Thân tàu run run nhẹ nhưng ai cũng cảm thấy nó chạy với tốc độ rất nhanh. Ngồi bên Yến, thấy nàng có vẻ mệt nên tôi hỏi nhỏ: " Em có bị sao không? Nhức đầu? Muốn ói? ". Yến mỉm cười, lắc đầu, nhìn tôi trìu mến và nói:

- Tàu cao tốc chứ đâu phải ghe vượt biên bên Việt Nam mình?

Tôi biết nàng đang hồi tưởng về chuyến đi của ngày hôm ấy. Hai đứa tôi cũng gần kề bên nhau như bây giờ, Yến lại hỏi:

- Lúc đó anh có ghét em không khi đã ói đầy vào người anh?

Một câu hỏi mà nàng đã hỏi tôi nhiều lần rồi và lần nào tôi cũng trả lời như bây giờ: " Lúc đó anh cũng mệt lắm, biết em là ai mà ghét được nhưng khi biết rồi thì anh lại... thương ".

Phạm Thắng Vũ
(còn tiếp)

Tôi nắm lấy tay Yến và khẽ bóp nhẹ nhưng nàng vẫn để yên không hất ra mà chỉ hé mắt nhìn rồi đảo đầu về hướng anh chị Khảm-Phượng như một nhắc nhở, đề phòng. Biết điều nhắn nhủ đó nhưng tôi vẫn giữ tay nàng trong yên lặng, suy nghĩ về lần kể với Đỉnh việc tay trong tay như bây giờ, nó đã nói: " Yến như vậy là thương anh lắm, cần gì phải hỏi cho mất công. Nếu em là anh, tùy tình hình, cứ từ từ hoặc mạnh bạo lấn tới sẽ xong ngay thôi. Con gái, chịu để yên không chống cự khi con trai nắm tay, ôm hôn... là thương rồi đó cha ". Tuy Đỉnh nói vậy nhưng trong lòng tôi vẫn thắc mắc, muốn biết Yến có thương mình thật không? Đã yêu ai thì người ấy thường luống cuống và có khi làm trò cười với... đối tượng vì những cử chỉ vụng về của mình. Tôi chắc cũng vậy khi cúi người xuống sát gần bên, định hỏi cho biết nhưng Yến chợt ngẩng mặt lên, khẽ lúc lắc đầu và kêu nhỏ:

- Ôi! Anh ơi! Em bắt đầu chóng mặt rồi đây nè. Kỳ quá đi!

Thấy thế, tôi cuống quýt kéo Yến ngã hẵn người sát vào thành ghế và bảo nàng hãy ngước mặt lên phía trần của khoang tàu sẽ dễ chịu hơn. Nàng làm theo liền nhưng cảm giác rung chuyển rần rật từ đôi chân cho tôi biết tàu cao tốc đã tăng tốc độ nhanh hơn và đó là lý do đã làm cho Yến chóng mặt. Bên cạnh nàng, anh chị Khảm-Phượng cũng một tư thế dựa ngửa thân mình, hai mắt nhắm nghiền như đang trong giấc ngủ. Họ cũng một cảm giác như Yến? Có lẽ chỉ mình tôi còn khỏe dù cũng cảm thấy đôi chút bần thần trong người. Tôi mong chuyến đi mau đến Tanjung Pinang sớm hơn.

- Tàu cao tốc này chở người đi định cư nha mấy ông. Mình đi nó hôm nay là lấy vận hên sau này... Biết đâu! Tiếng một người nói lớn.

Liền ngay sau đó, trong tiếng nhạc oang oang từ dàn loa của khoang tàu, tiếng người khác trả lời:

- Thôi đi cha nội! Nó cũng chở người hồi hương về Việt Nam chứ bộ... Vớ vẩn hên với xui.

Tiếng người trò chuyện trong khoang hầm dần dần ít hẳn rồi sau cùng chỉ còn tiếng máy tàu kêu ù ù chung với tiếng nhạc loa. Nhìn chung quanh trong ánh sáng lờ mờ của khoang hầm tàu, trừ vài người vẫn thao láo mở mắt nhìn còn hầu hết ai cũng nhắm mắt ngủ như để xua đi cái cảm giác chống chếnh, say sóng khi đi trên biển. Yến bên tôi cũng vậy, nàng yên lặng trong hàng mi đen nhắm nghiền trên khuôn mặt ngước lên trần khoang hầm. Ngắm nhìn khuôn mặt nàng, tôi hồi tưởng lúc kề cận bên nhau trong khoang ghe vượt biên chật hẹp và dường như mùi dầu xanh con Ó, mùi chua của nước chanh, mùi béo của hủ tiếu, của thịt nướng cùng mùi dầu cặn chạy ghe trong ngày hôm đó đang phảng phất đâu đây. Chợt Yến hé mắt nhìn tôi, thì thào: " Lần nào đi tàu, em cũng chóng mặt sợ muốn chết được. Cố hết sức mà vẫn không thoát ". Cái hé mắt giống như lúc hôm đó làm tôi nhớ lại hình ảnh cùng cái mùi khủng khiếp trong khoang hầm cá lớn nhưng giờ đây hoàn cảnh đã khác. Tôi sẽ không còn cảm thấy phiền hà những gì nếu Yến làm với tôi giống như lúc hôm đó mà thay vào đấy, lại sẵn sàng chịu đựng cho nàng. Tôi đã thương Yến rồi, quá thương... nên sẵn lòng làm những gì cho nàng vui và tránh các thất thố để có thể bị hiểu lầm. Đỉnh chưa yêu ai nên nó không biết tâm trạng của tôi mà cứ xúi làm chuyện bạo với Yến. " Mình cứ chờ xem đến lúc nào đó thì Đỉnh sẽ có người thương, rồi sẽ biết nó đối phó ra sao ", tôi mỉm cười với ý nghĩ trong đầu.


                                           (còn tiếp)

Chủ Nhật, 26 tháng 7, 2015

ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ - Tiểu thuyết NHẬT TUẤN - KỲ 14

Mười ba.


Một cây gỗ bắc ngang làm cầu qua con suối nước xanh làm bọn tôi dừng sững lại. Thằng hộ pháp đang cõng ba lô và chiếc máy VTĐ reo tướng lên:
“Tắm đi, tắm đi chúng mày ơi”.
Trừ ông toán trưởng, cả bốn đứa tôi trần truồng lao ào xuống nước chẳng kể gì đến lạnh buốt đang khứa vào da. Trời đất, dễ đến nửa năm mới được vùng vẫy thỏa thuê, kỳ cọ kỹ càng đến thế. Người nhẹ bỗng đi vì sức nước, vì bao nhiêu đất cát bám trên người đã trôi đi hết, tôi nằm ngửa trên mặt suối lâng lâng trong cảm giác rũ tuột được thân xác còn lại cái phần hồn đang bập bềnh trong cõi hoang sơ giá lạnh.
Tie. ng còi và tiếng quát eủa ông toán trưởng lôi tôi về thực tại:
“Lên thôi, lên thôi, không cảm lạnh chết hết cả giờ”.
Tháng học giả chạy lên trước tiên cười hô hố:
“Những bốn ông A Đam mà chẳng có lấy một bà E Và.”
Thằng hộ pháp chạy sát lưng thằng cấp dưỡng và làm cái gì đó làm thằng này vừa xua tay ra sau đít vừa chửi ầm ĩ. Tôi bật cười nhảy cẫng lên cho đỡ rét rồi cũng bắt chước chúng nó, tôi lục ba lô ra bộ quần áo sạch nhất, lành lặn nhất. A... dẫu sao cũng phải ra mắt các cô gái trong bản với cái vỏ bảnh bao tý chút chứ. Thằng hộ pháp soi mặt xuống nước xòe năm ngón tay làm lược chải hết tóc ra sau, lúc lắc cái đầu:
“Chà, giờ có vài giọt nước hoa rảy rảy lên tóc thì phải biết...”
Tôi ngước nhìn và ngạc nhiên về sự thay đổi của nó. Chiếc sơ mi màu trứng sáo ôm khít lồng ngực vạm vỡ, chiếc quần ka ki bó chặt đôi hông nở, mắt sáng lên, tươi tắn, thật khó nhận ra cái thằng “voi đực” quần áo lấm lem, vá chàng vá đụp, huỳnh huỵch mang vác leo rừng lúc sáng. Và chẳng riêng gl nó, cả thằng học giả, thằng cấp dưỡng, và cả tôi nữa cũng thế, đứa nào đứa ấy như mới lột xác trở thành những trang nam nhi công tử, thật cứ như mới từ thành phố đi trực thăng đổ bộ xuống nơi hoang dã vậy.
“ Mẹ kiếp, khôi ngô tuấn tú cả thế kia mà cấm không cho lại gần đàn bà, có phí không cơ chứ...”
Thằng học giả lại lên tiếng khích bác. Ông toán trưởng quay đi vờ như không nghe thấy, thoáng trên gương mặt một vẻ áy náy, ngường ngượng như chính ông là người có lỗi trước bốn thằng con trai khỏe mạnh, tươi tắn đang đứng đàn ngang trước mặt ông. Ông chợt gắt lên:
“Thôi, đi tiếp... khẩn trương lên.”
Con đường mòn càng lúc càng dẫn chúng tôi vào vùng thoáng đãng, hai bên sườn núi đã thấy những mảng nương mới phát, nhưng lều canh cao lênh khênh. Bầu trời như cao hẳn lên, doãng rộng ra, trôi nổi những làn mây trắng và tịnh không thấy một bóng chim. Càng đi gần tới bản, cái im ắng hoang vu càng làm tôi bồn chồn. Nỗi ám ảnh bất an gây nên bởi tiếng chó tru đêm qua lại đè nặng trong tôi và rồi khi qua hàng rào thấp ngăn trâu bò, bước vào bản, tất cả chúng tôi dừng sững cả lại. Trên khoảng đất bằng phẳng rộng mênh mông, những dãy nhà vách nứa nằm nôi đuôi nhau san sát, những ống dẫn nước cao lênh khênh, những máng lợn khoét từ thân cây gỗ... tất cả nằm im lìm dưới ánh nắng trưa gay gắt. Thằng hộ pháp khum hai bàn tay đưa lên miệng hét váng:
“U... oa... u... oa... có ai đó không?”
Tiếng gọi của nó vang vang khắp bản và vách núi vọng ngược lại thành những tiếng oa... oa... kéo dài. Nó cứ gọi mãi, gọi mãi nhưng không ai trả lời. Ông toán trưởng ra lệnh cho tôi và thằng cấp dưỡng xách súng đi sâu vào bản.
Tôi rụt rè bước đi trên nền đất trần, chân dẫm lên những thanh củi cháy dở, những đám cứt dê lổn nhổn khô cứng. Thằng cấp dưỡng lò dò xách súng nhìn ngang nhìn ngửa, kéo tay tôi thì thào:
“Sao im quá vậy mày? “.
“Giờ này có lẽ họ đi làm nương hết.”
“Nhưng ít ra cũng còn người già, trẻ con ở nhà chứ...”
Nỗi lo của nó lan cả sang tôi khi hai đứa qua những căn nhà rỗng không, cỏ đã mọc xanh các lối vào., những cối giã gạo đổ nghiêng, vài hạt thóc rơi vãi đã mọc mầm, những hàng dậu đổ, chỏng chơ những ống bương đựng nước... Tôi đạp cửa bước vào một căn nhà ngay sát đường. Mùi ẩm mốc thoảng lên trong cái hoang vu không người, không đồ đạc, không súc vật, không có gì hết ngoài cái bếp giữa nhà đã nguội lạnh vung vãi tro tàn. Tôi sục sạo thêm vài căn như thế rồi đành thở dài, kéo thằng cấp dương quay lại chỗ đầu bản, nơi ông toán trưởng vẫn ngồi chờ. Nỗi thất vọng chúng tôi mang về làm ông tái mặt:
“Vô ly... cả cái bản lớn này không một bóng người thì thật lạ.”
Thằng học giả bỗng đập hai tay vào nhau reo lên:
“Thôi đúng rồi, đồng bào ở đây đã xuống núi định canh định cư làm ruộng, thôi không phá rừng làm rãy nữa. Chủ trương chính sách Nhà nước mới ban hành mà...”
Ông toán trưởng lắc đầu, không tin vào phỏng đoán ấy, ông vẫn ngơ ngác nhìn quanh cố tìm một giải thích khác. Thằng hộ pháp mặt buồn xo, giờ mới lên tiếng:
“Có kiếm được cái gì bỏ bụng không mày?”
“Có đấy, mày có nhá được cứt dê khô thì xin mời, nhiều vô kể.”
Thằng cấp dưỡng cười khẩy, dựa súng vào bờ rào rồi ngáp một cái rõ dài. Thôi thế là bao nhiêu mộng tưởng rượu nồng, lợn béo theo ngọn gió mà bay đi hết, mặt buồn rười rượu, chắc nó nghĩ tới bao gạo lép kẹp, chiều nay biết lấy cái gì bỏ vào nồi. Bây giờ thì tám điều kỷ luật eủa ông toán trưởng chẳng còn ý nghĩa gì nưa, suốt cả buổi chiều chúng tôi chia nhau đi lục lọi các căn nhà trống khắp trong bản cũng chỉ ôm về được vài bắp ngô mọt và ít củ sắn khô gác bếp cứng như đá. Thằng hộ pháp vác về mấy cây mía non mọc dại bên bờ dậu, quẳng xuống đất lầu nhầu:
“Mẹ kiếp, cái dân ở đây cấm thấy bỏ quên được thứ gì cho mình nhai được.”
Thằng cấp dưỡng khuân đâu về một cái thùng sắt sơn xanh, ném xuống chân thống học giả, cười nhếch mép:
“Tao mang cái thùng thư về cho mày tha hồ bỏ thư cho con búp bê...”
“Đừng có trêu gan tao, đang sôi tiết lên đây.”
Cơn giận bùng ra, thằng học giả co chân đá tung cái thùng thư ra sân và nếu tôi không can, hẳn nó đã xông tới đấm túi bụi vào mặt thằng cấp dưỡng. Nỗi thất vọng ghê gớm làm cả bọn phát khùng dường như chỉ cần một cái cớ nho nhỏ cũng đủ xúm vào nhau đấm đá. Ông toán trưởng giống như một người thuyền trưởng dày dạn kinh nghiệm khi thủy thủ đoàn sắp nổi loạn, vội vàng lệnh cho thằng cấp dưỡng đục một hộp thịt dự trữ để “bồi dưỡng sức khỏe anh em” sau một đợt chuyển quân mệt nhọc. Vậy cũng không làm chúng tươi lên được chút nào. Thằng hộ pháp lẩn đi đâu đó, mãi gần bửa ăn tôi mới bắt gặp nó đang đứng ngẩn ra rất lâu ở bến tắm. Nó nhìn dòng nước chảy lặng lờ, mắt sáng trưng như mới phát hiện ở dưới đó thứ gì quý giá lắm.
“Nhiều cá lắm phải không?”
Nó quay lại kéo tay tôi, thì thào:
“Mày biết không, trước đây bọn đàn bà nó tắm ở đây đấy. Mày đã được thấy tụi nó tắm lần nào chưa? Này nhé, có cứ cuộn váy cao dần cao dần, đội lên đầu rồi cứ thế ào xuống nước, chẳng có che đậy gì, mình tha hồ đứng xem thỏa thích...”.
Tôi thộp lấy ngực áo nó lay mạnh:
“Thôi đi về ăn cơm. Tao tưởng mày yêu con vợ thằng xã đội lắm kia mà. Sao còn nghĩ tới con khác?”
“Ấy, tao vừa nghĩ tới nó đấy. Mày biết không tao tưởng tượng ra nó đang tắm ở đây...”
Tôi lôi nó đi, mặc nó lảm nhảm những điều cái đầu đang bốc lửa của nó tưởng tượng ra. Nỗi thất vọng làm con người ta điên khùng như thế đấy. Bỏ đi hết đúng vào lúc chúng tôi tới, cái đám dân bản Mù U này đúng là chơi chúng tôi một quả trời giáng. Bữa ăn chiều có món rau sắn nấu thịt hộp cũng chẳng làm nở được một nụ cười trên miệng thăng nào. Thằng hộ pháp mọi ngày mồm miệng nói như vặt rau, vậy mà bữa nay nó lầm lì cầm bát cơm trệu trạo như bò nhai lại. Thằng họe giả bưng bát ra góc ngồi, vừa ăn vừa trừng mắt với ai đó, thằng cấp dưỡng bẽn lẽn múc canh vào bát vẻ như có lỗi đã không nấu được một bữa “trâu luộc cả con” nó đã hứa hẹn trước hôm vào bản. Tội nghiệp nhất là ông toán trưởng, cảm thấy mọi hờn giận của bọn nó đang chĩa cả vào mình ông cúi mặt xuống bát cơm, bối rối nhặt một hạt rơi xuống đất, đôi vai gày guộc nhô lên như trách nhiệm để cho cái bản Mù U này chuyển đi đang đè nặng lên cổ ông. Sau bữa ăn, không chịu nổi không khí câm lặng, nặng nề, tôi đâm phát cáu:
“Chúng mày làm gì như đưa đám cả thế? Không lợn gà không đàn bà con gái thì đã chết được đâu. Bao nhiêu tháng sống không dân đã sao nào? Chưa chi đã nhũn hết cả lại thế kia...”
“Đúng đấy, đàn ông đàn ang gì mặt cứ như cái bánh đa nhúng nước. Tươi tỉnh lên, tối nay tao cho chúng mày một chầu sắn nướng.”
Hóa ra thằng cấp dưỡng tìm thấy một nương sắn non, cỏ tốt um, dân bản bỏ lại và chẳng kể gì tám điều kỷ luật, nó nhổ phứa lên được một rổ. Nó hỏi tôi có nên xin ý ông toán trưởng không, sắn còn nhiều, nhổ cả tuần ăn không hết, tôi bảo nó tốt nhất đừng có hỏi, eứ để ông ấy đánh bài lờ còn hơn buộc ông ấy quyết định thì ắt hẳn ông ấy phải cấm. Tôi nhẹ người, vậy có cái sống được người rồi, khỏi lo xuống núi bỏ dở cuộc hành trình như tối đã thoáng nghĩ tới lúc đặt chân vào bản không người. Buổi tối chúng tôi chọn căn nhà rộng nhất, sạch nhất, đốt lên đống lửa và nhai những cu sắn nướng thơm phức. Thằng cấp dưỡng bưng một đĩa sang nhà bên nơi ông toán trưởng ở ma bọn tôi gọi là nhà Ban chỉ huy. Lúc quay về nó cười nhăn nhở:
“May quá, ông ấy không hỏi sắn lấy đâu ra, chỉ gật đầu cám ơn.”
Thằng hộ pháp lúc này đã bớt lầm lì, nói buông thõng:
“Chết đói đến đít rồi, nội quy con mẹ gì nữa...”
Thằng học giả trầm ngâm từ tối, giờ mới lên tiếng:
“Chúng mày có thấy ở đây có chuyện lạ không? Đã gọi xuống núi định cư thì họ phải có kế hoạch chuẩn bị từ trước chứ, vậy sao còn trồng sắn để phải bỏ lại Tao nghi cái bản này bỏ đi đột xuất quá”.
“Đột xuất hay kế hoạch gì thì nó cũng đi hết rồi. Có dở hơi như mày mới nghĩ ngợi chuyện đó”.
“Tao lo nhỡ ra có phỉ gần đây họ phải chạy thì sao? Lúc đó mình có mỗi khẩu súng gỉ thì chống đỡ thế nào?”
Thằng hộ pháp bĩu môi:
“Phỉ có tới thì dù súng tốt mày cũng hàng trước tiên.
“Tao biết, bụng càng nhiều chữ, dạ càng hèn”.
Tôi phải can hai đứa kẻo cãi nhau cả đêm cũng chẳng thằng nào chịu thằng nào, ai gan ai hèn cứ phải lâm trận mới biết được, nói suông cái miệng ai chẳng anh hùng.
Đêm đó giữa lúc còn ngủ lơ mu, bên tai tôi bất chợt lại vẳng tới tiếng chó tru. Tôi ngồi bật dậy, đúng tiếng chó sủa gần chứ chẳng còn xa xôi mơ hồ như đêm qua nữa. Bếp lửa đã tắt ngỏm, bọn nó đều ngủ cả, ngay thằng học giả cũng leo lên võng từ sớm, thôi không viết thư nữa. Tiếng chó im bặt, khi tôi đặt mình xuống, nó lại cất lên rền rĩ, ai oán như cái chết đang rình rập nó. Không, tôi không thể mạo hiểm ra ngoài dó rất có thể thằng học giả nói đúng về sự lẩn khuất của bọn phỉ, nhưng tiếng chó chốc chốc lại tru lên như cái lưỡi dao cùn cứa vào những sợi thần kinh không sao chợp mắt. Hôi còn ở trường thanh niên vừa học vừalàm tôi có nuôi một con chó hoang bị đàn chó nhà cắn gần chết ngay đầu làng. Khi nhìn con chó tôi ôm về, lông trụi sạch, ghẻ lở đầy người, đầu nứt toác, bê bết máu, mấy đứa trong tổ khăng khăng không cho tôi mang vào nhà. Tôi vội xuống bếp, xin eô cấp dưỡng một cái bu gà, che chắn tạm thành chuồng mãi sau vườn. Từ hôm đó bát cơm sau cùng trong bữa ăn, bao giờ tôi cũng giành lại cho con chó. Nó lành da rất nhanh, lông mọc trở lại, con Mực của tôi đã từ bỏ cái máu đi hoang, yên phận ẩn dật sau vườn để ngày hai buổi, sau tiếng kẻng hết giờ làm việc, nó được quấn quít với tôi cho tới khi mọi người phát hiện ra sự tồn tại của nó đi ngược lại chủ trương tăng gia sản xuất của nhà trương. Ai cũng tự ý nuôi riêng gia súc thì có loạn? Tinh thần tập thể ở đâu? ông Trưởng ban tăng gia gọi tôi lên bảo thế. Tôi thưa với ông, nếu vậy tôi xin góp con Mực vào trại chăn nuôi của nhà trường để nó được trở thành sở hữu tập thể. Ông trưởng ban ngẫm nghĩ một hồi rồi lắc đầu, trong danh mục chăn nuôi của nhà trường chỉ có gà, vịt, ngan, ngỗng và lợn, không có ngoại lệ dành cho nó, tốt hơn hết, ông khuyên tôi nên hiến con Mực cho bếp ăn tập thể. A, thà tôi thả nó đi hoang còn hơn đưa vào cái lò sát sinh ấy. Ông trưởng ban cười nhạt, được, nó là sở hữu của cá nhân cậu, cậu muốn làm gì tuỳ cậu. Ông nhấn mạnh hai chữ cá nhân và ra lệnh cho tôi phải giải quyết gấp vụ con chó, nếu không sẽ mất điểm thi đua tổ học tập. Buổi chiều hôm đó tôi lại ra sau vườn, con Mực thấy tôi lại quen lệ nhảy cẫng, vẫy đuôi rối rít. Tôi chờ nó ăn xong mới bảo: “Tao cũng muốn nuôi nấng mày tử tế mà chẳng được, thôi đành trả mày về kiếp đi hoang”. Nói rồi tôi vỗ vỗ mấy cái vào người nó và quẳng nó qua hàng rào, phá bỏ cái chuồng tự tạo, mang trả lại bu gà cho cô cấp dưỡng. Ấy thế rồi chiều hôm sau đi tha thẩn sau vườn, tôi lại gặp nó nằm đó, thấy tôi nó lại cuống lên mừng rỡ. Tôi lấy cơm cơm cho nó ăn rồi lại đành quẳng nó qua rào. Ba hôm liền như vậy cứ đuổi đi nó lại tìm mọi cách quay về. Cho tới một buổi chiều đi làm gô về tôi nghe tin người ta mới bắt được con chó hoang, chui rào đuổi gà trong vườn. Tôi vội phóng xuống bếp và lặng người, con Mực của tôi bị trói gô cả bốn chân lẫn mõm nằm dưới đất chờ bác cấp dưỡng mài dao. Thấy tôi nó không sủa được chỉ vẫy đuôi và nhìn tôi với đôi mắt lồi ra và ướt nhoẻn. Nhung tôi làm gì được, nó đã là con chó hoang bị người ta bắt chứ không còn là con Mực “sở hữu cá nhân “của tôi nữa. Tôi bất lực quay đi, bỏ bữa cơm chiều và suốt mấy ngày liền tôi không dám ra vườn sau, đôi mắt con chó cứ nhìn tôi vừa vật nài vừa uất hận trong mấy đêm liền mất ngủ.
                                   (còn nữa)


PHỤ LỤC :

                              CÙNG NHẬT TUẤN ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ

                                                            
                                                                              NGUYỄN NGUYÊN BẢY

                               (Trích)

Theo một số nhà lý luận phê bình văn học bậc mét, thì đây chỉ là cuốn truyện dài, không phải tiểu thuyết. Để tránh những thanh cãi không đáng có ngay từ dòng mở đầu bài viết, tôi đã xin phép Nhà văn Nhật Tuấn, gọi tác phẩm Đi Về Nơi Hoang Dã của anh là cuốn Văn Dài, 268 trang kể là dài, một cuốn văn dài đáng đọc, đáng tôn vinh, với riêng tôi, đây là cuốn văn dài hay nhất, chuông khánh nhất, thức tỉnh nhất của Văn Đàn Việt Nam kể từ khi tôi biết đọc sách đến nay.
Cái hay khởi ngay từ tựa đề sách, tựa đề lại chính là thông điệp sách, chính là thông điệp tác giả gửi đến người đọc. Một thông điệp đay đi đay lại, tàng ẩn hư thực nghĩa, đọc một lần nhớ lâu, nghĩ mãi, nhớ nghĩ cho đến vỡ nghĩa đa chiều, rồi thấm mà nhận thức, mà ngộ ra thông điệp. Thực đúng lý của câu chuyện, tựa đề phải là : Đi Về Nơi Thiên Đường. Nhà văn Nhật Tuấn cao tay, đã không lộ mình và lộ văn như một số nhà văn viết và in sách thể tài này trước anh, như Xuân Vũ với Thiên Đường Treo hoặc Dương Thu Hương với Thiên Đường Mù. Anh gọi tên cuốn sách của mình là Đi Về Nơi Hoang Dã.
Nơi Hoang Dã theo cách gọi của Nhật Tuấn lại chính là Nơi Thiên Đường, trong sách là đỉnh Hua Ca. Hành trình lên đỉnh Hua Ca (thiên đường) là hành trình gồm ba khúc thức (tỉnh thức), nói cách khác 268 trang sách miêu tả truyện này truyện khác đọc vắn, đọc nhanh,cốt truyện cũng chỉ là ba khúc thức,dẫn lại dưới đây:
………
Văn dài Đi Về Nơi Hoang Dã không có cốt truyện, không có nhân vật, không có tình yêu nảy lửa, sét đánh, tay ba, tay tư tranh dành chụp giựt..nói tóm, là không có những cái/ thứ mà các tiểu thuyết xưa nay dụng biến. Nhật Tuấn đã viết một thứ văn dài hay tiểu thuyết kiểu Nhật Tuấn, mới, lạ, không giống ai và quan trọng là đã thành công. Có thể gọi đó là tiểu thuyết luận giảng hay tiểu thuyết dịch lý. Tôi nghiêng về ý sau: Tiểu thuyết dịch lý. Dịch lý ngay từ thông điệp đến bố cục, đến nhân vật đến văn phong. Nói vậy không cố ý định văn pháp Nhật Tuấn, càng không ẩn ý thăng hoa Nhật Tuấn  như một kỳ tài, mà là nói đúng theo cảm nhận thu hoạch của người đọc. Trường hợp ngay cả Nhật Tuấn cũng bất ngờ vì nhận định này, thì Tuấn ơi, hãy chắp tay cảm ơn Trời, đã ban cho Tuấn cái linh thần mà viết được sách Đi Về Nơi Hoang Dã với lý dịch mạch lạc, cao siêu và đầy nhân tính. “ Sẽ nói với nàng Sao rằng suối thần trên đỉnh Hua Ca chỉ có trong huyền thoại, tuy nhiên, Không Vì Thế Con Người Không Thực Bụng Yêu Nhau..”Câu văn này sâu cực ý nghĩa dịch. Một hạt dương hoan phối với một hạt âm mà sinh ra thai khí, mà thành con người, cứ thế, thành gia đình, thành quê hương, thành xã tắc. Dịch học gọi toẹt huyệt đàn ông gặp gỡ huyệt đàn bà là hoan phối, văn chương văn vẻ chữ hoan phối thành làm tình, thành yêu nhau, rồi mở rộng thành tình yêu. Như vậy chữ tình yêu ít nhất cũng bao gồm một cặp âm dương, yêu nhau để sống và để truyền giống mà con người còn mãi, còn mãi để yêu nhau. Như vậy, trong chữ Tình yêu tàng ẩn hai hạt cơ bản gây dựng nên nó, đó là hạt sinh tồn và hạt sinh lý. Chất lượng của hai hạt cơ bản này là thước đo cuộc sống, con người phấn đấu không ngừng để mức độ hai hạt cơ bản này cao dần, cao dần, cao cho tới mức mơ ước của con người, mức mơ ước ấy chính là thiên đường.
Ai trong Đi Về Nơi Hoang Dã đã đi về nơi thiên đường-đỉnh Hua Ca ấy? Mời theo văn của Nhật Tuấn, nơi trang 11: “ Chúng tôi có năm người, một ông già và bốn gã đàn ông lực lưỡng sẵn sàng làm chồng những cô gái khỏe mạnh, làm cha những đứa bé chập chững, làm chủ những gia đình vào chiều đông xám lạnh như chiều nay hẳn đang quây quần quanh bữa cơm nóng sốt. Vậy mà, đằng đẵng bao năm nay, chúng tôi bị quăng lên những đỉnh núi quanh năm mây phủ, không có cả đến tiếng chó, một bãi phân trâu, cái thứ ở dưới miền đồng ruộng kia, ta bắt gặp nhan nhản ngay khi chưa bước chân vào cổng làng..”
Vậy là có 5 người, nhấn mạnh 5 người. Số 5 nhân vật, rõ ràng, minh bạch thế này tất không thể là suy diễn, Nhật Tuấn đã tung ngũ hành vào hành trỉnh tìm kiếm thiên đường. 5 người này, tượng cho năm nhân vật (tạm gọi vậy) của truyện, mỗi nhân vật một hành. Ông già, nhân vật trưởng toán, là nhân vật tung tâm, thuộc thổ. Nhân vật Thằng học giả, tượng trưng cho trí, thuộc thủy/ Nhân vật  Thằng Hộ Pháp tượng trưng cho lễ (thành tích, cơ bắp) thuộc hỏa/ Nhân vật Thằng cấp dưỡng, tượng trưng cho nghĩa, thuộc kim./ Và nhân vật “Tôi”, thuộc nhân mộc. Nôm na, ngũ hành cũng là năm giai cấp chính trong xã hội: Công, nông, binh, trí, thương. Ngũ hành có tương sinh, tương khắc, mỗi hành phát huy hết năng lực của mình, điều tiết cân bằng, sinh khắc để tồn tại, để phát triển, để tiến hóa. Ví von về sự điều tiết sinh khắc: Trên sông (thủy) có con thuyền (mộc), trong con thuyền có bếp lửa (hỏa), cạnh bếp lửa có hũ gạo (thổ), cạnh hũ gạo có con dao (kim).. Trong Đi Về Nơi Hoang Dã,  ngũ hành người này chỉ là một toán, răm rắp tuân lệnh của toán trưởng, phạt cây, mở đường, ăn rắn ăn rết, đói khô mép khô môi, cắn rắng, cầm lòng ức nín mà hô khẩu hiệu tiến lên Đỉnh Hua Ca/ thiên đường. Chỉ có tiến lên, kẻ nào mở miệng bàn không tiến, nghi hoặc ‘đường đi không đến”, hoặc có đến thì đấy cũng chỉ là Đỉnh Hua Ca đầy sương mù và nước đọng bẩn thỉu..thì xích xiềng/xiềng xích/xích xiềng và cái chết nhơ bẩn, hổ cha, xấu mẹ, ô danh nguồn cội xóm làng..là một kết thúc. Vì thế, chỉ một con đường vượt núi, tiến lên đỉnh Hua ca huy hoàng. Tiến lên. Tiến lên ta lại tiến lên/ Tiến lên ta quyết vượt lên hàng đầu/ Hàng đầu chẳng biết đi đâu/ Đi đâu thì cứ hàng đầu tiến lên/ Nhất định phải tiến lên. Không được phép nghi ngờ cái sai lầm, cái lạc hướng của Một Ban Chỉ Huy vô hình, vô tích sự, ngây thơ, ngu dốt nào đó. Tiến lên hay là chết? Thật tiếc mà may, tiếc là tiếc ông già trưởng toán, vì sức cùng lực kiệt, mà gục ngã trước cổng thiên đường, và được chôn cất trang nghiêm trên đỉnh Hua Ca mà cả đời ông ước mơ lên tới đó. May là, toán 5 người cùng lên đỉnh Hua Ca, chỉ một người chết, 4 người trẻ còn lại đều sống sót, nhấn mạnh, cố ý sai văn phạm: 4 người chẻ còn nại đều xống xót! Lạc hướng thiên đường thì câu văn cũng phải xám hối , sai văn phạm là xám hối nhẹ như kiểu nức nở cười..Biết đâu những nức nở cười của tứ hành dân chúng này sang tai ầm vang đến Ban chỉ huy, lay thức cơn mê lú của họ về Lỗi Hệ Thống, Lỗi Chỉ Sai Hướng, Lỗi Dẫn sai Đường..để họ hiều là phải thành thực, phải dũng cảm đoạn tuyệt sai lầm, bắt đầu lại từ đầu như thế nào. Xin thêm một lần cảm ơn nhà văn Nhật Tuấn đã chuông khánh thức báo cái sai lầm của lỗi hệ thống cho mọi giới bạn đọc bằng thông điệp Đi Về Nơi Hoang Dã!