Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 30 tháng 6, 2014

CHUYỆN XƯA NAY MỚI NÓI - KỲ 12 : Hội nhà văn của nước ta – kỳ 3.





NHÂN ĐẠI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM  7 ( 23/25-4-05) :
                                      
                                 ( tiếp theo và hết)



 “ Mượn gió bẻ măng”, mượn lời mời của Tổng thư ký Hội nhà văn Hữu Thỉnh chính thức mời viết tham luận, Trần Manh Hảo hăng lên yêu cầu :

Những nhà quản lý văn học nghệ thuật của chúng ta hôm nay cần phải học được lối ứng xử  với nhà văn không hơn được thì ít ra cũng bằng với ông cha, mới hy vọng có tác phẩm lớn. Xin thực hiện đúng cương lĩnh “ TỰ DO SÁNG TÁC” của Đảng và Nhà nước vẫn ban hành , xin bớt bớt giùm đi các cấp trung gian , quan tâm tới nhà văn vượt mức các chỉ tiêu trên giao thì quý hoá biết là chừng nào…”

Chỗ này người ta thấy rõ TMH xỏ xiên, vu cho Đảng là có cương lĩnh “TỰ DO SÁNG TÁC”; thực ra chưa bao giờ Đảng cho văn nghệ sĩ cái của quý hiếm ấy cả, Đảng chỉ cho họ cái quyền “tự do sáng tác” theo…định hướng xã hội chủ nghĩa mà thôi nói vắn tắt là chỉ được phép viết những gì “có lợi” cho sự ổn định chính trị của Đảng .

Bài tham luận của Trần Mạnh Hảo được đọc theo lối  “diễn tuồng” giọng trầm giọng bổng khiến đại biểu vỗ tay ào ào và làm ông Tổng thư ký hội Hữu Thỉnh ngồi trên ghế Chủ tịch đoàn cứ giật mình thon thót. Ong nhớ lại lời một vị trong Ban tuyên huấn thành uỷ TP Hồ Chí Minh khi Trần Mạnh Hảo “quay cờ” bán hải ngoại trở về với Đảng “:” chúng tôi đã có kinh nghiệm về những tên “sọc dưa”, không thể tin được bọn chúng…”. Chí lý thật, cứ tưởng TMH đã trở thành “con đê chắn sóng cho Đảng”, thành người chiến sĩ trên mặt trận văn hoá văn nghệ, ngờ đâu nhè đúng ngay diễn đàn Đại hội nhà văn để mà “trở mặt” cấu Đảng mới gay. 
Quả nhiên ngay buổi chiều tan họp, ông Đào Duy Quát, Phó ban tư tưởng văn hoá đã tới gặp Tổng thư ký uốn nắn :
” Ong Thỉnh, ông làm gì mà ghê thế ? Ngày mai Tổng bí thư tới dự họp các ông phải liệu liệu…”
Tất nhiên ông Hữu Thỉnh phải vâng dạ rối rít và hôm sau , ngày Đại hội họp chính thức,  có Tổng bí thư và cả 6 ông Uỷ viên Bộ chính trị tới dự, ông đã bố trí hàng loạt tham luận của các nhà văn “cháu ngoan bác Hồ” nhằm gỡ  tội đã để lọt hai tham luận của Hoàng Quốc Hải và Trần Mạnh Hảo làm bẽ mặt các quan.

Trước hết  nhà văn cao tuổi Nguyễn Gia Nùng lên diễn đàn phê phán hai bài tham luận của hai ông Hải và Hảo chỉ nói tới “tự do sáng tạo” mà quên đi “trách nhiệm công dân”. Ong yêu cầu “tự do” và “trách nhiệm” là hai thứ phải luôn song hành, tất nhiên phải hiểu đó là trách nhiệm  với Đảng. 
Nữ thi sĩ đồng bằng sông Cửu Long tên là  Kim Quyên lên tham luận nhiệt liệt ca ngợi…”sếp” Hữu Thỉnh bay ra bay vào như một cánh chim không mỏi để khuấy lên “phong trào sáng tác “ ở miền  Nam. 
Nữ thi sĩ TP Hồ Chí Minh tên là Thu Nguyệt cũng bày tỏ  sự không đồng  tình với các tác phẩm đi sâu vào mặt trái của xã hội bằng đưa ra cái mẹo “đau Nam chữa Bắc”, tức nhà văn không nên đi thẳng vào các chuyện “ tham  nhũng, thiên tai lũ lụt, lớp trẻ sa đà ăn chơi…” mà chỉ nên viết về những cái đạo lý cao cả như một anh nhà văn công an không viết về tội phạmlại chỉ chuyên viết về…Phật.  . 
Nữ văn sĩ cũng TP Hồ Chí Minh tên là Trầm Hương cũng lên diễn đàn đòi :
Tôi muốn viết “ Hoa cúc kim” – một tiểu thuyết về người phụ nữ cải nam trang trốn sang Trung Quốc dự khoá học do bác Hồ đào tạo. Tôi muốn viết bộ tiểu thuyết sử thi về Mậu Thân 1968 đầy bi tráng…”
Các đại biểu nhà văn Nam bộ – trong đó có cả ông Giám đốc khách sạn kiêm nhà văn Lê Thành Chơn chẳng những “gỡ tội” cho sếp  Hữu Thỉnh mà còn vinh danh Hội nhà văn đòi đuổi ra khỏi đại hội kẻ nào đã bêu xấu Hội trong thời gian qua (ám chỉ nhà văn Nguyễn Huy Thiệp) làm các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng ngồi nghe cứ rạng rỡ cả mặt mày .

Tuy nhiên không phải nhà văn nào cũng vỗ tay khen bài tham luận của Trần Mạnh Hảo nhất  những người hiểu rõ tính cách  “thợ quay” của nhà thơ. Trong bữa ăn ở Đại hội, nhà văn Thái Bá Lợi , đại biểu Đà Nẵng nhận xét :
Thằng Hảo nó …chửi mồi”. 
Cuối buổi chiều ngày thứ hai, lợi dụng không khí đại hội chán nản phải nghe những tham luận “ ca ngợi truyền thống văn học cách mạng”, nhà văn kiêm điện ảnh Đỗ Minh Tuấn nhảy lên diễn đàn vạch mặt cơ hội chủ nghĩa của Trần Mạnh Hảo :

” Đó là một nhân vật điển hình cho kiểu lý luận đầu cơ trên lẽ phải thông thường, quy giản các quan hệ văn hoá học thuật thành quan hệ chính trị và đạo đức để quy chụp nặng nề những người có cách  viết khác với những gì được anh ta coi là bút pháp chính thống. 
Từ năm 1995 đến nay, Trần Mạnh Hảo đã viết nhiều bài  xuyên tạc, bóp méo, bôi bẩn, quy kết đạo đức chính trị hàng loạt tác phẩm có tìm tòi về thi pháp như các tập thơ Mùa sạch của Trần Dần, Bóng chữ của Lê Đạt, 99 tình khúc của Hoàng Cầm, Người đi tìm mặt của Hoàng Hưng, Sự mất ngủ của lửa của Nguyễn Quang Thiều, tiểu thuyết Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà…Cái cách phê bình kiểu Trần Mạnh Hảo và sự o bế của những người lãnh đạo văn hoá văn nghệ đã biến anh ta trở thành một vấn đề xã hội bức xúc trong giới cầm bút vì nó đã gián tiếp hạn chế tự do sáng tác một cách tinh vi và có hiệu quả khi nó tạo ra một môi trường văn hoá phê bình cộng sinh giữa những thái độ chính trị văn hoá bảo thủ thâm sâu và cái suồng sã hồn nhiên trơ tráo của một thứ văn chương cai lệ.

 Nếu như cây roi của các nhà chính trị bảo thủ trước đây chỉ quất vào mông văn nghệ sĩ như Tự Đức đòi đánh đòn Nguyễn Du, thì ngọn roi của Trần Mạnh Hảo lại quất vào tim những người cầm bút. Nằm trong chăn biết chăn có rận, là nhà thơ có chút tinh tế, tài hoa, sắc sảo, Trần Mạnh Hảo đã đem những phẩm chất thi nhân của mình len lỏi vào thâm cung chữ nghĩa trong tâm hồn người viết để thăm dò, tâu báo và khủng bố.
 Những người cầm bút phải dành thời gian tâm trí cho việc thanh minh, tự vệ truy lại thanh danh đã bị bôi bẩn và vì thế không còn tâm trí nghĩ về những chuyện lớn lao có tầm vóc toàn xã hội như tự do, dân chủ. Trần Mạnh Hảo là kẻ cướp đi nhiều tự do sáng tác của nhà văn, là cái roi ai đó đã dùng quất vào tâm hồn trí tuệ tự do của người nghệ sĩ, nay bỗng dưng anh ta lại la lối kêu ca về tự do sáng tác có khác nào vừa ăn cướp vừa la làng, đổ vấy tội lỗi của mình cho ai đó. Thật chẳng khác gì Chí Phèo lại có ngày la làng chửi bới những kẻ du côn đái vào miếu Thành Hoàng.

Trần Mạnh Hảo nói rằng văn nghệ sĩ là những người thấp cổ bé họng trong xã hội mà lẽ ra họ phải là Thượng đế trong chân trời sáng tạo của mình, nhưng hỡi ôi, trước đó không lâu cái kẻ văn nhân thấp cổ bé họng đó đã bị “anh gác chợ” Trần Mạnh Hảo cậy quyền cậy thế hoạnh hoẹ, lục soát văn thơ, sờ nắn khám xét từng dòng chữ, từng dấu phẩy để đong đếm từng tiếng cười tiếng khóc mà tri hô với Đảng về tư cách khả nghi của họ. 
Sau khi dùng những bài viết thô bạo và nguỵ biện để cướp đoạt được miếng đất tự do sáng tác, Trần Mạnh Hảo lại lớn tiếng bảo vệ miếng đất anh ta vừa cướp được, đó là cái cách thể hiện chủ quyền công khai để phi tang những hành vi cướp đoạt, tiến tới làm “sổ đỏ” cho miếng đất “bốn mặt tiền” anh ta có được sau ba lần trở cờ trắng trợn. Trên diễn đàn Đại hội, Trần Mạnh Hảo cũng phi tang việc anh ta sử dụng báo chí của công an làm nơi khủng bố văn nghệ sĩ  bằng việc la lối về công an văn hoá khiến ông Khổng Minh Dụ phải bước lên trên bục để thanh minh….”

Nhận định khái quát của Đỗ Minh Tuấn về Trần Mạnh Hảo đã được anh em bầu là câu nói hay nhất đại hội :” Trần Mạnh Hảo là cái ca-pôt rách của Đảng, giữ vệ sinh cho Đảng trong quá trình giao lưu văn hoá làm bạn với tất cả thế gian.
Tuy nhiên nhân vật gây cười nhất cho đại hội lại là …nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Sau khi chửi cha cả Hội nhà văn, người ta cứ tưởng ông sẽ nhổ bọt  đi chỗ khác chơi, nào ngờ ông vẫn hớn hở đến dự đại hội. Sau khi một số nhà văn miền Nam đòi đuổi kẻ đã “bêu xấu Hội nhà văn” ra khỏi đại hội, người ta cứ tưởng ông sẽ đùng đùng bỏ đi, nhưng không, ông vẫn ngồi ghế đại biểu và khi các nhà văn đổ xô đi  chụp ảnh với ông Tổng bí thư, ông chen bật đám đông, chiếm chỗ  gần  ông Nông Đức Mạnh nhất để được thu vào ống kính . Sau khi đã bị Trần Mạnh Hảo chửi như té nước  vào mặt trên một số báo, người ta tưởng ông sẽ không thèm nhìn mặt, ngờ đâu giờ giải lao ông vẫn bá vai bá cổ và mời Trần Mạnh Hảo đi nhậu. Thật chẳng còn hiểu ra làm sao .

Tuy nhiên, kết quả của Đại hội đại biểu Hội nhà văn lần thứ 7 thì có thể hiểu được một cách dễ dàng. Nó cũng như một buổi gặp mặt tổng kết 5 năm của một hội quần chúng của Đảng kiểu như Hội nuôi ong, Hội chim hoa cá cảnh vậy thôi. Phát biểu của các nhà văn dù là chính thống hay phi chính thống thì cũng theo gió mà bay lên trời cả. Mọi việc vẫn trôi theo kịch bản của ông…Vũ Như Cẫn, chiều hướng cơ bản của thời đại hiện nay.



                                                        
       N.T.






BÁC BA PHI ĐI THĂM MỸ - KỲ 116

                               (tiếp theo)


                                          Trước cửa lãnh sự quán Trung Quốc


Bác Ba Phi nêu thắc mắc :
“ Ong bảo ở Việt Nam cộng sản đội tiền lên đầu khiến đồng tiền huỷ hoại tất cả. Vậy tôi hỏi ông ở bên Mỹ này, người ta có coi đồng tiền là thống soái không ?”
“Lão già” bật cười :
“ Ra bác tính làm luật sư cãi cho cộng  sản Việt Nam đấy hả ? Tôi nói cho bác biết , ở bên Mỹ này tiền bạc tuy là rất quan trọng nhưng không phải là tất cả. Những triệu phú đại gia sẵn sàng san sẻ tài sản mình cho người  nghèo  như  Bill Gate đóng góp cho quỹ chữa bệnh AIDS hàng tỉ đôla , nữ diễn viên điện ảnh Angelina Jolie góp quỹ từ thiện cả triệu đôla. Ở  Việt Nam tôi nghe nói có buổi đấu giá kỷ vật góp quỹ từ thiện có ông đại gia đăng ký mua với giá cao ngất ngưởng để lấy danh , đến khi phải nộp tiền thì ông ta xù mới đểu chứ ?”
Chị Kelly Thi chợt cười rũ :
“ Ở Việt Nam cũng có ông lớn góp quỹ từ thiện cả triệu đôla mà nộp tiền hẳn hoi đấy…”
Bác Ba Phi ngạc nhiên :
“ Việt Nam mà cũng có người góp quỹ từ thiện cả triệu đôla kia à ? mà tiền đâu ra mà lắm vậy ?”
Chị Kelly Thi dõng dạc :
“ Tiền đút lót chứ đâu ?”
Bác Ba Phi tròn mắt :
“ Tiền đút lót ? Đút lót cả triệu đola rồi lại mang ra góp quỹ từ thiện ? Sao lai vô lý vậy ?”
Chị Kelly Thi :
“ Chẳng vô lý tý nào chẳng qua là ăn nhiều quá rồi phải khạc ra một ít để che mắt thiên hạ thôi …”
Bác Ba Phi càng tò mò :
“Chị nói ai mà ghê vậy ?”
“ Thế bác không biết thật à ? Chuyện này cả nước ai cũng biết, có đăng báo rõ ràng mà bác cũng không biết ?”
Bác Ba Phi giọng khổ sở :
“ Thì tôi có đọc báo, coi đài bao giờ đâu mà biết. Đi làm từ sáng sớm chiều về làm chai ba xị đế làm vui rồi coi tuồng cải lương, hát bội chớ đọc báo, coi thời sự làm gì ?”
“ Lão già” chen ngang :
“ Tôi hỏi thật bác nha, ở trong  nước người như bác có đông không ?”
Chị Kelly Thi bật cười, cắt ngang :
“ Ong hỏi vớ vẩn, loại người như bác Ba Phi đây ở trong nước chẳng đông hơn quân Nguyên ấy à ?”
Bác Ba Phi gật đầu :
“ Cũng phải thừa nhận ở quê tôi tuyệt đại đa số như tôi cả. Chẳng ai quan tâm tới chuyện chánh trị chánh em làm gì ? Cứ mải mê kiếm tiền rồi kiếm xị đế làm vui thôi. Thưởng thức văn nghệ thì đã có tuồng, hát bộ, cải lương rồi phim bộ Hàn Quỗc, Hồng Kông…”
Chị Kelly Thi cong cớn :
“ Đó …thấy chưa…dân vậy thì trách gì Đảng Nhà nước chẳng “luôn vững mạnh” ?”
Bác Ba Phi cười cười :
“ Dân chỉ biết cày cấy, làm ăn buôn bán thôi chớ, mọi việc dở hay là do Đảng và Nhà nước cả thôi. À mà cái ông đại gia góp quỹ từ thiện ở Việt nam cả triệu đôla là ông nào vậy ?”
“Lão già” trợn mắt :
“ Là ông nguyên Tổng Bí thơ Đỗ Mười chứ còn ai nữa. Ong ta giúp cho bọn Hàn Quốc ký được nhiều hợp đồng béo bở nên khi sang thăm Hàn Quốc, nó đút lót cho mấy triệu đôla chẳng biết, về nước ông trích ra 1 triệu đô góp quỹ từ thiện để tỏ ra ta đây…liêm khiết…”
Bác Ba Phi nghi ngờ :
“ Vậy nhỡ ra Hàn Quốc nó chỉ biếu có 1 triệu thôi, về ông nộp cả cho quỹ từ thiện thì sao ?”
Chị Kelly Thi la lên :
“ Làm gì có chuyện chó chê xương, mèo chê mỡ cán bộ Việt nam chê tiền . Ngày nay tôi đố bác tìm  đâu ra một ông quan không tham tiền đấy. Xưa lắm rồi bác ơi…”
Bác Ba Phi nín lặng chẳng biết nói sao. Nhưng trong bụng bác vẫn nghĩ tất nhiên nạn tham nhũng tràn làn thì ở trong nước ai mà không biết, nhưng trong cả vạn, triệu cán bộ thì ít cũng còn dăm ba người chê của bất chính, không thèm nhận tiền đút lót chớ. Không lẽ tuốt luốt đều  tham nhũng, bất lương cả hay sao ? Nếu vậy thì nước mình mạt vận rồi. Bác chợt mình buồn hẳn. Tưởng đi Mỹ chơi sẽ chứng kiến học hỏi được nhiều điều mới mẻ, ngờ đâu lại toàn nghe chuyện trong nước, đầy một đầu những buồn phiền, rõ thiệt chán đời ! Thôi thôi, dứt khoát phải bảo con Ut lấy vé máy bay về thôi. Về mà lo việc nhà không vợ chồng thằng Đậu nó phá lanh tanh bành hết…
                                         
                                     *
                                   *   *

Bữa cơm chia tay bà chủ tiệm phở kết thúc rồi mà “lão già” với cị Kelly Thi vẫn còn thi nhau kể tội cộng sản Việt Nam. Vậy mới biết tinh thần chống cộng của đại đa số Việt kiều bên này vẫn luôn mạnh mẽ và quyết liệt chứ chẳng có chuyện hoà hợp , hoà giải, “quên đi qúa khứ”, “khúc ruột ngàn năm “ như đài báo trong nước vẫn đưa tin. Nhất vào dịp tết nguyên đán. Việt kiều về ăn Tết , năm nào Đảng và Nhà nước cũng tổ chức họp mặt đông đảo tới mấy trăm người ở dinh Thống Nhất để mấy ông lãng đạo cấp cao tới đọc diễn văn ca ngợi “sự đóng góp” của Việt kiều yêu nước và kêu gọi hãy đầu tư nói nôm na là gửi tiền về thật nhiều hơn nữa.
Nếu chỉ bằng vào coi tivi , nghe đài và xem báo trong nước thì ai cũng tưởng  bà con Việt Kiều đã quên đi quá khứ, đã tiêu tan hết tinh thần chống cộng , giờ đã hoà giải, hoà hợp dân tộc xong xuôi . Ngờ đâu, sang đây mới biết báo đài tivi trong nước toàn ba xạo, có đốt đuốc giữa ban ngày cũng khó  tìm ra một anh Việt kiều nào lại dám công khai bày tỏ lòng yêu đảng cộng sản Việt Nam.
Tháng trước bác Ba Phi được lão già rủ rê đi dự họp báo ở một hội trường ngày trung tâm Little Saigon. Hôm đó bác ngần ngại không đi nhưng“lão già” cứ rủ rê :
“ Bác cứ đi coi cho biết ở bên này sinh hoạt dân chủ ra sao ?”
Chị Kelly Thi cũng mời mọc :
“ Bác đi coi cho biết … mấy khi được tham dự sinh hoạt cộng đồng…”
Bác Ba Phi rụt rè :
“ Nhưng…nhưng tôi có phải là thành viên của cộng đồng đâu, liệu người ta có cho vào không ?’
Chị Kelly Thi bật cười  :
“ Không phải thành viên cộng đồng thì cũng được tham dự chớ. Vào cửa free mà…Bác yên tâm , không có công an cộng sản ghi tên , nhận mặt đâu mà sợ. Toàn đồng bào mình cả thôi…”
Bác Ba Phi bùi tai nhảy lên xe theo “lão già” và chị Kelly Thi đi dự cuộc họp báo tổ chức ngay tại phố Bolsa, trung tâm Little Saigon. Theo chân hai người bác Ba Phi líu ríu bước vào một phòng họp khá rộng trên tường căng toàn khẩu hiệu và cờ vàng ba sọc. Trên Chủ tịch đoàn đã ngồi sẵn tới 5, 6 người đàn ông, đàn bà ăn mặc sang trọng . khuôn mặt có vẻ căng thẳng. Phòng họp đông kín dễ cũng phải trên trăm người ngồi chật các dãy ghế. Một ông trong Chủ tịch đoàn đứng dậy tuyên bô làm lễ chào cờ và mặc niệm. Oi chao ôi, đây là lần đầu tiên bác ba Phi chào cờ nhưng không phải bài “ Đoàn quân Việt nam đi chung lòng cứu quốc” mà lại là bài nghe rất quen nhưng bác không nhớ tên. “ Nào thanh niên ơi, quốc gia đến ngày giải phóng…”. Bác Ba Phi cũng bắt chước theo mọi người đứng nghiêm nhìn thẳng vào lá cờ vàng ba sọc đỏ rất lớn được treo gần kín bước tường đối diện. Rồi đến phần mặc niệm với tiếng nhạc bác cũng nghe rất quen . Hình như ở trong nước cũng mặc niệm bằng tiếng nhạc này thì phải. Thôi thì quốc ca khác nhau là đương nhiên rồi, nhưng nếu tiếc thương người đã chết, cả quốc gia lẫn cộng sản đều dùng chung một điệu nhạc thì hay biết bao ! Bác Ba Phi còn đang nghĩ ngợi lan man đã có tiếng hô “ mời các quý vị an toạ”.
Chị Kelly Thi quay sang bác Ba Phi cười cười :
“ Vậy là bác Ba Phi cũng đứng nghiêm chào cờ Việt Nam cộng hoà đấy nha…”
Bác Ba Phi cũng cười theo :
“ Thì cũng nhập gia tuỳ tục chứ còn biết làm sao ?”
Chị Kelly Thi lại hỏi :
“ Vậy cảm tưởng của bác khi chào cờ mà cộng sản vẫn cho là của “nguỵ quyền Sàigòn” ra sao ? bác có thấy sợ không ?”
Bác Ba Phi lắc đầu :
“ Sợ thì có gì mà phải sợ. Tôi thấy cuộc họp đông đảo bà con Việt kiều lại có cả mấy ông lính mặc quân phục bồng súng đứng hàng ngang thế kia thì bố công an cộng sản cũng không dám lọt vô đây…”
“Lão già” cười cười :
“ Nom oách thế nhưng không phải súng thật đâu…súng nhựa đó…”
Bỗng trên chủ tịch đoàn một ông đứng lên tuyên bố lý do cuộc họp lên án một số ký giả đã viết bài làm lợi cho cộng sản. Chị Kelly Thi ghé tai bác Ba Phi hỏi nhỏ :
“ Bác có biết ký giả là thế nào không ?’
Bác Ba Phi gật gật :
“ Là nhà báo chớ gì ? “
Một ông khác cũng ngồi trên Chủ tịch đoàn bắt đầu  đọc báo cáo . Bác Ba Phi để ý nghe nhưng cũng chỉ hiểu loáng thoáng. Nào là “những tên viết báo lưu manh tay sai của bọn cầm quyền cộng sản Hà Nội  …”. Nào là “ những tên bồi bút  cộng sản Hà Nội xuyên tạc, nói xấu và phỉ báng người Việt quốc gia trên đất Mỹ…”
Bản báo cáo đọc xong, tới mục giơ tay biểu quyết trục xuất các ký giả đã bị nêu danh ra khỏi cuộc họp. Bác Ba Phi thấy đa số người dự họp đều giơ tay biểu quyết trục xuất, số người phản đối chỉ thấy lác đác. Tiếp theo một ông có lẽ là ký giả bị trục xuất cắp cặp đứng dậy và bước ra khỏi hàng. Bác Ba Phi nhìn theo , thắc mắc :
“ Nhỡ người ta chây ì không chịu ra khỏi phòng họp thì sao ?”
Chị Kelly Thi trợn mắt :
“ Chây lì sao được…security đuổi ra liền…”
Bác Ba Phi lại thắc mắc :
“ Sao bảo bên Mỹ dân chủ lắm kia mà. Báo chí có chửi cả tổng thống cũng chẳng sao ?”
“Lão già” gật đầu giải thích :
“ Đúng rồi báo chí có quyền chửi cả Tổng Thống nhưng bà con cộng đồng cũng có quyền lên án những ký giả tiếp tay cho cộng sản chớ sao ?”
Bác Ba Phi lại thắc mắc :
“Vậy những cuộc họp cộng đồng như thế này có phải xin phép không ?”
Chị Kelly Thi bật cười :
“ Hiến pháp Mỹ ghi rõ tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do biểu tính….cứ tự do thoải mái mà thực thi quyền của mình , việc gì phải xin phép ai ?”
Bác Ba Phi le lưỡi :
“ Chẳng bù cho ở Việt Nam…chỉ công đoàn , thanh niên, phụ nữ mới được tổ chức các cuộc họp thôi còn thì phải xin phép chính quyền. Không có giấy phép mà tụ tập thế này là công an tới giải tán ngay…”
Ra khỏi cuộc họp, bácBa Phi cứ ngồi ngẩn ra suy nghĩ làm “lão già”  bật cười :
“ Vậy là bác Ba Phi cũng đã đứng nghiêm chào cờ vàng ba sọc rồi đấy nha.Mai mốt về nước bác có thành thật khai báo với công an không ?”
Bác Ba Phi cau mặt :
“ Mắc mớ gì tôi phải khai báo ?”
“ Thì đi Mỹ về thế nào công an chẳng gọi lên để hỏi han. Nào là sang Mỹ bác đi những đâu, gặp những ai, tên họ là gì, họ phát biểu ra sao ?”
“ Hỏi thì hỏi chớ sợ gì ? Tất nhiên tôi có khùng đâu mà phải thành thật khai báo, nhất là tới dự cuộc mét tinh đối vừa nãy.”
Trước khi về nhà chị Kelly Thi, “lão già” ghé lại công viên có tượng đài nguời lính Mỹ và người lính Việt cho bác Ba Phi tham quan. Ba người đi tới chân tượng đài có cắm quốc kỳ hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ. “Lão già” giới thiệu :
“ Vào ngày quốc hận, tức ngày 30 tháng Tư hàng năm, cộng đồng thường tập trung ở đây để làm lễ tưởng niệm, vinh danh những liệt sĩ Mỹ Việt đã hy sinh vì Tổ Quốc Việt Nam cộng hoà”
Trong không khí thoáng đãng, bầu trời cao rộng, đượm vẻ trang nghiêm , bác Ba Phi giữ im lặng, không hỏi han gì, vẻ mặt trầm buồn.

                            (tiếp theo)


Chủ Nhật, 29 tháng 6, 2014

CHUYỆN XƯA NAY MỚI NÓI - KỲ 11 : Hội nhà văn của nước ta – kỳ 2….



       ĐẠI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM 7 ( 23/25-4-05) :

                                         ( tiếp theo)

Chính “bóng tối” hiện đang bao phủ trên rất nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân đã che đậy tội lỗi cho những tên cán bộ tham nhũng và sa đoạ của Đảng và Nhà nước, giúp chúng lọt lưới trừng phạt của pháp luật và được hưởng đặc ân “xử lý nội bộ” vốn là một  thủ đoạn ngạo mạn,  ngồi xổm lên luật pháp.
Minh bạch hoá từ việc nhỏ như tài sản của cán bộ cho tới việc lớn như  chi tiêu ngân sách Nhà nước là bước khởi đầu đi tới một xã hội dân sự .
Nhà văn Hoàng Quốc Hải đòi “minh bạch” ngay trong kiểm duyệt tác phẩm :

Chúng ta đang sống trong một xã hội công dân , đòi hỏi mọi sự phải giải quyết minh bạch. Vì vậy những tác phẩm bị kiểm duyệt toàn bộ hoặc kiểm duyệt một phần  cần được công bố công khai . Và nói rõ tác giả đã vi phạm những điều nào , điều nào theo luật định. Nếu tác giả không chấp thuận, họ có quyền khiếu nại việc đó ra toà dân sự…”

Từ xưa tới nay, việc “chôn” một cuốn sách chỉ được thực hiện qua một cú phôn của một sếp lớn Ban tuyên huấn hoặc Cục an ninh văn hoá hoặc ở mãi trên  thượng đẳng thiên tào Bộ chính trị của Đảng. Toàn bộ tác phẩm của Vũ Trọng Phụng bị cấm trong liền ba bốn thập kỷ là do lệnh miệng của ông Hoàng văn Hoan, Uỷ viên Bộ chính trị do nghe mấy anh quân sư quạt mo tán rằng Vũ Trọng Phụng nói xấu bố ông ta vốn là…ký ga.
 Từ những tác phẩm “Vào đời” của Hà Minh Tuân, “Đống rác cũ “ của Nguyễn Công Hoan , “Sắp cưới” của Vũ Bão….đến “ Người con của đất” của Đỗ Văn Bàn, thơ “Chân dung” của Xuân Sách, “ Chuyện kể năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn…tất cả đều bị chôn trong kho làm mồi cho mối hoặc xay thành bột giấy đều không do một quyết định thành văn nào hết, tất cả đều thực hiện trong “bóng tối” bằng những “ý kiến anh này”,” ý kiến anh kia” mà tuyệt nhiên chẳng “anh”nào chường mặt ra nhận lấy trách nhiệm chôn sách, xay sách.
Phép nước, luật đảng từ xưa tới nay và cả mai sau đã định như thế rồi, bởi vậy đề nghị của ông Hoàng Quốc Hải ngay tại diễn đàn công khai của Hội nhà văn khác nào một phạm thượng láo xược làm sao mà lọt được  vào tai của đảng ? Tuy nhiên,  ông cũng phải ngậm ngùi thừa nhận rằng muốn có tác phẩm đỉnh cao nhà văn phải “có tài năng lớn”,”trí tuệ siêu việt”,” nhân cách cao thượng”…những cái đó các nhà văn đều có cả, chỉ tiếc Thượng đế ban cho họ hơi bị…ít.
Một tham luận khác gây sôi nổi ở hội trường là của nhà thơ Trần Mạnh Hảo. Lâu nay ông này mang tiếng là “đầu gấu”, “gác chợ”, “cảnh sát văn nghệ của Đảng “ giờ bỗng dưng lại giở giọng “cấu Đảng” là sao ?
Nguyên là ông Tổng thư ký Hữu Thỉnh trong lúc làm công tác chuẩn bị đại hội  nảy ra ý định có một tham luận có chút chút “đổi mới” cho có khí thế, kiểu như cắt thêm mấy lát ớt vào bát phở cho cay cay, ngon miệng, bèn điện vào Sàigòn nhờ cậy Trần Mạnh Hảo vốn là anh nói xuôi cũng được mà nói ngược cũng OK.
Nào ngờ bấy lâu nay bị thiên hạ chửi là “đồ trở cờ, quân bảo thủ” đến rát cả mặt, Trần Mạnh Hảo muốn lợi dụng dịp này tỏ cho thiên hạ thấy ta đây cũng “phản kháng” lắm đây, chứ chẳng như mấy thằng thối mồm kia đâu. Thế là nhảy lên diễn đàn đại hội, Trần Mạnh Hảo diễn vai “đối lập”. Anh ca ngợi vua Tự Đức ngày xưa “ không vì một câu thơ khi quân trong truyện Kiều mà ra lệnh đốt hết sách Nguyễn Du” và mượn xưa nói nay, Trần Mạnh Hảo thống thiết :
Oi, giá mà thời nay có được vài ông vua như Tự Đức thì mấy cuốn sách hiền như bụt kiểu “ Thượng đế thì cười” của Nguyễn Khải, “ Chuyện kể năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn, “Đi tìm nhân vật” của Tạ Duy Anh…dù lục lọi mỏi tay, tìm bới mỏi mắt cũng chẳng thấy câu văn khi quân nào , đã không phải ném vào máy nghiền để thành bột giấy….”
So sánh vậy khác nào Trần Mạnh Hảo ca cẩm đảng ngày nay còn tàn ác hơn cả vua chúa phong kiến ngày xưa. Tiếp đó anh cho rằng “thi sĩ chính là Thượng đế là ông chủ của vũ trụ thi hứng, phải ứng xử như đấng toàn năng với nguyên tắc bất di bất dịch “ Dọc ngang nào biết trên đầu có ai…”…tuyệt nhiên không được phép để một ám ảnh sợ hãi nào quấy nhiễu mình “

Ay thế mà anh nhà văn lại :

còn phải day dứt viết thế này, viết thế nọ mới được duyệt in; rằng đang có bao nhiêu đôi mắt soi mói vô hình kiểm duyệt anh từ xa ví như viết xong một câu văn là cứ phải mắc bệnh tương tư , nhớ đến anh Khổng Minh Dụ ( Cục trưởng Cục an ninh văn hoá), anh Đỗ Kim Cuông ( Vụ trưởng Vụ văn nghệ), anh Trinh Đình Khôi, anh Nguyễn Đình Nhã, anh Vũ Duy Thông , nhớ mấy anh canh cửa phê bình, nhớ anh giám đốc duyệt bài, anh biên tập  viên cầm hai tay hai cái kéo , nhớ anh duyệt lưu chiểu hồi này với máy dò câu chữ nghe đồn còn kỹ hơn máy dò hành lý hải quan, thì than ôi, bằng ấy cơ chế kiểm duyệt đè nặng lên tâm lý sáng tạo của anh, nên vừa viết vừa run như thế, nghĩa là anh vừa viết vừa tự thiến đứa con tinh thần của mình, cho  nên khi ra đời nó không được có cơ hội cuồng lên vì phát dục , xoá hết bản năng sinh tồn bùng sôi của nó đi , đẽo gọt chân nó sao cho vừa với đôi giày “chính trị” đi, thì nhà văn ơi, tự do sáng tác ơi, ta chào mi…”

Càng nghe Trần Mạnh Hảo tham luận, người ta càng ngạc nhiên như thấy lại một Trần Mạnh Hảo “ly thân” với Đảng ngày trước :

Quá nhiều cơ quan và nhiều cá nhân quyết định sự sống còn của ngòi bút theo kiểu nhiều cha con khó lấy chồng. Quá nhiều người gác cửa , có thể bất cứ lúc nào vui thì cho anh qua, buồn thì giữ anh lại khám xét , lục vấn, xử lý cấm cản tuỳ tiện vô nguyên tắc như từng thô bạo xử lý bao nhiêu nhà văn, bao nhiêu tác phẩm chết oan vì vừa ra đời đã bị bóp mũi…”

Kết tội thẳng thừng chế độ kiểm duyệt của Đảng và Nhà nước đến như Trần Mạnh Hảo thì xưa nay chưa nhà văn nào làm được ngay trên diễn đàn đại hội chính thức của nhà văn Việt nam :

Với cơ chế luật pháp lằng nhằng , cấm thì bảo cấm, thu hồi thì bảo thu hồi, kiểm duyệt thì bảo kiểm duyệt y như thời Tây đi một nhẽ thì nhà văn sẽ mừng vô cùng. Nhưng đảng ta bảo chế độ ta tự do báo chí, tự do sáng tác không kiểm duyệt  mà khi thực hiện thì than ôi, ai có qua cầu mới biết, gò bó cấm cản muôn phương…”

Vậy là về tự do báo chí, tự do sáng tác, đảng chỉ nói mồm, còn trong thực tế…”gò bó cấm cản muôn phương”  - câu này nếu được trích dẫn trong báo cáo nhân quyền hàng năm của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ thì còn lâu Việt Nam mới được đưa ra khỏi danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt.

Đã chê Đảng “cấm cản” báo chí và sáng tác, Trần Mạnh Hảo lại khen khéo thời Tây ngày xưa :

Thời Tây, nước ta mất, dân ta nhục, Tây nó bảo tao không cho mày tự do sáng tác, tự do báo chí , tao kiểm duyệt rõ ràng đây này ; luật nó khiếp hãi , gian ác là vậy mà dân ta xin nó ra báo tư, xuất bản tư thằng tây nó cho liền, anh này ra báo tư, anh kia ra xuất bản tư, mừng quá. Thời mặt trận Bình dân nó còn cho cả báo chí , xuất bản của đảng cộng sản ra công khai, mới có hàng loạt tiểu thuyết  lớn xuất hiện , tố cáo chính chế độ gian ác , phản tự do, phản dân chủ của nó…”

Và Trần Mạnh Hảo giở giọng khích bác :

thằng Tây gian ác cũng lạ, sách ra, có nhẽ nó cóc đọc được tiếng Việt nên nó cóc có cấm, cóc có Ban tư tưởng, cóc có A25. cóc có hàng chục cơ quan, hàng trăm người có thể thò tay thò chân vào nắn nắn từng con chữ như chế độ độc lập tự do bây giờ. Trong thời Tây nô lệ muôn vàn, gian ác muôn vàn, không hiểu các bố nhà văn ta hồi ấy lấy tự do sáng tác ở đâu ra mà sinh bao kiệt tác :” Số đỏ, Chí Phèo, Tắt đèn, Kép Tư Bền, Bỉ vỏ, Vang bóng một thời, “thơ mới 1932-1945”…truyền tới hôm nay….”

Đến đây, người ta thấy Trần Mạnh Hảo không còn chỉ cắt vài lát ớt mà đã đổ nguyên cả lọ tương ớt vào “ bát phở” của Đại hội nhà văn lần thứ 7.

                                                                        (còn nữa)

 



PHẠM THẮNG VŨ : Con sóng dữ - KỲ 17



                               
   (tiếp theo)

Đám Khmer võ trang 7 người ngồi xuống gần bên tôi và quay qua, xì xồ nói chuyện với nhau. Họ lấy thuốc lá điếu ra hút và mời nhưng tôi lắc đầu từ chối. Ngồi cho đến khi hút tàn điếu thuốc thì cả bọn gọi nhau đứng lên và rảo bước quay về hướng cũ. Tôi được lệnh đi theo. Lầm lũi giữa đám Khmer, tôi đi nhưng không biết cái gì sẽ xẩy ra. Được một quãng đường khá xa, đám Khmer bỏ con đường nhựa và lội thẳng vào hướng rừng bên cạnh. Tôi bắt chuyện với gã lính biết tiếng Việt:

- Mình đi đâu hả anh?

Gã lính chỉ im lặng không trả lời. Khi nghe hỏi lại lần nữa, gã đứng ngay lại nói gằn từng tiếng:

- Bảo anh đi là đi, không được hỏi lôi thôi với tui nghe chưa.

Nhìn mặt gã Khmer thật khó đoán được tâm tính y. Gã tươi cười vui vẻ khi nói chuyện với đồng bọn. Với tôi, gã lại cộc cằn. Nước da gã đen, thân hình dong dỏng cao. Khuôn mặt gầy, tóc gã quăn tít có lọn lòa xòa trước trán. Nhìn mặt, tôi đoán gã khoảng 25, 26 tuổi và có vẻ chỉ huy bọn lính. Gã biết tiếng Việt, chắc cùng một dạng như Sok Sammath? Nghĩ vậy, tôi nhìn lại hoàn cảnh mình mà lo trong bụng. Bọn này dẫn mình vào rừng để làm gì? Chân bước đều theo bọn người Khmer nhưng trong tôi đang run lập cập.

Tôi cùng đám lính lặng lẽ đi trên lối mòn trong một cánh rừng thưa được hơn 100 m đường thì đến chỗ nước ngập, cả đám phải lội bì bõm trong nước. Có lúc nước cao tới đầu gối rồi qua khỏi chỗ ngập thì con đường dốc lên dần và cây cối cũng thưa thớt hơn. Đi len qua vài mỏm đá quanh co, gã lính biết tiếng Việt dẫn tôi tách riêng đi hướng khác rồi dừng bước trước một căn hầm lớn nằm dưới các tàng cây cao to. Nhìn căn hầm trông giống kiểu hầm chữ A trong mật khu bên quê nhà. Ai đã từng bị chính quyền Cộng Sản bắt đi vùng kinh tế mới trên các vùng rừng miền Đông Nam Bộ sau ngày 30-4-1975 chắc có dịp trông thấy căn hầm chữ A do Việt Cộng đào trú ẩn giữa rừng trong thời còn chiến tranh. Gọi hầm chữ A vì hình dáng của nó. Vách hầm là hai hàng cây lớn dựng xiên vào nhau, đất được đổ kín, lèn chặt chung quanh và chỉ chừa một lối ra vào duy nhất. Hầm làm kiểu này sức chịu đựng với bom đạn khá chắc. Tôi theo gã lính bước vào, căn hầm có các ô trống trên vách lấy ánh sáng bên ngoài vào trong. Một cái bàn gỗ lớn đóng dính liền với ghế nằm chình ình ở giữa sàn hầm. Một cái đèn dầu to tướng cùng vài quyển sổ, bút bi... bỏ nằm trên mặt bàn. Phía góc hầm khuất sau cái bàn, một gã to béo đeo kiếng mát, mặc áo thun quần short đang đung đưa mình trong cái võng mắt lưới. Sợi dây da nâu vắt qua vai gã với bao da súng ngắn nằm gọn ngay dưới nách. Khẩu súng trong bao da chắc phải rất nhỏ. Nhận ra có người lạ, gã bỏ kiếng nhìn tôi trong chốc lát cùng lúc tay lính nói vài tiếng Khmer. Tôi đứng yên nhìn căn hầm, nhiều khẩu súng trường được dựng đứng dựa vào vách ở một góc. Gã to béo khoảng 40 tuổi, tôi đoán chỉ huy cả bọn lính và quả đúng như vậy. Gã lính quay qua với tôi:

- Ông lớn chỉ huy đó, anh nói chuyện với ông ấy đi.

Chưa kịp biết nói gì, người được gã lính gọi bằng ông lớn buột miệng hỏi tôi:

- Anh bạn ăn uống gì chưa? Có hút thuốc không?

Tôi lắc đầu, ông lớn nói vọng ra bên ngoài vài câu Khmer. Một gã lính trẻ bước vào hầm, tay bưng cái nồi và lon đồ hộp. Đặt các thứ trên mặt bàn trước mặt tôi, gã mỉm cười rồi đưa cho tôi muỗng chén xong loay hoay mở lon đồ hộp. Ông lớn vẫn nằm trên võng nói:

- Anh tự nhiên ăn cơm đi. Ăn hết luôn nghe... Chiều mấy lính sẽ nấu nồi khác.

Tôi ngồi lại bàn, nhìn vào nồi cơm còn khá nhiều và món đồ hộp là thịt kho mặn. Từ sáng tới giờ trong bụng nào có hột gì đâu, họ cho tôi ăn như vầy quá sức ngon. Chưa biết kết cuộc rồi sẽ ra sao nhưng trước mắt phải no bụng đã. Nghĩ vậy, tôi múc cơm ăn liền. Gã lính đi cùng đến ngồi đối diện tôi rồi móc thuốc lá điếu ra hút và cùng ông lớn trò chuyện bằng tiếng Khmer. Thỉnh thoảng đầu họ gật gù với nhau khi cả hai đưa mắt nhìn về tôi. Hai người Khmer này đang bàn chuyện gì đó về mình? Bữa ăn chấm dứt mau chóng, gã lính trẻ quay vào dọn sạch nồi, lon không rồi đưa cho tôi lon nước cam. Bây giờ, ông lớn quay sang tôi:

- Sarek nói tui biết câu chuyện của anh bạn rồi. Anh đừng về Việt Nam nữa. Ở lại đây với chúng tui cho vui. Vài tháng hay cùng lắm vài năm thì anh cũng y chang tụi tui hà. Đừng có về Việt Nam nha anh bạn Duôn.

Trời ơi! Thì ra họ muốn mình làm lính. Gã đi cùng, bây giờ tôi biết tên là Sarek mỉm cười phụ hoạ với ông lớn:

- Anh thích xài súng nào thì lựa cho mình một cây. Miệng nói, tay y chỉ về phía góc căn hầm nơi có đống súng AK 47, CKC, M 16, B 41... dựng sát cạnh bên nhau. Thấy tôi yên lặng, gã tiếp: " Anh biết không! Người Duôn trong quân đội Khmer đông lắm. Ở luôn đây nha anh. Không về Việt Nam nữa nghe ". Y mỉm cười, giọng khẩn khoản.

Ngồi yên trên ghế, tôi ngẫm nghĩ lời hai người Khmer vừa nói. Họ người Việt Nam nay đã thành dân Khmer? Nhưng khuôn mặt cùng vóc dáng họ không có vẻ gì người Việt Nam cả. Tóc xoăn, da đen, tướng tá của họ rõ khác biệt với tôi. Không lẽ họ là người Việt gốc Khmer như sắc dân Khmer Krom sống ở các làng quê miền Nam Việt Nam lâu năm rồi hoàn cảnh đưa đẩy họ đến đây và thành người lính. Nếu đúng vậy, hai người họ ở đây được vì dầu sao cũng là bản quán thật. Còn tôi, người Việt Nam, quê hương và thân thuộc không ở đây. Phải từ chối. Nghĩ vậy tôi trả lời liền:

- Tôi thích đi lính lắm, nhìn các khẩu súng này tôi cũng muốn chọn một cây nhưng không thể được.

- Sao lại không được? Tại sao? Ông lớn hất cằm hỏi dồn.

- Vợ tôi đau nặng mà chưa biết sống chết ra sao bên quê nhà. Tôi phải về ngay. Nếu còn độc thân thì dễ tính quá nhưng không được, tôi phải về gặp mặt vợ tôi. Các anh thông cảm, đừng bắt tôi ở lại đây. Tội nghiệp.

- Anh không được ra khỏi đây. Đã đến thì ở lại với chúng tui luôn. Ông lớn quyết định như vậy. Đây là mệnh lệnh nghe chưa, không được cãi. Bây giờ không nói nữa, nằm nghỉ trưa đi. Sarek nhìn tôi, khoa tay dứt khoát.

Xong, y nằm lăn ra trên băng ghế dài. Tưởng y làm một giấc ngủ trưa nhưng không, Sarek nằm đó trò chuyện với tôi. Tôi cũng nằm dài trên băng ghế, trong lòng lo lắng xen lẫn buồn bã. Sarek cho biết đơn vị y có cấp số tới hơn một đại đội và phân tán thành từng nút chận trải dài trên trục lộ giao thông suốt từ Kompong Som cho tới gần phi trường Pochentong, cửa ngõ dẫn vào thành phố Nông Pênh ở hướng Nam-Bắc.

- Anh đi xe chắc có gặp các chốt chận dọc đường chứ? Sarek hỏi nhưng trả lời luôn: " Các chốt đó là lính của đơn vị tui ".

Im lặng trong chốc lát, Sarek tiếp: " Thực ra không phải tất cả các chốt chận đều thuộc lính ở đây. Bộ đội địa phương trong vùng cũng lập chốt và đôi khi cũng có cả tàn quân PolPot nữa ".

- Tàn quân PolPot. Tôi ngạc nhiên, hỏi lại Sarek: " Vẫn còn tàn quân PolPot sao! Họ có đông không, hoạt động gì dọc theo đường? ".

- Ít thôi, chủ yếu lén lút mò ra quấy phá cầu đường. Đó tại sao cây cầu nào cũng có lính đóng chốt.

- Họ võ trang, quân phục ra sao hả anh?

- Trước kia tụi nó mặc đồ đen, bây giờ tạp nham cũng như tụi tui. Võ trang chỉ AK 47, B 41 thôi... Yếu lắm, không có súng cộng đồng.

- Sao anh biết họ là tàn quân PolPot?

- Biết chứ! Lính chúng tui biết mặt nhau hết. Với lại, bọn nó chạy vào rừng ngay khi thấy tụi tui.

- Gặp vậy các anh có truy nã họ không?

- Trước kia có đấy nhưng giờ đám tui chán cảnh đánh nhau lắm anh. Bọn nó cũng vậy, thấy bên tui là tránh liền.

Sarek kể lúc nhỏ y sống nguyên thời ấu thơ bên Việt Nam rồi theo cha mẹ về lại Khmer cho đến khi PolPot lên nắm quyền. Trên đường tản cư về miền quê theo lệnh của chính quyền mới, Sarek đã lạc gia đình. Về một vùng quê lạ, gã bị cán bộ Khmer Đỏ tập họp lại với các trẻ em khác sống chung trong khu tập trung có tên Phum Cùm Hu. Sarek phải dấu việc đã từng sống bên Việt Nam kể cả chuyện y biết tiếng Việt khá sõi. Sarek thuật lại các vụ Khmer Đỏ hành quyết ghê rợn những người đã dính líu đến Việt Nam trong thời gian đó. Sống tập trung trong phum cho đến khi gặp bộ đội Việt Cộng. Biết tiếng Việt, Sarek được Việt Cộng chọn huấn luyện riêng nhưng sau đó gã đã trốn trại huấn luyện để đi tìm lại cha mẹ. Gã đi kiếm nhiều nơi nhưng hoài công. Khi về Nông Pênh để kiếm việc làm, tình cờ Sarek gặp lại bạn cũ và người đó dẫn y đến nhập lính ở đây.

- Cha mẹ tui không còn sống đâu anh. Ang Ka dạy tụi tui phải biết căm thù người Duôn căm thù luôn cả những người Khmer có liên hệ với dân Việt Nam. Ang Ka giết người nhiều quá nên chắc ông bả chết cả rồi. Khmer bây giờ lớp người trẻ như tui mồ côi cha mẹ nhiều lắm, lớn lên mà không thân nhân cũng không biết gốc gác gia đình ở đâu ra. Sarek buồn bã kể chuyện sống trong phum thời PolPot nhưng khi nói về Việt Nam, giọng y vui vẻ hẳn: " Gặp được anh tui rất mừng. Tui vẫn nhớ những bạn người Duôn thuở xưa khi sống bên Việt Nam ". Sarek kể lại thời niên thiếu sống trong làng ở miền Nam nước Việt, về các kỷ niệm với bạn bè chung lớp tiểu học. Mỗi lần phấn khích trong câu chuyện, y lập lại: " Anh ở đây chung với tụi tui nha. Chỉ có tui với ông lớn biết tiếng Việt giờ thêm anh nữa càng vui ". Nhớ lại Sarek khô khan, lạnh lùng trong lần đầu mới gặp tôi thật khác hẳn với thái độ y bây giờ. Định mệnh cay nghiệt đã đổ xuống gia đình và bản thân y nên biến Sarek có lúc thành con người cộc cằn, thô lỗ nhưng tận cùng, tôi nghĩ Sarek là người tốt.

Ông lớn nằm yên không góp chuyện. Nghĩ ông đã ngủ say nhưng chợt tai tôi nghe một tiếng thở dài đánh sượt. Ai thở vậy? Tôi nhổm đầu dậy nhìn chung quanh. Ông lớn nằm yên trên võng, hai mắt thao láo nhìn lên trần hầm. Vẻ mặt ông trông thật hiền. Chuyện Sarek kể chắc tương tự chuyện riêng đời ông, đã dắt ông về các hoài niệm cũ làm ông nhớ đến các thân nhân và ông đã buồn. Chắc vậy! Không biết thời PolPot cai trị, hoàn cảnh riêng của ông ra sao? Câu chuyện quay về tôi khi Sarek một mực bảo phải ở lại và không về Việt Nam nữa.

- Chúng ta bạn của nhau từ bây giờ. Anh xuống xe đò ngay chỗ tui đóng quân, có nghĩa số phận chúng ta gặp nhau và sẽ gắn liền sống chết bên nhau. Phải không? Sarek ngồi dậy, mỉm cười nhìn tôi và ông lớn sau câu nói.

Ở lại đây và sống chết bên nhau với họ. Nếu hai người Khmer nầy muốn vậy thì làm sao mình về tới Việt Nam được đây. Biết cớ sự như vầy thà tôi nghe lời Hường-Liên ở nán lại Kompong Som còn hơn cố về nhà để mắc kẹt... Nhưng làm sao mà biết trước được để tránh. Tôi phân vân, rối trí quá. Mới vài tiếng đồng hồ trước còn ngồi trên xe hàng mà giờ phải bó tay trong căn hầm xa lạ này. Biết làm gì đây? Tôi thật sự tuyệt vọng và buồn cho hoàn cảnh mình. Tại không có đủ tiền xe mà ra... Tiếng Sarek cắt đứt mối suy tư của tôi.

- Sao! Ở lại đây ha anh bạn? Im lặng là đồng ý mà... Ha ha...

Tôi ngồi dậy nhìn hai người Khmer rồi khăng khăng nói phải về Việt Nam với lý do vợ bệnh nặng đang nằm chờ ở nhà thương. Khi bịa ra chuyện có vợ bệnh, trí óc tôi nghĩ đến Ánh Phương tự dưng làm tôi chảy nước mắt. Tiềm thức về số phận Ánh Phương khiến tôi khóc dễ dàng.

- Thôi đừng khóc nữa... Đừng khóc nữa. Đủ rồi! Em thương con vợ bên quê nhà dữ ghê ha! Anh hiểu em rồi, em trai ơi! Ha ha... Ông lớn đột ngột thay đổi cách xưng hô. Ông cười to tiếng, bước rời khỏi chiếc võng và đến bên vỗ vào hai vai tôi. Sarek cũng im lặng nhìn tôi mà không nói một lời.


                                    (còn  tiếp)

Thứ Bảy, 28 tháng 6, 2014

CHUYỆN XƯA NAY MỚI NÓI - KỲ 10 : Hội nhà văn của nước ta – kỳ 1….



 ĐẠI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM 7 ( 23/25-4-05) :




                     
                    “…Hội nhà văn của nước ta,
                          mấy thằng chạy chức đi ra đi vào
                          nghèo thì đậu phụ thuốc lào
                          giàu thì rượu ngoại phong bao phải dày
                          tiền tươi phải tới liền tay
                        “Chấp hành”* một ghế nhận ngay khó gì …”
                                                     
                                                               (* Uỷ viên Ban chấp hành )
       
Ngay trước ngày khai mạc Đại hội lần thứ 7 Hội nhà văn Việt Nam, dư luận trong giới cầm bút đã ì xèo chuyện “ chạy ghế” vào Ban chấp hành, chuyện “lật đổ” nhà thơ Hữu Thỉnh , người ngồi đã quá lâu trên ghế Tổng thư ký Hội, người xây dựng “bộ máy” cấp 1 ( cơ quan của Hội) và bộ máy cấp 2 ( báo chí, xuất bản, hãng phim, bảo tàng…) toàn bằng đồng hương Vĩnh Phú.
  Trên báo Công an nhân dân đã đăng công khai bài viết của nhà thơ Phạm Tiến Duật tố cáo Hữu Thỉnh “phạm pháp”, lộng quyền, ôm đồm, bao biện hết cả tiền của Đảng rót cho nhà văn. Ngay trong đại hội, cuộc “vận động hành lang” vẫn diễn ra náo nhiệt, nhà thơ Trần Ninh Hồ mất cả buổi trưa để vận động lão nhà văn Nguyễn Quang Sáng lên “ tham luận” yêu cầu Hữu Thỉnh từ chức, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo , Nguyễn Thuỵ Kha, nhà văn Trung Trung Đỉnh, Cao Tiến Lê…dáo dác khắp nơi mong kiếm được một vé vào Ban chấp hành. Và ngay trong đám các nhà văn Vĩnh Phú chia nhau các loại ghế ở Hội nhà văn, cũng không thống nhất thành một khối, trước đại hội cũng “uýnh” nhau lộn bậy khiến bà con lại có thơ rằng :

Mấy thằng Vĩnh Phú đánh nhau
Hữu Thỉnh vỡ đầu Tiến Duật sứt tai
Văn Chinh chém mướn vòng ngoài
Vĩnh Tuấn nổi cáu dở bài bọ hung
Chung quy cũng tại vua Hùng…
Đẻ ra một lũ vừa điên vừa khùng…”

Hữu Thỉnh, Phạm Tiến Duật, Văn Chinh, Trương Vĩnh Tuấn đều là người Vĩnh Phú, quan chức Hội nhà văn.Tuy nhiên, dù có chạy chọt đấu đá ra sao thì mọi mơ tưởng của mấy anh nhà văn đều hão huyền bởi lẽ vấn đề “nhân sự “ là do cấp trên quyết định đúng như lời ông Nguyễn Khoa Điềm, Trưởng ban tư tưởng văn hoá phát biểu tối ngày 22 tháng 4 trong cuộc họp giành riêng cho đảng viên :
” Uỷ viên chấp hành các đồng chí bầu  ai thì bầu riêng Tổng thư ký phải để cho  Đảng chỉ định…”.
Và theo tinh thần chung cho các Hội, để giữ vững ổn định chính trị, tránh xáo trộn , tốt nhất là bầu ông Vũ Như Cẫn lãnh đạo , quả nhiên Đại hội đã “bầu ra” Tổng thư ký ( giờ đổi thành Chủ tịch) vẫn là Hữu Thỉnh, Phó Tổng thư ký ( tức Phó Chủ tịch) vẫn là Nguyễn Trí Huân – không có gì thay đổi.
Đại hội lần thứ 7 diễn ra trong tình hình các nhà văn hầu hết đã được “thuần hoá”, đã trở thành “bé ngoan” của Đảng, bởi vậy Đảng không còn lo những tiếng nói “phản kháng”, “chống đối” cất lên từ diễn đàn đại hội.
Duy nhất có nhà thơ đòi đa nguyên đa Đảng là Bùi Minh Quốc mới được tha “quản chế” thì lại bị “Đại hội cơ sở các nhà văn miền Đông Nam Bộ” không bỏ phiếu cho đi dự Đại hội toàn quốc. Tuy nhiên ông Bùi Minh Quốc vẫn bay ra Hà Nội đòi vào Hội trường Ba Đình trong lúc đại hội đang họp và bị công an mời ra vì không có …huy hiệu vào cửa vốn chỉ phát cho đại biểu chính thức. Không chùn bước, nhà thơ Bùi Minh Quốc lại kiện Ban tổ chức đã cho cả nhà phê bình Phạm Quang Trung ở Đà Lạt đi dự đại hội khi ông này đã bị khai trừ khỏi hội về tội tham ô, hơn nữa, nhà thơ Bùi Minh Quốc vẫn ứng cử vào Ban chấp hành dẫu không trúng nhưng vẫn đạt được hơn 100 phiếu bầu, qua đó cho thấy tỷ lệ “ủng hộ phản kháng” thầm trong bụng của các nhà văn Việt Nam là 20 phần trăm.
Ngày đầu tiên 23 tháng 4, họp “nội bộ”, trong hầu hết những tham luận “tát nước theo mưa” đòi nhà văn đứng vững trên lập trường của Đảng, bỗng nảy nòi ra bài tham luận của nhà văn Hoàng Quốc Hải có tựa đề “ Nỗi niềm tác phẩm đỉnh cao”. Trước hết ông đưa ra thân phận cay đắng của nhà văn “đỉnh cao “ Vũ Trọng Phụng :

Sinh thời ông chỉ ao ước :” Nếu ở đời có được cơm mà ăn no nhỉ ?” . Năm 27 tuổi ông qua đời vì bệnh lao phổi để lại một người con gái 2 tuổi và một đống tác phẩm. Không ít trong số mấy chục tác phẩm của ông đạt đỉnh cao thế giới.”                           
Vậy mà những tác phẩm ấy bị vùi lấp trên nửa thế kỷ, không một lần được tái bản. Bởi một thời gian rất dài người ta vu cho ông là phần tử trốt kít (Trosky). Tới khi tác phẩm của ông được tái bản, chị Vũ thị Hằng , con gái ông đã ngoài 50 tuổi, chỉ dán mắt nhìn tác phẩm của cha mình trở thành tài sản chung của xã hội theo “luật bản quyền” mới ban hành..
Chị Hằng và chồng chị đã đưa phần mộ của cha mình về ngôi vườn tại quê hương làng Mọc. Ngôi mộ được xây cất đàng hoàng, ốp đá cẩm thạch mà không có bất kỳ tài trợ nào từ Nhà nước và các hội đoàn. Sự thờ ơ đến bội bạc của đương thời và hậu thế khiến nhiều nhà văn nản lòng…”
Nhưng đó là chuyện từ thời…tự lực văn đoàn, còn chuyện của Hội nhà văn 10 năm lại đây (1996-2005), ông Hoàng Quốc Hải nhận định :
số lượng tác phẩm của các nhà văn phát hành không phải là ít nhưng không khuấy động được công chúng. Không khí văn học bình lặng như mặt nước ao thu. Khas nhiều tác phẩm “tốt” cả về nội dung lẫn nghệ thuật nhưng công chúng bạn đọc vẫn thờ ơ và đòi nền văn học phải có đỉnh cao. Đòi hỏi đó là nỗi bức xúc của công chúng trước hiện thực xã hội. Bởi soi vào tác phẩm văn học họ thấy hụt hẫng.”
Độc  giả đòi hỏi như vậy vì sao các nhà văn không đáp ứng được cho dù “ cái nền hiện thực xã hội trong mười năm gần đây , dư thừa chất liệu cho các nhà văn Việt Nam làm nên tác phẩm đỉnh cao. Đây là cơ hội , dù nó là cơ hội đem lại nhiều bất hạnh cho số đông nhưng nếu bỏ qua sẽ là một tiếc nuối , một ân hận…
Đúng là chưa bao giờ, xã hội cung cấp cho nhà văn nhiều chất liệu đến như thế này :
Bức tranh xã hội đủ mầu sắc. Vui có, buồn có, bi thương có, âm mưu thủ đoạn có, tham nhũng hối lộ có, lừa đảo có, đểu cáng có, bất hiếu bất mục, bất nhân bất nghĩa…không thiếu một loại nào . Đặc biệt lũ cơ hội xuất hiện nhan nhản. Đó là những kẻ tiếm quyền hành để tước đoạt trắng trợn tài sản quốc gia , hối hả tich luỹ vốn liếng để mau chân chạy sang hàng ngũ tư bản. Và bây giờ chúng đang âm mưu rửa tiền để  hợp thức hoá và công khai hoá số tài sản khổng lồ mà chúng chiếm đoạt bằng các thủ đoạn bất lương.
Công chúng đòi hỏi nhà văn bằng ngòi bút và lương tâm của mình phải vạch mặt bọn chúng, “không cho chúng nó thoát”. Phải cho tái xuất hiện các gương mặt kiểu Nghị Quế, Nghị Hách, Xuân tóc đỏ, bà Phó Đoan, Bá Kiên, Chí Phèo …thời hiện đại”
Những dòng văn mang đầy tính công tố và kết tội này được đọc giữa Hội trường Ba Đình, tiếc thay cử toạ lại là các nhà văn, ví thử là các đại biểu quốc hội – các ông nghị nổi tiếng “gật”, thì không biết  các quý “đại biểu’ ấy sẽ phản ứng như thế nào ?
Bức tranh hiện thực phong phú như vậy lại tuyệt nhiên không phản chiếu được vào tác phẩm, bởi thế “ công chúng mới chối bỏ.”. Độc giả quay lưng lại với các tác phẩm văn học là “điều tệ hại nhất đối với nhà văn . Đó còn là dấu hiệu báo trước một nền văn học đang vững chắc bước vào giai đoạn suy thoái…”
Nhận định này hoàn toàn đi ngược với Hội nhà văn trong Báo cáo tổng kết 5 năm nhiệm kỳ 6 do nhà thơ Hữu Thỉnh trình bày trong ngày khai mạc chính thức tại Hội trường Ba Đình ngày 24-4-05 với sự có mặt của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh , nguyên Tổng bí thư Đõ Mười , Phan Diễn,Trưởng ban Bí thư  trung ương :
5 năm qua văn học ta có thêm nhiều tác phẩm có giá trị về tất cả các thể loại . Mối quan tâm về hệ thống giá trị mới đang được xác lập , về đạo đức xã hội , về bảo vệ các giá trị truyền thống của dân tộc là những thông điệp thường gặp trong các tác phẩm văn học…”
Rõ thật là trống đánh xuôi kèn thổi ngược…

                                                                               (còn tiếp)


          


NGƯỜI KÉO MÀN : Tiểu thuyết kịch NHẬT TIẾN (KỲ10 )




                                     (tiếp theo)
Hằng đứng dậy bước ra khỏi hàng ghế, lòng nàng bỗng trở nên nôn nóng với ý định trao cho “thằng chả” cái giấy khai sinh. Mặc dù cả rạp vẫn còn đang ngẩn ngơ về những diễn biến dồn dập ở những giây phút cuối của vở kịch và mặc dù lão kéo màn đã khởi sự cho cái màn nhung buông xuống thật chậm, rất chậm, nhưng vẫn chưa có ai chịu nhúc nhích khỏi ghế ngồi của mình. Nàng vội vã đi vòng ra phía ngoài hành lang và gặp người soát vé .
Hằng : Này bác! Tôi muốn tìm cái ông tác giả vở kịch thì tìm ở đâu ?
Người soát vé : (chỉ tay về phía cuối hành lang) : Đi theo lối đó mà vô hậu trường. Nghe nói ổng còn ở trong đó đó!
     

                                       TRONG HẬU TRƯỜNG

Khung cảnh thật là nhốn nháo khi tấm màn nhung đã buông xuống hẳn. Những người lao công chạy tới tấp để dọn dẹp phông cảnh. Những diễn viên gọi nhau ơi ới để tìm nhau, để san sẻ với nhau về sự thành công của buổi diễn. Nhưng ai cũng đều có thể nghe thấy tiếng la chói lói của người nữ diễn viên sắm vai Nga.

Diễn viên sắm vai Nga: Giết người! Thật là các ông giết người không dao! Bầu không khí sân khấu đang bi thảm như thế mà các ông cười đùa ầm ĩ làm mất hết sự chú tâm theo dõi của khán giả. Thà là các ông giết tôi đi còn hơn.
Nhà đạo diễn : Thôi ! Thôi ! Chuyện đó đã qua rồi.
Diễn viên sắm vai Nga: Qua là qua thế nào. Ngày mai ngày mốt rồi coi,  báo chí họ sẽ chửi ầm lên cho là diễn bi kịch mà hóa ra thành hài kịch.(tu lên khóc). Ối giời ơi ! Các ông đã nhẫn tâm bóp chết con đường tiến thủ  của tôi !!!
Nhà đạo diễn: Ồ! Sao lại “bò” thế. Sao cô lại khéo dư nước mắt để khóc vì những chuyện chẳng đáng gì như thế... Tài nghệ của cô nếu có xuất sắc thì cũng chẳng vì chuyện nhỏ đó mà bị sây sứt đi một cái vẩy móng tay.
Diễn viên sắm vai Nga:( gào lên) Im đi ! Ông im đi! Đừng có chửi xéo tôi nữa. (vùng lên, chạy vào phòng hóa trang đóng sầm cửa lại)
Nhà đạo diễn : Hừ! Bò thật !Thế thì bò thật !
Diễn viên sắm vai Nghĩa : Bỏ bố tôi rồi ! Tôi bị mất cái bóp phơi !
Nhân viên giữ trật tự : Chết ! Ông để bóp phơi ở đâu ?
Diễn viên sắm vai Nghĩa: Tôi để trong túi quần tây, móc ở ngay chỗ này, thế thì làm sao mà mất được. Luộm thuộm ! Các ông làm ăn luộm thuộm không thể tả được.
Nhân viên giữ trật tự: Chắc rơi đâu đó chứ  không mất đâu. Xin ông cứ bình tĩnh để chúng tôi  đi tìm.
Nhà Mạnh Thường Quân : Đâu? Cô Nga đâu rồi ? Sao không ra ngoài này để ngộ có người tới xin chữ ký thì phải ký cho người ta chứ.
Người lao công : Dạ, cô ấy vừa chạy vào trong phòng  hóa trang nữ.


                       TRONG PHÒNG HÓA TRANG NỮ

Nhà Mạnh Thường Quân : Trời ơi ! Làm sao cô khóc ?
Diễn viên sắm vai Nga: Xin lỗi ông! Ông để mặc tôi.
Nhà Mạnh Thường Quân: Không ! Bây giờ tôi là ông bầu của cô rồi. Cô sẽ là tài tử chính trong ban hát sắp thành lập của tôi. Tôi không có quyền để cho tài tử của tôi đau khổ như thế được.
Diễn viên sắm vai Nga : Không mà! Tôi đã bảo tôi muốn được ngồi một mình.
Nhà Mạnh Thường Quân : Ơ ! Sao lại ngồi một mình! Lúc này là lúc quang vinh nhất, cô phải ra ngoài kia để cho mọi người chiêm ngưỡng cái vinh quang của cô chứ !
Diễn viên sắm vai Nga: Vinh quang gì! Các ông xé nát con đường sự nghiệp của tôi.
Nhà Mạnh Thường Quân:( quát) Đứa nào? Đứa nào mà lại to gan thế ? Cô nói cho tôi biết tên nào để tôi sẽ cho nó biết tay .
Diễn viên sắm vai Nga:( lại tấm tức khóc)
Nhà Mạnh Thường Quân: A! Thôi tôi biết rồi ! Chắc cô vẫn còn bực mình về cái vụ tên chó chết cười ré lên trong lúc vở kịch còn đang tiếp diễn phải không. Ồ ! Đó là chuyện nhỏ. Một cái mụn ghẻ làm sao xóa hết được khuôn mặt kiều diễm của Hằng Nga.
Diễn viên sắm vai Nga: Thật tôi không thể nào tưởng tượng được !
Nhà Mạnh Thường Quân: Tôi cũng thế. Tôi không thể nào tưởng tượng được trên đời lại có kẻ “khẹc” đến như thế. Nhưng dù sao thì nó cũng đã qua rồi và vở kịch vẫn thành công mỹ mãn. Hết sức mỹ mãn. Nhân danh cái sự mỹ mãn đó, mong cô hãy vui lên nào. Ôi thôi nước mắt làm nhòe hết cả phấn của cô rồi, khổ chưa ! Nào thôi, hãy nghĩ đến tương lai mà bỏ qua mấy cái vặt vãnh chẳng đáng gì ! Chúng mình còn có nhiều việc phải làm.
Diễn viên sắm vai Nga: Phận sự của tôi đến đây là hết.
Nhà Mạnh Thường Quân: Ô ! Hết là hết thế nào ! Thế thì cô nhầm rồi. Nhầm to rồi. Tôi thì tôi lại nghĩ  rằng mọi việc từ đây, bây giờ mới thực sự là bắt đầu.
Diễn viên sắm vai Nga: Ông nói thế nghĩa là....
Nhà Mạnh Thường Quân: Nghĩa là mình sẽ khởi đầu một chương trình dài hạn chứ sao. Mình sẽ có những quyết định quan trọng mà ta cần bàn tính cho kỹ. Nhưng bây giờ... bây giờ ta cần xả hơi cái đã để tự thưởng cái kết quả rực rỡ của buổi trình diễn ngày hôm nay. Em ạ, chúng mình phải đi ăn một bữa linh đình.....Ở nhà hàng Đồng Khánh nhé ?
Diễn viên sắm vai Nga: Không! Cái đó thì...
Nhà Mạnh Thường Quân: thực mới vực được đạo chớ. Suốt từ tối đến giờ chúng mình đều hết sức vất vả. Thôi cứ ăn cái đã rồi muốn tính gì thì tính. Nào mình sửa soạn  lại rồi ta đi .
Diễn viên sắm vai Nga: Không, xin lỗi ông, tôi không thể đi được. .
Nhà Mạnh Thường Quân : Kìa, sao lại thế ?
Diễn viên sắm vai Nga: Cám ơn ông rất nhiều, nhưng tôi mệt.
Nhà Mạnh Thường Quân: Thì mệt mới cần ăn cho lại sức. Một tô cháo bào ngư nấu với nấm Đông Cô là hết mệt ngay...
Diễn viên sắm vai Nga: Tôi nói thực mà. Tôi không thể đi được ngày hôm nay.
Nhà Mạnh Thường Quân : Thôi! Tôi van em.. tôi  xin em. Em đừng làm tôi đau xót vì em nữa !
Lão tiến lại gần nàng rồi rút khăn tay chấm lên những giọt nước mắt còn đang long lanh ở hai bên gò má của nàng. Nàng cau mày kéo chiếc ghế xích vào sát mép bàn. Mũi nàng chun lại. Nàng thấy ghê tởm cái hơi nồng nặc toàn mùi khói ám từ miệng lão toát ra. Vừa lúc đó cánh cửa hé mở. Gã thổi clarinette thò hẳn đầu vào. Trước mặt gã là cái lưng đồ sộ của nhà Mạnh Thường Quân. Đằng sau lão, khuôn mặt của diễn viên sắm vai Nga bị che lấp một nửa. Hai người ở cái vị thế như đang hôn nhau thắm thiết. Gã run rẩy cả người lên. Mặt gã xám ngoẹt lại. Gã lùi phắt trở lui. Tay gã phải vịn vào vách tường cho khỏi ngã. Mọi vật trước mắt gã chòng chành quay cuồng như kéo nhau đang sắp sửa sụp đổ. Gã nén chặt lấy ngực để cố khỏi bật ra tiếng ho. Cây kèn cặp ở nách gã nằm xiêu xuống hờ hững chực rơi. Gã chết đứng như thế trong giây lâu mới định lại được thần để  quay gót trở ra. Gã lê từng bước nặng nề đi xuống bục gỗ.
Trong lúc đó ở trên sân khấu, vẫn có tiếng hớt hải của gã diễn viên sắm vai Nghĩa :
- Tôi mất cái bóp! Tôi mất cái bóp! Có ai nom thấy cái bóp phơi của tôi đâu không ?
Thằng bé: Thưa ông, cái nhà cô có tóc uốn uốn bảo ông đi xuống dưới hầm kia cô ấy nhờ chút việc.

                                 Ở DƯỚI HẦM

Diễn viên sắm vai Nghĩa: Trời ơi ! Em ! Em ở dưới này thế mà làm anh  đi tìm em hết nước hết cái.
Diễn viên sắm vai nhân tình của cha Nghĩa: Thật không ?
Diễn viên sắm vai Nghĩa: Ô! Em hỏi như thế là thừa. Không một lúc nào anh muốn rời em cả.
Diễn viên sắm vai nhân tình của cha Nghĩa: Hừ ! Cứ  nghe  cái giọng ấy của anh thì ai mà chả tin.
Diễn viên sắm vai Nghĩa: Còn phải nói. Bởi vì đấy là giọng thành thực. Sự thành thực phát ra từ trái tim của những kẻ đang yêu.
Diễn viên sắm vai nhân tình của cha Nghĩa: Ôi giời! Cảm động thay cho những kẻ nào có diễm phúc đã được anh yêu.
Diễn viên sắm vai Nghĩa: Ồ, em còn nói thế làm gì. Kẻ ấy chính là em đó !
Diễn viên sắm vai nhân tình của cha Nghĩa:   Ồ! Thế  thì thực là riễm phúc cho em quá. ( miệng nàng cong lên để uốn lưỡi chữ e - rờ)
Diễn viên sắm vai Nghĩa: ( hơi ngớ ra, nhưng cũng nói lấp liếm) Thì cũng diễm phúc cả cho anh nữa.
Diễn viên sắm vai nhân tình của cha Nghĩa: ( đổi giọng) Thôi ! Thế đủ rồi. Tôi biết rõ cái bản mặt của anh rồi !
Diễn viên sắm vai Nghĩa: Ơ! Ơ! Em nói cái gì thế?
Diễn viên sắm vai nhân tình của cha Nghĩa: Nói cái gì thì anh biết đó ....Hôm nay anh đánh mất cái ví phải không ?
Diễn viên sắm vai Nghĩa: Ờ..ờ..cái ví......
Diễn viên sắm vai nhân tình của cha Nghĩa: ( giơ cái bóp ra trước mặt Nghĩa) phải ví này không ??
Diễn viên sắm vai Nghĩa : ( ấp úng không nói ra lời)
Diễn viên sắm vai nhân tình của cha Nghĩa: Tôi nhặt được nó ở trong phòng hóa trang. Bây giờ tôi hoàn lại cho anh. Anh kiểm lại đi coi có mất cái gì không, nhất là mấy tấm hình. Ôi chà, tấm hình chụp anh chị với các cháu nom thật là đẹp đôi. Còn mấy đứa nhỏ trông kháu ghê !
Diễn viên sắm vai Nghĩa: (mặt tái đi dần dần)
Diễn viên sắm vai nhân tình của cha Nghĩa: Từ lần sau thì nhớ giữ cho kỹ nhé ! Ới sời !!! Thế mà soen soét cái mồm là “anh vẫn còn độc thân!” Xí !!!

Vừa nói nàng vừa ném trả cho gã đàn ông cái bóp cũ màu đen rồi bỏ đi phũ phàng. Gã đàn ông đứng lặng người như chân bị chôn ở ngay tại chỗ. Mặt gã cứ đỏ lên rồi lại xám ngoẹt đi, đôi mắt đục ngầu mang đầy vẻ bẽ bàng và tức giận. Hai bên cằm của hắn như bạnh thêm ra, hàm răng nghiến chặt lại. Bàn tay của gã xiết cứng lấy cái bóp tưởng như muốn làm nó tan ra thành bọt. Gã nhìn ra bốn bức tường chật hẹp với tất  cả nỗi căm giận chất chứa trong lòng.

                                      (còn tiếp)