Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2015

TRUYỆN XƯA NAY MỚI NÓI : ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ - Tiểu thuyết NHẬT TUẤN - KỲ 1



     

  Đầu năm 1979, mới chân ướt chân ráo từ B ra. về công tác tại NXB Văn học,làm mất lòng nhà thơ Nông Quốc Chấn, Thứ trưởng Bộ văn hóa Tin , bị ông "đẩy" lên Cao Bằng làm Trưởng phòng VHVN. Tôi chống lệnh, không nhận  quyết định vì tính trù úm. Ông Nông Quốc Chân dọa cắt lương. Tôi tuyên bố nếu bị cắt lương, tôi sẽ bơm xe đạp ngay trước cửa Bộ văn hóa và chắc ông hưu sớm.
 Vụ này càng ầm ĩ  khi tôi viết truyện ngắn "Vòng tròn" tố cáo chuyện "trù úm" đăng báo Văn Nghê đúng vào dịp thanh tra Bộ văn hóa xuống cơ quan làm việc. Sau cùng Hội nhà văn can thiệp. Nhà văn  Nguyên Ngọc tới tận Vụ tổ chức Bộ văn hóa xin tôi về Tổ sáng tác. Nhà văn Đào Vũ, Nguyễn Khải…cũng xin tôi về  NXB Tác phẩm mới, Báo Văn Nghệ…
Ông Nông Quóc Chấn gào lên :" Anh Nhật Tuấn vận động.." khăng khăng không thay đổi quyết định . May thay ông Trần Độ, Bí thư Ban cán sự Bộ văn hóa, đi Đức về can thiệp xóa kỷ luật, cho tôi đi sáng tác một năm ở Sông Đà.
Và thế là tôi chuyển sang một hướng sáng tác mới :" viết láo".
Thời gian ở Sông Đà viết một  loạt truyện ngắn không thể in. Nhà văn Nguyễn Khải sau khi đọc truyện " Bọn họ" trợn mắt :" Mày lôi cả thế hệ tao ra đánh ở … chuồng chồ". "Cô người yêu be bé" đang học tổng hợp văn đọc truyện "Tặng phẩm cho em" phán :" truyện này trả anh 20 đồng nhuận bút " ( 20 đồng hồi đó to lắm).
Ở trại sáng tác Vũng Tàu 1981, một hôm đi bơi với Trần Mạnh Hảo đã thấy nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến ngồi chờ ở cửa buồng :
" Tôi đến để đọc truyện ngắn của cậu đây ".
Thì ra loạt truyện ngắn "bàng thống" đã có dư luận dù chưa in. Tổng kết trại , Nguyễn Quang Thân đọc truyện "Tặng  phẩm cho em" của tôi, nữ văn sĩ Minh Quân nghe không hết, khóc bỏ ra ngoài,  nhà văn Nguyên Ngọc lúc đó là Bí thư đảng đoàn không biết nói sao đành gượng gạo :
" truyện này sai về…bút pháp "    hi hi…
Kể lể dài giòng thế này để nói rõ  tôi và một số  nhà văn, nhà thơ khác như Nguyễn Xuân Khánh, Phùng Cung, Lê Bầu, Phan Đan, Hoàng Hưng, Lê Huy Quang, Lê Xuân Đố, Trí Dũng …đã viết " đổi mới" từ lâu rồi chẳng phải đợi đến khi ông Nguyễn Văn Linh cởi trói cho văn nghệ sĩ.
Năm 1980 tôi  vào Sàigòn sau đó cho ra một loạt tiểu thuyết, cuốn nào cũng bốc mùi "tà khí" theo cách nói của ông Tố Hữu. Cuốn " Bận Rộn" 1985 hồi đó bán hết  veo 30 ngàn cuốn và dân Sàigòn đồn nhau tác giả là nhà văn Sàigòn cũ trước 75 chứ nhà văn Bắc Kỳ 75 đời nào viết thế .
Cuốn " Mô hình và thực thể ", tiểu thuyết viết về đạo Cao Đài bị thu hồi khi mới phát hành, cuốn Lửa Lạnh tiểu thuyểt vừa mới ra lò đã bị nhà phê bình Lê Quang Trang phang cho một bài dài nửa trang báo Nhân Dân với lời kết tội " Nhật Tuấn  mang tới cho thanh niên một Ngọn lửa lạnh " khiến cô vợ tôi lúc đó hoảng quá bảo anh phải dấu tờ báo này đi đừng để cho ba coi.
Năm 1990, sau khi được Nguyễn Văn Linh cởi trói, đa số các nhà văn tranh luận ỏm tỏi trên các diễn đàn. Tôi cứ im như thóc khiến nhà văn Dương Thu Hương phải chửi :" Cái thằng mất dậy này mặc kệ thiên hạ đấu đá, cứ ngồi trong xó tối quẳng ra các của thối tha…"
Vâng, một trong các của thối tha ấy là cuốn " Đi về nơi hoang dã" này đây. Nói chẳng ai tin, sự thực tôi viết nó phần lớn trong…toa lét. Hồi đó hai vợ chồng với con nhỏ quây quần trong căn phòng xép 12 mét vuông tại Chi nhánh NXB Văn Học . Buổi tối vợ con ngủ, sợ ảnh hưởng tới giấc ngủ, tôi mang chiếc máy chữ cà khổ vào toa lét đóng chặt cửa lại và viết "Đi về nơi hoang dã". Không hiểu khi đọc, bạn có thấy bốc mùi chuồng chồ không ?
Viết được 2 chương, ông bạn chí cốt là nhà văn Tùng Điển, nay là quan lớn Hội Liên hiệp VHNT, Hà Nội vào chơi. Tùng Điển đọc xong, nhìn quanh, phán một câu xanh rờn :" Mày chỉ thoát được bằng văn chương chương …" Viết xong cả cuốn đưa Nguyễn Khải đọc. Vài hôm sau, sáng sớm đã thấy Nguyễn Khải hộc tốc đạp xe tới trợn mắt :
" Mày viết thế này…nó bắt..nó bắt.."
Vậy sao mà in. Các NXB miền Bắc dứt khoát không . May thay NXB Văn NghệTP Hồ Chí Minh có biên tập viên Thái Thành Đức Phổ, Giám đốc Hà Mâu Nhai chấp nhận cho xuất bản.
Sách ra, nhà thơ Dương Tường viết quảng cáo trên báo Saigon giải phóng chừng 200 từ khen Đi về nơi hoang dã  rất có tính…đàn ông( tức con đực ).
Nhà văn Tô Hoàng cũng điểm sách trên báo Văn Nghệ nội dung cũng chung chung vậy, có điều dài  hơi hơn.
Nhà văn Trần Thanh Giao trả lời khi bị hỏi "  Đi về nơi hoang dã" ra sao ?". Ông nói :
" Khen thì dại mà chê thì là ngu. Thôi cứ nói là chưa đọc…".
Chỉ vậy thôi rồi chìm vào im lặng. Nghe nói cũng do đại tá Quang Phòng, Cục trưởng A25 hồi đó đập bàn :" Nếu đánh thì đánh Đi về nơi hoang dã của Nhật Tuấn chứ không phải Thiên Đường mù của Dương Thu Hương..".
Thế là giới phê bình trong nước lờ tịt, ngay cả hải ngoại cũng không hơn gì. Bà Thụy Khuê RFI vốn là chỗ cộng tác quen biết, bà sẵn sàng bốc lên mây xanh những cây bút mà nay chẳng ai còn nhớ tới, vậy mà tới nay cũng không nhắc tới "Đi về nơi hoang dã" đến một chữ.
Vài năm trước, "Đi về nơi hoang dã " tái bản ở trong nước và được nhà văn Nguyễn Quang Thân viết giới thiệu trên báo Văn Nghê. Cô Thế Thanh, biên tập viên báo Nhân Dân đưa bài lên trang Chủ nhật, chỉ năm phút , nhà phê bình Nguyễn Hòa, Trưởng ban văn hóa văn nghệ gọi điện tới  :
" Em có biết Nhật Tuấn là ai không ? Em có biết Đi về nơi hoang dã là thế nào không ? Gỡ ngay bài xuống…Gỡ ngay…".
Ong ta rối rít, cuống quýt như có phản động mang bom vào Lăng Bác. Oi chao ôi là chân gác cửa cho báo Đảng, hèn nhát đến vậy mà thiên hạ  vẫn mệnh danh là nhà phê bình dao búa.
Vậy là 25 năm kể từ khi ra đời,  ngoài các bài viết của bạn bè như Thanh Xuân, Phạm Minh Thư, Văn Chính, Nguyễn Quang Thân, Văn Chinh  - "Đi về nơi hoang dã " chưa một lần được nhắc tới trong các bài viết của các nhà  lý luận phê bình trong nước vốn chỉ viết trong những điều…được  viết.  
Vậy mới thông cảm cho bác Nguyễn Tuân :
" khi tôi chết, hãy chôn theo tôi một thằng phê bình".
Tuy nhiên không vì thế mà "Đi về hơi hoang dã" bị chôn theo thời gian, nó vẫn còn được các thế hệ đọc dài dài…

9-6-2015


Đi về nơi hoang dã
Tiểu thuyết NHẬT TUẤN

                        (in lần thứ tư - Huyền trân xuất bản-  California 2001)

Thay lời nói đầu...

Vào dịp Đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ 6 năm 1995, trả lời phỏng vấn đài RFI về văn học Việt Nam thời đổi mới, nhà văn Nhật Tuấn đã phát biểu: “Mấy năm 1987-1991 là thời hòang kim cuả tiểu thuyết Việt Nam. Thời đó giống như có một đứt gãy của lịch sử, khiến cho văn chương trong nước trào ra như dòng phún xuất thạch, hoặc nói theo ngôn ngữ đá banh, lúc đó trọng tài đang mải cãi nhau về luật bóng đá, tranh thủ thời cơ đó, các nhà văn tới tấp dẫn bóng lên làm bàn. “Những thiên đường mù” của Dương Thu Hương, “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma văn Kháng, “Thời xa vắng” của Lê Lựu, “Nỗi buồn chiến tranh “ của Bảo Ninh... và cuốn sách đang trong tay quý vị: “Đi về nơi hoang dã” của Nhật Tuấn là những trái bóng sút tung lưới đó. Tuy nhiên, khác với những cuốn kể trên đuợc làm rùm beng, báo chí đua nhau lăng xê, cuốn của Nhật Tuấn cứ lặng lẽ đi vào nguời đọc và lặng lẽ rơi vào im lặng. Vì sao vậy? Co lẽ nhà văn Trần Thanh Giao ở trong nước đã nói được đúng tình thế lúc đó: “Khen cuốn Đi về nơi hoang dã thì là dại, chê thì lại là ngu. Tốt hơn hết cứ nói là... chưa xem...”. Và thế là cả các nhà văn, các nhà phê bình, các nhà báo văn hóa văn nghệ đều chưa.... đọc như thế. Tại sao nguời ta “ngại” cuốn sách này đến thế? Chống Đảng, nói xấu lãnh tụ, chia rẽ dân tộc chăng? Chả phải! Biểu tượng hai mặt, muợn xưa nói nay, mượn súc vật xỏ xiên con người chăng? Cũng chả phải! Phân tích ra thì chẳng có tội gì mà ngại, nhưng càng đọc càng cứ... tức anh ách. Tại sao thế nhỉ? Ở những cuốn tiểu thuyết mang màu sắc phản kháng khác (Những thiên đường mù, Thời xa vắng, Ly thân...) các tác giả còn muốn tranh cãi, muốn triết luận với chủ nghĩa xã hội quanh các vấn đề cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông nghiệp, hòa bình và chiến tranh....”Đi về nơi hoang dã “ thì không - nó không đối diện, không hội luận, không trao đổi gì hết, nó cũng chẳng buồn nhắc tới cái chủ nghĩa ấy tới một lời - nó chỉ mô tả cuộc đời của những con người tiêu biểu ở trong đó, mô tả, miệt mài mô tả mà thôi. Hại thay, khi mô tả con người với với tấm lòng yêu thương thì tác giả lại tỏ ra khinh miệt, quay lưng không muốn tranh cãi, “không đáng để nói tới” những thế lực đã gây nên sự đày ải con người một cách kinh khiếp đến như thế.
Năm con nguời bị đẩy vào miền hoang dã với nhiệm vụ chính trị cao nhất là tìm một con đường trên núi cao được vạch sẵn do Ban chỉ huy nằm ở mãi dưới đồng bằng và truyền lệnh hàng ngày qua cái máy vô tuyến điện. Cho dù ngay trên đường đi, vấp phải vách đá dài dằng dặc, con đường trên núi ngày càng tỏ ra được thiết kế sai tóet tòe loe, nhưng mọi ngưòi vẫn phải: “tuyệt đối tin tưởng ở cấp trên, thực địa có thể khác với bản thiết kế con đường, nhưng Ban chỉ huy không bao giờ sai...”. Vậy nhưng rồi tới cái ngày ngay cả ông tóan trưởng là nguời lãnh đạo cái đòan người đi trên núi này rồi cũng đã trắng mắt, cay đắng nhận ra rằng Ban chỉ huy đã sai trong chỉ đường vạch lối, vậy nhưng ông vẫn phải nhắm mắt tuân theo “mệnh lệnh là mệnh lệnh, tuyệt đối phải chấp hành, nhiệm vụ chính trị cao nhất của chúng ta trong lúc này là đi tới, đi tới....”, nhưng mà đi tới... đâu, đi tới cái đỉnh Hua Ca chỉ có trong tưởng tượng bằng bất cứ giá nào. Vậy là đã thành một chân lý “Ban chỉ huy không bao giờ sai”, đừng có tranh cãi, triết luận, hội thảo hội thiếc gì với cấp trên hết, nếu không thì sẽ thành thằng “phản động “ “Anh dám nói cấp trên là mù quáng hả? Anh quên mất phải tin tưởng tuyệt đối ở ban chỉ huy hả? Anh đứng trên lập trường giai cấp nào mà phát biểu vô tổ chức, vô kỷ luật vậy? “Một khi vấn đề đã được đặt ra theo kiểu vậy thì “thua” rồi, cho dù có tuyên ngôn, hội thảo, hiến chương, “kết nối” gì cũng vô ích. Cả 5 con người đi trong đòan người thôi không còn tranh cãi, không còn dùng ngôn từ để “nghị luận” với cấp trên nữa, họ im lặng, im lặng nhưng không buông xuôi, họ triết luận với các lý thuyết gia của con đường, với ban chỉ huy bằng chính... cuộc đời thê thiết của họ.
Trước hết là ông tóan trưởng, “suốt ngày câm nín như một con cóc cụ buồn rầu”, khổ hạnh hơn nhà tu, cứng nhắc như nhà giáo điều, khiến lính của ông phải kháo nhau: “Tao nghi lão ấy không có “cặc” quá, chỉ không có cái đó mới sống được như lão”. Niềm vui duy nhất trong ngày của ông là đến tối đánh điện về Ban chỉ huy báo thành tích công tác trong ngày: đi thêm được mấy ngàn mét, bao nhiêu người tập thể dục, bao nhiêu người phát biểu trong các cuộc họp. Miệng ông luôn luôn nhắc nhở “mình vì mọi nguời” nhưng lại dấu diếm mỳ chính, thịt hộp trong ba lô để lén lút ăn riêng. Ông luôn đề cao đạo đức nhưng lại hủ hoá với bà Trưởng phòng, rồi bỏ mặc bà với đứa con nơi công trường lạnh lẽo. Loại người như ông toán trưởng nhan nhản một thời làm nên cái gọi là...”văn minh cán bộ” trong thời kỳ kinh tế bao cấp ở miền Bắc, một thời đã gây nên bao phiền tạp trong đời sống người dân. Vậy nhưng đừng tưởng tác giả sẽ mạt sát, khinh ghét, bôi xấu loại nhân vật đó, ngược hẳn lại, ông toán trưởng vẫn đuợc khắc hoạ với nét bút cảm thông và cái phần “tình người “ của ông vẫn còn lặn vào sâu và bột phát ra mạnh mẽ khi ông đối diện với cái chết.
Người theo sau ông toán trưởng, nối tiếp được thế hệ cha anh chính là thằng “học giả”. Thằng này vốn là con nhà tư sản, trước cách mạng là một thanh niên có hoài bão, mong muốn xây dựng sự nghiệp mà chưa biết đó là cái “sự nghiệp gì”. Khi Đảng, chính phủ giải phóng HàNội thì nó biết rồi, và nó bắt đầu xây dựng cái sự nghiệp ấy bằng cách tố cáo bố nó với đội cải tạo để đến nỗi ông phải thắt cổ tự tử. Không sao cả, mang mặc cảm giết cha và đẩy mẹ tới chỗ đi tu, thằng học giả vẫn còn tự tin, vẫn còn đứng vững được ở trong cuộc đời bởi lẽ nó còn có tình yêu của nàng búp bê, trụ đỡ tinh thần cho nó trong “cuộc sống dưới cấp con người” này. Ấy thế rồi đùng cái, nàng búp bê bỏ nó đi lấy chồng sau khi gửi cho nó mấy câu thơ riễu cợt lý tưởng của nó:
“ Nếu hoài trên đỉnh Phăng xi păng...
Anh chỉ hát trong mây mù huyền diệu...”
Vâng, nếu như thế thì em xin bye bye, em đi lấy chồng. Cái cú “sét giữa trời quang “ này làm thằng học giả “bừng tỉnh” cơn mơ mộng hão huyền, nó ngộ ngay ra một chân lý bốc mùi cơ hội là muốn vượt lên để mà tồn tại trong xã hội này nó buộc phải đểu cáng, phải giả dối, phải lưu manh, phải dẫm lên đồng đội, giành giật quyền lợi về mình, và thế là từ đó vĩnh biệt cái thân phận:
“ ngó tới tương lai trào nước mắt
ngoảnh nhìn quá khứ toát mồ hôi...”
thằng học giả tự biến thành con nguời khác, tách khỏi đồng đội, bám theo đít ông toán truởng, hầu hạ nịnh nọt một cách đê hèn để được ông bàn giao cho quyền lực và đi xa hơn thế nữa, hắn bắt đầu nói năng, suy nghĩ, hành động y như cung cách của Ban chỉ huy vậy. Qua hình tượng thằng học giả, nhà văn đã dự báo sự ra đời của chủ nghĩa cơ hội ngay trong lòng chủ nghĩa xã hội như gan tiết ra mật vậy. Và từ nhận định chính thằng học giả mới là “đệ tử chân truyền” của ông toán truởng, tác giả lại đưa ra một dự đoán: cuộc chuyển giao thế hệ rồi sẽ diễn ra theo chiều hướng là thế hệ sau táo tợn, tham lam, lưu manh hơn thế hệ truớc. Quả nhiên hình ảnh sa hoa, tham lam, vô trách nhiệm của đám con ông cháu cha hiện nay đang làm người ta lo ngại rằng cứ cái đà sống và vơ vét như thế này, mai tới lúc chúng cầm cân nảy mực xã hội thay thế cha ông chúng thì sẽ ra làm sao?
Đó là nói về “những nguời chỉ huy”, thế còn bọn cùng đinh, phó thường dân thì thế nào? Thằng hộ pháp lúc nào cũng hùng hục như trâu lăn, trong đầu chả có tý ý niệm gì về những câu khẩu hiệu thi đua “lấy sương làm màn, lấy lá làm chiếu”mà ông toán trưởng vẫn nhồi nhét vào đầu, nó chỉ mơ ước cướp được vợ thằng xã đội để đưa đi thật xa khỏi xã hội có tem phiếu, có hộ khẩu, có mọi sự “quản lý”. Vậy nhưng khi vỡ mộng, “vợ thằng xã đội đã có thai 3 tháng” chẳng thể nào theo nó đi tới miền hoang dã để xây dựng hạnh phúc được, thì nó không sa đoạ như thằng học giả, ngược lại nó trưởng thành hẳn lên, một ý thức trách nhiệm mới nảy nở và khi lại bỏ làng ra đi về miền hoang dã, thằng hộ pháp đã tự nhủ: “Không, rồi thế nào nó cũng trở về, nhất định là thế, đất làng càng đói nghèo càng không thể dứt bỏ mà đi.”
Thằng cấp dưỡng, cậu con cầu tự thì lại là một dạng khác. Nó là thằng sớm nhận ra “ông toán truởng giả vờ đi ỉa để ăn lén cái bánh trưng”, sớm nhận ra “mặt trời cũng có vết đen”, bởi thế nó mặc sự đời, mặc ông toán trưởng loay hoay với ý nghĩa quan trọng của con đường, mặc thằng học giả giở đủ trò thối tha để đuợc kế cận ông toán truởng, mặc thằng hộ pháp suốt ngày: “ối giời ơi, tao nhớ con vợ thằng xã đội quá”, nó “mặc cha” hết để tập trung mỗi một mục tiêu: làm thật nhiều tiền để về xây nhà cho mẹ. Còn cái thằng nhân vật “tôi” vốn là đứa trẻ mồ côi vô thừa nhận, chẳng có gì mà “nhớ tới”, chẳng có gì mà “nhằm tới”, thôi thì cứ sống theo kiểu “bấc đến đâu dầu đến đấy” vậy thôi. Cái tính bản thiện trong con người khiến nó “kính nhi viễn chi” ông toán truởng, chẳng thể nào nghe theo ông rủ rê làm thế hệ kế tiếp cho ông. Và rồi dường như phận số đã mỉm cười với nó khi đưa đến cho nó mối tình thuần khiết của nàng Sao miền rừng núi.
Cái kết cục của “Đi về nơi hoang dã” không chỉ cho ta cái kết cục tất yếu ảo tưởng về một con đuờng đi tới được đỉnh Hua Ca. Hơn thế nữa, cái đỉnh Hua Ca kia chỉ có trong “huyền thoại” và một khi huyền thoại đã không còn nữa, thì tình yêu thương giữa con người với con người sẽ thay thế cái đẹp mà cứu chuộc thế gian này. Sự tồn tại và trưởng thành của dân tộc ta qua biết bao thăng trầm của lịch sử, biết bao bão táp của chiến tranh và cách mạng, phải chăng đã minh chứng điều đó.
Và với thông điệp như vậy hẳn là “Đi về nơi hoang dã “ sẽ còn được các thế hệ mai sau đón đọc...

NHÀ XUẤT BẢN HUYỀN TRÂN
     
          California tháng 1/2001

               (còn tiếp)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét