Sáu.
Ngay sáng hôm sau ông toán trưởng đã huýt còi tập họp:
“Đêm qua ai đốt rừng
Thằng học giả xua xua tay sau đít ra hiệu cho tôi lờ đi, nhưng
không kịp, tôi đã giơ tay lên:
“Báo cáo, chính tôi”.
“Anh đốt làm gì? Phá hoại tài sản quốc gia hả?”
Thằng học giả nhanh nhảu:
“Báo cáo đồng chí đấy là sáng kiến phục vụ sản xuất đấy ạ. Mai
mốt mình đi phóng tuyến đỡ phải phát cây, vừa tăng năng suất vừa tiết kiệm lao
động”.
Ông toán trưởng quát lên:
“ Sáng kiến kiểu đó các anh giết tôi. Kiểm lâm họ biết được gô
cổ cả lũ”
Tôi cười thầm, ông dọa thế thôi. ông nội thằng kiểm lâm cũng
chẳng mò được lên cái đỉnh núi chỉ có vết chân thú này, tôi hiểu cái việc đốt
rừng này chả là cái gì, ông bực bội cái khác, giận cá chém thớt vậy thôi. Tất
nhiên, với ông, mọi nơi buồn, vui, cáu giận đều xoay quanh chuyện công tác,
ngoài cái đó ra, hình như ông chỉ còn mỗi việc ăn và ngủ. Đôi lúc, thằng học
giả lại thì thào: “Tao đố mày thủ trưởn g đang nghĩ gì? “ Tôi liếc nhìn ông lúc
đó đang ngồi như một con cóc cụ nín rình đớp muỗi, ngay cả tấm bản đồ và cái
địa bàn, những vật bất ly thân của ông đang đặt trước mặt, hình như cũng không
phải thứ ông quan tâm. Bên trong cái vẻ ngoài băng lạnh kia, có trời biết được
đang diễn ra những cảm nghĩ gì.
“Tao nghi lão này bị thiến quá, phải không có cặc mới sống được
như lão”. Thằng học giả cứ khăng khăng như thế, nó bảo trên thế giới đã có cả
một học thuyết về cái đó, và cứ theo lời nó giảng giải, mọi sự điên rồ của con
người ta đều từ đó mà ra cả. Giả dụ như lão toán trưởng, mình ăn miếng ngon lão
cấm, thịt phải kho thật mặn, canh bỏ ít mì chính thôi, nửa đêm khó ngủ mò dậy
đọc sách lão cấm, tán tỉnh rờ mó đàn bà, lão cũng cấm luôn, cứ sống đúng như
lão thì chỉ có quanh năm khoác ba lô, suốt ngày nói chuyện công tác, mẹ kiếp,
sống như vậy thì điên nặng quá rồi còn gì. Rồi nó khoe với tôi là vừa mới phát
minh một biện pháp giáo dục tinh thần yên tâm công tác rất có hiệu quả mà chưa
một thủ trưởng nào nghĩ ra. Tôi không nhịn được cười: “Chính mày mới điên. Mấy
ông Ban chỉ huy nghiên cứu có mỗi chuyện đó còn chẳng nghĩ ra huống hồ cái thứ
tốt đen như mày”.
Nó đắc chí: “Ấy thế mà có đấy. Tiết lộ riêng với mày thôi nhé.
Muốn cánh ta yên tâm công tác, khỏi thắc mắc tiền đồ, hưởng thụ, tốt nhất mấy
ông trên cứ cho... thiến béng tất cả đi...”Rồi nó làm một động tác làm tôi sởn
gai ốc. “Ấy đấy cứ thế là ai cũng suốt ngày chỉ nghĩ đến nhiệm vụ sản xuất như
ông toán trưởng cả thôi”. Tôi nhìn chằm chằm vào mặt nó: “Chính mày mới điên,
cái thằng mọt sách kia”. Nó phá ra cười ha hả, cười rũ rượi đến ràn cả nước mắt
khiến tôi phải nhòm vào mắt nó: “Mày khóc đấy hả? “ Nó trừng mắt, đạp vào người
tôi: “Cút mẹ mày đi”. Tôi quay lưng, không thèm chấp cái thằng thần kinh, sách
vở tệ hại thế đấy, cứ đi làm, ăn no ngủ kỹ như tôi, như thằng hộ pháp quanh năm
chẳng nhét lấy một hạt chữ vào bụng thì đâu đến nỗi dở người như thế.
Tuy nhiên những lời lẽ điên rồ của thằng học giả không phải là
không gây cho tôi một ngờ vực nào đó. Dĩ nhiên ông toán trưởng không thể bị
“thiến” được, bằng cớ là ông đã có một vợ ở quê xa lại làm có con với một bà
trưởng phòng. Vậy nguyên cớ gì ông sống ép xác như một bộ xương khô thế? Tôi
không tin đó là sự hy sinh quên mình vì lý tưởng. Còn một căn nguyên nào đó mờ
mịt lắm mà bộ não vốn lười nhác của tôi không quen soi sáng những cái trừu
tượng. Thôi kệ ông sống theo cách của ông, còn tôi có kiểu của tôi dẫu rằng tất
cả mọi người trong toán thăm dò khảo sát đường này đều luôn được nhắc nhở chung
một điều rằng phải thường xuyên sống vì người khác và luôn diệt trừ kẻ thù ở
bên trong chính mình: Chủ nghĩa cá nhân trong mỗi chúng ta.
Ngay tối hôm đó, tôi đã biết ông toán trưởng bực mình chuyện gì
rồi. Sau khi hí húi mãi với cái máy vô tuyến điện ở trong góc hang, ông lại họp
chúng tôi, mặt đầy đau khổ, ông nói:
“Mấy hôm nay các đồng chí đã biết cả rồi, tuyến đường ta đang
thăm dò húc phải vách đá rất dầy. Tôi đã điện về ban chỉ huy xin bỏ phương án
này, cho thăm dò hướng khác vì vài tuyến vạch trên bản đồ có thể sai, không
đúng với thực địa. Tối nay Ban chỉ huy đã điện trả lời: cấp trên đã nghiên cứu
rồi, không thể có chuyện sai, chúng ta phải thăm dò cho hết tuyến đường”.
Tôi đá chân thằng hộ pháp cho nó thôi cười nhăn nhở với thằng
cấp dưỡng, chú ý nghe ông toán trưởng. Với hai thằng đó, chuyện có vách đá hay
không, cấp trên đã vạch đường đúng hay sai chả có gì quan trọng đó là việc mấy
ông trên, thực ra, cả tôi cũng thế, cũng mặc kệ các ông như thằng hộ pháp và
thằng cấp dưỡng thôi. Lúc bắt đầu thămdò tuyến đường, các ông bảo nó rất quan
trọng, nó là con đường huyết mạch để phát triển miền núi tương lai, tôi cũng
chấp nhận là nó rất quan trọng, giờ nếu mấy ông bảo thôi bỏ đi, nó chẳng có vai
trò gì trong việc nối liền miền xuôi với miền ngược thì tôi cũng rất vui lòng
mà đồng ý vậy thôi, “gái góa lo chi chuyện triều đình”. Tuy nhiên lại vẫn chỉ
có thằng học giả là hay “rắc rối cuộc đời”, ông toán trưởng nói xong, tôi vừa
nhổm dậy định lên võng đánh một giấc thì nó ngăn lại, giơ tay phát biểu:
“Tôi xin hỏi đồng chí toán trưởng, tại sao tuyến thăm dò đã húc
vào khu vực vách đá dài như thế mà vẫn bắt anh em làm tiếp một cách mù quáng
vậy?”
Ông toán trưởng sa sầm mặt:
“Anh phát biểu vô tổ chức. Anh dám nói cấp trên là mù quáng hả?
Anh quên mất phải tin tưởng tuyệt đối ở Ban chỉ huy hả? Anh đứng trên lập
trường giai cấp nào dám phát biểu vô tổ chức, vô kỷ luật thế?...”. Ôi thôi, cứ
cái đà này ông xổ ra, không khéo thằng học giả bị quy vào tội phản động, thành
phần tư sản chui luồn vào giai cấp công nhân để phá hoại. May cho nó, ông toán
trưởng bất ngờ lên một cơn ho dữ dội, ông vốn mắc bệnh hen kinh niên, cứ lúc
giở giời hoặc hăng lên phát biểu, tiêu phí quá đi phần hơi ông có thể hít vào,
lập tức ông lên cơn ôm ngực nấc nấc thật khổ sở. Thằng học giả cũng có vẻ cáu
lắm, mặt nó hầm hầm chờ ông toán trưởng vượt qua được cơn hen nó sẽ nổ lại ông
chắc không kém gì lúc ông mang ngôn từ ra bắn giết nó. Thôi tôi đành phải dàn
hòa, nếu không, cuộc họp kéo dài đến nửa đêm cũng không xong. Tôi nói:
“Đồng chí toán trưởng phát biểu rất đúng, chúng ta phải tuyệt
đối tin tưởng cấp trên, thực địa có thể khác với bản thiết kế con đường, nhưng
Ban chỉ huy thì không bao giờ sai. Còn ý kiến anh Hiếu (tên cúng cơm của thằng
học giả) cũng có cái lý của nó. Anh lo con đường sau này không thi công nổi,
như the là rất có tinh thần làm chủ. Tuy nhiên chắc chắn cấp trên đã lo cả rồi,
mai mốt ta dùng bom nguyên tử, một vách đá chứ cả mười quả núi đá chúng ta cũng
phá tan được hết.”
Thằng hộ pháp sướng quá vỗ tay:
“Hoan hô, nhất trí với cấp trên”.
Thằng học giả cũng phì cười, bao nhiêu tức giận xì ra hết.
Riêng ông toán trưởng, tâm tư lúc này dồn hết vào việc cắt cơn hen, hơi sức đâu
bới chuyện, cuộc họp thế là vui vẻ giải tán.
Sáng hôm sau, tôi yên chí được nghỉ thêm một ngày nữa vì ông
toán trưởng tối qua lên cơn hen thế, bò dậy sao được. Vậy mà không, mới mờ đất
tiếng còi của ông đã lại rúc lên, tàn nhẫn đánh vào hy vọng nghỉ ngơi của bọn
tôi. Thằng học giả nằm trên võng, thò đầu ra càu nhàu:
“Cái lão này, người lão đúc bằng bêtông cốt sắt hẳn”.
Thằng hộ pháp mới thức giấc cũng lên tiếng:
“Tao đang nằm mơ thấy con vợ thằng xã đội chui vào võng tao,
trời đất ơi, tao sắp sửa nhốt “con quỷ sứ” vào “cái địa ngục” thì lão thổi còi
phá đám, tiếc ơi là tiếc...”
Tôi phì cười:
“Như thế là may cho mày lắm đó”.
Thằng hộ pháp trợn mắt:.
“May là may làm sao, phá giấc mộng vàng của người ta”.
“Nếu không thổi còi, cứ để hai đứa quần thảo nhau trên võng nhỡ
đứt dây dám gãy cổ “con quỷ sứ” của mày lắm”.
Thằng hộ pháp cười hì. hì, nhảy xuống võng, lom khom tìm giầy.
Tội nghiệp nó, năng lượng thừa chẳng biết đổ đi đâu đến nỗi ngay nghỉ trưa
ngoài rừng nó cũng chẳng nghỉ, hì hụp một mình khiêng đá lăn xuống vực cho đất
lở ầm ầm để vỗ tay cười. Tính nết nó hồn nhiên và trẻ con nhử thế. Có lần tôi
nghe thằng học giả mắng nó: “Sao lúc nào tao cũng thấy mày nhăn răng ra cười
thế. Sống như tù thế này, mày thích lắm hả? “. Thằng hộ pháp không những không
tự ái mà còn hềnh hệch cái miệng: “Nạc quan là niều thuốc bổ nghe chửa? Nhăn
nhó đăm chiêu như mày có ngày chết sớm”. Có lẽ bởi thế nó khỏe như một con trâu
rừng chăng? Một nhà tạc tượng bắt gặp nó tắm truồng ngoài suối hẳn là phải ngẩn
người thán phục và thèm thuồng cái cân đối, rắn chắc trong những cơ bắp của nó.
Còn thằng học giả cứ trầm trồ:
“Tiếc quá, tao tiếc cái thân hình lực sĩ của thằng hộ pháp quá.
Bọn đạo diễn điện ảnh nhìn thấy nó là vồ ngay. Ấy thế mà cứ cái kiểu làm việc
“mặt trời không lặn” này chỉ vài ba năm nữa là nó thân tàn ma dại. Tao mà có
cái thân hình như nó, tao chia tay ông toán trưởng liền”. Tôi hỏi: “Mày sẽ làm
gì? “ Nó phì cười: “Làm thằng đĩ đực chuyên hầu hạ các phu nhân của các ông lớn
quanh năm sách cặp đi nước ngoài”. Tôi bảo nó phải từ bỏ ngay cái cách nghĩ xấu
về mấy ông to đó đi họ toàn là những người được trui rèn trong đấu tranh. Nó
cười sằng sặc chửi tôi quanh năm rúc rừng không biết thế nào là cuộc đời “đen
như cứt chó”, rồi nó lại vỗ vai tôi gật gù: “Cũng được, thôi cũng được, mày cứ
ngu thế này, cứ sống nơi hoang dã thế này đỡ phải nhìn thấy mặt trái cuộc đời có khi lại hay cơ đấy” Tôi đoán thằng họe giả phải có nỗi đau nào ghê gớm lắm
nên thỉnh thoảng cứ nổi cơn dở hơi như thế. Chao ôi, cái “xã hội” của tôi nơi
hoang dã này chỉ có bốn thằng đực rựa và một ông lão hết hơi mà cũng phức tạp,
rắc rối đến thế, thử hỏi xuống thành phố người đông như kiến cỏ, chen vai thích
cánh nhau thì còn loạn xạ đến đâu. Thôi, thà vất vả cực nhọc nhưng được sống
với nắng rừng gió núi như thế này lại chả hơn ư? Tôi sung sướng hít một hơi khí
mát lạnh căng đầy lồng ngực rồi thở ra thành tiếng hú dài. Những vách đá trắng
im lìm như những bức tường thành khổng lồ vọng lại: “oa... oa... oa...” làm tôi
càng hứng chí.
“Mày phát rồ đấy hả?”
Thằng học giả quát lên rồi bỗng nó trợn mắt nhìn thằng hộ pháp
lễ mễ vác tới một tảng đá:.
“Kìa lại thêm một thằng phát điên”.
Thằng hộ pháp không trả lời, hì hục
đẩy tảng đá tới mép vực “Một, hai... ba này...” nó bám chặt vào sợi dây leo
lòng thòng, gồng cứng người lại rồi dùng cả hai chân đạp cho tảng đá lăn ầm ầm
xuống dưới khe sâu
(còn nữa)
.PHỤ LỤC :
Little Saigon Radio Giới thiệu Đi về nơi hoang dã của nhà văn
Nhật Tuấn...
Vũ Kiểm và Thụy Trinh
xin trân trọng kính chào quý thính giả...
Trước hết, như đã trình bày tuần trước, chiều ngày Thứ Bảy mùng
7 này sẽ có một cuộc gặp gỡ giữa những người yêu sách tại Hội quán Little
Saigon Radio. Dưới sự bảo trợ của các nhật báo Người Việt, Việt Báo và Viễn
Đông, cùng tạp chí Thế Kỷ 21, Công ty truyền thông Kícon.com, đài phát thanh
VNCR, đài truyền hình Little Saigon Television, Little Saigon Radio và một số
thân hữu, một buổi ra mắt sách rất đặc biệt sẽ được tổ chức vào lúc ba giờ chiều
ngày Thứ Bảy tại Hội quán Little Saigon Radio, số 15781 Brookhurst, thị xã
Westminster.
Xin mời quý thính giả tham dự đông đảo, để nghe nói chuyện về
một tác phẩm độc đáo, là cuốn Đi về nơi hoang dã của nhà văn Nhật Tuấn. Được
viết từ hơn 10 năm trước, cuốn truyện vừa được tái bản lần thứ tư ở hải ngoại,
nhưng ở trong nước, suốt 10 năm qua, nó bị chôn vùi dưới sự im lặng nặng nề và
lúng túng của nhà cầm quyền. Vì sao như vậy, có lẽ hai nhà văn Nguyễn Mộng Giác
và Hoàng Khởi Phong có thể trình bày cho chúng ta trong buổi gặp gỡ cuối tuần
này. Trong chương trình hôm nay, chúng tôi cũng sẽ có bài giới thiệu tác phẩm Đi về nơi hoang dã của Nhật Tuấn:
Ánh mặt trời trong cõi hoang dã của Nhật Tuấn
Từ quá lâu rồi, những sáng tác văn học ở trong nước đều thuộc
loại mà nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến gọi là “văn chương phải đạo”, với đề tài
phải thích hợp với một số tiêu chuẩn chính trị. Tùy theo tình hình chính trị và
cả nhu cầu bang giao của chế độ, tiêu chuẩn đó có thể thay đổi, nhưng sự canh
chừng kiểm soát thì bất di bất dịch. Sau thời “đổi mới”, và nhất là từ khi cựu
Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh ra lệnh “cởi trói” văn nghệ sĩ, thì một loạt sáng
tác có giá trị đã ra đời. Đó là những năm 1990-1991. Mùa Xuân đó không kéo dài,
nhưng cũng đủ gieo thêm sóng gió cho văn học.
Từ bên ngoài này, chúng ta vui mừng nghĩ tới một sự hồi sinh
của văn học trong nước. Cũng từ ngoài, một số người lạc quan gọi trào lưu sáng
tác đó là “văn chương phản kháng”, và lập tức gặp sự nghi ngờ của những người
bi quan. Thành phần bi quan này cho rằng những sáng tác đó, như Những Thiên
Đường Mù của Dương Thu Hương, Ly Thân của Trần Mạnh Hảo, Nỗi Buồn Chiến Tranh
của Bảo Ninh chẳng hạn, là loại văn chương “đối lập cuội”, phản kháng giả. Nhờ
khoảng cách địa dư, chúng ta nhiều khi đòi các tác phẩm đó phải chống cộng dứt
khoát triệt để hơn. Và trong khi ở quê nhà, việc “cởi trói” văn nghệ bị lặng lẽ
kết thúc thì ở bên ngoài, chúng ta lại thấy nảy sinh một phản ứng cũng nghiệt
ngã không kém.
Đó là đòi hỏi các nhà văn trong nước phải cầm bút như kẻ giác
đấu, để đánh những đòn chí tử vào đảng và nhà nước Cộng sản. Chưa được vậy, thì
tác phẩm cứ bị coi là vô giá trị, dù nhiều người cũng chưa hề đọc. Chẳng những
tác phẩm đã vô giá trị mà người viết còn đáng bị nghi ngờ là thi hành một âm
mưu giao lưu văn hóa nào đó có lợi cho chế độ cộng sản. Ở cái cõi nhân gian mà
sự đa nghi được dựng thành chân lý, và ai cũng có thể là phán quan thẩm định
giá trị tác phẩm nghệ thuật theo tiêu chuẩn chính trị của mình, thì còn có chỗ
nào cho văn chương và nghệ thuật?
Cuốn Đi về nơi hoang dã của Nhật Tuấn đã rơi vào hoàn cảnh đó.
Bên trong chẳng dung, bên ngoài chẳng chịu, tác phẩm bị cả hai bên cho trôi vào
quên lãng. Nhưng, may thay, chúng ta vẫn còn có những người yêu chuộng văn
chương tìm cách tái bản tác phẩm này. Vừa rồi, nhà Xuất bản Huyền Trân tại California đã tái bản
cuốn sách và mười năm sau những thịnh nộ ồn ào của cái thời vừa cởi đã cột, và
bị cột rồi còn bị đánh, ta có thể bình thản đọc lại tác phẩm này...
Trước hết, để trấn an những người quá lo lắng cho nhu cầu chính
trị, xin nói ngay là lâu nay, chúng ta ít có cuốn sách nào thuộc loại chống
Cộng sâu sắc và triệt để đến như vậy. Nhiều người cho rằng nó còn dữ dội hơn
Những Thiên Đường Mù của Dương Thu Hương, dữ dội như một lò lửa lạnh, vì nó
thiêu đốt tất cả mà không gây tiếng nổ. Một số người đánh giá Đi về nơi hoang
dã của Nhật Tuấn cũng sâu độc như Chuyện kể về năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn. Nếu
cần, chúng ta có thể trích dẫn phản ứng của viên Cục trưởng Cục An ninh Văn hóa
thời đó của Hà Nội, rằng “Nếu phải đánh thì đánh cuốn Đi về nơi hoang dã của
Nhật Tuấn, chứ không phải Những Thiên Đường Mù của Dương Thu Hương, hay Ly Thân
của Trần Mạnh Hảo...”
Quả vậy, cuốn truyện vỏn vẹn có 280 trang đã minh họa với nghệ
thuật biểu tượng cao những nét bi hài nhất của xã hội chủ nghĩa nước ta. Bi
nhiều hơn hài, vì sự giả tạo của cái dự kiến xây dựng chủ nghĩa xã hội như một
cuộc hành trình vào vô định, mà người lãnh đạo nghiêm túc tiến hành, chăm chỉ
và đầy nhiệt tình theo kiểu đốt sạch rặng Trường Sơn cũng cam. Và hài ở phản
ứng rất người của các diễn viên trong bi kịch. Họ phản ứng như những con người
phàm tục, trước một công trình vĩ đại như vậy. Phàm tục nhất chính là của người
toán trưởng, vị chủ tịch kính mến của một cộng đồng rách rưới…
Như một truyện Tây du ký của cõi âm, năm nhân vật trong truyện
có thể là điển hình của những căn tính rất người. Họ là ông Toán trưởng, người
có được sự giao cảm với Thiên mệnh, là một Ban chỉ huy mơ hồ nào đó, qua cái
máy vô tuyến điện đầy quyền uy trong rừng già. Họ là một anh Học giả, trí trá
trong sự uyên bác nửa mùa và cũng chỉ ôm ấp một giấc mơ tầm thường, để sau này
thành một toán trưởng tầm thường. Họ là một gã thẳng người to thớ, sống với bản
năng, là tên Hộ pháp, có thể trở thành kẻ đào ngũ rồi cũng lại trở về với anh
em vì bản năng của mình. Họ là một anh cán bộ đời sống, tên Cấp dưỡng có đầy
phản ứng thực dụng như một con kiến. Sau cùng, trong đám rước điên cuồng này,
có nhân vật xưng là Tôi, tiêu biểu cho con người tiểu tư sản, sáng suốt, tỉnh
táo nhưng cũng đành chấp nhận luật chơi và nhìn vào quần thể còn lại như nhà
nghiên cứu nhìn vào những con vi trùng qua kính hiển vi. Họ được giao phó nhiệm
vụ phá rừng xẻ núi để đi tới một thiên đường mờ mịt nào đó, gọi là đỉnh Hua Ca.
Và dù có đâm vào vách núi đến tóe máu, họ vẫn đi, phải đục núi mà đi, vì Ban
chỉ huy chẳng thể nào lầm được… Bên kia vách núi, chắc chắn phải có cái ngày
mai tươi sáng đó. Cả tác phẩm, ngoại trừ một chữ “đồng chí”, ta tuyệt nhiên
không thấy một ám chỉ nào về chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa xã hội. Nhưng,
chẳng ai có thể lầm được…
Tuy nhiên, nếu chỉ đọc tác phẩm ở khía cạnh đó, để yên tâm là
mình đang có trong tay một sáng tác chống cộng sâu sắc, có lẽ bạn đọc sẽ bị
thiệt thòi rất nhiều. Chúng ta nên tự giải thoát khỏi hai thái cực, hoặc là đọc
loại văn chương phải đạo, khô như ngói và thô như vải đay, hoặc đọc vào loại
văn chương đả đảo, trong đó mọi giá trị hay thần tượng cộng sản phải được di
xuống đất đen. Chúng ta cũng nên tránh phản ứng của một thứ trọng tài độc đoán,
khi nhìn vào đấu trường chỉ biết xem ai đánh đảng quyết liệt hơn ai. Nên trả
cho nhà văn cái quyền được sáng tác theo sở nguyện.
Nếu đọc lại Đi về nơi hoang dã của Nhật Tuấn trong tinh thần
đó, độc giả sẽ khám phá ra một tác phẩm văn chương có giá trị hơn là những châm
biếm cay độc dành cho một chế độ đáng ghét. Vì trong cuộc hành trình vào vô
vọng, ngần ấy nhân vật đều có những biến thái về tâm tính. Họ không bị đóng
khung trong nhiệm vụ bôi bác chế độ. Họ có thể yếm trá đấu trí với nhau trong
một môi trường mà sự tồn tại là quy luật căn bản, nhưng họ cũng đấu tranh với
chính bản thân, để tìm lại cái hồn người trong một trò chơi của quỷ. Và chính
là những xoay chuyển, nhiều khi đột ngột, đôi khi ngây thơ và thường là rất
thương tâm, đã khiến họ không tới được cái đỉnh Hua Ca kinh tởm kia, mà trở lại
cõi thế rất người. Một điểm đặc sắc của tác phẩm là các nhân vật nữ. Trong cả
câu chuyện của năm kẻ đi phá núi xẻ rừng, như một vở kịch đen, tác phẩm không
có một nhân vật nữ nào. Nhưng, ẩn hiện trong suốt vở kịch, vẫn là hình ảnh của
đàn bà.
An phận nuôi đứa con hoang là bà trưởng phòng, người tình chốc
lát của ông toán trưởng, trước khi ông thủ diễn vai lãnh tụ tìm đường cứu nước.
Nồng nàn mà nông nổi là vợ thằng xã đội, người đã làm thằng Hộ pháp đào ngũ rồi
lại trở về. Ngây thơ mà tính toán như em bé búp bê của thằng Học giả, người làm
giấc mơ sự nghiệp của hắn trở thành ác mộng của thủ đoạn. Thánh thiện và đẹp
nhất vẫn là hình ảnh của nàng Sao, một thiếu nữ gốc thiểu số, với sự chân chất
và thủy chung của người miền núi. Nàng lóng lánh tựa viên kim cương trong cõi u
tì trầm luân đó. Nhật Tuấn không viết nhiều, mà chỉ vài câu cũng làm nổi rõ tâm
lý của họ. Như cái chốt bật của định mệnh, những nhân vật nữ đó ngự trị ở từng
trang sách, và thành nguồn cứu rỗi cho cái nhân loại xoay trở nơi chốn lầm than
kia. Điểm đáng chú ý khác của tác phẩm, là hình như tác giả đã sống rất thực
trong thế giới xẻ núi lấp sông trên mạn ngược, nên những đoạn mô tả chặng đường
chông gai trong rừng già u tối hay núi non khốc liệt, đã có giá trị như một bức
tranh hiện thực buồn thảm.
Sẽ phải có một ngày nào đó, mà văn chương nước nhà cần được
giải phóng khỏi những sứ mệnh lập thuyết, những hình thái luận đề về cái lẽ
đúng sai, để trở thành tác phẩm diễn tả trung thực những phấn đấu của con người
trong môi trường nghiệt ngã nhất, hầu bảo toàn được nhân tính của mình. Loại
văn chương đó có thể nói tới những cái rất riêng, thí dụ như sự tăm tối của một
xã hội Á Châu lầm than trong quyền sinh sát của một đảng phù thủy nhược tiểu,
nhưng cũng lại nêu lên những vấn đề rất chung của nhân loại, những vấn đề muôn
thuở ở mọi thời mọi nơi.
Cuốn truyện Đi về nơi hoang dã dường như đã mở cho chúng ta cái
hy vọng đó. Và nên được đón nhận như một tác phẩm văn chương có thể tồn tại rất
lâu mà chẳng cần xác định giá trị nhờ nội dung phản kháng. Điểm đặc biệt nhất,
sẽ ám ảnh chúng ta trong suốt chiều sâu của tác phẩm, là phong cách viết của
tác giả. Ông có thể là một người phóng đãng, cực kỳ cynic, cực kỳ đểu cáng
trong cách cười khẩy vào thảm kịch của mình, nhưng ông không tuyệt vọng về bản
chất con người. Cho nên, trong cõi hoang dã của ông, chúng ta vẫn thấy lấp lánh
ánh sáng mặt trời.
Vì vậy, tác phẩm không để lại dư vị đắng chát cho người đọc, mà
vẫn hứa hẹn một buổi bình minh khác, chắc chắn không phải là trên đỉnh Hua Ca.
Kính nhà văn. Tôi đang đọc lại tác phẩm này sau lần đọc của http://www.khotruyenhay.net/
Trả lờiXóaTrên Kỳ 6 này, gần cuối có một chỗ in là: .... cứ sống nơi hoang dã thế này đỡ phải nhìn thấy mặt trái cuc (r) i c khi l¹i hay kia (r) y”
tôi không hiểu mói gì hay đó là lỗi đánh máy, in ấn ạ?
Cám ơn
Tôi dã sửa...cảm ơn bạn
Xóa