Bảy.
Cái ngày đầu tiên chúng tôi đi men theo vách đá thật là vất vả, nguy hiểm. Đường đi cực kỳ khó khăn nên ông toán trưởng hạ lệnh “nhổ trại”, tất cả phải khoác theo đồ đoàn, vừa đi vừa đo tuyến, tối đâu ngủ đó, sáng sau đi tiếp. The là thằng cấp dưỡng không còn an nhàn nằm chơi trong lúc chúng tôi vất vả như trước nữa, nó cũng phải bó gọn nồi niêu xoong chảo khoác lên vai và bò men vách đá. Không rõ ông toán trưởng nhặt được nó từ cái xó nào mà tinh thần nó bạc nhược đến thế. Thằng hộ pháp đã phải chặt một cây làm tay vịn chỗ vách đá phẳng lì không nơi bấu víu, mà nó vẫn sợ không dám bước qua. Nó nhìn xuống chiều sâu hun hút dưới đó có một con sông trông chỉ nhỏ bằng một eon rắn đang vặn mình, run bần bật bước thử vài bước rồi lùi lại:
“ối
giời ơi hãi lắm, tao chịu thôi, trượt chân thì tan xác.”
Thằng
hộ pháp quát to:
“Đừng
có nhìn xuống dưới đó, nhìn vào tao đây này...”
Nó
thoăn thoắt bước qua đoạn vách đứng làm mẫu cho thằng cấp dưỡng rồi vòng trở
lại: nào, bước đi, thằng của nợ”.
Chao
ôi, điệu bộ thằng cấp dưỡng trông mà thương, nó ngồi thụp xuống, cố không nhìn
xuống vực sâu, nhưng ma ám sao đó, nó cứ he hé mắt nhìn cái con rắn đỏ ngầu
đang cuộn dưới đó. Cậu cả này là con cầu tự, gia đình họ xa của ông toán
trưởng. Hơn hai chục tuổi đầu, cậu còn chưa vượt qua lớp bảy phổ thông, còn
thích chơi thả diều, đánh khăng với đám con nít trong làng hơn là vác cuốc theo
mẹ ra đồng kiếm ít điểm hợp tác xã. Buổi sáng, mặt trời dọi thẳng vào màn, cậu
mới oằn oèo dậy, xuống bếp lục chạn có gói sôi, quả trứng luộc, hoặc cái bánh
chưng mẹ để sẵn rồi đến trưa trưa, mẹ đi làm đồng về đã thấy cậu nằm trên
giường ngáy khò khò. ông toán trưởng về thăm bà chị họ, nhìn thấy ông cháu suốt
ngày quanh quẩn giữa bốn bức vách, xềm xệp như gái đẻ, mới lắc đầu:
“Thằng
này rồi hỏng. Cứ rúc xó buồng thế kia bao giờ mới thành người. Thanh niên bây
giờ nguời ta chịu khó phấn đấu rèn luyện cả, có ai bám váy mẹ mãi như nó”.
Cái
tiền đồ ông vẽ ra cho cậu con cầu tự huy hoàng quá khiến bà mẹ bấm bụng giao nó
cho ông đưa nó lên đường xây dựng sự nghiệp. Trong bọn tôi, nó là thằng vô tích
sự nhất, cầm dao phát cây không chặt, leo trèo trên tuyến thì run bần bật, thôi
xếp nó vào chân nấu ăn, ưu tiên cháu ông toán trưởng. Nhưng chao ôi, có lẽ cả
đời cậu cả chưa mó vào rá gạo, bởi vậy bữa đầu cậu nấu cơm thành cháo, bữa sau
được rút kinh nghiệm cậu nấu thành gạo rang, làm thịt vịt không đủ kiên nhẫn
nhổ sạch lông, cậu đem đặt nghiến lên bếp thui. ông toán trưởng ra sức nhồi
nhét vào đầu cậu đủ mọi lời hay ý đẹp nhưng vào tai này nó ra tai kia, thỉnh
thoảng cậu vẫn ngủ quên trễ cả giờ nấu ăn, hoặc đôi khi nửa đêm nhớ mẹ, cậu vẫn
thút thít khóc, mãi rồi ông toán trưởng cũng chán, ông mặc cậu, thôi không còn
dậy dỗ bảo ban như buổi đầu nữa. Chỉ có một điều tôi thấy lạ là khổ cực đến
đâu, cấm có bao giờ cậu hé răng đòi về với mẹ. Có lúc nhìn thấy nó lập cập hai
tay xách thùng nước từ dưới suối lên, cái thân hình còm cõi của nó eứ lăm le đổ
nghiêng xuống đất, thằng hộ pháp xui nó:
“Tao
như mày chuồn bố nó về với mẹ. Người ngợm như cây sậy thế kia không theo nổi
được bọn tao đâu.”
Thằng
học giả cười cợt:
“Nhưng
nó là cây sậy biết nghĩ. Chúng mày đừng xui dại, bàn lùi. Nó quyết tâm phấn đấu
đấy. Cố lên con, mai kia thay thế ông toán trưởng lãnh đạo bọn tao”.
Chao
ôi, thật chẳng ngờ cái thằng lẻo khỏeo, xanh rớt như con sâu đo ấy lại hung dữ
tllế. Nó quẳng ngay thùng nước xuống chân thằng học giả rồi eứ thế xông đến đấm
tới tấp. Thằng kia gồng cứng khuỳnh hai tay, ưỡn ngực, xuống tấn cười ha hả:
“Đấm
đi, đấm nữa đi con, tao cho mày đấm gãy tay thôi.”
Thằng
hộ pháp phải xông vào, giằng ra, quẳng mỗi đứa đi mỗi phía. Mãi sau này thằng
cấp dưỡng tỉ tê tâm sự, tôi mới hiểu thằng học giả đã nói oan cho nó, nó không
trốn về, cắn răng chịu đựng chẳng qua nó thương mẹ, không muốn bà vở mộng vì nó
mà thôi. Ấy thế rồi con người ta kể cũng lạ, thằng cấp dưỡng hóa ra rất dai
sức, qua vài năm sống giữa vùng lam sơn chướng khí, nó chẳng đau ốm gì như
người ta tưởng, thịt da tuy không nảy nở nhưng săn chắc, cái vẻ cô hồn trên
gương mặt đã tiêu đi, duy chỉ còn cái bệnh lười và nhát sợ là hai thứ bệnh kinh
niên có lẽ cậu con cầu tự chẳng bao giờ chữa được. Bò lê bò lết mãi rồi thằng
cấp dưỡng cũng vượt qua được đoạn chênh vênh nhất của vách đá. Thằng hộ pháp
cười hềnh hệch:
“Mày
thử sờ lên cổ coi hai hòn dái có thọt lên đó không?”
Thằng
học giả đi sau cũng đang men vách đà lần tới, miệng lẩm bẩm: “tồn tại quyệt
định ý thức con người, tồn tại...” Bỗng nhiên thằng cấp dưỡng rú lên, nhắm
nghiền mắt lại. Tôi chỉ thoáng thấy thân hình thằng học giả đỗ nghiêng ra phía
ngoài, lộn đi mấy vòng rồi treo lơ lửng trong khoảng không, dãy duạ đôi chân
một cách tuyệt vọng. Thằng hộ pháp vội hét lên:
“Bám
chắc, bám chắc, đừng có dãy, đứt dây leo thì chết!”
Chao
ôi, tôi cũng đã trải qua bao gian nan nguy hiểm mà chưa lúc nào dựng tóc gáy
lên như thế. Bên dưới chiều sâu hun hút kia con sông vẫn vặn mình như con rắn
há miệng sẵn sàng đớp lấy thân xác thằng học giả lúc này nom nhỏ xíu giữa trời
đất.
Ông
toán trưởng chẳng giữ được vẻ lầm lì, lạnh lùng thường ngày nữa, tai nạn lao
động chết người đang đe dọa, bao thành tích của ông sẽ tan vỡ như cái thân xác
đang treo đu đưa kia một khi nó rơi xuống. Có lẽ cái giờ phút sung sướng nhất
trong ngày của ông là lúc ngồi bên máy VTĐ báo về Ban chỉ huy bao nhiêu mét
đường đã thăm dò được, bao nhiêu người tập thể dục buổi sáng, bao nhiêu người
phát biểu trong buổi học chính trị... Như một người bỏ ống, từng hạt, từng hạt
thành tích ông gom suốt một năm để rồi mai kia ông sẽ nhận lại chúng dưới dạng
những lời ngợi khen của cấp trên. Vậy mà than ôi, nước lã sẽ ra sông hết, củi
kiếm bao năm sẽ bốc cháy chẳng tới một giờ.
Thằng
trí thức dở người kia định giết ông bằng cái chết của chính nó. Ông giận sôi
lên, quay lui, quay tới, quýnh quáng la hét làm bọn tôi cứ ngẩn người chẳng
hiểu ông ra lệnh gì? Thằng hộ pháp đã đặt ba lô xuống. tháo máy vô tuyến điện
sau lưng giao cho thằng cấp dưỡng rồi như một con mối bò trên tường, nó bám
theo những chỗ mấp mô của vách đá nhích dần tới chỗ tùm búi dây leo phía trên
đầu thằng họe giả. Ngực tôi bỗng đau thắt lại lo sợ, bây giờ thêm một thằng nữa
tính mạng treo trên đầu sợi tóc, chỉ cần một tảng đá nơi những sợi dây leo bấu
vào kia lở ra, cả hai sẽ thành đống thịt vụn dưới vực sâu. Thằng hộ pháp có
hiểu điều ấy không mà nó dám liều mình thế? Tôi bỗng ứa nước mắt thương chúng
nó. Một thằng chứ nghĩa đầy đầu và một thằng có thân hình lực sĩ đang gắn kết
lại với nhau đu đưa trong cõi chết.
“Bám
chặt, bám chặt...”
Ông
toán trưởng vẫn la hét một cách vô ích. Lúc này ngoài hai đứa ra chẳng còn ai
cứu nổi chúng nó. Giá như ông cứ im lặng như tôi hoặc khiếp sợ úp mặt vào hai
bàn tay như thằng cấp dưỡng còn hơn.
“Im
mồm đi, tốt hơn hết ông quỳ xuống vái lạy trời phật phù hộ chúng nó”.
Tôi
quát lên và bước tới làm ông thu người lại. Ông hiểu lầm, không, không bao giờ
tôi có ý định đánh vào bộ mặt đang méo xệch vì sợ hãi và ngỡ ngàng kia. Tôi chỉ
nắm lấy cổ áo ông, lôi mạnh:
“Quỳ
xuống, quỳ xuống đi, quỳ xuống cho tới lúc hai đứa hoặc là tan xác hoặc là trèo
lên thoát được”.
Không
hiểu do vẻ mặt hung dữ hay sức mạnh đôi tay tôi ông toán trưởng khuỵu dần hai
đầu gối xuống, miệng lắp bắp những gì chẳng rõ. Và rồi khi ông nước nhìn bầu
trời lúc này bỗng cao lên và xanh vời vợi bằng đôi mắt mở lớn và ngầu đục, tôi
quay lưng, hất cái ba lô xuống, bám theo vách đá lần tới ehỗ tùm búi dây leo.
Lúc này thằng hộ pháp đã tìm được một hốc đá bám chắc hai tay, buông thõng đôi
chân cho thằng học giả bám lấy. Bất giác tôi nhìn xuống phía dưới. Chiều sâu
hun hút của vực thẳm làm tôi hoa mắt. Không hiểu sao lúc này tôi lại nhớ tới
câu nói của thằng học giả đêm hôm nào về cái lỗ đen trên vũ trụ và cái hố thẳm
trong con người. Tôi nhắm mắt, cố không nhìn vực sâu bên dưới kia nhưng lại cảm
thấy nó rất rõ ở bên trong tôi. Chẳng lẽ lại như vậy, chẳng lẽ con người lại
sâu thẳm ở bên trong một chiều sâu chóng mặt như thế kia ư? Dưới đó còn những
cái gì thế? Tôi phải ghi nhớ điều này mai kia nếu thằng học giả sống sót, tôi
sẽ hỏi nó. Tuy nhiên, liệu cái con mọt sách ấy có trả lời được không? Còn lúc
này tôi mở mắt ra và nhìn thấy ông toán trưởng hình như vẫn còn quỳ.
(còn tiếp)
PHỤ LỤC
Đi về nơi hoang dã - một dự báo của lương tri
NGUYỄN QUANG THÂN
(trích)
Tuy nhiên, với cái
nhìn nhân bản và thủ pháp mô tả rất mộc, thậm chí mộc mạc, Nhật Tuấn đã phủ khắp
cuốn tiểu thuyết của mình một tinh thần nhân văn để người đọc và chính bản thân
nhân vật có thể vịn vào đó mà tiếp tục sống, mà hy vọng vào tương lai. Làm điều
này không dễ, nó giống như đãi từ những tảng đá xù xì góc cạnh của đời những giọt
nước trong lành. Nhưng Nhật Tuấn đã làm được và làm khá thành công. Chính cái
tinh thần nhân văn ấy làm cuốn sách thoát được màu sắc bi quan mà số phận các
nhân vật tạo ra. Nhân vật nào cũng được tác giả cố gắng khai thác phần nhân bản
ấy từ ông nhóm trưởng đến thằng học giả, hai mẩu người có vẻ “phi nhân” nhất
trong cuốn sách. Cũng chính nhờ thế, mà hai mươi năm sau chúng ta vẫn có thể đọc
lại Đi về nơi hoang dã một cách hào hứng, thú vị. Đó là cuốn sách ra đời đúng
lúc (1988), một dự báo của lương tri trong giai đoạn bản lề của cuộc sống dân tộc.
Cái khó nhất của tiểu thuyết là tạo được hình hài, tâm trạng,
tóm lại là cuộc sống của nhân vật. Sau đó, những nhân vật ấy có tiếp tục sống được
với thời gian hay không nữa. Ngoại trừ một số triết lý vụn do tác giả nóng vội
muốn ấn vào đầu độc giả do chưa tin họ có thể hiểu mình, nghệ thuật tiểu thuyết
của Nhật Tuấn, ngôn ngữ của anh, của nhân vật có nhịp điệu ngắn gọn, khúc chiết
nhưng lại rất mộc, rất có xương có thịt, có dáng dấp hiện đại như chính bản
thân cuộc sống. Tôi tin nhân vật của ĐVNHD vẫn sống và lần in lại này sẽ không
phải là lần cuối cùng.
Gần hai mươi năm trước, chúng ta đã từng có không ít tiểu thuyết
vượt lên được cái mặt bằng buồn nản của thời trước Đổi Mới. Đi Về Nơi Hoang Dã
cùng với những Nỗi Buồn Chiến Tranh ( Bảo Ninh), Những mảng đời đen trắng (
Nguyễn Quang Lập) Ngoài Khơi Miền Đất Hứa ( Nguyễn Quang Thân) và một số cuốn
khác đã được người đọc trong nước hoan nghênh, tạo ra một bản hợp xướng triển vọng
của một nền văn học đang khởi sắc ( thời đó mỗi cuốn đều in tới 5000 bản và đều
bán hết nhanh chóng), sau đó một vài cuốn
được các nhà làm sách Pháp, Mỹ và nhiều nước khác dịch và xuất bản, được
độc giả nước ngoài nhận diện một nét đổi mới quan trọng của tiểu thuyết Việt
Nam. Nhiều cuốn như Nỗi Buồn Chiến Tranh, Đi Về Nơi Hoang Dã và Ngoài Khơi Miền
Đất Hứa chẳng hạn, chỉ còn trong danh mục nhưng không thể tìm thấy trong các
siêu thị sách ở Pháp. Đó là những cuốn sách được coi là thành công của Tập hợp
sách văn học Việt Nam
của NXB Philipe Picquier cuối những năm 90.
Thế nhưng gần hai mươi năm nay Đi Về Nơi Hoang Dã cũng như những
cuốn khác kể trên đã bị ném vào im lặng ở trong nước vì lý do gì chỉ có Trời mới
hiểu. Mãi đến gần đây chúng mới được tái bản lại. Nhưng im lặng không phải là hư vô. Những gì bị
chìm đi hay bị nhấn chìm xuống đáy sông sâu thường còn lại lâu dài hơn vật trôi
nổi. Và tôi tin rằng độc giả sẽ đón đọc một Nhật Tuấn tài hoa, tâm huyết với văn
chương và con người đang trở lại với Đi Về Nơi Hoang Dã. Chỉ với cuốn sách này
thôi, anh xứng đáng là một tiểu thuyết gia thuộc số ít của nước ta, sẽ còn được
đọc dài dài vì nghệ thuật và tính dự báo cũng như chất nhân bản sâu sắc của
mình.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét