Bốn.
Rừng mỗi lúc một ken đặc lại bởi các thứ dây nhợ
lùng nhùng như một bức tường chắn ngang. Suốt từ sáng sớm, chúng tôi ra sức
tung hoành, phát bở hơi tai mới nhúc nhích đươc quãng ngắn, ông toán trưởng bắt
đầu sốt ruột, luôn miệng hỏi sắp ra tới đoạn rừng thưa chưa? Thằng hộ pháp xách
dao luồn lên phía trước thăm dò, lát sau nó quay lại kêu toáng:
“ối giời ơi,
Thôi chết, không khéo thằng này bị rắn xanh, cái
thứ rắn quái ác, chỉ nhỏ bằng chiếc đũa, vẫn nằm cuộn trên cành cây, bổ một
nhát vào cổ cũng nên. Tôi vội vàng nhào lên, hỏi cuống quít:
“Sao thế? mày sao thế?”
Nó nằm thẳng cẳng, nhắm mắt lại rền rĩ:.
“ối giời ơi, ối giời ơi..”
Tôi lay người nó:
“Sao? Mày làm sao? Rắn cắn hả?”
Nó mở mắt ra kêu to:
“ối giời ơi, khỉ nó hiếp đít tôi...”
Chao ôi, cho dù đôi mắt ông toán trưởng quắc lên
lồi ra như tượng ông Ác, chúng tôi cũng không thể nào không phá lên cười:
“Ha ha... ha ha... ha ha...”
“Câm ngay, câm ngay.”
“Chưa bao
giờ tôi thấy cơn giận của ông toán trưởng nổ ra ghê gớm như thế, dễ thường bao
nhiêu lời hay ý đẹp ông vẫn dậy dỗ chúng tôi bốc hơi đâu hết, ông chửi rủa sự
vô giáo dục của thằng hộ pháp bằng những lời mà lúc đầu nó còn nhăn răng ra
cười rồi sau mặt đỏ tía tai, nó đứng phắt dậy:
“Ông là cái thớ đéo gì mà chửi bới cứ như là bố
người ta thế?”
Tôi nhảy vội vào giữa để can ngăn, lo sợ trận lôi
đình của ông sẽ nổ ra khủng khiếp còn gấp mấy lần trước. Lạ thay, ông im bặt,
tay chân run lẩy bẩy, hớp hớp mấy ngụm khí lạnh, rồi quay sang, khàn giọng nói
với thằng học giả:
“Đồng chí luồn lên phía trước thử nghe xem có
tiếng thác nước không? Theo đúng bản đồ, chúng ta sắp tới đỉnh thác Bôrô”.
Rất nhanh, ông trở lại những cử động quen thuộc:
đặt địa bàn lên bản đồ, cộng các số trong sổ đo chiều dài, trán cau lại vì
những suy nghĩ chẳng ai đoán nổi. Thằng hộ pháp quăng con dao vừa nãy có ý giơ
lên dọa ông toán truởng lên tảng đá, rồi không nói không rằng, ngả ngay người
trên thân cây đổ, nhắm mắt đánh một giấc cứ như trên đời này chẳng có chuyện gì
xảy ra. Ông toán trưởng lướt cái nhìn qua người nó, hướng về phía thằng học giả
vừa luồn người biến mất sau bụi rậm. Cái vẻ nhẫn nhục của ông làm tôi thấy chợt
thương. Thật khó mà hiểu nổi động lực nào đã thúc đẩy ông làm cái nghề quanh
năm mò mẫm trong cái miền u tì, rừng xanh núi đỏ này. Nghe nói trước ông làm to
cỡ trưởng, phó phòng gì cơ đấy, thế rồi trong một khóa học chính trị dài hạn,
ông kèm cặp, bồi dưỡng văn hóa cho một bà cũng làm to như ông. Quả nhiên sau
một thời gian, kiến thức của bà có được nâng cao nhưng không bằng cái bụng mỗi
ngày một lùm lùm lên của bà. Biết làm sao được, bà mải mê hoạt động đến quá cái
tuổi để lấy được chồng, còn ông, vợ lại ở quê xa lắc xa lơ, cả năm cũng khó gặp
nhau. Thật bom nổ giữa cuộc họp còn chưa kinh khủng hơn khi cái chuyện tày đình
ấy lộ ra. Bởi vậy bà đành phải giải quyết nó bằng một biện pháp tuyệt vọng là
thắt lưng buộc bụng lại. Thế nhưng đúng như điều ông vẫn thường giảng cho bà:
“quy luật khách quan tồn tại bên ngoài ý muốn chủ quan của con người...”. Một
ngày kia chị lao công bỗng hét ầm lên trong chuồng tiêu khi nhìn thấy một bé
hài nhi bị nhét trong thùng giấy loại. Người ta tông cửa phòng bà ra và nhìn
thấy bà trong trạng thái một sản phụ.
Đứa bé được cứu sống và theo mẹ nó lên một công
trường đá heo hút tận trong phía Nam, còn ông được đưa mãi lên rừng núi phía
Bắc để thôi không làm lãnh đạo nữa, trở lại cái nghề thăm dò khảo sát đường
thời trai trẻ ông đã từng làm. Tai họa càng làm da mặt ông khô quắt lại, tuy
nhiên nó cũng chẳng làm mất đi vẻ uy quyền, mặc dù quyền lực của ông đã bị thu
nhỏ lại đến độ chỉ còn sai khiến được bốn thằng bọn tôi. Tất nhiên, những
chuyện “bí mật nội bộ” đó tôi chỉ được nghe đồn đại trong những lần cả toán trở
về đơn vị để học tập, nghỉ ngơi, còn cứ cạy miệng, cũng chẳng bao giờ ông hở ra
đôi chút gì đời riêng của ông. Ông chỉ nhiều lời khi giao công việc hoặc dạy dỗ
chúng tôi thôi, ngoài ra, quanh năm ông câm lặng như một con cóc buồn rầu.
Không bao giờ tôi thấy ông nhận được thư của ai hoặc viết cho ai. Những buổi
tối nhìn mái đầu hói của ông cúi xuống tấm bản đồ và cái kính lúp trong góc
rừng hoang vắng, đôi khi tôi tự hỏi có lúc nào ông nhớ người đàn bà bất hạnh và
đứa con rơi của ông chăng? Cả người vợ nơi miền quê xa nữa? Thật cứ như ông đã
chặt đứt hết những giây nhợ đó để sống duy nhất với con đường ông đang mò tìm
trên tấm bản đồ vô tri giữa rừng núi hoang vu.
Thằng học giả đã quay trở lại và thật lạ, miệng
nó cũng kêu trời như thằng hộ pháp làm tôi phát hoảng:
“Gì thế? chuyện gì thế?”
“Núi lửa, ối trời ơi, núi lửa”.
Ông toán trưởng nhét tấm bản đồ vào túi vải, sẵng
giọng:
“Anh điên hả? Núi lửa ở đâu ra? Đi đi, tất cả tới
chỗ đó...”
Tôi cuộn cái thước vải đo đường lại, thôi không
đo, không phát cây nữa, lom khom theo thằng học giả chui luồn qua các bụi rậm
đầy gai và rồi bất chợt trước mắt tôi sừng sững một vách đá dựng đứng, cao vút,
xung quanh trắng xóa một vùng núi đá vôi trơ trọc không một ngọn cây xanh. Cảm
giác lạnh buốt chạy dọc sống lưng, trời, cái vùng này chẳng khác gì hoang mạc
trên mặt trăng. Thằng học giả đứng chênh vênh trên cành cây mọc chìa ra ngoài
vách núi, chỉ tay:
“Đó các ông coi có khác gì núi lửa không, chỉ
thiếu điều nó phun dung nham nữa thôi.”
Ông toán trưởng trầm mặt, tôi hiểu cái quang cảnh
đang phơi bày ra kia chẳng đúng tý nào với dự đoán của ông trên bản đồ. Nào đâu
thác nước? Nào đâu sườn núi thoai thoải để có thể đặt lên đó con đường tương
lai? Bằng tấm bản đồ và cái địa bàn, ông đã dẫn chúng tôi tới chỗ tắc rồi, dải
vách đá trùng trùng lớp lớp kia có cả triệu tấn mìn cũng chẳng phá ra được
thành con đường. Để mặc ông ngồi loay hoay với tấm bản đồ muôn thuở, tôi theo
thằng học giả quay lại chỗ thằng hộ pháp nằm. Trời, nó vẫn ngáy khò khò như một
cái bễ lò rèn. Nó là thằng vô tư nhất bọn, chuyện chọc giận ông toán trưởng vừa
nãy chắc đã tiêu tan theo tiếng ngáy và nếu không bị dựng dậy, chắc nó ngủ đến
mai. Thật khó hiểu sao nó lưu lạc vào cái nghề “khoa học kỹ thuật” này, khi
thích hợp với nó hơn cả lại là cái búa trong lò rèn, hoặc cái cày trên đồng
ruộng. Theo cách nhìn nhận của ông toán trưởng, thằng lực điền này đầu óc nó tư
hữu và bảo thủ còn rất nặng nề mặc dù trong ba lô của nó tôi cũng chỉ thấy dăm
ba bộ quần áo cũ như tôi, và khi ông toán trưởng bảo nó mài dao, nó đi mài dao,
bảo mò xuống chân núi vác nước, nó đi vác nước, chẳng cưỡng lệnh ông lần nào.
ông ghét nó chẳng qua do những trò nghịch ngợm như vừa nãy và nhất là trong các
buổi “sinh hoạt chính trị” chẳng bao giờ nó chịu phát biểu để ông lấy cho đủ số
một trăm phần trăm người tham gia, có gặng lắm nó cũng chỉ cười thủng thẳng:
“em xin nhất trí với thủ trưởng”. Bù lại tất cả các cái đó, nó là thằng duy
nhất đủ sức cõng được cái máy vô tuyến điện cho ông trong lúc chuyển quân qua
các vách đá cheo leo, các con suối lắm ghềnh thác mà chưa bao giờ bị va đập.
Một lần chúng tôi men theo bờ đứng một con sông nước réo ùng ục, thằng học giả luôn
miệng kêu trời, nó bèn xúi thằng hộ pháp:
“Vứt mẹ cái máy trên lưng mày xuống sông. Tụi ông
khổ vì nó đấy”.
Thằng hộ pháp toét miệng ra cười:
“ Ừ nhé, tao quăng đi nhé, hết mẹ nó cả chỉ đạo,
chỉ điệc..”
Tôi vội vàng can:
“Ấy chớ, bảo vệ nó xích tay mày là cái chắc”
“Xích cái “nỗ” đít. Thà ở tù còn sướng hơn “nặn
nội” thế này...”
Nói xong nó nghiêng vai, tháo sợi dây đeo máy
cười cười:
“Này tao ném này, này tao ném này...”
Tôi biết nó đùa vậy thôi, ông nội sống lại bắt
nó, nó cũng chẳng dám. Nhưng không may, đúng vào lúc đó, nó trượt chân lao cả
người lẫn máy xuống sông. Khi ông toán trưởng lần được tới, nó đang chới vớì
giữa dòng nước lăm le chìm nghỉm. Tơi vội quát to:
“Buông máy ra, buông máy ra không chết chìm
giờ...”
Ông toán trưởng cuống lên:
“Không được, không được... Phải cố cứu lấy máy”.
Tôi hiểu, cái máy vô tuyến điện là sinh mạng của
ông, là đường dây duy nhất liên hệ với cấp trên, mất nó ông sẽ như máy mất
điện, sẽ không còn nhận được bất cứ chỉ thị nào để ra lệnh cho bọn tôi được
nữa. Vậy nhưng còn tính mạng của thằng hộ pháp? Chẳng suy tính nữa, tôi quẳng
ba lô, nhảy ùm xuống sông đúng vào chỗ nó vừa mất hút trong dòng nước xanh rờn.
Hóa ra cái thằng hộ pháp ấy hoặc cũng biết sợ hoặc có “tinh thần trách nhiệm
cao” nên cứ loay hoay mãi với cái máy ở dưới đáy sông, thà chết không rời. Tôi
đành phải lặn xuống và cả hai thằng uống đầy một bụng nước, hì hục mãi mới lôi
được cái máy lên bờ. Suốt một ngày ông toán trưởng loay hoay sửa chữa. Mãi đến
khi nó lại phát ra những tiếng “tích tè, tích tè”, bọn tôi mới thở phào. May
quá, ông toán trưởng không hề biết chuyện thằng học giả xui thằng hộ pháp vứt
máy xuống sông, nếu không, hẳn hai đứa đã nhận lệnh khoác ba lô quay về Ban chỉ
huy. Ngay tối đó, ông họp chúng tôi, khen ngợi thằng hộ pháp có tinh thần nguời
lính “thà chết không rời vũ khí”, tuy nhiên cần nâng cao hơn nữa ý thức bảo vệ
máy móc nhất là lúc chuyển quân. ông khen tôi có “tinh thần dũng cảm cứu máy”,
và nói chung cả hai đứa như thế là rất tốt. Ma xui quỷ khiến sao đó, tôi giơ
phắt tay lên xin “có ý kiến”. Tôi nói tôi đã nhảy xuống sông chính là vì lúc đó
thằng hộ pháp sắp chết chìm. Tôi lại còn trách ông toán trưởng tại sao lúc đó
không cho nó buông máy ra cứu lấy cái mạng nó? Ông vẫn thường dạy bọn tôi “con
người là vốn quý nhất” kia mà... Chao ôi, tôi sẽ không tuôn ra lắm lời thế nếu
tôi biết trước được ông toán trưởng sẽ nổi đóa lên như vậy. Ông tớỉ tấp bắn vào
tôi đủ thứ lý lẽ làm ù tai, mờ mắt, đầu óc rối mù như lạc vào rừng chằng chịt
giây nhợ, kín mít không lối ra và tôi chỉ còn biết rũ đầu xuống, không hé răng
cãi nổi lấy một lời.
Đúng lúc đó, thằng học giả đang ngồi lơ mơ ngủ
gật, bỗng choàng dậy hét to:
“úi con lợn...”
Trừ ông toán trưởng, tất cả bọn tôi đều bật dậy
như ngồi phải lá han. Chao ôi những tảng thịt luộc thái dày bản, những khúc dồi
thơm phức nướng trên lửa... tiếng gọi của chúng cuốn phăng bọn tôi đi, thằng
cầm dao, thằng cầm gậy, thằng cầm súng ào ào đuổi theo con lợn rừng hung dữ,
giết chết bằng được, mổ thịt ngav lập tức và ngốn ngấu ăn tại chỗ. Thằng học
giả sính chử nghĩa nhường cho nó trọn bộ óc, thằng hộ pháp dũng cảm đập gậy vào
đầu con lợn thưởng cho nó buồng gan, tôi được quả tim vì đã tỏ vẻ xót thương
con lợn bị băm vằm mổ xẻ, còn thằng cấp dưỡng chạy sau cùng bị phạt phải ăn
khấu đuôi. Bọn tôi vừa đốt lửa đùng đùng nấu nước cạo lông vừa om sòm bàn tán.
Thằng hộ pháp chợt nhớ:
“Thế còn ông toán trưởng? Giành cho bố cái gì
đây?”
Tôi chưa kịp nghĩ, thằng học giả đã nhanh nhẩu:
“Luộc cho thủ trưởng cái lưỡi. Tối nay ông uốn
rất giỏi, uốn đằng nào cũng được...”.
Quả thật chưa bao giờ bọn tôi được một bữa no ăn
no cười đến thế. Thịt nướng, thịt luộc cứ cầm cả tảng mà ngoạm cho dù ông toán
trưởng đã lệnh cho thằng cấp dưỡng phải kho mặn một nồi thật to ăn dần.
Đêm đó có lẽ cái dạ dày còm cõi lâu này mới được
nhận một lượng đạm động vật lớn đột ngột đến vậy, nên trằn trọc mãi trên võng,
bọn tôi chẳng đứa nào ngủ được, trừ mỗi thằng cấp dưỡng đã ngáy khò khò. Thằng
học giả vùng dậy trước tiên:
“Khó ngủ quá, dậy đi chúng mày”
Tôi thò đầu ra khỏi võng kêu lên:
“Lạ nhỉ, đói rét mất ngủ đã đành, no ứ bụng mà
cũng không ngủ được thì là sao?”
Thằng hộ pháp nhảy trên võng xuống g iải thích:
“Thì tại cái của mày dậm dật chứ sao”.
“Đúng đấy, đúng đấy, thảo nào tao nhắm mắt mãi chả
ngủ được. Mang dao ra chặt mẹ nó đi là yên chuyện”.
Thằng học giả cười thích chí và cũng xen vào ngồi
bên đống lửa. Cả bọn tôi có lẽ đều ai chưa biết chuyện đó, may ra có thằng học
giả đọc được nó trong sách. Bởi vậy chẳng chờ tôi đòi, nó cất giọng giảng giải:
“ Chúng mày không ngủ được là đúng thôi. Tình dục
là nền tảng cho các hoạt động của con người. Bởi thế “cái đó” mới nằm bên dưới
cái đầu. Nó thuộc hạ tầng cơ sở nhưng lại chi phối chặt chẽ thượng tầng kiến
trúc. Cho nên chúng mày thử ra lệnh cho nó rụt lại xem có được không? Không
được...”
Thằng hộ pháp sốt ruột cắt ngang:
“Ôi thôi, mày nói lủng củng thế, bố tao cũng chả
hiểu. Vứt mẹ sách đi, tao chỉ muốn hỏi mày ví thử ngay bây giờ có một đứa con
gái đẹp như tiên ngồi đây thì mày sẽ làm gì trước tiên...”
Thằng học giả ngớ ra, cười lúng búng, hóa ra cu
cậu chỉ lý thuyết sách vở thôi, đi vào thực tế, cũng chẳng hơn gì bọn tôi. Tôi
đỡ lời cho nó:
“Nhưng trước hết phải hỏi cô ta có yêu mình không
đã.....”
Thằng họ giả gật lấy gật để:
“Đúng, đúng, nếu đã yêu nhau ấy à, cứ gọi là nắm
vào tay nhau cũng đủ run bắn lên rồi”.
“Nói phét, chúng mày chỉ được cái nói phét theo
sách thôi. Giờ ví thử đứa có con gái ngồi đây, chúng mày lại không nhảy xổ đến
như lũ chó đói ấy ư?!”
Rồi thằng hộ pháp bắt đầu diễn tả bằng lời cái
cuộc làm tình tương tượng của nó làm tôi cứ há hốc mồm ra nghe chẳng khác gì
bữa tiệc giả tưởng “ Ở cửa hàng đặc sản “ mà thằng học giả thết tôi tối hôm
nào.
Tuy nhiên những điều mô tả của nó cụ thể và chi
tiết đến độ sau khi nó dứt lời, tôi phải hỏi nó:
“Mày ngủ với đàn bà rồi phải không?”
Nó toét miệng ra cười:
“Nếu không thì việc gì tao phải đâm đầu lên cái
xó rừng này. Mày cứ thử sờ coi gân bắp tao thế này thì đàn bà con gái xóm tao
đời nào chịu để tao yên. Cô giáo có nhé, cô đội trưởng sản xuất có nhé, rồi cả
cô sư phá giới nữa...”
Nó bấm đốt ngón tay thống kê cái thành tích oai
hùng của nó một cách đắc chí rồi thở dài đánh sượt:
“Con vợ thằng xã đội nó giết tao. Ai lại giữa ban
ngày ban mặt, đang cấy lúa ngoài ruộng, thấy tao nghễu nghện đi qua, cứ nằng
nặc co kéo về nhà nhờ khiêng cái cối đá. Tao biết tỏng gan ruột con này rồi,
chồng nó mới đi tập huấn dài ngày trên huyện mà. Ban đầu tao nghĩ bụng thôi,
chả dại gì dây vào vợ ông lớn. Ấy thế rồi trong lúc khiêng cối đá, chẳng hiểu
sao hai cái vú thây lẩy của nó lại trật ra, chọc vào mắt tao. Tao đành quẳng mẹ
nó cối, khiêng ngay con mẹ ấy lên giường. ôi chao ơi, còn đang nồng nỗng như
hai con lợn cạo thì thằng chồng ở đâu lù lù xách súng về, tao phải đạp cửa số,
nhảy cả xuống ao, bỏ làng mà chạy. Thoát chết rồi tao mới dông một mạch lên
rừng, cách xa bọn đàn bà ra, khuất mắt trông coi vậy mới yên thân.”
Tôi ôm bụng cười ràn cả nước mắt. Riêng thằng học
giả không những không cười, mặt nó còn hầm hầm, buồn chảy ra như bánh đa dúng
nước. Thằng này lại lên cơn tình si tưởng nhớ cô nàng búp bê, láng giềng nhà nó
đấy. Thì ra mới chỉ thêm có mấy miếng thịt lợn vào dạ dày mà thằng nào thằng ấy
cứ như là động dại cả. Cứ liên tục tối nào cũng thế thì rồi không khéo tiêu tan
cả ý chí chiến đấu vượt mọi gian khổ chiếm lĩnh đỉnh cao. Ông toán trưởng quả
là rất sáng suốt khi quy định hai bữa ăn hàng ngày của chúng tôi chỉ có cơm với
tép khô nấu rau rừng...
(còn tiếp)
________________________________________
PHỤ LỤC :
Đừng giam sách trong tù.
Đ
inh Quang Anh Thái đại diện Ban tổ chức ra mắt
“Đi về nơi hoang dã” của Nhật Tuấn
Cuốn đi về nơi hoang dã của Nhật Tuấn đã được
xuất bản từ năm 1990, nhân cái đà gọi là "cởi trói văn nghệ" của lãnh
đạo cộng sản trong nước" Nhưng lãnh đạo đảng đã sớm yếu bóng vía, nên
vừa cởi họ đã lật đật cột lại, và cuốn sách bi dìm trong lãng quên. Chế độ biết
mình bị hố, khi để cuốn sách ra mắt. Nhưng, đánh cuốn sách thì đánh về tội gì?
Vì chống đảng, vì nói xấu lãnh tụ, vì bôi bác chế độ chăng? Hay là vì lối sử
dụng biểu tượng để mượn cái này chửi cái kia chăng? Càng đánh thì càng quảng
cáo cho cuốn sách dễ ghét này. Đọc cho kỹ, chế độ thấy tức anh ách nên chỉ còn
có thể lặng lẽ... giam cuốn sách vào tù. .
Từ đó, Đi về nơi hoang dã bị chìm trong lãng
quên. Và như mọi sinh vật di chuyển giữa hai lằn đạn, cả cuốn sách lẫn tác giả
đều bị cả hai bên nghi ky. Ở ngoài này, dù chưa đọc tác phẩm, nhiều người
cũng vẫn thấy ngại. Thực ra, chúng ta ở ngoài này có tự do,nên cũng có khả năng
tự giải phóng khỏi những sự ngại ngùng hay nghi kỵ đó.
Đầu tháng Ba này, được đọc cuốn sách lần đầu,
khi chuyền tay cho một số bằng hữu,những người thuộc thế hệ đàn anh của tôi
trong ngành truyền thông, tôi đều thấy một phản ứng đón nhận rất nồng nhiệt. Từ
đó, qua những tiếp xúc nói chuyện chúng tôi quyết định sẽ cùng tổ chức ra mắt
tác phẩm này, sau khi nó đã được tái bản đến lần thứ tư ở ngoài này.
Ban tổ chức chúng tôi gồm có ba Nhật báo : Người
Việt. Việt Báo và Viễn Đông, cùng tạp chí Thế kỷ 21, Công ty truyền thông
Kícon.com, các đài phát thanh Little Saigon Radio và VNCR cùng đài Truyền hình
Little Saigon Televison, và một số thân hữu tham dự vào đây với tư cách cá
nhân, thí dụ như cá nhân người đang nói nơi đây. Nhân đây, tôi phải kiểm xem
đã đọc đủ tên hay chưa, vì như kinh nghiệm cho thấy, anh Nguyễn Xuân Nghĩa đã
hụt tên tờ Viễn Đông trong tấm thiệp mời, dù anh với anh Nguyễn Đức Quang là
bạn thân. giờ này còn gọi nhau là mày tao như thời còn trẻ, và anh Quang là
người sốt sắng nhận lời từ đầu...
Khi tin tức về buổi ra mắt này được loan ra
ngoài, chúng tôi có đón nhận rất nhiều sự
hưởng ứng của văn giới, nhưng, cũng có vài ba phản ứng lạc điệu, theo
đúng truyền thống nếu chưa là đa nguyên thì cũng là đa sự của cộng đồng ta!~
Có người thì phong cho tác giảù Nhật Tuấn chức Giám đốc Nhà xuất bản Văn học,
phân bộ miền Nam của chế độ Cộng sản trong nước. Điều đó chắc là làm đương kim
Giám đốc, là nhà văn Triệu Xuân, buồn lòng không ít. mặc dù ông này từng có
cuốn Sóng lừng, được hải ngoại tái bản nhiều lần. Có người còn cho là Nhật
Tuấn đã được cựu Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh giao cho trách nhiệm phê bình vài
sai trái của cố Tổng bí Lê Duẩn để hạ bớt uy tín của người tiền nhiệm. Có lẽ
họ đọc lầm tác phẩm chứ cuốn Đi về nơi hoang dã không thấy có đoạn nào như
vậy, và nếu đả kích thì tác đả kích ngay từ căn bản ruột gan của chế độ, chứ
nào có tập trung vào một Ba Duẩn.
Người ta có thể đoán rằng những người không
đồng ý với buổi ra mắt hôm nay là chưa đọc tác phẩm, hoặc nếu có đọc thì lại
đọc lầm tác phẩm khác. Chẳng hạn như lầm cuốn Đứng trước biển là của Nguyễn
Mạnh Tuấn, chứ không phải là Nhật Tuấn.Dù sao, chúng tôi tôn trọng ý kiến của
họ nên mới nhắc tới những sai lầm đó ở đây.
Chúng ta không thể là đồng lõa cho một chế độ tồi
bại, cứ đòi giam cuốn sách để khủng bố tác giả. Vì vậy, chúng tôi mới có buổi
ra mắt sách hôm nay. Nhân đây,cũng cần nói thêm rằng không phải bất cứ gì ở
trong nước ra đều là của Cộng sản .Nói vậy là trao cho chế độ này quá nhiều
lợi thế và làm cho hàng ngũ chúng ta suy yếu đi.Chúng tôi không quan niệm đó là
một lập trường sáng suốt, và cũng chẳng chấp nhận tinh thần bức bách đòi người
này người kia phải nghe theo sự thiếu sáng suốt của mình.
Bây giờ, chúng tôi xin thay mặt ban Tổ chức cảm
tạ quý vị, để chúng ta đi vào phần đầu của chương trình.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét