(tiếp theo)
Ký
ức tôi nhớ lại những tờ báo trong nước ở thời kỳ đó loan các tin về con tàu
Việt Nam Thương Tín như: " Người bị ép di tản đòi chính phủ Mỹ phải cho họ
được trở về đất mẹ ". Khi con tàu về đến Việt Nam rồi thì báo chí không còn đăng
thêm các tin tức gì nữa. Không ai khi đó biết số phận của những người trở về
ngoại trừ những thân nhân ruột thịt hoặc các bạn đồng tù. Tôi cũng vậy, cũng sẽ
không biết số phận những người di tản trở về năm đó nếu như hôm nay không gặp
được ông Sáu.
Tôi ngồi khá lâu trong quán nước để nghe ông Sáu kể thêm về quãng thời gian sau khi được thả tù rồi những khó khăn trong đời sống hàng ngày đã khiến ông phải tìm cách vượt biên. Phải mất bao nhiêu công sức cùng thời gian và tiền của thì mới đến được trại tị nạn mà giờ đây lại có cái vụ thanh lọc. " Không biết có qua được không nữa ", ông Sáu ưu tư:
- Tui... bây giờ có nỗi lo khác nữa là nếu mình may mắn mà qua được thanh lọc thì rồi không biết có vào Mỹ được không. Hồi đó, trước khi xuống tàu Việt Nam Thương Tín quay về Việt Nam thì người Mỹ coi trại đã nói hễ tụi tui quyết định trở về thì sau nầy sẽ không được họ cho phép vào Mỹ nữa đó anh. " Các ông về tới nơi chắc chắn sẽ bị Cộng Sản bỏ tù rồi cũng phải vượt biên ", họ nói vậy thấy thực đúng. Không đi được Mỹ thì cũng tiếc mà nếu có điCanada
hay Úc cũng chẳng bằng đi Mỹ.
Lời bộc bạch của ông Sáu làm tôi nghĩ về anh Khảm cũng như người phi công lái phản lực cơ F5. Họ đều bị chế độ Cộng Sản bên quê nhà ngược đãi bỏ tù nhiều năm trời thì chắc chắn nay mai họ sẽ qua được thanh lọc dễ dàng. Ở đời, hễ có vay thì có trả. Một quy luật tự nhiên. Giờ đây, mối lo lắng của họ chính là sau khi cầm tờ giấy Cao Ủy xác nhận là người tị nạn thì đừng bị phòng JVA Hoa Kỳ tại trại từ chối. Lý lịch của họ chắc ăn quá. Còn tôi, bản thân thì chưa là lính miền Nam VNCH ngày nào. Có bị Cộng Sản bắt tù thì toàn là tù do chuyện vượt biên. Tôi ngồi im lặng, nghĩ về cá nhân mình cũng như về Yến, Đào, Bẩy và Đỉnh. Đám chúng tôi còn quá trẻ khi bọn Việt Cộng chiếm được miền Nam VNCH. Làm sao để chứng minh cho luật sư Cao Ủy cũng như với sĩ quan Bộ Nội Vụ Indo biết mình là người bị chế độ ngược đãi đây? Đi Mỹ hay đi Canada, Úc hay bất kỳ nước Âu Châu nào cũng được miễn là đừng bị gửi trả về ViệtNam .
Tôi thở dài, bắt tay từ giã khi ông Sáu dắt chiếc xe đạp ra khỏi quán nước.
Tôi đi bộ xuống con dốc hướng về barrack. Ngó đồng hồ tay đã hơn 2 giờ rồi. Hôm nay tôi về barrack trễ quá. Cảm giác đói bụng khiến tôi bước vội chân. Thế nào Yến cũng trách tôi đi làm thiện nguyện gì mà tới giờ mới về như nàng đã từng cằn nhằn: " Anh phải lo cho thân anh nữa chứ. Không ăn uống điều độ rồi đổ bệnh thì Cao Ủy nào lo cho anh. Làm thiện nguyện không lương nên làm vừa vừa thôi ". Barrack buổi trưa thật im ắng không một tiếng người trò chuyện, tôi khẽ rảo chân bước nhẹ về phòng mình. Gió thổi mạnh làm lay động những tấm lá dừa nước trên mái tạo ra những tiếng lách cách nhè nhẹ. Gió mát làm nhiều người ngủ ngon hơn trên các tấm võng căng đây đó trong barrack.
Lẩm nhẩm vậy mà đến gần Tết ta lúc nào không hay. Yến, Bẩy bàn nhau sẽ gói ít bánh tét, bánh chưng để ăn trong mấy ngày tết cho vui nhưng kẹt một cái là kiếm không ra lá chuối hay lá dong để gói bánh. Muốn có lá chuối thì chỉ có cách chịu khó lội vào rừng kiếm lá chuối hoang hoặc mạo hiểm vào tận Galang 4 để hỏi mua lá chuối của người bản xứ nhưng cũng ít người dám đi vì phòng An ninh P3V cấm thuyền nhân tiếp xúc với đám người Indo nầy. Họ là tàn dư của đám Cộng Sản Indo trong cuộc thanh trừng sau đảo chính năm 1965. Thấy gói bánh khó quá, tôi bảo với 2 cô gái không có lá chuối thì thôi bọn mình đừng để ý đến bánh chưng bánh tét làm gì cho mệt thân... Có thì ăn, không thì thôi. Yến nói: " Em tính mua thịt làm giò thủ và muối dưa củ hành đỏ để mình có cái ăn trong ngày 3 ngày Tết cho vui. Cũng chẳng tốn kém gì nhiều ".
Như đã kể, Yến là người Bắc nên vẫn giữ cách làm món dưa củ hành đỏ cùng giò thủ để ăn trong các ngày Tết. Còn Bẩy thì nói sẽ nấu món thịt heo kho tàu và làm chút dưa giá để ăn cho ngon miệng. Đây là các món của người miềnNam .
Đỉnh thì bảo hôm đó mình phải nhậu lai rai chút chút cho vui nha anh Vũ. Tự
nhiên tôi nhớ đến mẹ tôi bên quê nhà năm nào cũng làm các món này. Gia đình tôi
chỉ thờ ông bà và trên bàn thờ ngày Tết năm nào cũng có một mâm trái cây để
cúng tổ tiên nhất là trong đêm giao thừa. Mẹ tôi vẫn thường đích thân nấu hẳn
một mâm cỗ gồm các món mặn như giò chả, thịt gà, canh miến, bánh chưng... để
cúng, cầu xin tổ tiên độ trì cho gia đình. Gần Tết, bên quê nhà hẳn rất vui vì
cứ lấy khung cảnh trại tị nạn để so sánh thì cũng biết. Tuy không rõ người Indo
Hồi giáo có ăn Tết ta như người Việt hay chỉ thuần Tết tây dương lịch nhưng rõ
ràng, các chủ tiệm người bản xứ cũng biết chiều theo thị hiếu sắm tết của
thuyền nhân mà cho chở thêm hàng hóa đến bán trong trại. Không có vụ họp chợ
bán hàng Tết như bánh mứt, dưa hấu hoặc cây kiểng, mai vàng như bên quê nhà
nhưng một không khí chờ ngày Tết đến thoang thoảng trong... gió, qua hình ảnh
người người dọn dẹp chỗ sống của mình cho gọn sạch cùng điệu nhạc Xuân từ các
hàng quán bán ở hai bên đường. Đêm giao thừa đến, những thuyền nhân có máy thu
thanh đã mở thật lớn để cùng nghe các bài chúc tết phát ra từ đài truyền thông
Việt như BBC, VOA... Một tay phóng viên nào đó đã đọc một bài viết về ngày tết
trong các trại tị nạn. " ... Giờ phút này, xin quý khán thính giả hãy bỏ
chút tâm tư để nghĩ đến các thuyền nhân đang sống vất vưởng trong các trại tị
nạn. Hãy nhớ và cầu nguyện một sự an lành, may mắn sẽ đến với họ trong năm mới,
những con dân Việt tha hương như người lính chiến trấn thủ lưu đồn ở vùng biên
địa ". Bài đọc đó kết thúc bằng ca khúc xuân bất hủ Ly Rượu Mừng đã làm tôi
chảy nước mắt khi nhớ về gia đình bên quê nhà. Tết đến thật rồi.
Ngày mùng Một đến, từ sáng sớm tôi theo chân Yến đi lễ nhà thờ cho vui. Đây là lần đầu tôi đi với nàng đến nhà thờ nằm tuốt luốt trên ngọn đồi khá cao. Đỉnh, Bẩy và Ánh Diễm thì kéo nhau đi chùa Quan Âm nằm trên đường ra hướng cầu tàu và cũng ở trên đỉnh một ngọn đồi. Sau đó, nghe nói cả 3 người họ còn vào chùa Kim Quang trong Galang 2 nữa. Tan lễ đạo, tôi và Yến đi ăn sáng xong rồi gặp anh chị Khảm-Phượng để chúc tết. " Hai em thì mới có một cái Tết đầu tiên ở trại còn anh chị thì lần thứ hai rồi. Chẳng biết Tết năm tới sẽ mừng xuân ở nước nào đây. Cầu mong là ở Hoa Kỳ, xin được như nguyện ", anh Khảm cười vui sau câu nói. Chị Phượng sau khi chúc cho tôi và Yến được... đậu thanh lọc thì bảo: " Hôm nay đầu xuân, mời hai em đến ăn cơm với anh chị cho vui. Cũng chẳng có gì ngoài ít thịt thà, xôi chè cho có trong ngày tết ". Trên đường về barrack, tôi lấy tay chỉ cho Yến thấy một người đàn ông đứng dưới giàn bầu đang giơ cái chân gà đã luộc chín để xem mà đoán vận hạn trong năm mới. Nhìn ông ta làm tôi nhớ đến buổi tối mấy hôm trước khi ngồi ở quán đã nghe anh Khảm nói là ở Galang coi vậy mà có nhiều người tài. Như ông cụ Hoàng sống ở zone 1 biết đoán vận hạn người chỉ qua một nhành lá nhỏ bẻ ngoài vườn mang vào nhà cho ông xem. Chính ông cụ Hoàng dặn dò đêm giao thừa nếu ai nghe tiếng loài vật nào kêu đầu tiên thì nói cho ông biết để đoán vận mạng thuyền nhân trong năm mới này. Nội quy trại vẫn 11 giờ là giới nghiêm thì có thể sẽ nghe được tiếng loài vật nào kêu trong giờ khắc tĩnh mịch của đêm giao thừa nhưng trại lại nằm trên đảo có cây rừng đầy thú hoang nên không biết rồi làm sao mà ông cụ Hoàng có thể đoán vận hạn nếu không biết chính xác con vật. Ngang qua cái sân trống cạnh đường gần lối vào khu vực thanh lọc, tôi và Yến thấy một cây cột tròn khá cao đã được dựng ở chính giữa cái sân. Chỗ này thường ngày là nơi đám thanh niên trong trại vẫn dùng để đá banh trong các buổi chiều. Cây cột to cỡ thân cây dừa và được bào tròn trơn láng. Vài người đang đứng sát bên, tay họ vỗ nhè nhẹ vào thân cột, miệng cười lẩm bẩm nói chuyện với nhau. Yến hỏi: " Họ dựng cây cột cao thế nầy để làm gì vậy hả anh Vũ? "
Tôi lắc đầu với Yến rồi nhìn lại cây cột, nghĩ chắc đây là một cột cái của căn nhà nào đó mà ban Đại diện trại đang khởi sự làm. Nhưng cũng không chắc lắm vì cái cột gỗ này nó quá cao nếu để làm nhà. Gần cây cột là một cây nêu cao vút với các dây pháo đỏ to đùng bay phất phơ trong gió. Cạnh cây nêu là một bàn thờ tổ quốc giống như một mái chùa nhỏ với một lư hương cùng 2 chân nến đồng khá to được bày ở bên trong. Làm sao thuyền nhân trong trại có được cái lư hương cùng 2 chân nến đồng này? Không lẽ ai đó đã mang theo chúng khi vượt biên? Khói bay nhè nhẹ từ các thân nhang toả mùi thơm trong gió sớm. Ngay sau lư đồng là một tấm hình vẽ bản đồ nước Việt trên nền cờ Vàng ba sọc Đỏ với hàng chữ: Danh Dự-Tổ Quốc-Trách Nhiệm. Những câu đối mực đen trên nền giấy điều: Thiên Tăng Tuế Nguyệt Nhân Tăng Thọ-Xuân Mãn Càn Khôn Phúc Mãn Đường... Xuân Đáo Xuân Lai Xuân Bất Tận-Nhật Tân Nhật Tỉnh Nhật Vô Tư... được dán trên tấm bảng gần đó. Tôi kéo tay Yến dừng lại để cốt ý xem các câu đối nầy. Người nào đó đã viết những câu đối thật khéo vì thoạt trông thì tưởng chữ Tàu nhưng nhìn kỹ lại là chữ Việt. Chung quanh bàn thờ đầy những chậu hoa Cúc vạn thọ vàng tươi. Có thêm các câu khác không ăn nhập gì đến ngày xuân như: Quốc Thù Vị Báo Đầu Tiên Bạch-Kỷ Độ Long Tuyền Đới Nguyệt Ma. Hai câu kết trong bài thơ Cảm Hoài của Đặng Dung thời mạt Trần đây mà. Chắc ai viết để nói lên chí bình sinh của họ. Vài người chen vào đốt hương làm che mất các câu: Nguyên Đán Tha Hương Đón Tân Mùi-Giao Thừa Đất Khách... Tôi cũng chen vào, đốt vội cây nhang và lầm thầm cầu xin bình an cho gia đình bên quê nhà cũng như bản thân mình ở đây. Xong xuôi, vừa quay ra thì Yến vội kéo tay tôi, nói: " Giờ vẫn còn sớm, mình đi lòng vòng đây đó một chút cho vui. Coi như đón xuân đầu tiên tha hương há anh ".
Tôi ngồi khá lâu trong quán nước để nghe ông Sáu kể thêm về quãng thời gian sau khi được thả tù rồi những khó khăn trong đời sống hàng ngày đã khiến ông phải tìm cách vượt biên. Phải mất bao nhiêu công sức cùng thời gian và tiền của thì mới đến được trại tị nạn mà giờ đây lại có cái vụ thanh lọc. " Không biết có qua được không nữa ", ông Sáu ưu tư:
- Tui... bây giờ có nỗi lo khác nữa là nếu mình may mắn mà qua được thanh lọc thì rồi không biết có vào Mỹ được không. Hồi đó, trước khi xuống tàu Việt Nam Thương Tín quay về Việt Nam thì người Mỹ coi trại đã nói hễ tụi tui quyết định trở về thì sau nầy sẽ không được họ cho phép vào Mỹ nữa đó anh. " Các ông về tới nơi chắc chắn sẽ bị Cộng Sản bỏ tù rồi cũng phải vượt biên ", họ nói vậy thấy thực đúng. Không đi được Mỹ thì cũng tiếc mà nếu có đi
Lời bộc bạch của ông Sáu làm tôi nghĩ về anh Khảm cũng như người phi công lái phản lực cơ F5. Họ đều bị chế độ Cộng Sản bên quê nhà ngược đãi bỏ tù nhiều năm trời thì chắc chắn nay mai họ sẽ qua được thanh lọc dễ dàng. Ở đời, hễ có vay thì có trả. Một quy luật tự nhiên. Giờ đây, mối lo lắng của họ chính là sau khi cầm tờ giấy Cao Ủy xác nhận là người tị nạn thì đừng bị phòng JVA Hoa Kỳ tại trại từ chối. Lý lịch của họ chắc ăn quá. Còn tôi, bản thân thì chưa là lính miền Nam VNCH ngày nào. Có bị Cộng Sản bắt tù thì toàn là tù do chuyện vượt biên. Tôi ngồi im lặng, nghĩ về cá nhân mình cũng như về Yến, Đào, Bẩy và Đỉnh. Đám chúng tôi còn quá trẻ khi bọn Việt Cộng chiếm được miền Nam VNCH. Làm sao để chứng minh cho luật sư Cao Ủy cũng như với sĩ quan Bộ Nội Vụ Indo biết mình là người bị chế độ ngược đãi đây? Đi Mỹ hay đi Canada, Úc hay bất kỳ nước Âu Châu nào cũng được miễn là đừng bị gửi trả về Việt
Tôi đi bộ xuống con dốc hướng về barrack. Ngó đồng hồ tay đã hơn 2 giờ rồi. Hôm nay tôi về barrack trễ quá. Cảm giác đói bụng khiến tôi bước vội chân. Thế nào Yến cũng trách tôi đi làm thiện nguyện gì mà tới giờ mới về như nàng đã từng cằn nhằn: " Anh phải lo cho thân anh nữa chứ. Không ăn uống điều độ rồi đổ bệnh thì Cao Ủy nào lo cho anh. Làm thiện nguyện không lương nên làm vừa vừa thôi ". Barrack buổi trưa thật im ắng không một tiếng người trò chuyện, tôi khẽ rảo chân bước nhẹ về phòng mình. Gió thổi mạnh làm lay động những tấm lá dừa nước trên mái tạo ra những tiếng lách cách nhè nhẹ. Gió mát làm nhiều người ngủ ngon hơn trên các tấm võng căng đây đó trong barrack.
Lẩm nhẩm vậy mà đến gần Tết ta lúc nào không hay. Yến, Bẩy bàn nhau sẽ gói ít bánh tét, bánh chưng để ăn trong mấy ngày tết cho vui nhưng kẹt một cái là kiếm không ra lá chuối hay lá dong để gói bánh. Muốn có lá chuối thì chỉ có cách chịu khó lội vào rừng kiếm lá chuối hoang hoặc mạo hiểm vào tận Galang 4 để hỏi mua lá chuối của người bản xứ nhưng cũng ít người dám đi vì phòng An ninh P3V cấm thuyền nhân tiếp xúc với đám người Indo nầy. Họ là tàn dư của đám Cộng Sản Indo trong cuộc thanh trừng sau đảo chính năm 1965. Thấy gói bánh khó quá, tôi bảo với 2 cô gái không có lá chuối thì thôi bọn mình đừng để ý đến bánh chưng bánh tét làm gì cho mệt thân... Có thì ăn, không thì thôi. Yến nói: " Em tính mua thịt làm giò thủ và muối dưa củ hành đỏ để mình có cái ăn trong ngày 3 ngày Tết cho vui. Cũng chẳng tốn kém gì nhiều ".
Như đã kể, Yến là người Bắc nên vẫn giữ cách làm món dưa củ hành đỏ cùng giò thủ để ăn trong các ngày Tết. Còn Bẩy thì nói sẽ nấu món thịt heo kho tàu và làm chút dưa giá để ăn cho ngon miệng. Đây là các món của người miền
Ngày mùng Một đến, từ sáng sớm tôi theo chân Yến đi lễ nhà thờ cho vui. Đây là lần đầu tôi đi với nàng đến nhà thờ nằm tuốt luốt trên ngọn đồi khá cao. Đỉnh, Bẩy và Ánh Diễm thì kéo nhau đi chùa Quan Âm nằm trên đường ra hướng cầu tàu và cũng ở trên đỉnh một ngọn đồi. Sau đó, nghe nói cả 3 người họ còn vào chùa Kim Quang trong Galang 2 nữa. Tan lễ đạo, tôi và Yến đi ăn sáng xong rồi gặp anh chị Khảm-Phượng để chúc tết. " Hai em thì mới có một cái Tết đầu tiên ở trại còn anh chị thì lần thứ hai rồi. Chẳng biết Tết năm tới sẽ mừng xuân ở nước nào đây. Cầu mong là ở Hoa Kỳ, xin được như nguyện ", anh Khảm cười vui sau câu nói. Chị Phượng sau khi chúc cho tôi và Yến được... đậu thanh lọc thì bảo: " Hôm nay đầu xuân, mời hai em đến ăn cơm với anh chị cho vui. Cũng chẳng có gì ngoài ít thịt thà, xôi chè cho có trong ngày tết ". Trên đường về barrack, tôi lấy tay chỉ cho Yến thấy một người đàn ông đứng dưới giàn bầu đang giơ cái chân gà đã luộc chín để xem mà đoán vận hạn trong năm mới. Nhìn ông ta làm tôi nhớ đến buổi tối mấy hôm trước khi ngồi ở quán đã nghe anh Khảm nói là ở Galang coi vậy mà có nhiều người tài. Như ông cụ Hoàng sống ở zone 1 biết đoán vận hạn người chỉ qua một nhành lá nhỏ bẻ ngoài vườn mang vào nhà cho ông xem. Chính ông cụ Hoàng dặn dò đêm giao thừa nếu ai nghe tiếng loài vật nào kêu đầu tiên thì nói cho ông biết để đoán vận mạng thuyền nhân trong năm mới này. Nội quy trại vẫn 11 giờ là giới nghiêm thì có thể sẽ nghe được tiếng loài vật nào kêu trong giờ khắc tĩnh mịch của đêm giao thừa nhưng trại lại nằm trên đảo có cây rừng đầy thú hoang nên không biết rồi làm sao mà ông cụ Hoàng có thể đoán vận hạn nếu không biết chính xác con vật. Ngang qua cái sân trống cạnh đường gần lối vào khu vực thanh lọc, tôi và Yến thấy một cây cột tròn khá cao đã được dựng ở chính giữa cái sân. Chỗ này thường ngày là nơi đám thanh niên trong trại vẫn dùng để đá banh trong các buổi chiều. Cây cột to cỡ thân cây dừa và được bào tròn trơn láng. Vài người đang đứng sát bên, tay họ vỗ nhè nhẹ vào thân cột, miệng cười lẩm bẩm nói chuyện với nhau. Yến hỏi: " Họ dựng cây cột cao thế nầy để làm gì vậy hả anh Vũ? "
Tôi lắc đầu với Yến rồi nhìn lại cây cột, nghĩ chắc đây là một cột cái của căn nhà nào đó mà ban Đại diện trại đang khởi sự làm. Nhưng cũng không chắc lắm vì cái cột gỗ này nó quá cao nếu để làm nhà. Gần cây cột là một cây nêu cao vút với các dây pháo đỏ to đùng bay phất phơ trong gió. Cạnh cây nêu là một bàn thờ tổ quốc giống như một mái chùa nhỏ với một lư hương cùng 2 chân nến đồng khá to được bày ở bên trong. Làm sao thuyền nhân trong trại có được cái lư hương cùng 2 chân nến đồng này? Không lẽ ai đó đã mang theo chúng khi vượt biên? Khói bay nhè nhẹ từ các thân nhang toả mùi thơm trong gió sớm. Ngay sau lư đồng là một tấm hình vẽ bản đồ nước Việt trên nền cờ Vàng ba sọc Đỏ với hàng chữ: Danh Dự-Tổ Quốc-Trách Nhiệm. Những câu đối mực đen trên nền giấy điều: Thiên Tăng Tuế Nguyệt Nhân Tăng Thọ-Xuân Mãn Càn Khôn Phúc Mãn Đường... Xuân Đáo Xuân Lai Xuân Bất Tận-Nhật Tân Nhật Tỉnh Nhật Vô Tư... được dán trên tấm bảng gần đó. Tôi kéo tay Yến dừng lại để cốt ý xem các câu đối nầy. Người nào đó đã viết những câu đối thật khéo vì thoạt trông thì tưởng chữ Tàu nhưng nhìn kỹ lại là chữ Việt. Chung quanh bàn thờ đầy những chậu hoa Cúc vạn thọ vàng tươi. Có thêm các câu khác không ăn nhập gì đến ngày xuân như: Quốc Thù Vị Báo Đầu Tiên Bạch-Kỷ Độ Long Tuyền Đới Nguyệt Ma. Hai câu kết trong bài thơ Cảm Hoài của Đặng Dung thời mạt Trần đây mà. Chắc ai viết để nói lên chí bình sinh của họ. Vài người chen vào đốt hương làm che mất các câu: Nguyên Đán Tha Hương Đón Tân Mùi-Giao Thừa Đất Khách... Tôi cũng chen vào, đốt vội cây nhang và lầm thầm cầu xin bình an cho gia đình bên quê nhà cũng như bản thân mình ở đây. Xong xuôi, vừa quay ra thì Yến vội kéo tay tôi, nói: " Giờ vẫn còn sớm, mình đi lòng vòng đây đó một chút cho vui. Coi như đón xuân đầu tiên tha hương há anh ".
(còn nữa)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét