Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, 28 tháng 10, 2014

HẺM BUÔN CHUYỆN - KỲ 182 - Cái đuôi sao vẫy được…cái đầu ?




Sáng nay nổ ra sự kiện làm náo loạn cả quán. Chiếc tivi 21 inch cổ lỗ mọi ngày được thay thế bằng màn hình tinh thể lỏng LCD 35 inch to tổ chảng khiến thằng Bảy xe ôm trầm trồ :
“ Hoan hô chủ quán …ti vi này coi cải  lương ngang ngồi rạp…”
Chị Gái hủ tíu nở nang mặt mày :
“ Cái này ngoài tiệm những 15 triệu lận. Nhưng đồ xài rồi nên chỉ có 5 triệu thôi mà lại được trả góp…”
Ong Tư Gà nướng lên tiếng :
“ Ai  có lòng nhân từ vừa bán hạ giá lại vừa cho trả góp vậy cà…”
Chị Gái hủ tíu tươi cười :
“ Thì cô Ba vợ ông đại tá hưu chớ ai ? Cổ vừa sắm cái mới to tổ chảng, gấp đôi cái này nên mới bán cái cũ cho mình…”
Thằng Bảy xe ôm cười to :
“ À…hèn chi…vậy thì cái tivi này giá những 5 triệu là mắc đó…cô Ba xài cả chục năm, sắp thành đồ phế thải mà còn bán những 5 triệu lận? Mang lên Ngọc Tảo may ra nó trả  3 triệu . Đúng là cắt cổ dân nghèo ?”
Ong đại tá hưu  đập bàn quát lớn :
“ Thằng Bảy xe ôm kia ? Sao mày dám bảo vợ tao cắt cổ dân nghèo hả ? Thuận mua vừa bán chớ ? Mà tivi này tao coi vẫn còn tốt lắm mà. Mấy hôm rồi truyền hình trực tiếp quốc hội họp coi rõ lắm kìa…”
Gã Ký Quèn cười hô hố :
“ Quốc hội kỳ này họp ở hội trường Diên Hồng kia đó…”
Chị Gái hủ tíu thắc mắc :
“Hội trường Diên Hồng là cái quỷ gì ?”
Gã Ký Quèn giảng giải :
“Hội nghị Diên Hồng do vua Trần Thánh Tông triệu họp các phụ lão trong cả nước để trưng cầu dân ý, hỏi nên hòa hay chiến khi quân Nguyên  sang xâm lược nước ta . Hội nghị Diên Hồng được xem như hội nghị dân chủ đầu tiên trong lịch sử Việt Nam . Vậy mới có bài hát “ Toàn dân nghe chăng sơn hà nguy biến, hận thù đằng đằng nên hòa hay chiến ?Quyết chiến…quyết chiến…”
Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :
“ Ối mẹ ôi…đảng ta đang mạ lại 16 chữ vàng mà quốc hội lại họp ở hội trường Diên Hồng khác nào thằng nói gà thằng nói vịt.! Không lẽ mai mốt thằng Tàu nó đánh ta, ông Chủ tịch quốc hội lại hỏi :” Hỡi các đồng chí, ta nên hòa hay nên chiến…”
Cả quán cười ầm ầm. Cô Phượng cave lúc này mới lên tiếng :
“ . Bởi vậy coi quốc hội họp bằng cái tivi cũ được rồi. Coi bằng cái LCD này nó phí đi…”
Ông đại tá hưu nóng mắt :
“ Mày nói vậy là mày coi thường quốc hội hả ? Mày coi quốc hội chỉ đáng coi tivi đời cũ không đáng coi tivi đời mới phải không ?”
Cô Phượng cave vênh mặt :
“ Chứ lại không à ? Mới coi truyền hình quốc hội khai mạc muốn …ói quá ?”
Ong đại tá hưu đập bàn :
“ Con này láo…đại biểu quốc hội là người đại diện nhân dân…quốc hội là nơi tập trung cao nhất trí tuệ của toàn dân…mày coi quốc hội họp mà mày lại muốn ói là sao ?”
Cô Phượng cave giọng tỉnh bơ :
“ Thì đó…đại biểu quốc hội ngự trên những chiếc ghế sang trọng, to tổ chảng, trong khi đó các nhà báo ngồi chờ dưới chân ghế. Rõ nhục, nó đéo coi báo chí ra cái thớ gì. Nhìn phát ói…”
Ông đại tá hưu quát :
“ Coi truyền hình quốc hội họp phải coi đại biểu quốc hội phát biểu, sao lại coi ba thằng nhà báo ?”
Cô Phượng cave phù mỏ :
“ Thì đó…bà nghị Nguyễn thị Nhung đòi phải quy định đặt tên “thuần Việt” khi sinh con kìa…”
Chị Gái hủ tíu thắc mắc :
“ Tên thuần Việt là sao ?”
Cô Phương cave cười hí hí :
“ Là Lú…là Hói..là Cọp…chứ đừng Nokia…Mai-cồ…con mẹ gì ?”
Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :
“ Vậy thì phải đổi tên mẹ là…Nhung “cá dzô”..”
Ông Tư Gà nướng càm ràm:
“ Vừa rồi đại biểu Nguyễn Sỹ Cương phát biểu ở Hànội phải đút lót 8 triệu mới lấy được sổ đỏ , vậy mà ông Phạm Quang Nghi , Bí thơ Hànội chưa tin …đòi phải mở cuộc điều tra…”
Gã Ký  Quèn :
“ Chuyện đó ..éo ai chẳng biết trừ mỗi Bí thơ Hànọi là không biết…Mới rồi  cha Đỗ Văn Đương còn nói “quyền im lặng không phải là quyền của con người “ vậy khi bắt người công an cứ uýnh thoải mái chừng nào khai ra mới thôi…”
Thằng Bảy xe ôm vọt miệng chửi :
“ ĐM nó …vậy là quyền của ai , của con vật à ? Hóa ra dân ta không bằng con vật…”
Cô Phượng cave cười rinh rích :
“ Yên tâm…yên tâm…ông nghị Trần Du Lịch đã nói rồi :“Phải có quyết sách để lấy lại lòng tin của dân”
Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :
“ Dân có lòng tin đâu mà đòi lấy lại…Để thử coi tuần này họp quốc hội có dám bác dự án xây sân bay Long Thành không nào ?”
Bà Tổ trưởng giờ mới lên tiếng :
“ Xây sân bay Long Thành là chủ trương lớn của đảng để kết nối với quốc tế, sao lại bác ?”
Gã Ký Quèn cười cười :
“ Kết nối gì…chia chác phần trăm thì có. Bởi vậy thằng Thứ trưởng mới nói láo Nhật Bản cho vay vốn, lập tức đại sứ Nhật bác ngay, không khác gì nó tát vào mặt Thứ trưởng…Rõ nhục !…”
Ông Tư Gà nướng :
“ Tao nghe nói bước đầu nó chỉ xin quốc hội chủ trương thôi…”
Gã Ký Quèn gật gật :
“ Đúng rồi, nếu quốc hội thông qua, lập tức nó móc công quỹ ra 142 triệu đôla gọi là tư vấn thiết kế…tất nhiên có phần trăm chia chác trong đó…”
Cô Phượng cave cươi cười :
“ Tiền to thế quốc hội nhất định phải thông qua thôi…cái đuôi sao vẫy được cái đầu ?”
Ông đại tá hưu đập bàn quát :
“ Con Phượng cave kia, mày bảo ai là đuôi, ai là đầu hả ?”
Cả quán cười ầm ầm. Trừ ông đại tá hưu và bà Tổ trường.

28-10-2014







:










Thứ Hai, 27 tháng 10, 2014

SÁCH MỚI : “Người đi tìm những cuộc đời ở "phía sau con chữ “



                                                                      Nhà văn   HUY THẮNG .



            Là cây bút chuyên về “chân dung các nhà văn”. Huy Thắng cảm nhận văn chương và con người theo những rung động từ trái tim. Anh trân trọng và chỉ phát hiện những mặt sáng của người “đi tìm cuộc đời phía sau con chữ :.  Trong tập này, tác giả dựng chân dung bạn bè :” Nhật Tuấn, Trúc Cương , Phajm Đình Ân, Nghiêm Đa Văn,Phùng Quán, Quang Huy…
                             Cảm ơn anh Huy Thắng đã tặng sách.


                  

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 114 - Cậu tú thi…văn.



                                   
 
 Trong cuộc thi “ Phụ nữ thế kỷ 21” toàn quốc do VTV3 tổ chức, một cô gái Tây Nguyên đẹp cỡ hoa hậu khi được hỏi :” Em có biết Trường ca Đam San không ?”  - “Dạ… không”. “ Em có biết “Đất nước đứng lên “ không ?” – “Dạ…không”.       

Sinh viên dân tộc Tây Nguyên mà không biết Trường ca Đam San  là sử thi nổi tiếng của dân tộc Eê Đê thì thật đáng buồn, nhưng không biết “ Đất nước đứng lên” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyên Ngọc  thì lại đáng …mừng, vì văn học cách mạng đã chết dần trong lòng người đọc.
Tuy nhiên, không riêng gì cô gái dự thi “ Phụ nữ thế kỷ 21”  mà ngay cả các cô tú cậu tú trong các kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học, kiến thức về văn học cũng thật đáng báo động.
Trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2006, nhiều áng văn của mấy cô cậu  đã khiến thầy cô chấm thi sửng sốt vì lỗi chính tả, suy diễn, hổng kiến thức và cả vì "viết mà không biết viết gì”.
Trong gần 1.000 bài thi vào đại học ở một Hội đồng thi Sàigòn có tới hơn 2/3 bài có chữ viết tệ hơn cả học sinh tiểu học, phần đông sai chính tả đến không thể chấp nhận. Một thày chấm thi bức xúc:
Những cô cậu này mà cũng lấy được bằng tú tài thì thật khó hiểu. Không biết giáo viên văn phổ thông chấm như thế nào mà số này qua khỏi bậc phổ thông?”.
 Có bài thi văn dài 4 trang mà thày tìm mỏi mắt vẫn không thấy một dấu chấm câu nào . Việc dùng từ sai, viết câu “què”, câu sai cấu trúc là lẽ thường. Một bài làm văn có khi sai đến gần … 100 lỗi dạng này. Truyện “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài có nhân vật Mị, được một thí sinh viết trong bài:

“Mị đẹp hơn ai hết nên rất nhiều bồ. Một hôm trời đẹp ơi là đẹp, Mị được một cậu ấm họ Lí tên là Phá Sa con ông tá điền giàu có đeo được chiếc nhẫn kim cương vào tai và cuối cùng Mị đành vui vẻ nhận và theo về nhà làm vợ luôn. Từ đó Mị sống khổ lắm như là con ngựa nuôi trong xó  bếp không ai thèm dòm tới nữa Mị đã tàn đời...
hoặc :
“ Mị về làm vợ cho nhà bá hộ, vất vả như con bò tót nên Mị trở thành một thứ quái vật, người không ra người, ngợm không ra ngợm...

Chuyện lấy râu ông này cắm cằm bà kia cũng không hiếm. Có  thí sinh lẫn lộn giữa truyện “ Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài với truyện “Chí Phèo” của Nam Cao :
Vì bất bình trước việc dụ dỗ con gái nhà lành, A Phủ đánh Bá Kiến, bị Lí Cường bắt về gạt nợ, trói đứng không cho đi chơi mùa xuân. Bọn chúng thật là dã man. Em đọc đến đây thì bất bình lắm, thương cho A Phủ và hận cha con nhà Bá Kiến.
Hoặc :
A Phủ thấy vợ mình (tức Mị) bị bọn nó hành hạ thì liền xách dao chạy thẳng đến nhà Bá Kiến, đâm chết Bá Kiến rồi tự sát cho chết luôn! (chi tiết này nói về Chí Phèo).
Nhiều đoạn văn thí sinh viết đến thày đọc cũng chẳng hiểu :
“ Xuân Diệu sinh ra sau ngày giải phóng, chứng kiến nhiều cảnh trái tai nên không chịu được. Một hôm Xuân Quỳnh sáng tác bài thơ một từ “sóng”. Đó là sự giải thoát phụ nữ của ông…”
Có lẽ bức xúc trước việc mua vé tàu lửa khó khăn, có thí sinh đã viết về hình ảnh con tàu trong bài “Tiếng hát con tàu” :
“ Chế Lan Viên muốn ngày càng có nhiều đoàn tàu chạy từ miền Nam ra miền Bắc để phục vụ hành khách, không còn xảy ra tình trạng chen lấn khi mua vé, lên tàu như hiện nay... Ông đã mơ ước thay cho nhiều người...
Khủng khiếp hơn, có bài làm từ đầu đến cuối, sáu lần thí sinh quả quyết Xuân Quỳnh là “ông”, vài chục thí sinh gọi Xuân Diệu là bà, cô, chị…Không ít bài thi bỏ giấy trắng. Cũng có nhiều bài nói nhăng nói cuội cho có chữ chứ không ra nghĩa. Một số khác xem bài thi là “diễn đàn” để bày tỏ suy nghĩ, trút cạn tâm sự của mình. Một thí sính thú thật :
 “Cô ơi! Cô đừng chấm bài này, vì em đâu có biết gì mà thi, mẹ và chị em ép em nên em mới đi thi thôi chứ em đâu có muốn”.
Lại một năm học nữa đã qua, kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông 2006-2007 đã tới. Năm nay dường như để đạt tỷ lệ học sinh đỗ cao nên Bộ giáo dục ra đề khá dễ. Bà Phạm Thuý Vĩnh , hiệu trưởng Trường tư thục Ngô Thời Nhiệm, Sàigòn cho biết :”Không hiểu sao đề thi dễ đến vậy?”, ngày 31 tháng 5 năm 2007 , tại  TP.HCM, sau khi thi xong môn văn, nhiều học sinh ở các hội đồng thi Trường Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Quí Đôn, Nguyễn Thị Diệu, Marie Curie..đã hớn hở  ra khỏi phòng thi vì đề  thi khá dễ. Tuy nhiên sau khi chấm bài các thày cô mới ngã ngửa người vì trình độ các cô tú cậu tú năm nay cũng chẳng khá hơn năm ngoái là mấy.
Đề thi “Nêu những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp văn học của Lui Aragông.”, nhiều thí sinh viết bừa rằng đó là một người Nga, sinh ra ở vùng Sông Đông cùng với Sôlôkhốp. Có thí sinh lại “nhầm” Lui Aragông với Mácxim Goócki. Hay dở khóc dở cười… trích tác phẩm của Mácxim Goócki nhưng nêu tên tác giả là Lui Aragông. Hoặc nhầm Lui Aragông với Êxênin theo kiểu: một nửa của ông này (năm sinh, năm mất), một nửa của ông kia (lai lịch, thành tựu, tác phẩm).
Một đề thi khác nêu rõ: “Nhận xét ngắn gọn về tình huống độc đáo trong truyện Vợ nhặt của  Kim Lân”, có thí sinh sau khi lan man đủ điều về tác phẩm liền “gán” ngay Vợ nhặt do nhà văn …Nguyễn Tuân viết. Thậm chí có học sinh miêu tả rất nhiệt tình về nạn đói nhưng khẳng định đó là  nạn đói năm… 2000 chứ không phải nạn đói năm 1945…
Về đề “ Phân tích vẻ đẹp người lái đò trong “Người lái đò trên sông Đà” của Nguyễn Tuân, có thí sinh viết “ Lão mới 70 tuổi nhưng trông như một chàng trai trẻ. “ hay: “bọn đá” gầm ghè”, có thí sinh lại phóng tác: “ông” lái đò trên sông Đà đã dùng hết sức bình sinh nhưng kết quả cũng chẳng có gì. “.Có thí sinh lại dùng cả văn phong truyện kiếm hiệp để viết :” : ông lái đò trên sông Đà đã dùng hết các chiêu  của mình nhưng với sự hung dữ của con quái vật, ông vẫn không đủ công lực để giải quyết nó.
Về đề phân tích cái hay , cái đẹp trong tác phẩm Việt Bắc của Tố hữu, có thí sinh nhầm lẫn tình cảm của kẻ ở người đi - chiến sĩ Cách mạng và chiến khu Việt Bắc  là tình  cảm của một cặp vợ chồng. Thế nên tình cảm riêng tư nam nữ, nỗi nhớ nhung của phụ nữ nhớ chồng khôn nguôi đã được phân tích triệt để…
Về câu “Trám bùi để rụng, măng mai để già”có học sinh viết ba lăng nhăng  như sau:
“trái” măng là những sản vật đặc sắc của núi rừng Việt Bắc. Ngoài cơm chấm muối các chiến sĩ còn được thưởng thức những “củ” trám ngọt bùi, những miếng măng luộc thơm phức của người dân Việt Bắc. Nay các chiến sĩ trở về Hà Nội, người dân Việt Bắc không nỡ ăn mà vẫn “để phần” cho các chiến sĩ cách mạng đến mức rụng cả đi.
Có thí sinh viết lung tung chuyện nọ xọ chuyện kia  : “Trong văn học VN, những tình yêu đẹp thường bắt đầu từ những tình huống kỳ lạ.Ví dụ những chuyện tình cảm của Chử Đồng Tử và Công chúa hay tình cảm mang đậm tính nhân đạo của Chí Phèo và Nguyệt (Nguyệt là nhân vật trong tác phẩm Mảnh trăng cuối rừng.”
 Có thí sinh còn bịa rằng Rừng xà nu được viết trong thời kỳ chống Pháp...
Đi tìm nguyên nhân của tình trạng các cô cậu tú quá “dốt” văn chương , một nữ giám khảo cho rằng đó là do học sinh nắm kiến thức không chắc, không chăm, hoặc học vội nên bị “lú” mặc dù chương trình  ngữ văn lớp 12 là không khó. Thêm nữa, do các học sinh quá quen ngôn ngữ đối đáp rút gọn, ngôn ngữ thoại trong chuyện tranh... vậy nên sự diễn đạt trong văn  chương biến thành không đến đầu đến đũa, cắt xén từ ngữ.
Thực ra căn nguyên của việc học sinh chán ghét môn văn là do nhà trường cứ nhồi nhét cho họ  toàn “văn chương giả”, văn chương phục vụ chính trị : kiểu như thơ Hồ Chí Minh , Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận…., tiểu thuyết của Nguyên Ngọc, Anh Đức, Nguyễn Khải….Bởi thế căn bệnh chán học văn đã trở nên trầm kha từ bao lâu nay mà vẫn không thể  chữa khỏi. Chỉ còn một tháng nữa lại đến kỳ tuyển sinh vào đại học, người ta sẽ còn được  thấy những trò lạ nữa của đám cô tú cậu tú thời nay.
 Muốn chữa căn bệnh ‘dốt văn” cho đám học sinh thời nay trước hết phải thay đổi đường lối văn hoá văn nghệ, chủ trương giáo dục của Đảng, Ban tuyên giáo, Hội nhà văn…rồi mới đến Bộ giáo dục. Đó là công việc chắc phải chờ đến khi có một Nhà nước đa nguyên, đa Đảng.

11-6-2007





YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU - KỲ 154







                                                 (tiếp theo)




Ong Bí thư thành uỷ cười khảy :

“ Lẽ ra là vậy đó anh Sáu , lẽ ra bài báo này đã lên khuôn và tung đi khắp cả nước nhưng vì có lời đề nghị của chị Sáu nên Tổng biên tập đã gác lại, nhưng  đến phút chót..mới cách đây chừng nửa giờ thôi…Ban văn hoá tư tưởng thành uỷ lại mới điện sang yêu cầu đăng kỳ này…”

Ong Sáu Thượng nổi cáu :

“ Làm ăn như thế đấy…”

Rồi chợt thấy mình lỡ lời, dùng chữ “ làm ăn” quả  đúng thực chất nhưng lại chẳng tế nhị chút nào , ông chữa thẹn :

“ Sao chỉ đạo thiếu thống nhất vậy, bên chính quyền đã nhất trí gác lại sao bên Đảng lại cho đăng ?”

Ông Bí thư thành uỷ lên giọng :

“ Ay cái nước ta giờ nó vậy đấy ông ạ. Giữa trung ương với địa phương, giữa các Ban, ngành với thường trực thành uỷ lắm khi trống đánh xuôi, kèn thổi ngược, cứ loạn xạ cả lên.”

Ong Sáu Thượng  cau mặt :

“ Vây theo đồng chí Bí thư có còn thương lượng được không ?”

Ong Bí thư thành uỷ vui vẻ :

“ Theo nguyên tắc chuyện gì cũng có thể thương lượng được…cái đó tuỳ thuộc ở..”

Ong ngưng lại, nhường cho người nghe suy đoán . Ong Sáu  Thượng cau mày :

“ Tôi cứ tưởng mọi chuyện bà Sáu nhà tôi đã  thoả thuận rồi ?”

Ong Bí thư gật đầu :

“ Tất nhiên, do vậy mới có cuộc gặp gỡ giữa tôi và anh Sáu. Ngặt vì phút chót lại có trục trặc nên phải thương lượng thêm…”

Thật đúng là một lũ con buôn – ông Sáu Thượng chửi thầm trong bụng, mẹ kiếp nó biết mình đang cần nên ép giá đây mà. Lẽ ra ông làm mặt lạnh, tỏ vẻ duỗi ra cho bên phiá đối tác phải xuống thang, nhưng ngặt vì bà Sáu đã ra “chỉ thị” bằng mọi giá phải chặn được bài báo, bởi  vậy ông đành cố kiềm chế, nhẹ giọng :

“ Vậy theo đồng chí Bí  thư còn cần những điều kiện gì nữa  ?”

Ong Bí thư phán gọn lỏn :

“ Chẵn năm chục ngàn…”

Ong Sáu Thượng kêu lên :

“ Năm chục ngàn đô la Mỹ ? Làm sao tôi có ngay được số tiền lớn vậy ?”

Ong Bí thư cười hà hà :

“ Anh Sáu khỏi lo…anh chỉ cần ký một chữ ký nhỏ như con muỗi vào tờ giấy này là đủ…”

Ong Sáu Thượng nhìn vào tờ giấy đã chuẩn bị sẵn nội dung.Ông tròn mắt nhìn gã quái nhân trước mắt, thật không thể hiểu nỗi gã là một Bí  thư thành uỷ hay là một thằng chân  gỗ môi giới buôn bán các ảnh hưởng ? Ong nói :

“ Tôi cần hỏi qua ý kiến nhà tôi..”

“ Xin mời…”

Ong Bí thư thành uỷ trỏ tay vào chiếc điện thoại bàn . Ong Sáu Thượng quay số và lập tức bên kia đầu giây có tiếng nói của bà vợ ông :

“ Ong ký đi…Tôi biết điều kiện mới của nó rôi…ông ký đi..”

Ong Sáu Thượng thắc mắc :

“ Nhưng mà những…50 ngàn đô la ?”

Có tiếng bà gắt :

“ Năm triệu cũng phải ký. Ong cứ nghe tôi ký đi. Và phải đưa được thằng con tôi về ngay trong sáng mai …”

Không chờ cho ông hỏi thêm, bà cúp máy. Ghê thật, mấy người này làm ăn gọn nhẹ dứt khoát, hô một tiếng là hơn nửa tỉ bạc chứ bỡn ? Mà chắc loại giao dịch như bà “giải cứu” thằng con trai chỉ là chuyện nhỏ ?

 Ong đặt bút ký xoẹt. Ong Bí thư thành uỷ cầm lên nhìn chữ ký ông Sáu Thượng, vẻ hài lòng lắm rồi gọi vào trong nhà :

“ Có thằng Văn đó không ?”

Một gã còn trẻ, mặt mũi trắng trẻo chạy vào đứng nghiêm :

“ Báo cáo, có mặt…” 

Cái trò đang diễn ra vừa có vẻ hài hước, vừa kệch cỡm nhưng lại làm cho ông Bí thư thành uỷ có vẻ khoai trá. Ong gật gật :

“ Tốt tốt….mày chạy ngay sang thằng Tổng biên tập báo bảo nó bóc ngay bài  báo ấy ra. Hoàn thành nhiệm vụ báo cáo tao…”

 Gã thanh niên dập chân cái “đốp” theo tác phong quân sự, miệng hô rõ to :

“ Rõ…”

Gã chạy đi rồi, ông Bí thư quay sang ông Sáu :

“ Vậy là xong …Anh Sáu cứ yên trí về khách sạn nghỉ, sáng sớm mai ghé trại tạm giam đón cháu về . Nhưng mà khoan đã…công việc hoàn thành ta phải nâng ly chúc mừng cái đã chớ ?”

Rất nhanh từ bên trong một gã nhô ra, tay cầm chai rươự tây và hai cái ly:

“ Mình bóc tem chai X.O. này…300 USD đó anh Sáu…”

Ong Sáu Thượng miễn cưỡng cụng ly. Ong hắt ly rượu vào họng và chỉ muốn mau mau  chuồn khỏi  đây thoát cái dáng vẻ cô hồn , dị dạng của gã Bí thư thành uỷ mà gã đâu có chịu :

“ Ay không được…ăn mừng một sự kiện lớn thế này mà anh Sáu uống có mỗi một ly hạt mít đã bỏ đi đâu có được. Nào ta cạn ly này mừng cho sự ổn định chính trị của xã hội ta, mừng vị trí độc Đảng của ta mỗi ngày thêm vững chắc….”

Gã rót cho ông Sáu Thượng ly nữa và lần này lại cất giọng ngân nga :

“ Nào…ly này mừng uy tín Đảng ta trên trường quốc tế mỗi ngày thêm vững mạnh, từ chỗ là Uỷ viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc tới chỗ uỷ viên chính thức, từ vị thế một nước nhược tiểu tới chỗ nay mai trở thành một con rồng lộn ở phương Đông …”

Ong Sáu Thượng cũng đã say lắm , ông cười khà khà :

“ Đồng chí Bí thư nói nước ta là con rồng lớn hay con rồng lộn ?”

 Ong Bí thư thanh uỷ bất chợt cười  ha hả :

“ Rồng lớn chớ…nghe hai chữ “rồng lộn” nói lái thành bậy bạ quá…ha ha ha…”

Ong Bí thư thành uỷ tự thưởng một hồi cười liên thanh , nhạt thếch không hề hay biết ông Sáu Thượng đã ngủ từ tám đời. Ong lệnh cho đàn em :

“ Khiêng đồng chí Sáu vào phòng khách.  Không dùng bất cứ hình thức dã rượu nào, cứ để đồng chí ngủ tới sáng mai, 8-9 giờ mới dậy càng tốt…”

Quả nhiên, sáng hôm sau, khi nắng đã bò vào tới đình màn, ông Sáu Thượng mới he hé mắt. Đầu nhức như bủa bổ, ông cố nhớ lại mọi chuyện. Chà…tại chai X.O đây mà…thằng cha Bí thư thành uỷ này ghê gớm thật, cứ rót rượu tì tì làm mình mềm môi  uống mãi. Nhưng phải công nhận rượu quý thật.Mới ghé lên miệng chưa kịp nhấp, mùi thơm đã xông lên tận óc…Rượu như vậy mới thật là rượu quý. Uống cho say cũng bõ …’

Nghĩ rồi ông sáu Thượng nhảy khỏi giường. Lù lù trước mặt ông là tờ báo tỉnh vừa ra lò, còn thơm mầu mực  mới. Ong vội vàng quơ tờ báo và giơ lên đọc từ trang nhất toàn đăng tin “xe cán chó” cho tới trang bét toàn quảng cáo bao cao su. Ong giở đi giở lại mấy lần không thấy bài nào động tới vụ thằng Hàm cằm bạnh bắn chết người trong quán karaoke trong lúc giành gái. Chà …làm ăn uy tín thật. Một bài báo vậy, nếu ra lò chắc sẽ gây tiếng vang lớn về vụ ăn chơi sa đoạ , bất cần đời của nhóm thanh niên 8x 9x. nhất là đám con ông cháu cha. Sự thực còn theo cái lối độc Đảng hiện nay thì đám thanh niên này thả sức mà quậy phá mọi trò mất dậy mà không một Sở công an nào dám đụng tới tụi nó. Như thằng Hàm chỉ sáng mai nó sẽ được ông đưa xe tận nơi đón nó, nó lại nhâng nhâng nháo nháo coi như không có sự gì xảy ra với nó và khi có điều kiện lại sẵn sàng giết người như ngoé để bày tỏ “khí thế đập phá, ăn chơi” của tụi nó.

Ong quan sát căn phòng đêm qua ông bị quẳng vào đây mà không hay biết gì ? Mặc dù trang bị trần thiết rát giản dị nhưng lại đều là thứ cao cấp , sang trọng nên nom căn phòng “quý phải” hẳn lên.

 Ông Sáu Thượng còn đang mải ngó nghiêng căn phòng, cửa bỗng bật mở và thật không ngờ gã thư ký đầu cuốn băng lách người vào.  Ông trợn mắt :

" ủa...ra viện rồi hả ?"

Gã thư ký nhăn nhó :

" Đầu con còn nhức như búa bổ nhưng dì Sáu nhắn có chết cũng phải gượng dậy ?"

"Trời đất ơi...tao tưởng mày chết mất tiêu rồi chớ ?"

Gã thư ký nghiến răng kèn kẹt :

" Cái con nhỏ bồ nhí của chú đúng là con quỷ cái. Ối trời ơi, đời con chưa bao giờ thấy đứa con gái nào dữ như con này ? Mà sao chú Sáu chiêu mộ được nó làm bồ nhí thì chú quả siêu thật..."

Ông Sáu Thượng nhớ lại cái cảnh cô Thật nổi điên lên nhảy xổ vào cấu xé gã thư ký khiến hắn ngã bỏ ngửa, dẫy đành đạch trên nền gạch bông. Ôi chao ôi, thật không ngờ con bé con ngày xưa xinh đẹp hiền dịu như vậy phút chốc trở nên hung dữ như một con nặc nô đòi nợ thuê thì lạ thật.

Gã thư ký mặt xanh xao, tái mét, mồ hôi túa ra trên trán. Dường như gã còn đau lắm nhưng cố gượng dậy khiến gã run lẩy bẩy. Ông Sáu Thượng vội đỡ gã dìu tới bên giường :

" Mày đang còn mệt lắm hả ? Thôi cứ nằm nghỉ lát cho khoẻ lại đã !"

Gã nằm thẳng cẳng, mắt nhắm nghiền, miệng rên hừ hừ nom thật thảm hại. Thật chẳng bù cho lúc gã tán cô bé phục vụ ở cơ quan huyện uỷ, cái miệng cứ rẻo quẹo, cái mắt cứ đong đưa, ướt rượt làm con bé kia mới gặp lần đầu mà đã chết ngắc với nó. Gã nằm nhắm mắt nhưng không ngủ. Chẳng hiểu trong đầu gã nghĩ ngợi gì. Sau khi rên rỉ chán rồi gã mở mắt hỏi một câu làm ông Sáu Thượng ngớ ra :

" Ở trên đời này chú Sáu sợ nhất con gì ?"

" Mày hỏi vậy là sao ? Sao lại sợ nhất con gì ?"

" Thì con hỏi chú Sáu vậy đó ? Con rắn, con rết, con chó dại, con hổ, con gấu...chú Sáu sợ nhất con gì ?"

Ông Sáu Thượng  bật cười :

" Mày còn tỉnh không đó ? Hay đau đầu quá nên nói sảng rồi ?"

" Đau đầu thì con vẫn còn đau lắm. Nhưng nói sảng thì không ? Con đang tỉnh như sáo sậu này. Con chỉ hỏi chú Sáu ở trên đời chú Sáu sợ nhất con gì ?"

Ông Sáu Thượng cau mày :

" Tao chẳng sợ con gì cả ? Hùm beo, rắn, rết đều đáng sợ cả nhưng nó ở mãi trên rừng sâu núi thẳm có gì mà phải sợ ?"

Gã thư ký cười nhợt nhạt :

" Ấy thế mà có một con đáng sợ nhất nó lại ở sát ngay bên mình mới kinh hãi chớ ?"

Ông Sáu Thượng ngạc nhiên :

" Mày nói con gì vậy ?"

Gã thư ký cười  như mếu :

" Con ... gái  chớ còn con gì ?"

" Con gái mà đáng sợ ? Đáng sợ mà tới đâu tao cũng thấy hễ có con gái là mắt mày sáng trưng lên  sán tới tán tỉnh ?"

Gã thư ký gật đầu :

" Đó...đó..con gái đáng sợ chỗ đó đó...Mình thừa biết là phải tránh cho thật xa vậy mà nó có bùa mê thuốc lú sao đó cứ bắt mình sán lại gần để cho nó...ăn thịt ..."

Ông Sáu Thượng bật cười :

" Thế còn cái con bé nhân viên văn phòng huyện uỷ mới hôm qua mày ăn thịt nó hay nó ăn thịt mày ?"

Gã thư ký trợn mắt :

" Bộ chú Sáu tưởng con ăn thịt được nó đấy hả ? Ngược lại, nó nhai con cả xương đó..."

Ông Sáu Thượng ngạc nhiên:

" Vậy mà hôm qua tao lại cứ nghĩ : tội nghiệp con bé, lọt vào tay thằng Sở khanh này thì đời nó ra bã..."

Gã thư ký kêu lên :

" Không dám đâu, ngược lại suýt nữa nó cho đời con ra bã mới đểu ..."

Ông Sáu Thượng tò mò :

" Nó làm gì mày rồi , mày ngủ với nó bị nó lột sạch hết tiền rồi phải không ?"

Gã thư ký lắc đầu :

" Nó có lột sạch cả tiền bạc cũng chẳng ăn thua gì, cũng coi như tiền bo mình ngủ với nó thôi..."

" Vậy nó lột cái gì của mày ? Điện thoại di động hả ? :"

Gã thư ký lắc đầu :

" Ba cái đó là chuyện vặt ăn nhằm gì ...nó lấy cắp của con cái..."

Gã thư ký nói tới đó rồi im bặt. Ông Sáu Thượng tò mò :

" Nó lấy cắp của mày cái gì ? Sao mày không báo cho bà chánh văn phòng huyện uỷ ? Mà sao tao nom mặt mày tái xanh tái tử đi như vậy ?"

Gã thư ký ngần ngừ mãi rồi mới thở ra :

" Nó lấy cắp của con cái thẻ Đảng rồi..."

Ông Sáu Thượng thở phào :

" Trời đất ơi, tao tưởng cái gì ? Mất cái thẻ này thì về bảo văn phòng đảng uỷ nó làm cho cái thẻ khác. Lo gì ? Mày cứ làm đơn báo mất trong lúc đi công tác, tao chứng nhận cho ?"

Gã thư ký sợ hãi lắc đầu :

" Không, mất thẻ Đảng con không sợ, con sợ mất cái con để bên trong thẻ Đảng kìa.Mất cái đó mới đáng sợ ..."



                 (còn tiếp)

Chủ Nhật, 26 tháng 10, 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 113 - Báo Tết năm…con “khỉ” !

                       
     
Hàng năm cứ độ đầu xuân , quảng cáo chạy nhiều, làng báo Việt Nam lại đua nhau làm báo Tết . Đặt ai viết, viết chuyện gì…nhất nhất đều “lên kế hoạch”  vài tháng trước. Báo Tết sẽ thu bộn tiền quảng cáo, bởi thế nhuận bút sẽ tăng gấp 2… gấp 5 thậm chí gấp 10 tuỳ địa vị người viết, trở thành cuộc chia chác, ngoài các “ông lớn” nhất thiết đứng đầu bảng, các cây bút hạng nhì kiên trì đeo bám , phần còn lại  các “toà soạn” trao đổi lẫn nhau, “anh in bên ni, tôi bên nớ”, ai cũng có phần, danh chính ngôn thuận,  bố thằng nào dám kiện.
Ở VN có chừng gần 700 tựa báo, từ trung ương xuống tới địa phương, các ngành các giới mà xôm trò nhất phải là giới  nhà văn – “có tiếng không có miếng” và giới doanh nhân – “có miếng mà không có tiếng”, bởi vậy báo Tết của hai loại người này cũng khác nhau.
  Báo của văn nhân, đầu sổ là Báo Văn Nghệ của Hội nhà văn VN, tết năm nay cũng như  năm ngoái, năm kia, năm kìa…năm nào cũng vậy, muôn thủa một khuôn , thịt mỡ, gạo nếp, lá dong như bánh chưng ngày tết.
 Ba phần tư “chiếc bánh” là giành “cúng cụ”, trước hết  “ Đến Côn Minh tìm dấu chân Bác” của Giang Nam, rồi đến “Hành hương về Cao Lãnh”, cúng ông Nguyễn Sinh Sắc, bố cụ Hồ .
Mâm thứ hai giành cho các lãnh tụ : “ Phan Thanh, người trí thức ưu tú của Đảng” của Đặng Minh Phương , “Tiếp kiến cụ cố vấn Phạm văn Đồng” của Thái Vũ,  “Nhớ anh Lành (tức Tố Hữu) ở T.6” của Hồ Mậu Đường, “Võ Nguyên Giáp, vị tổng tư lệnh toàn năng “ của Nhật Hoa Khanh, “ Những cái tên mãi mãi đi vào lịch sử” của Cao Bá Sành….
         Phần cúng lãnh tụ đã xong, sang phần nhang khói cho tổ tiên, gọi là nhớ về cội nguồn trong 3 ngày tết, nhà nghiên cứu “đầu đội chính sách, vai mang lập trường” Mai Quốc Liên có bài “ Ngày xuân nghĩ tới người xưa’  có nhắc tới Nguyễn Du, Lê Quý Đôn…nhưng cuối bài vẫn quèo sang “50 năm chiến thắng Điện Biên”, Lê Hoài Nam có “ Chấn hưng văn hiến dưới triều vua Lê Thánh Tôn”, Phạm Điình Trọng với “ Thiên sử ký dân gian”  về Lê Thái Tổ. Hết, cúng tổ tiên vậy là xong.
          Thế còn “tài tử văn nhân nào đâu tá ?”.
Những ông còn sống thì…khỏi lên báo Tết, đặc cách nhà thơ “trẻ mãi không chịu già “ Trần Đăng Khoa được Nguyễn Đình Chú cho một bài “ Đi xem mặt bé Khoa”, vài ông đã chết được cúng thì lại toàn  văn nhân chiếu nhì : nhà thơ Hoàng Trung Thông, Hồ Dzếnh …và mấy ông chẳng phải nhà văn : nhạc sĩ Trần Hoàn, nhà toán học Hoàng Tuỵ, hoạ sĩ  Nguyễn Phan Chánh…
Người nước ngoài đầu sổ được khấn khứa là nhà thơ xô viết “ Bông hồng trong thơ Exênhin” của Vũ Việt, nhà văn Nga Sêkhốp, rồi đến danh hài “Sác Lô” của Trung Sơn, “Dante thần thoại” của nhà văn Trần thị Trường khoe “ tôi đã được đến Paris, La Mã “, nhà nghiên cứu Nguyễn Thế Long cũng vậy trong bài “Ở Vatican”, Phạm Thành Hưng khấn ông tây mãi tận bên Tiệp Khắc “Nhà văn của những quán bia”…     
Cúng người rồi đến cúng…đất. Ong Uỷ viên Ban chấp hành Cao Tiến Lê “ Cúng nước sông Lam”  khấn khứa mất nguyên một trang khổ lớn, nhà văn Đào Vũ cúng “Cây quê hương” ngày xưa đã che chở cho du kích đánh Pháp, “ Làng Dương Lôi – Bắc Ninh” – toà soạn quên ghi tên tác giả, điển hình về truyền thống cách mạng qua hai thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ,  Hồ Duy Lệ cúng “đội quân tóc dài” đã anh dũng hy sinh  giết Mỹ lập công với “Chu Lai kinh tế mở”, nhà nghiên cứu Hữu Ngọc gắn “ trào lưu tư tưởng nổi dậy của thanh niên thế giới vào “ cuộc nổi dậy Tết Mậu Thân” , nhà văn Văn Chinh cúng Thăng Long thành với “ Minh chứng của thời gian”, kiến trúc sư Đoàn Khắc Tình với “Cái đẹp còn lại của kiến trúc Thăng Long-Hà Nội”, Vĩnh Nguyên cúng Huế với “ Tính đặc sắc của Nhã nhạc cung đình Huế…”…
Oi chao, tết nhất mà khói hương nghi ngút , nặng nề âm khí gần hết cả tờ báo. Phần còn lại mới đến “ khai bút” của các nhà văn, nhà thơ , trước hết là các cụ tiên chỉ Nguyễn Khoa Điềm, Bảo Định Giang, Huy Cận, Nguyễn Xuân Sanh, Giang Nam…mà mấy anh toà soạn vẫn gọi là “thơ cúng cụ”. Rồi mới đến các nhà thơ hạng hai : Hoàng Cầm, Nguyễn thị Hồng Ngát, Phan thị Thanh Nhàn, Ngô văn Phú, Dương Thuấn, Trúc Chi, Trúc Thông, Nguyễn Trọng Tạo , Chử văn Long…qua đó người ta dễ thấy sự lép vế của các thi sĩ anh Hai Nam bộ.
Thế còn các nhà thơ thế hệ A còng (@) ?  Những Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền Thư, Nguyễn Hữu Hồng Minh….Còn lâu nhé, thơ nặng mùi tinh khí in vào số Tết có mà ô uế cả bàn thờ tổ tiên, đi mà chơi chỗ khác trên các trang nhà…hải ngoại nhé.
Ngoài thơ ra có một bài nghị luận công phu của nhà phê bình chống “phải đạo” Hoàng Ngọc Hiến “Bàn về tình, nghĩa trong triết lý nhân sinh người Việt”, trích dẫn ngay câu của bác Hồ “Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin thì phải sống cho có tình có nghĩa” mà ông Hiến quên béng mất dân ta đã có một thời “con tố cha, vợ tố chồng” trong cải cách ruộng đất, rồi thì ngày nay tranh chấp đất đai, con giết bố , bố tống con ra khỏi nhà là chuyện chẳng phải hiếm thấy ở làng quê.
Phần sáng tác văn xuôi có 4 truyện ngắn thì đều của mấy anh Bắc Kỳ. Nhà văn Nguyễn Kiên kể chuyện thằng Gôi “ Con của rừng” cứu hai người thoát chết: một tù oan trốn trại và một sau này làm Giám đốc. Nhớ ơn Gôi chỉ có vợ người tù oan, còn ông Giám đốc thì không. Tuy nhiên “đứa con của rừng” vẫn được giao “khoán đất, khoán rừng” làm ăn phát đạt. Nhà văn  Trần văn Tuấn trong “ Chuyện nàng Bân ở phố Mới” kể một cô vợ khăng khăng chờ chồng đi…xuất khẩu lao động trở về, dứt khoát không chịu đi bước nữa cho dù có hẳn một anh Phó Giám đốc giàu sụ xin cưới, nhà văn Tô Đức Chiêu trong “Người đàn bà nói chuyện một mình” từ chuyện hai vợ chồng còn hoạt động du kích chống Pháp, qua thời cải cách, qua thời chống Mỹ và bây giờ  chị khoe :”Ba ngày nữa là làng đón danh hiệu làng văn hoá…”. Oi chao ôi là truyện, lê thê dài dòng, phàm người có gan lắm mới đọc được cho hết suốt hai trang báo khổ lớn  chữ nhỏ. Truyện ngắn “ Mùa hoa chùm chỉ” của nhà văn công an Nguyễn Ngọc Mộc lại rối rắm hơn. Đại khái cô Vân, gái đẹp, bỏ chồng cán bộ bệnh tật theo một gã Việt kiều bị nó lừa cho thân tàn ma dại. Con cô là Mý được nhận vào làm ở Nhà máy mì ăn liền cùng với thằng Quá, cũng con nhà nghèo, mẹ bán nước sâm lạnh. Cả hai  đứa bị công an bắt vì tội ăn cắp, ra toà được hưởng án treo và lại cùng được trở về làm việc ở nhà máy mì với người mẹ tội lỗi  là cô Vân xinh đẹp ngày xưa.
Chao ôi, đọc cả 4 truyện ngắn tiêu biểu mới thấy văn học ta đang tắc tị là chuyện có thật, còn oan uổng nỗi gì ? Đến hẹn lại lên, cứ đà này, sang năm có thể thấy báo văn Nghê số Tết lại do ông Vũ Như Cẫn “bổn cũ soạn lại” y nguyên vậy.
Báo Tết của ‘văn nhân “ đã vậy thế còn của “Doanh nhân”. Tất nhiên việc buôn bán phải nhường cho các anh Hai. Báo “ Doanh nhân Sàigòn” do nhà báo Minh Hiền làm Tổng Biên tập, hơn đứt báo Văn Nghệ ở chỗ in toàn giấy “ảnh” loại sang và hơn một nửa thay vì ‘cúng cụ” như báo Văn Nghệ thì đăng toàn…quảng cáo. Nào kem da “Shiseido- thanh khiết, mềm mại”, dầu thơm Boss intense – hướng mới dành cho phụ nữ, nào “Clé de peau mang đến sự kỳ diệu cho làn da”… tuốt luốt dành cho chị em nhưng quảng cáo ở đây chính là để các “doanh nhân” mua tặng bồ nhí. Quảng cáo hàng hoá rồi thì tới người. Nào “ Con người : lợi thế quyết định cạnh tranh kinh tế” của Huỳnh Bửu Sơn, rồi các doanh nhân phát biểu : Giám đốc tiếp thị Pepsi, Trần Bảo Minh “Cổ vũ cho những trật tự mới”, Giám đốc nhãn bia Tiger , Nguyễn Thanh Phong hô hào :”Hướng đến sự hoàn thiện”, Giám đốc Công ty Bút bi Thiên Long, Lâm Trường Sơn tự bày tỏ “ Tận tâm yêu nghề”, Ngô thị Giáng Uyên, Công ty xà bông Unilever khoe :”Đi khắp thế gian”… Chẳng chịu rụt rè, khiêm nhượng như các văn nhân, các ông bà Chánh Phó Giám đốc Nhà máy dầu Tường An, Pepsico VN, Công ty phát triển kinh doanh IKEA, Công ty xe taxi Mai Linh…. đều có ảnh mầu và tranh thủ marketing vừa hàng hoá của quý Công ty và cả bản thân mình. 
Báo tết của doanh nhân tuy chẳng “văn nhân” tý nào nhưng lại bắt mắt hơn báo Văn Nghệ ở chỗ tràn ngập ảnh các người đẹp, các vương tôn công tử, trong đó có hẳn một show “ thư giãn của người mẫu Lý Lam” khoe đùi trên hai trang khổ lớn, rồi “ Vẻ gợi cảm Vera” cũng làm cho các quý ông phải “ đi cũng dở, ở không xong”. Mà có được “chiều” vậy, các doanh nhân mới chịu bỏ tiền ra cho quý báo làm số Tết chớ. Còn cái anh báo Văn Nghệ, dẫu sao cũng là tiền Nhà nước bao cấp , bì sao được ?

20-1-04











BÁC BA PHI ĐI THĂM MỸ - KỲ 133

                                  (tiếp theo)



Bác Ba Phi nhẩm tính rồi kêu trời :
“ I trời…loáng cái ông kiếm được 3 đô la tính ra gần 60 ngàn đồng tiền Việt bằng lương thợ hồ làm mửa mật cả ngày…”
Ong già cười cười :
“ Ở bên Mỹ giá nhân công phải cao chớ , đâu  có rẻ rúng như Việt Nam…”
Bác Ba Phi rụt rè :
“  Vậy…tôi làm theo ông có được không ?”
Ong già vui vẻ :
“ Được chớ…ai làm chả được…miễn là người ta chấp nhận cho ông đẩy xe …Có điều ông phải nói được tiếng Anh…”
Bác Ba Phi giật mình :
“ Nói tiếng Anh ? Tôi nói sao được ? Nói tiếng Việt được không ?”
Ong già cười lớn :
“ Nói tiếng Việt thì Mỹ nó hiểu sao được ? Mà đa số ông bà già Mỹ mới chịu cho mình đẩy xe thôi. Nhưng ông học tiếng Anh mấy hồi. Để tôi dậy cho …”
Bác Ba Phi hốt hoảng :
“ Í chết chết…tôi làm sao học…”
Ong già vội vàng :
“ Dễ ợt à…bác cứ nói theo tôi là được…này nhé…Khèn ai heo pỉu
Bác Ba Phi lắc đầu quày quạy :
Ói thôi thôi…khó lắm…khó lắm …tôi nghe bác nói cái gì như “khiêng con heo ị là sao ?”
Ong già cười lớn :
“ Không phải “khiêng con heo ị” mà là “khen ai heo piu “ là tôi có thể giúp ông hay bà được không ?”
Bác Ba Phi hiểu ra gật gật :
“ Ra vậy hả ? Vậy thì tôi nói được…”khen ai heo piu” chứ gì ?
Ong già khen rối rít :
“ Bác học nhanh thế còn gì. Hôi tôi mới sang cũng không học nhanh  bằng bác đâu. Giờ bác đi ra chỗ cửa siêu thị đằng kia thấy có ông bà già nào đầy xe một mình không có con cháu đi theo bác cứ nói vậy  là ăn tiền.”
Bác Ba Phi thắc mắc :
“ Tôi nói vây họ xả một tràng tiếng Anh tôi biết nói làm sao ?”
Ong già cười cười :
“ Thì bác cứ “jét…jét…” đại đi rồi cứ sán vào, giằng lấy xe mà đẩy tới…nhớ đi chậm chậm sau lưng người ta không nó lại tưởng bác cướp xe thì mệt.”
Bác Ba Phi ngập ngừng :
“ Phức tạp quá nhỉ ? Ngộ nhỡ họ không đồng ý thuê mình đẩy giúp họ thì sao ?”
Ong già lại cười :
“ Có gì đâu…chuyện dễ ợt .nếu nó không thuê nó sẽ xua xua tay, đầu lắc quày quạy, lúc đó mình dọt cho lẹ , còn không cứ sấn vào giằng lấy xe mà đẩy cho nó…”
Bác Ba Phi bùi tai cũng đánh liều ra đứng chờ ở cổng siêu thị. Người ra người vào tấp nập , nhìn đi nhìn lại toàn thấy thanh niên, người khoẻ mạnh đẩy xe trên chất hàng ra chỗ đậu xe. Đây là siêu thị Mễ nên ít người Việt, phần lớn là các ông bà Mỹ trắng, Mỹ đen mập thù lù . Bất chợt bác Ba Phi nhìn thấy một ông già đẩy xe chất đầy hàng . Bác vội chạy tới vừa cất lời thì quên béng ngay câu tiếng Anh ông già vừa dậy nên miệng cứ lắp bắp :
“ Đẩy giúp…để tôi đẩy giúp…”
Ong già người Mỹ chẳng hiểu gì cứ xăm xăm đẩy xe đi làm bác Ba Phi chưng hửng, quay lại chỗ ông già đang ngồi :
“ Khổ quá…tôi quên béng cau tiếng Anh ông dậy rồi…”
Ong già kêu trời :
“ Khèn ai heo pỉu …khèn ai heo pỉu…Có vậy thôi mà cũng quên ?”
Bác Ba Phi vừa đi vừa lẩm nhẩm câu tiếng Anh ông già vừa nhắc lại. Bác lại đi tới đứng chờ ở cửa siêu thị mắt nhìn lom lom vào dòng người  đẩy xe từ bên trong ra. Kia rồi, kia rồi, một bà già Mỹ trắng tóc bạc phơ vừa bên trong bước ra. Chiếc xe đẩy trong tay bà chất đầy nhưng rau củ, các túi, gói, bịch…Bác Ba Phi đánh trống ngực thình thịch. Bác cố nén hồi hộp bước tới cao giọng “
“ Khèn ai heo pìu ?”
Bà Mỹ già nhìn bác Ba Phi tỏ vẻ ngạc nhiên. Bác nói lại lần nữa cho bà Mỹ già hiểu được làm bà gật đầu lia lịa và tránh người cho bác Ba Phi đẩy xe. Nhớ lời ông già dặn, bác Ba Phi đẩy xe lẽo đẽo theo sau bà Mỹ già. Quả thực từ trước nay ở trong nước bác ba Phi chưa gặp bà nào mập , lớn con như bà Mỹ già này. Bà phải nặng ít nhất tạ hai, tạ ba. Nếu tới Việt Nam về quê bác Ba Phi chưa chắc bà đã đi lọt vào cửa nhà. To lớn vậy nhưng bà di chuyển cũng không đến nỗi khó khăn . Bà vẫn bước thoăn thoắt trên hành lang, đi gần hết bãi đậu xe tới một chiếc xe VEN. Bà bấm remote mở cửa xe cho bác Ba Phi chất đồ lên xe. Xong đâu đấy, bà rút ra tờ 5 đô la đưa cho bác Ba Phi kèm theo câu “ Thank you, thạnk you”.
Bác Ba Phi đứng  nhìn theo bà già Mỹ đánh xe đi. Bác ngở ngẩn xem đi xem lại tờ giấy bạc. Hoá ra ở Mỹ kiếm tiền sao dễ quá vậy ? Thoắt cái  tính ra  tiền Việt bác đã kiếm được cả trăm ngàn đồng. Biết thế này ngay từ hôm mới sang bác ra đây cùng làm với ông già thì bây giờ có lẽ thừa tiền cho vợ chồng thằng Đậu đầu tư nuôi ba ba.
Bác quay về chỗ ông già đưa ra tờ bạc :
“ Hoá ra kiếm tiền ngon thật. Thoắt cái đã được 5 đô . Đây tôi chia cho ông một nửa…”
Ong già lắc quày quạy :
“ Ay chết…tièn của ông làm ra là của ông chớ ? Sao phải chia cho tôi một nửa ?”
“ Thì nhờ ông tôi mới kiếm được chớ ?”
Ong già nhét tờ bạc vào túi bác Ba Phi :
“ Ong cất đi, tôi có phải là cò đẩy xe đâu. Kia kìa…khách ra đông lắm kìa…ông tới làm tiếp đi…”
Bác Ba Phi lại nhanh nhẩu ra chờ ở cửa siêu thị. Dòng người từ trong vẫn túa ra. Một ông già to béo người Việt lù lù đẩy  chiếc xe chất đầy hàng. Bác Ba Phi vừa bước tới , chưa kịp lên tiếng , ông ta đã vẫy tay :
“ Đẩy xe cho cái !”
Bác Ba Phi dược lời như cởi tấm lòng, vội vàng lên tiếng :
“ Ô kê..ô kê đẩy liền…đẩy liền…”
Nói rồi bác xắn tay áo mắm môi mắm lợi đẩy xe phăm phăm đi theo ông già to béo. Xe hơi của ông già đậu tít mãi gần ngoài con lộ, bác Ba Phi đẩy xe toát  cả mồ hôi mới tới nơi. Ong già mở nắp cốp xe phía sau ra lệnh :
“ Bác xếp hết cả lên cho tôi. Xếp gọn gọn vào mới đủ chỗ…”
Nói rồi lão ta bật châm điếu thuốc tựa lưng vào thành xe hút phì phèo trong lúc bác Ba Phi lúi húi xếp từng món đồ gọn ghẽ trong cốp xe. Gớm cái lão già này sao mua lắm đồ vậy ? Nào gạo tẻ, gạo nếp, nào đậu xanh đậu đen rồi rau củ quả đủ thứ, rồi két bia, thùng rượu vang..khuân đồ, xếp đồ cho lão bở cả hơi tai, mồ hôi ròng ròng.
 Bác Ba Phi xếp đồ gọn ghẽ xong xuôi vào cốp xe, Ong già đóng cốp, nhảy lên xe , bác Ba Phi đi theo chờ lão đưa tiền. So với công sức làm cho bà già Mỹ lúc nãy thì lão này phải trả gấp ba là 15 đô chứ ít. Nhưng thôi, lão cứ trả 10 đô cũng tốt lắm rồi. Ai ngờ lão nhảy tót lên xe, buông gọn một câu :
“ Thánh kiu…thánh kiu…”
Rồi lão nhét vào tay bác Ba Phi một lon nước ngọt coca, rồ máy ho xe chạy thẳng. Bác Ba Phi ngớ người, cho đến lúc xe khuất sau chỗ rẽ, nhìn lại lon nước  ngọt trong tay bác mới hiểu ra thằng cha kia là thằng “kẹo”. Bác vọt miệng chửi :
“ Thằng đểu…”
Bác quay về chỗ ông già đang ngồi với bộ mặt thiểu nào khiến ông ta cười phá :
“ Bác vừa gặp một thằng bần tiện rồi phải không ? Nó chạy làng không trả xu nào à ?”
Bác Ba Phi lắc đầu, giơ ra lon nước ngọt, thở hắt ra :
“ Nó trả được cái này…”
Ong già văng tục :
“ Fuckle it…”
Bác Ba Phi tròn mắt :
“ Ong nói cái gì vậy ?”
Ong già hậm hực :
“ Tôi chửi bố tiên nhân nó …Mình giúp nó tận tình thế mà “tip” có  lon coca…”
Bác Ba Phi cười cười :
“ Ở Việt Nam vậy  cũng sang lắm rồi. Thôi đừng nổi giận nữa , kiếm quán nào yên tĩnh tôi mời ông ly càphê rôi ta đấu láo với nhau …”
Ong già vỗ tay :
“ Hay hay…hoàn toàn nhất trí…Để tôi đưa ông đi tới quán này…”
Hai người dắt díu nhau vào một quán càphê không lớn nhưng rất yên tĩnh và lịch sự.Một dẫy người xếp hàng trước quầy bên cạnh một số người đang ngồi nhâm nhi ly càphê trên những chiế ghế cao ngất ngưởng. Bác Ba Phi lạ lẫm đưa mắt nhìn quanh. Một cô gái chăm chú làm việc với cái laptop , hai ông già chơi cờ, một thanh niên chúi đầu vào cuốn sách dầy cộp….tất cả đều uống càphê và làm việc riêng của mình, chẳng ai nhìn tới ai, quán khá đông mà rất yên tĩnh. Thật chẳng bù cho quán càphê cóc Sàigòn, nào tiếng nhạc cải lương đinh tai nhức óc, tiếng người cười nói thậm chí quát tháo, cãi cọ, tuyệt nhiên không thấy ai đọc sách, gõ vi tính trong quán càphê. Bác Ba Phi quay sang hỏi ông già :
“ Cái dân Mỹ này lạ nhỉ ? Sao không về nhà mà đọc sách, đánh cờ, coi vi tính …quán càphê là chỗ nhâm nhi thưởng thức hương vị càphê thôi chớ…”
Ong già bật cười :
“ Thì cái dân mình thực chất toàn thất nghiệp, ngay cả cán bộ ngồi đầy các cơ quan mà có cái việc quái gì đâu. Dân Mỹ bận rộn hơn dân mình nhiều, bác không thấy ngay cả ngồi trên xe bus họ cũng vẫn đọc sách đấy à ? Ở Việt Nam thì nội chen nhau cũng đủ chết , có ai điên mà đọc sách trên xe bus…”
Bác Ba Phi đưa mắt tò mò nhìn vào chỗ chế biến càphê, ở đó có mấy cô nhân viên đang sử dụng máy pha cà phê rồi rót vào những chiếc ly bằng giấy. Bác quay sang ông già thắc mắc :
“ Uống càphê phải pha qua “phin” như ở Việt Nam thì mới thơm ngon, có hương vị càphê chớ, pha bằng máy thế kia thì còn đâu càphê ?”
Lão già cười to :
“ Nhầm chết…ai bảo bác pha càphê bằng máy như thế kia không ngon. Cái “phin càphê” người Việt Nam mình vẫn dùng là do từ thời lính Pháp mới xâm chiếm Việt Nam mang sang. Cổ lỗ sĩ lắm rồi. Du khách ở các nước phương Tây sang ta nhìn thấy cái phin càphê chắc phải tròn mắt kinh ngạc. Một cái công cụ pha càphê cũ rích như vậy mà mãi tới tháng 4 năm 1975 khi miền Bắc chiếm được Sàigòn , lính Việt cộng mới nhìn thấy và gọi nó là “cái nồi ngồi trên cái ly” . Hình như họ hiếm khi được uống càphê và pha càphê bằng túi lọc nên gọi là “càphê bít tất” . Thật không thể tưởng tượng được cái u mê, lạc hậu lại chiến thắng cái văn minh thì lạ thật…”
Bác Ba Phi cười theo :
“ Thì cũng phải thông cảm người Bắc thời bao cấp, cơm chảng có ăn nói gì dến càphê. Mà miền Bắc có trồng được càphê không nhỉ ?”
Ong già gật đầu :
“ Có chứ…Nghệ An, Hà Tĩnh thiếu gì…chỉ có điều tư duy của mấy anh miền Bắc “cơm tẻ là mẹ ruột” nên chỉ chăm chăm trồng lúa thôi…”
Ong già đi tới chỗ xếp hàng lấy càphê mang cho bác Ba Phi. Ly càphê bằng giấy to tổ chảng có ống hút. Bác Ba Phi nhấm nháp rồi buột miệng khen :
“ Cà phê pha bằng máy cũng ngon đấy chớ…cứ  gì phải pha phin ?”
Ong già giới thiệu :
“ Không ngon mà thương hiệu Starbucks này nổi tiếng toàn thế giới không thua gì bánh mì kẹp thịt Mc Donald. Starbucks nay nhan nhản ở Mỹ, họ đang phấn đấu đạt được 10.000 điểm kinh doanh trên nước Mỹ và khoảng 20.000 điểm ở khu vực châu Á Thái Bình Dương, dự kiến đến năm 2011 là có mặt ở hơn 50 nước và lãnh thổ. Trung Quốc đã có trên 400 cửa hàng mang thương hiệu Starbucks - hiện đang lọt vào “mắt xanh” của đại gia này và được kỳ vọng là thị trường lớn nhất sau Mỹ . Ong chủ tịch tập đoàn Starbuck là Howard Schultz ước mơ “mỗi góc đường thế giới là một biển hiệu Starbucks” , ghê vậy đó…”
Bác Ba Phi thắc mắc :
“ Vậy sao nó chưa vào được Việt Nam ?”
Ong già bật cười :
“ Ong đi mà hỏi cha Nguyễn Tấn Dũng ! Hoặc hắn  sợ các quán starbuck của Mỹ mọc ra ở Việt Nam sẽ bóp chết các quán càphê Trung Nguyên nên chưa dám cho nó vào. Hoặc Mỹ chưa chịu nộp đủ tiền hối lộ cho quan chức nên nó chưa cho vào thôi.”
Bác Ba Phi lắc đầu :
“ Thì cứ cho nó vào, càphê Mỹ chắc đâu đã thằng càphê Việt Nam…”
Ong già trợn mắt :
“ Nó thắng là cái chắc. Trước hết nó biết kinh doanh. Ngoài  càphê nó còn nhiều dịch vụ hấp dẫn khác  có ở các cửa hàng Starbucks: khách hàng vừa nhâm nhi cà phê, vừa có thể tạo riêng cho mình một đĩa CD tuyển chọn những bài hát đã đăng ký độc quyền của các ca sĩ nổi tiếng. Rồi ngoài càphê ra vài năm gần đây Starbucks đã đưa thêm vào thực đơn một số món ăn trưa, ví dụ như salad hay bánh sandwich, chưa kể phục vụ nguyên bữa sáng trọn vẹn cho bất cứ ai có nhu cầu nên lại càng đông khách. Nó mà vào được Việt Nam thì nó ăn đủ..”
Bác Ba Phi cãi :
“ Chưa chắc đâu. Cách nay mấy năm, Nhà nước Việt Nam đã tổ chức FESTIVAL cà phê Buôn Mê Thuột gồm các hoạt động giới thiệu con đường cà phê, tư vấn - tọa đàm, triển lãm phim ảnh, khu vui chơi giải trí, sân khấu trung tâmvân vân. Nhà nước dự định quảng bá thương hiệu càphê Việt nam ra toàn cầu và đặt mục tiêu đưa Đắk Lắk  trở thành “thủ phủ” cà phê thế giới…”
Ong già cười lớn :
“ Cái gì ? Daklak trở thành ‘thủ phủ” càphê của thế giới à ? Đúng là mấy thằng điên, con ếch muốn to bằng con bò…”

                              (còn tiếp)









Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 112 - Con gà đẻ trứng…tiền.



                

         Tối ngày 9 tháng 1 năm 2004 , Liên hoan Truyền hình Toàn quốc  đã lại…“thành công tốt đẹp” sau một tuần tiệc tùng, nhã nhạc phả phê của  gần 300 đại biểu cả nước và khách mời, tốn tiền của dân tới vài tỷ đồng để chia nhau 44  huy chương vàng, 90 huy chương bạc và 168 bằng khen sao cho ai nấy đều…vui vẻ cả.
            
Mặc dầu theo lời một quan chức “ngay từ ngày đầu tiên Ban Giám khảo đã quá thất vọng vì không chọn được bộ phim ưng ý”, hoặc theo đạo diễn Trần Phương, thành viên Ban Giám khảo, “ tôi thấy không ít phim có thể cắt phứt đi một nửa số tập, 10 thành 5, 4 thành 2 tập mà  vẫn …không sao cả, ở đó toàn đi lặp lại những đoạn nhàm chán, nói năng lê thê…”, mặc dầu vậy, hai Giải vàng cũng đã được trao cho phim “Vị tướng tình báo và hai bà vợ “ ( Sàigòn) và “Cô gái đến từ Bangkok”(Hà Nội).
Cả hai phim đều ngợi ca các … đồng chí công an - phim của Sàigòn ca ngợi công an chìm, tức tình báo của ta gài vào chế độ cũ, phim của Hà Nội biểu dương chiến công của các đồng chí hình sự phá án. Phim “Vị tướng tình báo…” đã chiếu dài dài trên tivi SG chẳng lôi cuốn được mấy người dứt ra khỏi các phim tàu, Hàn Quốc để coi “hai bà vợ của ông tướng tình báo” thu xếp với nhau ra sao cho trọn nghĩa vẹn tình … cách mạng .
Phim sau, xoay quanh chuyện điều tra cái chết của một cô  Việt kiều tên Hồng Hoa bị giết ở Việt Nam và có liên quan tới một “cô gái đến từ Bangkok” để truy tìm kẻ đã lừa đảo cha cô khiến ông phải vào tù. Phim này đang   chiếu trên VTV  nhằm nâng cao ý thức cảnh giác cho bà con, vui tết con Khỉ không quên giữ gìn trật tự an ninh. Vậy là hai Giải vàng của Liên hoan truyền hình toàn quốc 2003 được trao cho hai phim thể loại action Mỹ dẫu rằng còn thua đến vài tầm với cả về nội dung lẫn nghệ thuật.
       Tuy nhiên ta cũng cần cảm thông với phim truyền hình VN mới phát triển chừng hơn một chục năm nay, ra đời và lớn lên nhờ …tiền quảng cáo trên màn ảnh nhỏ. Đặc điểm lớn nhất của nó là ” muốn làm sao thì làm” , cứ phát bừa trên sóng cho bà con coi miễn phí, 50 phút chiếu phim thì có 10 phút quảng cáo, thu vào gấp cả chục lần bán vé ngoài rạp, tiền tiêu như nước  mà vẫn cứ…lãi. Bởi vậy  “phim trên sóng” đã trở thành một thứ hàng hoá rất kỳ lạ : “ sản xuất khỏi cần chất lượng,khỏi lo giá thành và cũng khỏi cần bán ra”. Thử hỏi trong khắp cả nền kinh tế quốc dân, có ngành sản xuất nào lại “ngon ăn” như thế ? Bởi thế “làm phim truyền hình” chẳng cần tài năng doanh nghiệp, chẳng cần am hiểu nghệ thuật gì nhiều, cứ một anh trình độ  cán bộ văn hoá xã ngồi ký giấy duyệt chi là OK, có điều trình độ “đấu đá” phải  siêu cao thủ, vừa lo lót quan trên vừa tạo giàn em út trung thành, ăn đều chia sòng  mới mong ôm được con gà đẻ trứng…tiền dài dài mà bốc hốt bổng lộc.
Bởi thế Hãng phim truyền hình TP Hồ Chí Minh ngay từ thủa lọt lòng đã là “vương quốc của các đồng chí Bến Tre” đứng đầu là Nghệ sĩ nhân dân, Anh hùng lao động Phạm Khắc kính mến. Từ đó trở xuống tới phát thanh viên, biên kịch, đạo diễn nòng cốt, ai muốn  có tên trong sổ lương, nhất thiết phải mang “quốc tịch Bến Tre” . Mãi sau này khi “lực lượng dưới quê “ đã cạn, một vài anh Bắc Kỳ cúc cung tận tuỵ mới được chen chân vào , nhưng cũng chỉ ở vai..cầm cờ chạy hiệu.
Vào dịp Nhà nước xét danh hiệu Anh hùng lao động cho Nghệ sĩ Phạm Khắc, đơn tố cáo bay như bươm bướm. Một trong những nội dung đó là phim nào đồng chí Phạm Khắc cũng đứng tên …”chỉ đạo nghệ thuật” ăn vài phần trăm tổng kinh phí mà việc này đã chi cho …đạo diễn rồi. Một phim “ăn” cả trăm triệu, vậy thì hàng trăm phim, tiền “chỉ đạo nghệ thuật” là bao nhiêu có tài vụ là biết. Tuy thế khoản này cũng chỉ là “tiền lẻ”, còn tiền “dự án”, tiền tậu máy móc, vật tư xây dựng phim trường, nhà cao ốc, tiền ăn chia với đối tác còn…kinh hơn.
Nhân vật số 2 phim truyền hình phải kể đến nhà điện ảnh Nguyễn Hồ, tất nhiên cũng người Bến Tre.Nhân tết con khỉ này, bà con đến chúc tết hai đồng chí này  mới thấy mức sống của cán bộ ta ngày nay quả thực …tư bản cũng chào thua, nội rượu tây biếu tết cũng chật cả một gian phòng, có mang tắm cũng chẳng hết, ra giêng mang ra phố Hải Triều bán giá rẻ cũng được vài trăm triệu.
Vậy nhưng, lộc bất tận hưởng, cả hai VIP này đều đã về hưu và trước đó đã kịp bố trí hai đồng hương Bến Tre vào thế chỗ mình. Ngừời  ngồi vào ghế Giám đốc Hãng phim truyền hình TP HCM là “nhà điện ảnh”  Nguyễn Việt Hùng, chưa có “phin” nào ra mắt bà con, chỉ mới có vài ba “phin” tài liệu về quê hương “đồng khởi”, nhưng vài năm qua, tận tuỵ phò anh Nguyễn Hồ từ thủa hàn vi mới lên Sàigòn, nay cũng đã thành “đại gia”, các anh đạo diễn, các em diễn viên bu quanh không thua gì người ái mộ xin chữ ký các “sao”. Tuy nhiên chữ ký của “sao” chỉ cất cho vui , còn chữ ký của anh Việt Hùng là…tiền, là danh. Các em  gái mơ làm diễn viên, các cô người mẫu muốn được lên ti vi, các học sinh trường Nghệ thuật Sân khấu Cống Quỳnh  ra trường muốn làm đạo diễn, các nhà văn Sàigòn muốn hốt bạc bằng viết kịch bản, các văn nghệ sĩ Hà Nội ghé vào muốn kiếm chác  ….nhất nhất đều phải qua anh Việt Hùng “ngoáy bút” cho một phát.
Sếp mới ắt phải tạo dựng ê kíp mới, chỉ có một tiêu chuẩn vẫn là cũ : phải là người có “dáng đứng Bến Tre”.
5 năm đầu sau khi ra đời, con gà đẻ trứng …tiền TFS ( tên Hãng phim truyền hình TP HCM ) là sân chơi độc quyền của các anh Hai Nam bộ, đặc biệt là  “quê hương đồng khởi”. Người ta còn nhớ phim truyền hình nhiều tập đầu tiên của Hãng  xoay quanh chuyện nữ tình báo viên “ Người đẹp Tây Đô” cũng là “người đằng mình” viết kịch bản : cô Trầm Hương, chính gốc Bến Tre. Tuy nhiên cứ làm phim đề tài cách mạng mãi cũng nhạt, trong khi đó truyền hình ngoài Hà Nội đã bắt đầu đi vào “chuyện đời thường” mà loại đề tài này “người đằng mình” vốn chỉ quen viết về  cách mạng đành chịu thua.
Thế là “sếp” Phạm Khắc làm một cú thay đổi chiến lược : thuê mấy anh Bắc Kỳ bạo phổi , dám xông vào “đề tài hiện đại”.  Từ đó lộc của con gà đẻ trứng tiền phải san sẻ bớt cho mấy anh nhà văn “ngụ cư” trước nay vẫn bị mời  đi chơi chỗ khác. Mở hàng đầu tiên phải kể đến nhà văn Võ Phi Hùng với phim dài tập “ Giã từ dĩ vãng” viết về dân ngụ cư vào Sàigòn “đất lành chim đậu” được giúp đỡ tận tình để đổi mới cuộc đời. Tuy nhiên kẻ có gan ngồi ngày này sang ngày khác  viết cho TFS dựng thành phim nhiều tập phải kể đến  Nguyễn Mạnh Tuấn. Từ “ Đồng tiền xương máu”. “Cô thư ký xinh đẹp”. “Chuyện tình kinh xáng”, “ Blouse trắng”…tới tết Giáp Thân , 54 tập phim có tựa Hướng Nghiệp của ông đã lại chiếu dài dài trên ti vi  Sàigòn nhằm “khẳng định lớp thanh niên dám nghĩ dám làm”, sẵn sàng đương đầu với khó khăn với niềm tự hào của  thế hệ trẻ, thông qua một cô gái tên Thư  len lỏi vào công ty nước ngoài để … học kinh nghiệm rồi ra mở công ty để “cạnh tranh” và anh con trai tên Tri - một kỹ sư vi tính có nhiều sáng kiến độc đáo. Sang năm 2004, cấp trên lại đòi  nâng cao tỷ lệ nội địa trong phim truyện truyền hình, người ta có thể thấy con gà “đẻ trứng tiền” sẽ còn  cho các nhà văn “truyền hình” Nguyễn Mạnh Tuấn , Nguyễn Khắc Phục…bán “chất xám” dài dài…

4-1-04