(tiếp theo)
- Không nên một mình vào rừng vì ở đây có cọp, trăn và rắn độc. Gã lính dặn dò nhóm người chặt cây làm hàng rào.
Phía nữ được ở yên chỗ, một bà thấy chỉ có nam giới phải đi làm nên nói:
- Tối hôm qua mấy ông ở không, giờ họ bắt làm bù mới công bằng chứ.
Tôi và Đỉnh ở trong nhóm mười hai người đi vào rừng chặt cây. Gã lính dặn ông Thăng nói chúng tôi phải xong mọi việc trước 5 giờ chiều rồi y lấy ra 3 cây mã tấu cho cả bọn dùng. Đi chung với nhau ai nấy cười đùa vui vẻ, nếu có cọp hay trăn mà gặp đám đông như vầy thì cũng phải chạy tét. Mấy thanh niên cầm mã tấu đi đầu, tay loang loáng chặt các cây nhỏ cản đường. Nói vào rừng chặt cây nhưng thực tế chúng tôi phải đi kiếm mới có loại cần dùng. Cả đám vượt qua các khoảng rừng cây to, có lúc gặp thân cây mục nằm vật ngang giữa đường phải tìm cách trèo qua đi tiếp. Gặp cả những bụi tre rừng rồi qua bãi cỏ tranh thì may sao gặp được một khu vực có cây chồi nhỏ mọc sát thân thẳng tắp. Chúng tôi dừng lại, trong nhóm có người từng có thời đốn cây rừng hầm than góp ý: " Mình chẳng ở trại này lâu, theo tôi nên tìm cây tạp đừng lựa cây lá kim gỗ cứng khi chặt sẽ đau tay lắm, phí sức ". Chúng tôi lựa những cây thẳng, to bằng cườm tay và dài khoảng3 m vừa tầm với hàng rào. Chớp
mắt đã đủ số được giao 3 cây cho mỗi người. Cả đám xong việc sớm ngồi nghỉ, vài
người phàn nàn về bữa cơm trưa. Con cá chiên khá lớn và canh nhiều mà cơm lại
ít xỉn, người lớn hay trẻ nhỏ gì cũng một dĩa bằng nhau. Chia hết vòng vẫn còn
dư cơm mà đám lính cũng không múc thêm cho. Một ông vóc dáng to con, bực bội:
- Nói thẳng, sức tôi phải hai dĩa thì mới thấm. Mấy người có con nhỏ còn được ké thêm. Cơm dư trong thùng mang về cũng bỏ, không lẽ lính chịu ăn thừa? Vậy mà cũng không cho.
Có lẽ phần ăn của từng người chúng tôi là như vậy, đám lính chỉ thừa hành lệnh cấp trên.
Ngồi không, có người đề nghị đi sục sạo kiếm trái cây rừng để ăn cho vui miệng nhưng người khác lại sợ vì lời dặn của đám lính trước khi đi. Rừng Mã Lai có loài cọp nhỏ cỡ con chó lớn nhưng rất hung dữ. Còn trăn? Tuy không có nọc độc nhưng loài này có thể quấn chết rồi nuốt sống gọn một người lớn như chơi. Nhất là loại trăn gió, chúng có thể chuyền từ cây nầy sang cây khác để tìm mồi mà không gây một tiếng động. Ngồi không mãi một chỗ cũng chán, cả bọn quyết định cắt rừng để quay trở về. Gần tới trại, chúng tôi gặp một khoảnh đất trống trải nằm lọt thỏm giữa cây rừng bao chung quanh. Cả đám dừng lại bên cây Thánh giá gỗ có hàng chữ đen Truong Cong Dai mờ nhạt cắm ở một trong các gò đất lúp xúp. Một nghĩa địa người vượt biên từng sống ở đây. Tên là nam giới rõ ràng nhưng Dai là Đại, Đãi hay Đài? Người này chết lâu mau vì không thấy ghi ngày sinh ngày tử? Tuy vậy, nạn nhân vẫn hơn các người khác vì có cây Thánh giá ghi tên. Nằm xuống vĩnh viễn ở rẻo rừng xứ người, chắc gì thân nhân của họ bên quê nhà đã biết tin.
Gặp nghĩa địa, đám chúng tôi ai nấy cũng cảm thấy buồn buồn trong lòng. Một ông làm dấu đạo Thiên Chúa, miệng lầm thầm nguyện kinh nho nhỏ. Đêm bị tàu hải tặc đuổi, nếu không có cơn mưa đột ngột, số phần chúng tôi chắc không khác những người tị nạn bất hạnh nằm ở đây. So ra, ghe chúng tôi thật may mắn vì đến được xứ người bình an.
Cây thẳng mang về tới trại, gã lính mang ra búa và đinh cho cả bọn gia cố các chỗ hư hỏng ở hàng rào và ở hai dãy bàn ăn. Hai nhóm kia cũng đã làm xong các việc được giao, căn trại bây giờ trông sạch sẽ hơn. Ai nấy mồ hôi nhễ nhại nên ông Thăng ông Phát xin phép bọn lính cho chúng tôi được đi tắm thêm lần nữa. Đám lính gật đầu, chúng tôi hăm hở lên đường. Đến gần suối, để ý thật kỹ cả bọn mới thấy có thêm một lối mòn khác nằm phía tay trái, ngược với hướng con suối nam giới tắm. Lối mòn đó là hướng đi tắm của nữ giới trong trại.
Bữa cơm chiều cũng món ăn y như khi sáng nhưng nam giới do làm việc, ai cũng đói bụng nên ăn thật ngon.
Chúng tôi đã sống trong căn trại này được ba ngày. Cứ tuần tự sáng dậy sớm lúc 7 giờ vệ sinh cá nhân, 8 giờ ăn điểm tâm,9:30 nam giới đi ra suối tắm giặt.
Khi đám nam giới về thì đến phiên nữ giới. Xong vụ tắm giặt trời đã trưa, chúng
tôi phải chờ đến 1 giờ thì xe chở cơm mới đến. Bữa cơm chiều lúc 5 giờ, sau đó
chẳng có việc gì làm ngoài chuyện nằm ngủ, đi tới lui trong sân hoặc tụ họp nói
chuyện đời cho đến khi trời tối. Tối, cả bọn kéo vào căn nhà lều và chờ đến 10
giờ khuya khi đám lính ngưng máy điện thì ngủ.
Lính gác trại không ăn sáng như chúng tôi mà hầu như chỉ cà phê thuốc lá. Thỉnh thoảng, mới thấy họ nấu mì gói để điểm tâm. Cơm trưa hoặc cơm chiều khi xe chở đến trại, đám lính cũng nhận khẩu phần đựng trong các khay nhôm che kín nên không ai biết loại thức ăn gì ở bên trong? Ngày hôm qua, ông nhân viên bộ Nội Vụ và hai sĩ quan quân đội vào thăm chúng tôi sau bữa ăn trưa. Đi lòng vòng trong trại, vẻ mặt họ hài lòng khi thấy căn trại sạch sẽ và gọn gàng. Ba người họ thông báo cho chúng tôi biết là đã liên lạc với đại diện của UNHCR tạiKuala Lumpur
xong. Ông Thăng hỏi họ bao lâu nữa thì chúng tôi rời khỏi trại và rồi sẽ đi
đâu? Vào Sungei Besi hay ra đảo tị nạn Pulau Bidong? Ông Alek bảo chúng tôi cứ
chờ và sẽ được thông báo sau. Khi biết ghe chúng tôi ra khỏi nước đã hơn tuần
lễ, một sĩ quan quân đội lấy ra một chồng giấy cùng bút mực và bì thư cho chúng
tôi, nói ai muốn gửi thư cho thân nhân thì viết ngay. Ông ta sẽ ghé lại trong
vài ngày tới và chuyển các thư về Việt Nam liền. Tôi xin giấy viết liền
thư cho gia đình.
Ăn ở không nhưng ai cũng cảm thấy bụng rất mau đói và mong giờ cơm tới sơm sớm. Có một bất tiện trong việc ăn uống đó là xong bữa cơm chiều lúc 5 giờ thì chúng tôi phải qua một đêm dài đến 8 giờ sáng hôm sau mới có điểm tâm mà chỉ vỏn vẹn một gói bánh qui nhỏ cùng bịch nước trà đường nóng khoảng 1/3 lít. Thời gian cách quãng giữa hai bữa ăn đó quá dài làm nhiều người cảm thấy sót ruột vì bụng trống, nhất là các cháu bé. Trẻ nít khóc vì đói, cha mẹ nhìn con mà bó tay còn người lớn đánh lừa bao tử bằng các hớp nước lã. Những người có con nhỏ như Tám Kiệt, ông Thăng... bàn nhau thử dò hỏi bọn lính gác để mua thêm thức ăn. Đám lính lúc đầu gồm 6 người nay rút xuống chỉ còn 3. Mới bàn và chưa kịp dò ý với bọn lính thì chính chúng lại tỏ ý trước. Chúng biết người vượt biên có vàng, dollar mang theo. Xã hội nào cũng có người nghiền thuốc lá điếu, cà phê và nếu thiếu các thứ này, mặt người đó sẽ tiều tuỵ, cơ thể mệt mỏi tuy... không chết. Sơ khởi, bọn lính mang thuốc lá điếu và cà phê ra bán nhưng chỉ nhận tiền Ringgit (tiềnMalaysia ) thôi. Thấy người trong
chúng tôi sùy ra dollar, chúng vờ vĩnh không biết xài mà chỉ đòi tiền Ringgit.
Do vậy, đành phải để chúng đổi dùm luôn. Cứ 100 dollar Mỹ, chúng đổi lấy 200
Ringgit. Hối suất hai loại tiền thực sự bao nhiêu thì không ai biết nhưng bọn
lính phải có lời. Được cái tiền Malaysia
có giá trị vì chỉ 10 Ringgit thì cũng mua được kha khá thức ăn. Ai không có
dollar mà có nhẫn vàng 24 cara thì chúng cũng sẵn sàng đổi giùm luôn. Thậm chí,
đồng hồ đeo tay chúng cũng nhận đổi nhưng phải còn mới và tốt.
- Đến được đây coi như thành công, còn cái đồng hồ đổi lấy tiền mua thuốc lá hút cho miệng đỡ nhạt. Không có đồng hồ cũng chả sao. Một ông tháo cái đồng hồ Seiko 5 trên tay, phân bua trước khi đưa cho gã lính.
Giờ đây muốn có thứ gì chỉ cần đưa tiền ra, đám lính phóng xe máy chạy đi mua liền. Có người nhờ mua cả bếp dầu, chảo và xoong-nồi nhỏ nhưng không phải ai cũng có dollar thủ trong người hoặc sẵn vàng, tư trang quý để trao đổi với đám lính. Người có Ringgit mua thêm thức ăn, cà phê và thuốc lá về nhâm nhi làm người không có rất thèm. Đành chịu, không lẽ mở miệng xin. Tám Kiệt thấy vậy, y lẳng lặng bỏ tiền mua thêm cà phê, thuốc lá cùng bánh kẹo cho người trong trại hưởng chung. Tâm lý con người thật kỳ, lúc đầu thấy hành động của Tám Kiệt làm thì ai cũng khen thầm rồi chỉ sau một hai ngày cà phê thuốc lá đã có tiếng xầm xì sau lưng. Nói Tám Kiệt thu được khối vàng khi tổ chức vượt biên và hối lỗi, muốn mua cái đức cho mấy đứa con sau cơn hút chết trên biển. Tám Kiệt nghe được các chuyện đó, mỉm cười thố lộ:
- Đầu người đi trong ghe chỉ 2 cây nếu khách trực tiếp nói chuyện với tui. Còn mối của ai khác sang qua mất bao nhiêu tui không quan tâm. Cả ghe 135 người đi thì đã 30 người là gia đình, bà con và trong băng tui. Số khách còn lại, tưởng nhiều thật nhưng tiền công đưa rước rồi phải cúng cho bọn công an nên cũng chẳng dư bao nhiêu. Cái chính là tui đưa gia đình đi thoát là mừng, sang được xứ người thì mình sẽ làm lại cuộc đời mấy hồi.
Thực ra trong túi nhiều người cũng còn tiền nhưng loại tiền đã thành các tấm giấy màu không chút giá trị, đó là tiền in hình lão già. Đủ loại tiền từ tờ bác đau gan, bác sợ cho đến bác say rượu (tiền Việt Cộng có hình mặt Hồ Chí Minh mầu vàng 200 $, mầu xanh xám 50.000$ và mầu đỏ 500$, 10.000). Nhiều người lấy tiền đó vất bỏ gần hố rác sau khi cho đám lính xem. Thấy vậy, tôi gom lại được một bó ước đoán trên 7 triệu đồng và cất trong túi xách dù chưa biết sẽ làm gì với số tiền này.
Buổi tối, bóng người lui cui nấu nướng bên những ánh lửa xanh của các bếp dầu ở mé sau căn nhà lều nữ giới. Mùi món ăn, cà phê nóng bay thơm ngào ngạt trong tiếng xèo xèo chảo chiên.
Mối thân thiện giữa đám lính gác và người trong ghe tăng lên. Một gã lính trẻ tên Daniel có máu văn nghệ, y có một cây đàn guitar. Vài người trong ghe cũng biết guitar nên nhanh chóng thân thiện với gã. Trưa nào cũng vậy, sau bữa cơm thì túm tụm dưới bóng mát một nhúm con trai con gái đàn hát bên nhau. Nhạc Việt, nhạc Mã hoặc nhạc trẻ ngoại quốc văng vẳng trong cái tĩnh mịch trại lính giữa rừng.
- Không nên một mình vào rừng vì ở đây có cọp, trăn và rắn độc. Gã lính dặn dò nhóm người chặt cây làm hàng rào.
Phía nữ được ở yên chỗ, một bà thấy chỉ có nam giới phải đi làm nên nói:
- Tối hôm qua mấy ông ở không, giờ họ bắt làm bù mới công bằng chứ.
Tôi và Đỉnh ở trong nhóm mười hai người đi vào rừng chặt cây. Gã lính dặn ông Thăng nói chúng tôi phải xong mọi việc trước 5 giờ chiều rồi y lấy ra 3 cây mã tấu cho cả bọn dùng. Đi chung với nhau ai nấy cười đùa vui vẻ, nếu có cọp hay trăn mà gặp đám đông như vầy thì cũng phải chạy tét. Mấy thanh niên cầm mã tấu đi đầu, tay loang loáng chặt các cây nhỏ cản đường. Nói vào rừng chặt cây nhưng thực tế chúng tôi phải đi kiếm mới có loại cần dùng. Cả đám vượt qua các khoảng rừng cây to, có lúc gặp thân cây mục nằm vật ngang giữa đường phải tìm cách trèo qua đi tiếp. Gặp cả những bụi tre rừng rồi qua bãi cỏ tranh thì may sao gặp được một khu vực có cây chồi nhỏ mọc sát thân thẳng tắp. Chúng tôi dừng lại, trong nhóm có người từng có thời đốn cây rừng hầm than góp ý: " Mình chẳng ở trại này lâu, theo tôi nên tìm cây tạp đừng lựa cây lá kim gỗ cứng khi chặt sẽ đau tay lắm, phí sức ". Chúng tôi lựa những cây thẳng, to bằng cườm tay và dài khoảng
- Nói thẳng, sức tôi phải hai dĩa thì mới thấm. Mấy người có con nhỏ còn được ké thêm. Cơm dư trong thùng mang về cũng bỏ, không lẽ lính chịu ăn thừa? Vậy mà cũng không cho.
Có lẽ phần ăn của từng người chúng tôi là như vậy, đám lính chỉ thừa hành lệnh cấp trên.
Ngồi không, có người đề nghị đi sục sạo kiếm trái cây rừng để ăn cho vui miệng nhưng người khác lại sợ vì lời dặn của đám lính trước khi đi. Rừng Mã Lai có loài cọp nhỏ cỡ con chó lớn nhưng rất hung dữ. Còn trăn? Tuy không có nọc độc nhưng loài này có thể quấn chết rồi nuốt sống gọn một người lớn như chơi. Nhất là loại trăn gió, chúng có thể chuyền từ cây nầy sang cây khác để tìm mồi mà không gây một tiếng động. Ngồi không mãi một chỗ cũng chán, cả bọn quyết định cắt rừng để quay trở về. Gần tới trại, chúng tôi gặp một khoảnh đất trống trải nằm lọt thỏm giữa cây rừng bao chung quanh. Cả đám dừng lại bên cây Thánh giá gỗ có hàng chữ đen Truong Cong Dai mờ nhạt cắm ở một trong các gò đất lúp xúp. Một nghĩa địa người vượt biên từng sống ở đây. Tên là nam giới rõ ràng nhưng Dai là Đại, Đãi hay Đài? Người này chết lâu mau vì không thấy ghi ngày sinh ngày tử? Tuy vậy, nạn nhân vẫn hơn các người khác vì có cây Thánh giá ghi tên. Nằm xuống vĩnh viễn ở rẻo rừng xứ người, chắc gì thân nhân của họ bên quê nhà đã biết tin.
Gặp nghĩa địa, đám chúng tôi ai nấy cũng cảm thấy buồn buồn trong lòng. Một ông làm dấu đạo Thiên Chúa, miệng lầm thầm nguyện kinh nho nhỏ. Đêm bị tàu hải tặc đuổi, nếu không có cơn mưa đột ngột, số phần chúng tôi chắc không khác những người tị nạn bất hạnh nằm ở đây. So ra, ghe chúng tôi thật may mắn vì đến được xứ người bình an.
Cây thẳng mang về tới trại, gã lính mang ra búa và đinh cho cả bọn gia cố các chỗ hư hỏng ở hàng rào và ở hai dãy bàn ăn. Hai nhóm kia cũng đã làm xong các việc được giao, căn trại bây giờ trông sạch sẽ hơn. Ai nấy mồ hôi nhễ nhại nên ông Thăng ông Phát xin phép bọn lính cho chúng tôi được đi tắm thêm lần nữa. Đám lính gật đầu, chúng tôi hăm hở lên đường. Đến gần suối, để ý thật kỹ cả bọn mới thấy có thêm một lối mòn khác nằm phía tay trái, ngược với hướng con suối nam giới tắm. Lối mòn đó là hướng đi tắm của nữ giới trong trại.
Bữa cơm chiều cũng món ăn y như khi sáng nhưng nam giới do làm việc, ai cũng đói bụng nên ăn thật ngon.
Chúng tôi đã sống trong căn trại này được ba ngày. Cứ tuần tự sáng dậy sớm lúc 7 giờ vệ sinh cá nhân, 8 giờ ăn điểm tâm,
Lính gác trại không ăn sáng như chúng tôi mà hầu như chỉ cà phê thuốc lá. Thỉnh thoảng, mới thấy họ nấu mì gói để điểm tâm. Cơm trưa hoặc cơm chiều khi xe chở đến trại, đám lính cũng nhận khẩu phần đựng trong các khay nhôm che kín nên không ai biết loại thức ăn gì ở bên trong? Ngày hôm qua, ông nhân viên bộ Nội Vụ và hai sĩ quan quân đội vào thăm chúng tôi sau bữa ăn trưa. Đi lòng vòng trong trại, vẻ mặt họ hài lòng khi thấy căn trại sạch sẽ và gọn gàng. Ba người họ thông báo cho chúng tôi biết là đã liên lạc với đại diện của UNHCR tại
Ăn ở không nhưng ai cũng cảm thấy bụng rất mau đói và mong giờ cơm tới sơm sớm. Có một bất tiện trong việc ăn uống đó là xong bữa cơm chiều lúc 5 giờ thì chúng tôi phải qua một đêm dài đến 8 giờ sáng hôm sau mới có điểm tâm mà chỉ vỏn vẹn một gói bánh qui nhỏ cùng bịch nước trà đường nóng khoảng 1/3 lít. Thời gian cách quãng giữa hai bữa ăn đó quá dài làm nhiều người cảm thấy sót ruột vì bụng trống, nhất là các cháu bé. Trẻ nít khóc vì đói, cha mẹ nhìn con mà bó tay còn người lớn đánh lừa bao tử bằng các hớp nước lã. Những người có con nhỏ như Tám Kiệt, ông Thăng... bàn nhau thử dò hỏi bọn lính gác để mua thêm thức ăn. Đám lính lúc đầu gồm 6 người nay rút xuống chỉ còn 3. Mới bàn và chưa kịp dò ý với bọn lính thì chính chúng lại tỏ ý trước. Chúng biết người vượt biên có vàng, dollar mang theo. Xã hội nào cũng có người nghiền thuốc lá điếu, cà phê và nếu thiếu các thứ này, mặt người đó sẽ tiều tuỵ, cơ thể mệt mỏi tuy... không chết. Sơ khởi, bọn lính mang thuốc lá điếu và cà phê ra bán nhưng chỉ nhận tiền Ringgit (tiền
- Đến được đây coi như thành công, còn cái đồng hồ đổi lấy tiền mua thuốc lá hút cho miệng đỡ nhạt. Không có đồng hồ cũng chả sao. Một ông tháo cái đồng hồ Seiko 5 trên tay, phân bua trước khi đưa cho gã lính.
Giờ đây muốn có thứ gì chỉ cần đưa tiền ra, đám lính phóng xe máy chạy đi mua liền. Có người nhờ mua cả bếp dầu, chảo và xoong-nồi nhỏ nhưng không phải ai cũng có dollar thủ trong người hoặc sẵn vàng, tư trang quý để trao đổi với đám lính. Người có Ringgit mua thêm thức ăn, cà phê và thuốc lá về nhâm nhi làm người không có rất thèm. Đành chịu, không lẽ mở miệng xin. Tám Kiệt thấy vậy, y lẳng lặng bỏ tiền mua thêm cà phê, thuốc lá cùng bánh kẹo cho người trong trại hưởng chung. Tâm lý con người thật kỳ, lúc đầu thấy hành động của Tám Kiệt làm thì ai cũng khen thầm rồi chỉ sau một hai ngày cà phê thuốc lá đã có tiếng xầm xì sau lưng. Nói Tám Kiệt thu được khối vàng khi tổ chức vượt biên và hối lỗi, muốn mua cái đức cho mấy đứa con sau cơn hút chết trên biển. Tám Kiệt nghe được các chuyện đó, mỉm cười thố lộ:
- Đầu người đi trong ghe chỉ 2 cây nếu khách trực tiếp nói chuyện với tui. Còn mối của ai khác sang qua mất bao nhiêu tui không quan tâm. Cả ghe 135 người đi thì đã 30 người là gia đình, bà con và trong băng tui. Số khách còn lại, tưởng nhiều thật nhưng tiền công đưa rước rồi phải cúng cho bọn công an nên cũng chẳng dư bao nhiêu. Cái chính là tui đưa gia đình đi thoát là mừng, sang được xứ người thì mình sẽ làm lại cuộc đời mấy hồi.
Thực ra trong túi nhiều người cũng còn tiền nhưng loại tiền đã thành các tấm giấy màu không chút giá trị, đó là tiền in hình lão già. Đủ loại tiền từ tờ bác đau gan, bác sợ cho đến bác say rượu (tiền Việt Cộng có hình mặt Hồ Chí Minh mầu vàng 200 $, mầu xanh xám 50.000$ và mầu đỏ 500$, 10.000). Nhiều người lấy tiền đó vất bỏ gần hố rác sau khi cho đám lính xem. Thấy vậy, tôi gom lại được một bó ước đoán trên 7 triệu đồng và cất trong túi xách dù chưa biết sẽ làm gì với số tiền này.
Buổi tối, bóng người lui cui nấu nướng bên những ánh lửa xanh của các bếp dầu ở mé sau căn nhà lều nữ giới. Mùi món ăn, cà phê nóng bay thơm ngào ngạt trong tiếng xèo xèo chảo chiên.
Mối thân thiện giữa đám lính gác và người trong ghe tăng lên. Một gã lính trẻ tên Daniel có máu văn nghệ, y có một cây đàn guitar. Vài người trong ghe cũng biết guitar nên nhanh chóng thân thiện với gã. Trưa nào cũng vậy, sau bữa cơm thì túm tụm dưới bóng mát một nhúm con trai con gái đàn hát bên nhau. Nhạc Việt, nhạc Mã hoặc nhạc trẻ ngoại quốc văng vẳng trong cái tĩnh mịch trại lính giữa rừng.
Thư
chúng tôi viết xong, viên sĩ quan quân đội ghé vào trại lấy đi rồi nên ai cũng
vui khi nghĩ thân nhân bên quê nhà sớm muộn gì cũng biết tin về chuyến đi. Ở
yên chỗ, tạm thời vất bỏ các lo lắng trước mắt, các cô gái trẻ se sua lại y
phục, trang điểm khuôn mặt và mái tóc mỗi khi đi tắm về. Theo đề nghị của nhiều
người, đám lính cho phép chúng tôi vào rừng lần nữa để chặt cây về làm thêm hai
dãy bàn ăn. Rồi kế đó thì ở mé sau căn nhà lều nam giới, đất cũng được chúng
tôi san phẳng và cất một lều tròn nhỏ lợp tranh có cả bàn ghế nghỉ trưa. Nhờ
vậy, tới giờ ăn, ai cũng có chỗ ngồi ở bàn gọn gàng không còn cảnh bưng dĩa cơm
đứng lêu bêu hoặc ngồi bệt dưới đất như trước nữa. Ngồi chung bàn ăn cơm, một
hai lần tôi đã đối mặt với cô gái ở dưới khoang hầm cá lớn và biết tên cô là
Đoàn Hải Yến, 20 tuổi. Chim én biển họ Đoàn, cái tên đẹp như khuôn mặt cô. Từ
lúc còn ở ngoài bãi biển, cô đã nhận ra tôi là người bên cô dưới khoang hầm cá
lớn và đã đến hỏi chuyện. Én biển nhưng chịu không nổi các cơn sóng. Có lần,
trong bữa cơm Yến đã hỏi tôi khi đó đang ngồi chung với Đỉnh:
- Anh Vũ! Yến nghe mấy chỉ nói người nào là lính VNCH hoặc liên quan với chế độ cũ thì sẽ được họ cho vào Sungei Besi, còn không thì sẽ phải ra đảo Bidong ở. Phải không?
- Anh Vũ! Yến nghe mấy chỉ nói người nào là lính VNCH hoặc liên quan với chế độ cũ thì sẽ được họ cho vào Sungei Besi, còn không thì sẽ phải ra đảo Bidong ở. Phải không?
(còn tiếp)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét