(tiếp theo)
So
sánh ngẫu nhiên với thơ tự do
Bây giờ, kết thúc câu chuyện thể loại với Tân
hình thức Việt sẽ là các so sánh ngẫu nhiên khi quay về thơ tự do - cái thể thơ
mà Tân hình thức những muốn “chấm dứt và thanh lọc” - trên chính một số bài thơ
tự do mà chúng tôi vừa mới đọc được.
Bài Vịt trời[i]
của Seamus Heaney có chung đụng với Tân hình thức, dù rất khác hình thức
và kỹ thuật. Một câu chuyện cốt cách đời thường, về hai ông cháu nhà nọ bên con
vịt trời đang bị ông vặt lông sau khi “nó trúng phát đạn ác lắm” (ắt hẳn chính
người ông đã bắn!). Được kể lại tự nhiên như nó đang là. Khách quan đến lạ
lùng, nhờ cái tôi trữ tình là nhân vật chủ thể (cháu bé tên Paul được tác giả
đề tặng) chứ không phải tác giả (chủ nhân Nobel Văn học 1995 vừa qua đời trong tháng). Bởi thế, cảm xúc đạt đỉnh
không bằng lối mỹ từ du dương mà qua ý tưởng cao cả: “tội nhân” thổi vào cái lỗ
do viên đạn làm vỡ thanh quản “nạn nhân” để tái sinh nhân tạo điều mình vừa hủy
diệt. Cái cao cả đi theo nhịp thơ tự do, nhẹ như không đi. Đó mới là
tự-do-tuyệt-đối. Rất ngắn. Chỉ 41 từ
trong nguyên bản tiếng Anh Widgeon
và 50 từ ở bản dịch (Phụ lục 4-).
Nếu là của một nhà Tân hình thức tứ thơ đó vẫn có thể cho một bài thơ hay. Và hay
theo kiểu khác, song khó đạt thi cảm đến thế. Heaney vốn là thi nhân hiện đại
có căn cước hiện thực và lãng mạn[ii]. Vịt trời, một bài thơ được kể ra để khóc. Bằng cái hồn nhiên. Khóc
chuộc tội lỗi tiêu diệt thú rừng, môi sinh. Khóc vì sự tiêu diệt âm thanh cuộc
sống, dù là “những tiếng kêu vịt trời nho nhỏ”. Thật thú vị khi Lê Đình
Nhất-Lang đã tặng bạn đọc tiếng Việt một bản dịch với chữ cuối cùng là “ông”
như từ khóa, dồn cả bài thơ vào “tội nhân”; còn trong bản tiếng Anh chữ cuối
cùng “cries” (những tiếng kêu) cũng là từ khóa của bài thơ và mang thông điệp
về “nạn nhân”. Không khúc triết như thơ truyền thống, không rành mạch như thơ
hiện đại; thông điệp Tân hình thức thường phân rã theo từng con chữ. Nó chạy tứ
tung…
Ngược
lại, bài Hành trình siêu thực[iii],
trích đoạn trường ca của Chân Phương thì thật khó thay bằng bất kỳ thể thơ Việt
nào khác ngoài thể tự do bình thường như nó đang là. Càng không thể chịu Tân
hình thức! Trừ khổ thơ được phân rõ ràng bằng dấu hoa thị, còn thì từng chữ,
từng câu, từng đoạn vẫn rành mạch về diễn đạt, dù không viết hoa, không chấm
phẩy. Nếu muốn, vẫn có thể đọc một mạch theo kiểu Tân hình thức mà vẫn không
cần vắt dòng. Nhưng cú pháp thơ này rất chuẩn. Đọc là hiểu liền chữ. Lờ mờ
nghĩa, nhưng chưa thấu văn bản ngay được: “hình hài phiên dịch máu xương/ xuyên
bảy sắc độ lưu đày/ bên kia bờ của hiu quạnh với tàn phai/ các thần tượng nhìn
nhau câm lặng”. Kỹ thuật siêu thực, thật ra, không quá bí hiểm. Đâu cần đọc thơ
trong… mơ. Chỉ phải tốn thời gian để quên, quên hoàn toàn hiện-thực-có-thật,
cho cái hiện thực khác kéo về lấp đầy. Khổ nỗi, tuyệt đại đa số giống người lại
có bộ nhớ của loài voi[iv]!
Chân Phương bắt bạn đọc lần từng nhịp, theo mỗi dòng để ý tưởng có khoảng trống
vang lên sau khi ra khỏi dòng. Đổ một lèo Tân hình thức vào bài này là hỏng.
Còn nữa, muốn vắt dòng cũng không “vắt” nổi: chữ nghĩa ở đây nặng như chì,
không phải của đầu môi cửa miệng. Và lại còn là một trường ca mà chỉ để nhớ
nhan đề đã thấy oải: Hành trình siêu thực
từ chủ thể về tự tính. Trôi theo muôn điệu trầm bổng nhặt khoan thật nhọc
nhằn cho đám chữ gọt đẽo kỳ khu, nói chi đến vù vù đơn điệu Tân hình thức?
Vô tình trong khi vào cuộc với
Tân hình thức, cùng trên một trang mạng tôi đọc Charles Bukowski và Bắc Phong ở
2 bài thơ tự do cùng giống nhau về thể tài tự sự chuyện đời bụi bặm. Khoái ở
chỗ, cùng là ba cái vụ lẻ tẻ bồ xưa bịch cũ với cùng nhịp thơ tưng tửng và
giọng điệu cà chớn mà chân thành. Mối tình xa xưa[v]
(Thận Nhiên dịch từ nguyên tác tiếng Anh - An ancient love) và Tri kỷ[vi].
Thuở mới đọc ông Mẽo gốc Đức ấy,
tôi nhầm tưởng nhà thơ của những kẻ thấp hèn thất thế nhưng đầy cao ngạo, nếu
không đồng giáo chủ thì cũng con chiên ngoan của phái Tân hình thức Mỹ dù tôi
chỉ mới đọc bản dịch các bài thơ thể tự do. Vài năm nay, tôi cũng ngạc nhiên
khi thấy ông đồng nghiệp thơ Việt kiêm cựu đồng hương Việt Toronto đã chuyển
làn sáng tác từ niêm luật gọn gàng sang tự do buông thả, dù vẫn các chuyện thời
cuộc Việt, các người-vật-sự việc đau lòng của đất nước. Sau, càng đọc thơ của
kẻ vừa tu bia vừa bình thơ trước khán giả, mới thấy trự này không ham
thơ-vắt-dòng, thơ-đếm-chữ, thơ-đều-chữ là trúng ý Chúa. Dù vẫn thơ-phá-thể,
thơ-kể đúng nỗi lòng dân đen con đỏ xứ Cờ Hoa: “rồi nàng vắt đôi chân dài tuyệt
đẹp lên cao/ nhưng không đủ cao cho tớ thấy sịp./ khi họ sắp ra về/ tớ ôm nàng
giã biệt/ bắt tay gã bạn trai/ rồi vĩnh viễn chẳng hề gặp lại gã/ hay nàng/ hay
sịp của nàng/ lần nào nữa.” Là đứa con di dân lầm than muốn dùng nghệ thuật
bình dân bảo vệ người bình dân, từ cô em điếm ế đến lão già bị vợ siết cổ, Bukowski
không thể diễn ngôn kiểu tản mát thông điệp như Tân hình thức. Bằng tư thế tự
tin “Nhà thơ vinh danh của những khu ổ chuột” từ tốn hắt thẳng những xô
ngôn-ngữ-dơ-bẩn-về-hình-thức vào sự bất công và bất an của con người!
Ngược lại với Bắc Phong, tôi cứ
nghĩ giá chàng “chơi luôn” Tân hình thức thì mới đã. Các bài phá thể và tự sự
như Tri kỷ đã phát giác cái bất
thường ở đời thường (sau biến cố chia lìa 1975 gặp lại bạn gái đại học Vạn Hạnh
bị bệnh nan y) và chọn được cách chữa trị bình dị, tình tứ và thi vị. Đoạn cuối
của bài thơ: “nghe xong nàng giận tái mặt/ nhưng nghĩ sao lại vén tóc mỉm cười/
rồi vừa xoa ngực vừa nói/ ông nằm mơ lạ thật/ ngực mình đúng như thế đấy/ một
bên vú cắt vì bị ung thư/ ông có muốn xem không?/ hay đưa hộ vào thơ cũng
được!”. Hỏi sao tôi không tiếc? Nhạc tính Bắc Phong trong thể thơ không vần đã
bị đơn giản một cách cố tình, oan ức. Thêm một ví dụ âm cho siêu-định-nghĩa
đang làm lời đề từ cho cả bài viết: “Thơ
là văn xuôi xuống dòng”[vii].
Thưa vâng, cho phép con nối lời cùng Trần tiên sinh. Một khi câu thơ bị xuống dòng tuyến tính, tư duy truyện sẽ
pha loãng tư duy thơ. Nhạc điệu thơ tự do rất khác nhau ở mỗi cách phá thể, vấn
đề là ở chỗ tất cả các ngắt dòng đều phải phi
tuyến tính thì thơ đó sẽ khác hẳn văn xuôi. (Xem tiếp mục V.3.) Ngờ rằng, có những bài của tác
giả Tri kỷ nếu ban biên tập
tienve.org xếp ở mục Thơ cũng được, đặt vào mục Đối thoại cũng vẫn được[viii].
Bởi, nếu thơ tình thì mang âm vang thù tạc, nếu thơ thời cuộc lại chỉ là bài vở
chính trị chưa đẫm màu nghệ thuật. Binh tình sẽ khác hẳn khi chúng được trôi
theo vũ điệu nối dòng Tân hình thức. Tin tôi đi!
Cứ như thế có thể nói về cặp đôi Vũ Xuân Tửu
(đến từ Tuyên Quang - Việt Nam)
và Dennis Brutus (đến từ Nam Phi qua bản dịch của Ngu Yên), với 2 bài thơ tự do
Sân vườn[ix] và
Ngày 19 tháng 2 năm
1980[x]. Thơ
của nhị vị đã giao thoa với Tân hình thức ở các điều thường nhật mòn cũ được soi rọi dưới ánh sáng
cá nhân. Thuật kể chuyện với sự nhắc lại sẽ rất thuận tiện nếu qua thơ-chảy. Mỹ
cảm khôi hài kẻ Phi người Á cùng trong tâm trạng hậu hiện đại. Nhưng cả 2 bài
thơ chớ nên bị Tân hình thức hóa, cũng đừng nên hậu hiện đại hóa tới cùng; mà cứ thế đau đáu nỗi niềm nhân bản chính
tông của mình. Và 2 bài thơ vẫn để bạn tùy chọn thái độ đọc, trong đó có cả
thái độ Tân hình thức. Hỏi còn thứ thơ nào hơn?
V.2. Nhịp điệu với Tân hình thức Việt
Nhịp điệu bài thơ - Dáng điệu con
người
Nhịp điệu, nhịp điệu và nhịp điệu.
Xét cho cùng, cống hiến đáng kể nhất của Thơ Tân hình thức Việt là đây! Như
nhan đề bài giới thiệu tuyển tập trình diện của phong trào: Tân hình thức,
nhịp đập của thời đại, và cũng là điều những người khởi xướng nêu từ
buổi ban đầu: “Nhìn lại mọi thời kỳ, từ truyền thống đến tự do và Tân hình thức,
thơ như sợi chỉ xuyên suốt, luôn luôn đổi thay, phù hợp với nhịp đập của thời
đại” [xi]
Nếu có nhiều kẻ bàn về thơ không bao giờ chán thì
những khi đó họ nói về thi điệu không bao giờ hết[xii].
Bạn thử tìm xem có thấy một bài viết nào về thi ca lại không hề có các chữ như
thi điệu/ nhịp điệu/ nhạc tính/ nhạc điệu/ điệu (rhythm; rythme)? Mà nếu có tìm
ra bài như thế, cũng nên đánh dấu hỏi ở chất lượng.
Về khái niệm này trong mọi lãnh vực, có những phát
ngôn[xiii]
với ý tưởng và thẩm quyền của người nói khiến ta không còn nói gì thêm: “Phát minh ra giai điệu là bí ẩn tột cùng của
các khoa học nhân văn.” (Claude Lévi-Strauss); “Cần phải bắt những trật
tự đã cứng đờ nhảy múa lên, bằng
cách hát cho chúng nghe các âm điệu của bản thân chúng.” (Karl Marx); “Mọi lý thuyết, dù trừu tượng
đến đâu, vẫn phụ thuộc vào nhạc điệu và tiết nhịp của nó.” (George Steiner).
Thi vị thay cho tiếng Việt,
chính chữ “thi ca/ thơ ca” - với chữ “ca” - đã hàm chứa bản chất của nó là nhạc
tính mà liệu mấy ngôn ngữ khác có được[xiv]?
Thơ luôn là điều bí hiểm số
1 giữa tất cả sản phẩm tinh thần và vật chất của loài người. Những nỗ lực tìm
định nghĩa cho thơ, tìm lý do của sự bí hiểm đều không thể. Nhưng nếu với nhịp
điệu, phần nào có thể tiệm cận với thi ca khi chấp nhận rằng, thơ là nhận diện
không trùng hợp cho một nền văn hóa, một ngôn ngữ mà hiển nhiên mỗi văn hóa,
mỗi dân tộc có một nhịp sống riêng. Vậy nên nhịp điệu cuộc sống, con người của
một dân tộc, quốc gia hóa thành nhịp điệu thơ mà con người ở đó sở hữu. Các nhà
phê bình gọi đó là nhịp điệu thời đại.
Theo hướng so sánh khác, giữa
các thành phần của một bài thơ và cơ thể của một con người cũng nảy ra nhận
thức thú vị tùy điểm nhìn[xv].
Tổng thể mà nói, nhịp điệu trong một bài thơ không như là xương, cũng không như
là thịt. Không như là bất kỳ cơ phận nào khác, rất tương ứng nó chính là dáng
điệu của một cơ thể sống! Cũng phải thôi. Về mặt cơ thể học và nhân tướng học,
điệu bộ, cung cách thường được xem là tiêu chuẩn đầu tiên khi nhận dạng, đánh
giá. Vẻ đẹp mỹ nhân nằm ở “nhất dáng, nhì da, thứ ba là nét”. Uy quyền và bản
lãnh, thành bại và vinh nhục nơi các lãnh tụ, tướng lãnh đều từ dáng điệu,
phong độ. Bí quyết ở chỗ này: Dáng điệu là sự thoát thân hài hòa giữa thể xác
và tâm hồn, thế nên qua nó có thể nhận dạng chuẩn xác và linh động nhất về con
người đó. Bài thơ sẽ có ấn tượng khi người làm thơ tìm ra được nhịp điệu trùm
lên cả nội dung lẫn hình thức.
Từ sau Thơ Mới, với Thế Lữ lần
đầu tiên cất cao lời ca bên “cây đàn muôn điệu”[xvi],
các mốc nhịp thời đại Việt đi vào thi pháp văn học và gây tác động dư luận đã
đến từ Nguyễn Đình Thi, Thanh Tâm Tuyền, Tố Hữu, Nguyễn Quang Thiều, và nay là
Thơ Tân hình thức Việt[xvii].
[i] Xem damau.org 13/9/2013;
nguyên bản tiếng Anh: performancewritingma.blogspot.ca
7/3/2011.
[ii] Xem thêm: Seamus Heaney (…) nửa thế kỷ ca ngợi vẻ đẹp
đất nước và trăn trở về chính trị (BBC 30/8, 2013); “được trao giải Nobel, vì
ông đã sáng tạo ra (…) vẻ đẹp trữ tình và chiều sâu thẩm mỹ, tôn vinh những
phép lạ của đời thường và của quá khứ sống động”; “bảo vệ cái đẹp, đặc biệt là
khi các chế độ độc tài tiêu diệt nó.” (vi.wikipedia.org).
[iv] Thành ngữ tiếng Pháp có câu “Avoir une mémoire
d'éléphant“ (Có trí nhớ tuyệt vời). Còn trái nghĩa với “mémoire d'éléphant” là
“mémoire de poisson rouge” (Trí nhớ của con cá vàng). Cứ bằng quy luật của ngôn
ngữ được coi là trong sáng nhất và bằng vẻ đẹp từ các trào lưu nghệ thuật từng
diễn ra trên đất nước có ngôn ngữ đó, ta kết luận: Các nhà Siêu thực chủ nghĩa
là những Con cá vàng của đất nước Nghệ thuật!
[v] Xem tienve.org
8/2013; Tham khảo về C. Bukowski: en.wikipedia.org và thivien.net.
[vi] Xem tienve.org
30/7/2913.
[vii] Xem Hoàng Hưng, Về những thể nghiệm thơ gần đây,
phebinhvanhoc.com.vn 19/11/2012.
[viii] Bài học bản thân: Cũng từng bị “loạn thể loại” tương
tự qua tienve.org mà hệ quả tốt, nhiều năm trước tôi có làm một bài không giống
ai, chủ gia trang xếp vào mục Sổ tay (dạo đó chưa ra mục Đối thoại). Dần dà tôi
chú ý hơn hướng phê bình đối thoại
như từng được Lê Đình Kỵ thực hiện thành công. (Phạm Quang Trung, Nhà
phê bình Lê Đình Kỵ, vanhocviet.org 25/8/2013). Thiệt tình tôi sức mấy (mà giả như
may mắn có được mấy sức cũng chẳng nên lặp) hàn lâm thông tường mực thước theo
Giáo sư, nên vẫn phê bình nghệ sĩ cách điệu phá lối giống bao kẻ sáng tác. Mới
rồi tại Hội nghị lý luận - phê bình văn học lần III - Hội Nhà văn Việt Nam, Tam
Đảo 4-5/6/2013, ở tham luận của Trần
Thiện Khanh, Ba kiểu phê bình văn học
hiện nay (hay ba cơ chế phê bình văn học Việt Nam đương đại), được nhiều người trong cuộc và chuyên nghiệp ghi
nhận, tôi thấy câu: “Các tác giả phê bình phản tư cổ vũ cho sự đa nguyên
lý thuyết phê bình và phi tập trung hóa, chủ trương bàn lại, bàn thêm, bàn
tiếp, khắc phục những hạn chế sai lầm, điều chỉnh, thay đổi nhiều vấn đề có
tính chất cơ bản của phê bình văn học, họ tạo ra kiểu phê bình đối thoại khác hẳn với lối phê bình độc thoại, quyền uy,
quy phạm hóa trước đây.” (nhavantphcm.com.vn 29/5/2013). Tâm sự riêng tây gợi tình đại cuộc, mong độc
giả nhìn bài này trong thể thức ấy khi nó mang đối tượng là Thơ Tân hình thức
Việt. Phương pháp chính của tôi ở phê bình đối thoại là so sánh trong hệ tác giả, tác phẩm để định giá giữa tương quan. Mục
đích là phân loại và phân định; có bình có phê (đôi khi hứng bút lại còn phán)
cụ thể gì cũng không chỉ vì/ bởi đối tượng. Và, về văn bản thể loại - như lời
đề từ - được làm bằng tinh thần Jacques
Derrida. (Theo bản dịch Dương Thắng, triethoc.edu.vn 19/8/2013).
[ix] Xem vanvn.net
18/9/2013.
[xi] Đặng Tiến, tuyển tập Blank Verse - Thơ không vần, và talawas.org
18/5/2006; Khế Iêm: Tân hình thức,
sách lý thuyết về Thơ Tân hình thức, Nxb Văn Mới 2003.
[xii] Riêng người viết, ngoài bài vở chung chung như vô vàn
tác giả khác nói về nhạc tính trong thơ, xin được “khoe” năm ngoái đã phải
“tốn” cả một trường ca mang tên Trăm thi
điệu với 12.808 chữ.
[xiii] Nguồn: Chân Phương (laxanh2015.blogspot.ca
19/8/2013); Nxb Chính trị quốc gia 1995 triethoc.edu.vn
13/5/2010, Trần Đức Thảo (triethoc.edu.vn
9/8/2013).
[xiv] Phác thảo: Chữ ca
trong “thi ca/ thơ ca” về từ nguyên
cùng gốc với “ca dao”. Theo Từ điển
văn học Việt Nam, ca dao là một thể loại của sáng tác thơ dân gian tiếng Việt,
như một thuật ngữ Hán-Việt ít nhiều phỏng theo học thuật Trung Hoa; ở Trung
Quốc đã dùng thuật ngữ này từ nhiều thế kỷ trước; ở Việt Nam sớm nhất là từ cuối thế kỷ 18 ca dao
được các nhà nho dùng để gọi phần lời thơ
trong vốn ca hát và lời nói truyền miệng. (Lại Nguyên Ân, Nxb Giáo Dục
1999, tr. 45). Bách khoa toàn thư mở, phần Ca dao Việt Nam đã định nghĩa: “Ca dao là một
từ Hán-Việt, theo từ nguyên, ca là bài
hát có chương khúc, giai điệu; dao là bài hát ngắn, không có giai điệu,
chương khúc.” (Wikipedia).
Như thế, có thể nói rằng, các chữ “thi ca/ thơ ca” được dùng ở Việt Nam từ
rất lâu trước chữ “ca dao” sau khi nhập các thuật ngữ “thi/ thi ca” của Trung
Hoa.
Thi
ca/ thơ ca/ thơ trong tiếng Anh là poetry
có gốc của chữ Hy Lạp poiesis - ποίησις, nghĩa là làm, như thuật ngữ hemopoiesis, nghĩa hẹp làm thơ (Wikipedia tiếng Anh); và trong
tiếng Latinh cũng là poetry. Theo Đặng Phùng Quân, “Thơ, từ nguyên ngữ
Hy La, ποίησις, poetria hiểu theo nghĩa sáng tạo, sản xuất ra một công trình độc lập, tương phản với πράξις, praxis hành động ở nội tại của tác nhân [José Ferrater Mora, Diccionario de
Filosofía], có gì chung với từ Đức Dichtung
hay Hoa Shi.“ (Khái luận phê bình lý
trí văn chương, kỳ 98, Thơ phá thể, gio-o.com 1/10/2013).
Dùng máy dịch Google với 72 ngôn
ngữ, chúng tôi thấy cũng như thế trong nhiều ngôn ngữ của các quốc gia có
truyền thống về thơ: poésie (Pháp), поэзия (Nga), poezja (Ba Lan),
poesía (Tây Ban Nha), poesia (Ý), poesia (Bồ Đào Nha), poesie (Đức), poezie
(Séc), poesi (Thụy Điển), poezie (Rumani), v.v… và đặc biệt cũng là poezio với tiếng Esperanto - quốc tế ngữ
cho “làng toàn cầu lý tưởng”! Chưa tính nhóm chữ tượng hình, chữ thơ trong một số chữ tượng thanh có từ
nguyên khác với poiesis là ở ngôn ngữ
thông dụng của các nước Phần Lan, Hungary, Ireland, Thổ Nhĩ Kỳ, Philippines,
vùng Nam Phi, v.v… Nếu tìm ra những ngôn ngữ nào cũng như tiếng Hán-Việt/
Hán-Nôm cùng thể hiện nhạc tính ngay
trong tên gọi “thi ca/ thơ ca”
thì sẽ hiểu quan niệm thơ ở các ngôn ngữ đó.
Đã có nhiều khảo cứu
về sự liên quan giữa hai chữ “thơ” trong tiếng Việt và “thi” của tiếng Trung
Quốc. Sau đây là ý kiến mới nhất chúng tôi vừa được biết trong đó nói rõ cả bản
chất nhạc trong chữ “thi” theo quan niệm Trung Hoa: “Khởi sinh
của thơ biểu hiện trong từ thi,
xuất hiện lần đầu trong Kinh
Thi ở 3 bài thơ khác nhau vào
những thời điểm khác nhau (khoảng thế kỷ 11 đến thế kỷ 8 TCN), tuy nhiên, hình
thức văn tự sớm nhất có dạng gọi là tiểu triện/hsiao-chuan: hình thức đầu hợp
bởi ngôn/yen (đề chỉ gốc) và tự/ssu (để chỉ âm); hình thức sau hợp bởi yen song viết khác và chi/chih là nguyên mẫu của hai chữ chih để chỉ đi và chih để chỉ ngừng. Theo Liêu Nhược Ngu,
nhiều học giả hiện đại chứng minh là cả hai chữ thi/shih và tự/ssu có thể hoán chuyển lẫn nhau, bắt nguồn
từ gốc chih để chỉ chân, cho nên phối hợp âm cho
chữ thi/shih (thơ) gồm ngôn với ssu hay chih liên tưởng nguyên nghĩa với chữ chân mang hai nghĩa đi và ngừng có nghĩa là
nhẩy múa và nhịp điệu; tự nhân hay thi nhân là người thực hiện chức
năng thi ca và nhẩy múa trong những lễ hội; mặt khác âm ssu hay chih
còn mượn âm từ chữ chí/chih gồm chữ sĩ và chữ tâm đễ chỉ chí hướng, niệm tưởng mang
nhiều ý nghĩa như ước vọng, ý muốn, nỗi niềm, tâm tưởng; nói tóm lại thi và chí là những từ cùng gốc/cognate words
nếu không muốn nói là cùng chữ, có thể nói là quan niệm nguyên thủy của thơ.”
(Đặng Phùng Quân, Nt, kể cả chữ in nghiêng; Đ.Q. chữ gạch dưới).
Trên đây chỉ là các ý bộc phát
của người viết còn kém hiểu biết về ngôn ngữ học, mong các nhà chuyên môn xem
xét.
[xv] Xem thêm: "Nhịp điệu là xương sống của thơ. Thơ có
thể bỏ vần, bỏ quan hệ đều đặn về số chữ, bỏ mọi quy luật bằng trắc, nhưng
không thể vứt bỏ nhịp điệu. Tôi không thấy một thể thơ nào có thể vứt bỏ nhịp
điệu, tự xây dựng mình trên một tình trạng tùy hứng về nhịp điệu...Trong trường
hợp tứ thơ không siêu việt cho lắm thì
nhịp điệu lại càng cần thiết." (Phan Ngọc, Nguồn: Nguyễn Vũ Văn/ Chân Phương, Tạp chí
Thơ số 18; Phụ lục 9-); “Ý thơ là
‘xương’; ngôn ngữ, nhịp điệu thơ là ‘thịt’. Dịch thơ chỉ có thể dịch ý
(xương); Thơ dịch không phải là thơ. (…) Tôi nghĩ đến ngày Truyện Kiều được
dịch sang đủ 160 thứ tiếng của các nước trong Liên Hiệp Quốc, ngày xương cốt
Kiều tung tóe đó đây!” (Tràng Thiên/ Võ Phiến; Quang Khuê, Một cuộc trò chuyện thanh nhã, tuoitre.vn 19/9/2013).
[xvi] “Mượn lấy bút nàng Ly
tao, tôi vẽ/ Và mượn cây đàn ngàn phiếm,
tôi ca/ Vẻ đẹp u trầm, đắm đuối, hay ngây thơ/ Cũng như vẻ đẹp cao siêu
hùng tráng/ Của non nước, của thi văn, tư tưởng.’ (…) Với Nàng Thơ, tôi có đàn muôn điệu; Với Nàng Thơ, tôi có bút muôn
mầu: Tôi muốn làm nhà nghệ sĩ nhiệm mầu: Lấy
Thanh Sắc trần gian làm tài liệu.” (Bài Cây
đàn muôn điệu, 1935; Hoài Thanh - Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, Nxb. Văn Học 1999).
[xvii] Phác thảo: Chưa bàn tới
nhân thân và liên hệ thời cuộc của 2 tác giả, có sự khác nhau và bổ khuyết giữa
thơ Tố Hữu và thơ Trần Dần. Thơ Trần Dần thường được coi là cách mạng và cách
tân bậc nhất của thơ Việt hiện đại (ý Dương Tường), nhưng ngay trong thi pháp
Trần Dần nhịp điệu dường như không theo kịp các yếu tính khác, nhất là cấu trúc
ngôn từ với sự cách mạng tưởng như tột cùng của tiếng Việt. Ngược lại, trong
khi hầu như không có chuyển đổi về thi pháp thể loại và tư duy thi ca, với
đường hướng khác thơ Tố Hữu được nhìn nhận là mang tải nhịp điệu thời đại (như
“người nửa thế kỷ lĩnh xướng hùng ca”, xem Đỗ Ngọc Yên,
vanhocquenha.vn 24/9/2013). Có nên so sánh tiếp: thơ Chế Lan Viên giống như là
trung bình cộng của thơ Tố Hữu và thơ Trần Dần?
(còn nữa)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét