(tiếp theo)
“Quần chúng nhân dân” Hà Nội được Nguyễn Huy Tưởng mô tả thành những con người yêu nước,
nóng bỏng lòng căm thù như vậy, còn giặc
Pháp , ngược lại được mô tả như bọn thú dữ uống máu người không tanh :
“Cánh cửa mở ra , giữa
tiếng kêu hãi hùng của một người đàn bà và hai đứa con luống cuống trong một
gian nhà nhỏ tối mờ mờ, đồ đạc đã thu dọn cả, chỉ còn trơ một cái giường. Tên
lính Pháp hỏi Việt Minh, người mẹ không biết tiếng Pháp quỳ xuống chắp tay vái lia lịa miệng van lậy :” Quan
lớn làm phúc tha cho mẹ con chúng tôi…”. Tên lính hỏi dồn . Nó nắm lấy tóc
người mẹ lôi dậy, gật gật đầu cười …”
Và cái cảnh sau đây, thật chỉ có trong phim…kinh dị :
“ Nhưng tên lính cười gằn
, lật mặt người mẹ ngửa ra đằng sau. Cái cổ tròn căng thẳng, thoi thóp, gợn mấy
đường gân xanh . Một bàn tay chới với nắm lấy cái bàn tay của đứa con trai
chừng năm tuổi. Đứa con gái nhỏ mới hai tuổi giẫy đành đạch hờn với mẹ, hai tay
bíu vào cái gấu quần lụa trắng :” Mợ ẵm con…mợ ẵm con…”. Tên lính tháo đôi hoa
tai của người mẹ, thản nhiên đút vào túi. Mặt người đàn bà trắng như tờ giấy. ,
thân oãi cong lên. Môi tên lính rung rung. Nó tuốt lưỡi lê, đâm gọn vào cái cổ,
tay nắm tóc buông ra. Đầu người mẹ gieo mạnh xuống sàn gạch . Không một tiếng kêu.
Lưỡi lê lại vung lên . Đứa con lớn đứng bên xác mẹ vừa khóc vừa đưa hai bàn tay
nhỏ bé lên đỡ. Một ánh chớp loáng. Hai bàn tay vụng dại nắm chầm lấy cái
lưỡi lê đâm mạnh, thọc sâu vào ngực nó…”
Cái cảnh chém giết rợn tóc gáy như trên còn kéo dài cả hai
trang nữa khiến người đọc căm thù giặc Pháp đâu chưa biết chỉ thấy khiếp hãi
cho ngòi bút của nhà văn dường như cũng đang chấm vào máu mà viết nên những trang …kinh dị đến mức khó
tin. Sau cùng, để “tố cáo tội ác giặc xâm lược ” sâu sắc hơn nữa, ông nhà văn
Nguyễn Huy Tưởng đã mô tả chi li một cảnh còn kinh hoàng hơn dưới địa ngục mà
có lẽ trong văn chương kim cổ chưa ai dám viết :
“ Lưỡi lê đỏ máu của tên lính hung ác dứ dứ mấy cái
rồi đâm phập vào cổ ằng ặc của người
thanh niên. Nó xoay nghiêng cái cổ cho máu
ồng ộc chảy xuống cái âu trầu. Mấy ông già run rẩy ngồi thụp xuống nhắm
nghiền mắt. Một ông cụ râu tóc đều bạc xô một thằng Pháp đứng sau để chạy. Bên
xác người mẹ, đứa con gái khóc bằn bặt không thành tiếng. Bỗng tên lính giết
người kéo ông già râu bạc lại. Nó cầm cái âu đầy máu ngầu bọt kề vào miệng cứng
đờ của ông cụ nói :” Mày húp đi. Mày húp trước đi. Rồi chúng mày thay nhau mà
húp…”. Những tiếng cười của bọn giết
người lại nổi lên trong cái gian nhà lênh láng máu…”
Sự thực tội ác của giặc Pháp ở phố Yên Ninh vào tháng 10 năm
1945 dã man đến đâu rồi đây các nhà sử học sẽ làm rõ, riêng nhà văn Nguyễn Huy
Tưởng thật đáng mặt bậc thầy về phương pháp sáng tác tự nhiên chủ nghĩa và xứng
đáng được tặng một…cây bút vấy máu.
Tất nhiên vào thời điểm đó vì “yêu cầu chính trị” phải kích
động nhân dân Hà Nội căm thù giặc Pháp, những người làm công tác tuyên truyền
có thể bịa đặt hoặc thổi phồng vụ tàn sát
để trương biểu ngữ “ Trả thù cho 23 đồng bào bị giết ở ngõ Yên
Ninh” trên ô tô chạy khắp Hà Nội, nhưng cả 15 năm đã qua đi, yêu cầu tuyên
truyền bôi đen quân xâm lược không còn đặt ra nữa, nhà văn khi đặt bút viết tiểu thuyết cần phải trả lại sự
thực cho các sự kiện. Tiếc thay Nguyễn Huy Tưởng không làm được điều đó, ông vẫn viết đầy hứng khởi theo kiểu…tuyên
truyền y như một nhà báo của đảng đang
hoạt động vào tháng 12 năm 1946 chứ không phải nhà văn viết tiểu thuyết “Sống mãi với Thủ đô” mười hai năm sau
đó. Chính vì vậy những sự kiện ông đưa ra có vẻ thiếu xác thực vì người đọc đã có độ lùi 15 năm sau để nhìn
nhận nó.
Chẳng hạn câu chuyện ông kể về nỗi khao khát của đồng bào miền Nam
được trốn ra Bắc sau khi thực dân Pháp trở lại chiếm đóng :
”Cái hồi vỡ mặt trận Ninh
Hoà, quân Pháp sắp kéo đến. Đồng bào không ai ở lại. Từng đoàn người lũ lượt tản cư, theo nhau băng rừng lội suối đi
tìm miền tự do. Có một cụ già tám mươi tuổi cũng chống gậy đi. Mọi người bảo cụ
:” Cụ đã già nua tuổi tác, nó dù có tàn ác đến đâu cũng không giết cụ làm gì.
Cụ đừng đi cho vất vả . Đường đi nhọc nhằn, cụ sẽ chết dọc đường mất…”
Cứ tưởng bà lão tám
mươi gần kề miệng lỗ, lúc này ham muốn tột
bậc chỉ là được chết ở quê nhà gần gũi với ông bà, tổ
tiên, nào ngờ cụ lại hăng hái :
“ Bà cụ nói: ” Cảm ơn các
ông các bà tỏ lòng thương . Nhưng tôi không ham sống làm gì nữa. Chỉ muốn đến
những nơi nào không có giặc Pháp , những nơi nào còn có ngọn cờ đỏ sao vàng…”
Rõ khổ, đã “không ham
sống làm gì” lại còn bỏ làng bỏ xóm để đi tìm … ” cờ đỏ sao vàng” thì quả thật thế gian
này..chưa hề thấy. Hư cấu quá đà vậy ,
ông nhà văn vừa làm khổ “bà cụ” vừa làm khổ cả người đọc. Chưa hết , ông Nguyễn
Huy Tưởng vẫn chưa tha cho “bà cụ”, ông bắt :
“ Thế rồi bà cụ cứ đi.
Sau mấy ngày bà cụ đi trong rừng, cụ đã kiệt sức quá. Cụ đã nằm chết ở bên cạnh
đường mòn, lối lên đèo Cả. Cụ đã chết trên con đường đi tới tự do…Nhưng nét môi
đã rụng hết răng như bằng lòng mình đã thở cái hơi cuối cùng ở trên một miền
đất trong sạch , không có dấu chân quân
Pháp…”
Than ôi một bà cụ tám mươi, cái quà tặng nhân đạo nhất ông nhà
văn cần mang tới cho cụ lúc đó là một bát cháo nóng cho đỡ đói lòng chứ đâu
phải thứ “tự do” ở trên trời và lá cờ đỏ sao vàng ở tận đẩu tận đâu. Mà rồi lúc
thở hơi cuối cùng bà lão tám mươi sao còn nghĩ được nơi bà nằm xuống không có
dấu chân quân Pháp ? Lúc đó hoặc chẳng
nghĩ gì hoặc nghĩ tới ông bà cha mẹ chớ ? Ông nhà văn tính ca ngợi mà hoá ra
lại thành mỉa mai bà cụ . Thế rồi để biến cụ thành “tượng đài của lịch sử”, ông
nhà văn “ đắp một nấm mồ chôn cụ,
cài một mảnh giấy chẳng biết bây giờ có
còn không , đề mấy dòng :” Mồ một bà cụ đã đi tìm tự do. Đèo Cả ngày 8-2-1946…”
Câu chuyện “bà cụ đi tìm
tự do” chẳng biết có được mấy phần trăm sự thực, chỉ tiếc cuốn truyện của ông nhà văn chưa tới được tay
mấy ông trong Viện bảo tàng cách mạng tỉnh Trị Thiên-Huế, nếu không vào cái
thời buổi “rút ruột công trình này” họ đã tìm tới tận nơi thực hiện ngay một dự
án đúc tượng và xây mộ bà cụ để cho tỉnh có thêm một điểm tham quan du lịch
trên đèo Cả.
Để tăng thêm tính lãng mạn cách mạng cho những người tình
nguyện ở lại Hà Nôi chiến đấu chống Pháp, ông tác giả đưa ra nhân vật Hiền, nữ
sinh năm thứ nhất thành chung, là người yêu của Nhật Tân , một anh tự vệ thành
luôn bày tỏ lòng căm thù giặc Pháp. Cô này đã đưa bố mẹ đi tản cư, ra tới bến
sông, cô quăng cả xe đạp lẫn các bậc sinh thành để trốn về Hà Nội. Giữa khi phố
xá hỗn loạn, xung quanh đầy hòn tên mũi đạn, cô nữ sinh này bỏ bố mẹ bơ vơ quay
lại Hà Nội làm gì vậy ?
“ Đứng trên sập, Hiền
đang soi vào một cái gương lớn. Hiền là một cô gái mới lớn, mặt bàu bàu hơi to
so với khổ người tầm thước.. Chị mặc chiếc áo nhung đỏ , quần xa tanh là , chân
đi hài con bướm vàng rung rinh. Đầu Hiền vấn một chiếc khăn nhung lam ,cổ đeo
kiềng vàng trơn . Chung quanh Hiền treo lủng lẳng chiếc áo nhung lam, chiếc măng tô màu tím sẫm và các áo len hoa
mùa hoa dâu, màu vàng, màu đỏ….”
Trời đất đang loạn lạc, cô Hiền trốn tản cư quay về nhà tưởng làm chuyện gì ghê gớm hoá
ra để mặc … bộ đồ cưới mà nếu chiến tranh không xảy ra chỉ một tuần lễ nữa thôi
cô sẽ mặc nó lên xe hoa. Vừa lúc đó anh chồng sắp cưới là Nhật Tân ghé đến.
Chẳng hiểu sao một con người trí thức
tiểu tư sản Hà Nội như anh mà lại hỏi vợ sắp cưới đang mặc đồ cô dâu một câu
lãng xẹt :
“ Hiền nghĩ thế nào mà
lại thắng bộ cưới vào thế ? Buồn hay vui ?”
Thế rồi lẽ ra trong khung cảnh đầy phập phồng của nỗi chết đang
rình sẵn, trong căn nhà giưã khu phố vắng vẻ, đôi tình nhân phải ghì chặt nhau,
che chở cho nhau, và đốt cháy nhau trong ngọn lửa của tình yêu trước lúc…tận
thế. Đằng này không, ông nhà văn không mảy may cho hai con tim rung động và
thổn thức, ngược lại ông chỉ cho hai cái miệng bàn chuyện…chính trị. Nàng thì
thổn thức :
“ Không có gì quý bằng tự
do anh nhỉ. Em không thể nào quên được những ngày Quốc Khánh vừa qua, bày tiệc
ra đường ăn uống. Em không thể nào quên được những ngày biểu tình hồi cách
mạng, đoàn nữ sinh chúng em có hàng nghìn, đều để tóc thề, mặc toàn trắngg,
xinh lắm, đi đến đâu người ta hoan hô đến đấy…”
Còn chàng thì cao giọng :
“ Đúng rồi. Đồng bào miền
Nam khao khát ngoài này lắm mà họ gọi là đất tự
do. Anh kể cho Hiền nghe cái hồi vỡ mặt trận ở Ninh Hoà, quân Pháp kéo đến…”
Rồi cứ thế chàng thao thao bất tuyệt về tinh thần “không có gì
quý hơn độc lập tự do “ của dân ta khiến cuộc gặp gỡ giữa hai kẻ đang yêu trong
khung cảnh đầy bi tráng biến thành một cuộc
“bày tỏ lập trường yêu nước” giữa hai con người đang căm thù giặc Pháp đến quên
cả…yêu. Những trang viết thế này bộc lộ
chất “tuyên huấn” đậm đặc gấp nhiều lần chất “nhà văn” mà Nguyễn Huy Tưởng được
mệnh danh và trên hết, nó phơi bày một tài năng văn học không lấy gì làm xuất
sắc.
( còn
tiếp)

Cháu mới biết loạt bài này cách đây một tuần và thấy rất tâm đắc. Quả thật thế hệ 9X của cháu chẳng còn nghe nói gì đến những tác phẩm "tiêu biểu" này. Cảm ơn bác rất nhiều. Cháu xin lỗi bác khi hỏi điều này nhé, có ai vu cho bác là "tên biệt kích cầm bút" chưa? Hi hi.
Trả lờiXóaKhông vu đâu, họ nói thật đấy...hi hi...
Xóa