(tiếp theo)
Tập “Ký sự Cao Lạng” dầy hơn trăm trang hoàn thành
ngay trong không khí chiến thắng của chiến dịch Biên giới tháng 9 năm 1950 bởi
thế nó được coi như minh chứng mẫu mực về “lý
thuyết sáng tác kịp thời” của Đảng. Quả thực đi sâu vào Ký sự Cao Lạng,
người ta nhận thấy “tính kịp thời” của nó. Với cảm hứng “hồ hởi” phấn khởi,
Nguyễn Huy Tưởng phác hoạ toàn bộ diễn biến chiến dịch từ chuẩn bị tới kết thúc
lúc quân ta thắng lớn, đánh tan hai binh đoàn thiện chiến Pháp bắt sống hai
quan năm của Pháp là Charton và Lepage giải phóng cả một giải biên giới từ Cao
Bằng tới Lạng Sơn.
Ký sự Cao Lạng gồm 6
phần trong đó 2 phần đầu mô tả không khí chuẩn bị nhộn nhịp của quân dân Cao
Lạng “tự vắt mình để dốc hết người và của
vào trận đánh”, dù hết sức khó khăn gian khổ nhưng đâu đâu cũng “ thấy hiện lên tinh thần phấn khởi, hào
hứng, đâu đâu nghe những tiếng hò hẹn, động viên nhau “quyết giật giải của Hồ
Chủ tịch , quyết thi đua lập công, trận này phải thắng…”. Phần thứ ba ghi
lại cuộc chiến đấu mở màn , trận tấn công đồn Thất Khê, nhiều gương anh hùng
xuất hiện : Trần Cừ lấy thân mình lấp lỗ châu mai, La Văn Cầu chặt tay bị
thương khỏi vướng víu xông lên đánh bộc phá . Cho tới nay chuyện anh hùng La
Văn Cầu tự chặt tay mình vẫn còn được nhắc tới, riêng chuyện Trần Cừ lấy thân
mình lấp lỗ châu mai thì không, có lẽ vì sự tích phi thường này phải nhường cho
anh Bế Văn Đàn người dân tộc, cho phù hợp với chính sách dân tộc của Đảng trong
khen thưởng thành tích chiến đấu. Điều này cho thấy những chất liệu Nguyễn Huy
Tưởng viết trong Ký sự Cao Lạng thường
được lấy từ …báo cáo thành tích thi đua của các đơn vị bộ đội và vì phải phục vụ cho công tác tuyên truyền nên nó thường được thêm mắm muối và phóng
đại.
Gương anh “Trần Cừ lấp lỗ châu mai” cũng tương tự như gương em
bé đuốc sống Lê Văn Tám tẩm dầu vào người chạy vào đốt kho xăng Nhà Bè do nhà
sử học Trần Huy Liệu “sáng tác” phục vụ công tác tuyên truyền theo sự xác nhận
của Giáo sư Phan Huy Lê.
Phần 4 và 5 ghi lại cuộc vận động chiến của bộ đội đuổi theo và
nghiền nát hai binh đoàn thiện chiến của Pháp tại vùng núi Khua Luông, Quý
Châu. Phần 6 ghi lại không khí chiến thắng tại vùng Cao Lạng trong đó nổi bật
hình ảnh Hồ Chủ tịch đến thăm bộ đội :
“ Bác không đứng trên lễ đài. Bác đi thẳng xuống bãi cỏ. Bác không đội
mũ. Mặt Bác sạm phong trần. Đầu hoa râm đã bạc nhiều. Bác mặc áo hở ngực. Quần
bác nhàu, chân bác đi dép cao su trắng, đứt quai sau. Bác đến với bộ đội như
cha đến với con : vui vẻ, thân mật, tạo một nguồn phấn khởi mạnh mẽ…”
Đọc tới chi tiết tác giả ca ngợi “chiếc dép cao su trắng đứt quai sau” của bác Hồ, người ta mới hiểu
vì sao trong tất cả những bộ tuyển tập và toàn tập về Nguyễn Huy Tưởng và trong
tất cả những bộ lịch sử văn học , bao giờ người ta cũng nhắc tới Ký sự Cao
Lạng như là một thành tựu không chỉ của
riêng Nguyễn Huy Tưởng mà còn là của chung nền văn học cách mạng. “Hình tượng
bác Hồ” không phải hiếm hoi trong
sáng tác Nguyễn Huy Tưởng. Tháng 9 năm 1950 ông hoàn thành “Ký sự Cao Lạng” thì
trước đó vài tháng vào dịp “sinh nhật Bác 19 tháng 5” ông có bút ký “Hồ Chủ
tịch năm nay” sau này cũng được đưa vào
các bộ tuyển văn học. Bài viết kể lại nhân ngày sinh nhật Bác tác giả vinh dự
được tới thăm nhà Bác trong rừng chiến
khu Việt bắc :
“ Một con đường sạch và
dài dẫn tôi vào. Tôi có cảm tưởng đi giữa một công viên Hà Nội với rất nhiều
péc-gô-la. Sự thực hai bên tôi toàn là rau rền, rền xanh, rền tía, rền đỏ; giàn
toàn thị là giàn mướp, giàn bầu. Một vài
giàn mướp đã trổ hoa vàng, bướm lượn tíu tít . Máy bay không làm vẩn trước sau
lễ chúc thọ. Chiều hôm nay bình tĩnh lắm. Sau một trận mưa, trời bắt đầu hửng
nắng. Ánh hồng trên các thân cây…”
Sắp được vào nhà Bác, tâm sự tác giả thật phức tạp :
“ Tôi lâng lâng vui, đồng
thời cũng ngài ngại, cái ngại dĩ nhiên của một người sắp đến trước một vĩ nhân.
Tôi đã được gặp Cụ ở Bắc Bộ phủ , ở các cuộc mít tinh, ở mấy cuộc hội nghị,
những buổi dạ hội tại Nhà hát Lớn Thủ
đô. Nhưng từ ngày kháng chiến, tôi không được gặp Cụ và bị kích thích mạnh mỗi
khi nghe các bạn kể lại những chuyện về Cụ :” Cụ đánh bóng vô lê. Cụ tăng gia,
Cụ đi kinh lý mặt trận . Cụ đem cái vui và niềm tin đến cho bao nhiêu hội nghị
. Cụ tiễn chân các cán bộ tới thăm Cụ một buổi chiều lẫn lộn cây cối và mưa gió
của chiến khu …Cho nên lần này đi chúc
thọ Cụ , tôi vẫn có cái náo nức của những buổi đầu tiên gặp Cụ…”
Rồi Nguyễn Huy Tưởng nhớ lại kỷ niệm một đêm ở hội nghị dân
quân, các nhà văn, nhà báo xúm nhau viết chuyện anh hùng của bộ đội và nhân
dân, chuyện tàn ác của giặc Pháp các đại biểu đã kể lại trong hội nghị. Mọi
người hăm hở viết suốt đêm trắng, hoàn thành “năm chục truyện căm thù và anh dũng” để kịp tinh mơ sáng hôm sau đưa cho người du kích cưỡi ngựa chạy đi
…dâng Bác. Sau cùng Nguyễn Huy Tưởng
cũng kể tới giây phút đặt chân vào nhà Bác :
“ Vườn rền dẫn đến một
khu rất đông người , nhiều cây và rất nhiều khoảng nắng. Chỗ nào cũng có thiếu
nhi . Chúng nhảy tung tăng. Chỉ nhìn theo chiều mắt lóng lánh của chúng cũng
biết Cụ ở chỗ nào. Và tôi gặp Cụ. Một cái bắt tay. Chụp ảnh. Những nụ cười
chung quanh. Tôi trở về với gia đình…”
Khi mọi cảm giác hồi hộp đã tan biến, Nguyễn Huy Tưởng đã tưởng
như ở nhà mình, ông mới tả Bác :
“ Trán Cụ chiều nay không
có nét răn. Nước da hồng sáng . Bộ áo kaki cũ và mềm, phơn phớt trắng hồng càng
tôn nước da và làm cho cử chỉ thoải mái, thanh niên. Có một cái gì quyến rũ
trong đôi mắt thẳm sâu, phản ánh những khóc cười của dân tộc…”
Quả thực những văn thi sĩ quán quân về ca ngợi Bác như Tố Hữu “Bác
ơi trán bác mênh mông thế ?” hoặc Chế Lan Viên gọi Bác là “ Người đi tìm hình của nước” …cũng chưa
ai bằng được Nguyễn Huy Tưởng có một chi tiết thật đắt nhìn thấy “sự khóc cười
của dân tộc” trong đôi mắt sâu thẳm của Bác.
Tiếp đến Nguyễn Huy Tưởng tả phòng khách của bác :
“ Bao vây Hồ Chủ tịch là
cả Việt Nam thu gọn do những đại biểu muôn vẻ muôn mầu….”
Trước hết phải kể đến cán bộ cao cấp : Cụ Tôn Đức Thắng “người công
nhân lão đại”, ông Trường Chinh “ nhỏ nhắn nói chuyện vui vẻ”, ông Phan Anh
thấp, vững “ đang nghĩ tới một tập
Kiều tặng Cụ”, ông Hoàng Quốc Việt “nhanh
nhẹn như một gia trưởng”…Rồi đến đại biểu thanh, công, phụ trước hết là…thiếu nhi. “Thiếu sinh quân.
Thiếu nhi nghệ thuật. Thiếu nhi địa phương. Cháu nhìn Bác không chớp mắt. Cháu
bên vai bác nũng nịu. Cháu ngồi dưới chân Bác , nghểnh cổ há mồm. Cháu biếu bác
một bài hát. Cháu dâng bác một cây sáo mộc…”. Rồi đến anh hùng lao động,
anh hùng của vùng tạm bị giặc chiếm…”Lá
cờ đỏ thêu chỉ vàng “vạn thọ vô cương” chói lọi gian phòng…”
Nguyễn Huy Tưởng tả Bác vui với thiếu nhi thì thấy Bác giản dị,
gần gũi nhưng khi nói tới lá cờ “ vạn
thọ vô cương” thì lại thấy Bác như
một…Hoàng Đế. Không hiểu “ lá cờ đỏ thêu chỉ vàng “ này có thật không hay là
NHT đã…bịa ra để “nịnh khéo” Bác, có điều từ đầu đã ca ngợi Bác là “giản dị vô
cùng” vậy sao còn bầy đặt ở phòng Bác một lá cờ viết chữ Hán rắc rối vậy thì
quần chúng công nông hiểu làm sao ?
Rồi cụ Hồ ngồi nói chuyện với một anh chiến sĩ cụt tay trong
đại đoàn 308 viết :
“ Tôi không nghe rõ câu
chuyện giữa Cụ và người chiến sĩ, chỉ thấy sau lưng Cụ, cửa sổ tròn, để lọt một
mảnh trời sao lấp lánh…”
Tới đây người ta thấy được cái “thủ pháp nghệ thuật” hoặc nôm
na là “cái mẹo ca ngợi “ của Nguyễn Huy Tưởng. Khi vẽ chân dung bác Hồ ông
thường gắn với khi thì sự khóc cười của
dân tộc khi thì cả một trời sao…
Cuộc chúc thọ bác Hồ tạm lắng để nhà văn NHT có thể nhìn thấy
cả một mảnh trời sao sau lưng bác, mãi đến khi “ông Trần văn Giàu đọc những điện
văn của các chính phủ, đoàn thể các nước bạn chúc mừng ngày lục tuần đại khánh
của Cụ, phòng họp mới trở lại cái tíu tít ban nãy”. Lúc này người ta nghe
thấy “ những tên Staline, Hồ Chí Minh
quyện nhau trong một tinh thần quốc tế mà cảnh sum vầy ở góc trời này , hôm nay
càng làm bật ý nghĩa thâm trọng”, nghe
thấy “ những lời hô khẩu hiệu “,” bài hát Hồ Chí Minh muôn năm cất lên vang
lừng”…Hoá ra người vinh dự nhất được
cụ Hồ bắt tay trong buổi chúc thọ lại là linh mục Phạm Bá Trực, ngày
đó còn đang thay mặt quốc hội.
“Cụ bước lại bắt tay cha
Trực rồi nói :
“ Tôi bắt tay Quốc hội
tức là bắt tay toàn dân…”
Chỗ này mới thấy tính “mặt trận” của cụ Hồ – cụ bắt tay một
linh mục làm hả dạ giáo dân nhưng cụ lại nói cụ bắt tay “quốc hội”; như vậy mấy
ông “sư quốc doanh “ cũng không có gì phải ghen tị.
(còn tiếp)

Không biết bài này ai viết.
Trả lờiXóaNhưng có lẽ lâu lắm, mới lại có ngừoi nhắc về cùng đề tài, hào hứng đến thế.
"Chiếc cầu tay cầu thang đã thành bất tử, khi nó được bụi của tay áo Đại lãnh tụ rơi xuống."
Tôi đáy ạ...
Xóa