Mười chín.
“Nếu hoài
trên đỉnh Phăngxipăng
“Anh chỉ
hát trong mây mờ huyền diệu
“anh Hiếu
ơi... dù muôn ngàn giai điệu...
“ Có bao
giờ ấm được giá băng”
Đấy nàng viết cho tao vẻn vẹn có bằng đấy thôi,
kèm theo là cái thiệp báo nàng đi lấy chồng. Tao cứ cười, cười mãi để rồi thấy
nó là chuyện thực chứ không phải là mơ. Cay đắng cho tao chưa? Tao đã đánh bạc
cả cuộc đời tao vào tình yêu của nàng, thế ròi bỗng mở bát lên: một con số
không to tướng. Lần cuối cùng giáp mặt, mẹ tao chửi tao tên là Hiếu mà bất hiếu,
nàng bảo tao rằng không hề gì, thời đại mới, chứ hiếu phải hiểu theo nghĩa mới.
Khi tao bị từ chối không được nhận vào trường đại học, nàng bảo tao rằng không
sao, anh cứ đi lao động miền núi dăm ba năm rồi về học cũng chưa muộn. Khi tao
về phép với hai bàn tay trắng, nàng lại vui vẻ bảo tao rằng vật chất chẳng đáng
kể gì, anh về với em đã là một quà tặng vô giá rồi... Đấy, trên đời này còn có
ai cảm thông, an ủi, khuyến khích tao như nàng được không? Nàng viết cho tao
những lá thư chan chứa nhớ thương, tin cậy và hy vọng. Trời ơi, mày không thể
biết được đâu, “sông sâu cá lội biệt tăm, phải duyên chồng vợ ngàn năm em vẫn
chờ, “ nàng đã viết cho tao như thế đấy, ha ha, ngàn năm em vẫn chờ... vẫn
chờ... Đến thế thì ai mà tính đến chứ ngờ, không, lần về phép năm ngoái nàng
vẫn nồng nàn, vẫn thắm thiết, vẫn đưa tao ra tận bến xe ấn vào tay nắm cơm,
không một dấu hiệu nào, không một linh cảm nào gợi lên sự ngờ vực cả “ Khi xe
anh chạy xa rồi, em vẫn còn nhìn theo, nhìn theo mãi...”
Nàng còn viết cho tao như thế đấy. Ấy thế rồi như
sét đánh giữa trời quang, đùng một cái nàng bỏ tao đi lấy chồng, như thế là thế
nào, tao hỏi mày như thế là thế nào?
Đầu óc tao đông cứng lại, miệng đắng ngắt, cơn
rét run làm da nổi gai, ngực tao đau nhói như máu trong tim đã khô kiệt, tao
bất lực, phó mặc thân xác cho tuyệt vọng nó hành hạ, cấu xé. Ôi, mày không thể
hiểu được đâu, một khi Thượng đế đã chết trong ta, một khi cái bệ đỡ cho ta trụ
được trong cái kiếp sống lầm than này đã sụp đổ và rồi đúng như người ta nói
“Ngó tới tương lai trào nước mắt, ngoảnh nhìn quá khứ toát mồ hôi”, với tao chỉ
còn cái chết là cách giải thoát thuận tiện nhất. Đúng lúc chúng mày xúm xít
quanh mâm rượu, tao lẻn tới võng thằng cấp dưỡng ăn cắp khẩu súng chạy ra rừng.
Tao chọn đám cỏ tranh sạch sẽ nằm xuống, tiếng chim gõ kiến cứ bổ “cộc cộe”
trên đầu, tới số rồi, nó giống như tiếng gõ cửa của định mệnh trong bản giao
hưởng của Beethoven đấy, tao kê súng vào cằm và nhắm mắt lại. Thế rồi khi tao
đặt ngón tay vào cò súng làm nốt cái động tác cuối cùng trong đời, bên tai bỗng
vang lên những tiếng cười khả ố của chúng mày. Một cơn giận ngùn ngụt bốc lên
trong tao. Bọn khốn nạn, chúng nó cười ngay bên cái chết của mình. Tao nghĩ
ngay đến chuyện một thằng công nhân địa chất khổ cực quá không chịu nổi đã tự tử
chết trong rừng để rồi phải kỷ luật khai trừ Đoàn rồi mới được chôn. Chắc chắn
rồi tao cũng thế, cũng nằm dưới dáy huyệt chờ lão toán trưởng đọc cho xong cái
quyết định khốn nạn kia rồi mới được lấp đất. A ha, đừng hòng nhé, cứ chờ đấy
mà phê phán, kỷ luật tao, không, tao không được chết, tao phải sống, sống để
chọi nhau với mọi thứ xấu xa, bỉ ổi đề vượt lên đầu tất cả chúng mày, cả lão
toán trưởng, cả cái con búp bê phản bội kia, tất cả... Như một tia chớp lóe lên
trong tao, bỗng chốc tao thấu hiểu rằng chính từ nay tao mới bắt tay vào xây
dựng sự nghiệp, một sự nghiệp hiển hách tao đã mơ tới từ những ngày bị hành hạ
bởi cái mà mày gọi là “nỗi buồn con nhà giàu, đúng như thế đấy, chỉ chạm mặt
với cái chết, tao mới bừng tỉnh ngộ. Thế là tao nghiến răng bóp cò, a ha, tao
không bắn vào thân xác tao đâu. Tao ghếch súng lên bắn con gõ kiến, bắn vào cái
định mệnh khốn nạn cho thôi đừng gõ nữa, bắn vào con người cũ của tao, con
người ngớ ngẩn, ngây thơ chỉ “biết hát trong sương mù huyền diệu trên đỉnh
Phăngxipăng. “Đúng đấy, nàng búp bê đã viết cho tao rất đúng đấy. Bây giờ thì
tao đã hiểu, chính cái hố thẳm trong con người nàng đã dạy nàng cách gọi sự vật
đúng với tên của nó. Bây giờ thì tao đã hiểu cuộc đời này nằm trong chính hai
bàn tay tao. Thế là quả tên lửa đã được đặt lên bê phóng. Bay lên đi, bay lên
đi hỡi chú ngựa chiến...
PHỤ LỤC :
LES GOUFFRES DE L’ÂME
Entretien de Mireille
Gansel avec Phan Huy Duong
La Quinzaine Littéraire, n°
840
(suite)
MG : A propos d’amour et d’histoire
personnelle, ce qui me semble tout à fait novateur dans ce livre, c’est aussi
le fait que des hommes se remettent en question à travers leurs relations à la
femme.
PHD : Dans ce roman, les femmes ont un rôle
particulier. Ce sont elles qui, en définitive, donnent un sens à la vie de ces
nouveaux damnés de la terre. Le Cantinier supporte cette existence absurde par
amour pour sa mère : il veut lui payer une maison avec un vrai toit. Le
Gendarme déserte sa mission par amour pour la femme du chef de la milice de son
village. Il ne renonce à cet amour qu’en apprenant que la femme est enceinte de
son mari. Respect de la mère, respect de la vie. Le Chef, au seuil de la mort,
réaffirme le seul véritable amour de sa vie, une femme qu’il a été forcé, par
le Parti, d’abandonner avec son enfant. Il la réhabilite à ses yeux et aux yeux
de ses compagnons sinon à ceux de la société. Le narrateur achève le récit sur
la seule note un peu optimiste : son amour pour une jeune femme des
minorités des montagnes rencontrée au cours de ses pérégrinations. « Dans cette
maison sur pilotis, devant ce feu joyeux, je me sentis vivre dans une autre
humanité où chaque rire du vieillard, chaque parole de la jeune femme faisait
résonner en moi un nouveau rythme […] En moi montait un désir d’embellir l’âme
humaine. »
MG : Ce personnage du narrateur m’amène à une
question : qui est Nhât Tuân, l’auteur du roman ?
Voici ce que l’auteur dit de lui-même. Né à Hanoi
en 1942, je l’ai quitté à 16 ans pour travailler en forêt afin de rééduquer
l’homme ancien en moi et créer l’homme nouveau. En 1964, je suis parti
construire la ‘piste Ho Chi Minh’ à travers la Cordillère Truong Son. En 1968,
je suis revenu à Hanoi pour travailler en informatique. En 1973, j’ai été
réengagé comme éclaireur dans le génie militaire au Sud-Vietnam. En 1976, j’ai
travaillé aux Éditions de la Culture de Hanoi. Actuellement, je travaille comme
journaliste à Saigon. J’ai publié dix romans, cinq recueils de nouvelles. Après
Retour à la Jungle, Flamme froide publiée en 1991 à Saigon a retenu l’attention
du public.
(à suivre)
HỐ THẲM
TRONG TÂM HỒN
Trao đổi giữa Mireille Gansel và Phan Huy Duong
La Quinzaine Littéraire, n° 840
(tiếp theo)
M.G :Về
chủ đề tình yêu và đời sống cá nhân , với tôi dường như hoàn toàn được sáng tạo
trong cuốn sách này,nó cũng là vấn đề những người đàn ông luôn luôn phải đối diện với vấn đề quan
hệ của họ với phụ nữ.
PHD : Trong cuốn tiểu thuyết này, phụ nữ đóng một
vai trò rất quan trọng. Chính họ thực tế đã tạo cho những người đàn ông bị đầy đọa một ý nghĩa của cuộc sống.
Thằng cấp dưỡng chịu đựng cái cuộc sống phi lý này bởi tình yêu với mẹ.Nó muốn
kiếm tiền để làm một cái mái ngói cho mẹ.Thằng hộ pháp bỏ việc để tìm về với
con vợ thằng xã đội. Nó đành phải bỏ lỡ cuộc tình khi nhận ra người yêu đã có
bầu với chồng. Tôn trọng tình mẫu tử. Tôn trọng cái quy tắc của đời sống. Ông
toán trưởng, trước khi chết , xác nhận tình yêu đích thực nhất trong đời ông
chính là người phụ nữ ông đã bỏ rơi kể
cả đứa con theo lệnh Đảng.Ông đã phục thiện trong con mắt của chính ông, của
đồng đội và của cả xã hội.Người kể chuyện kết thức cuốn sách ở một điểm duy
nhất lạc quan :tình yêu của anh ta với cố thiếu nữ người thiểu số trên vùng núi
gặp trong một chuyến lang thang." Dưới mái nhà sàn và ngọn lửa đang reo
vui kia, tôi như được sống trong một nhân loại khác, ở đó, mỗi tiếng cười của
ông già, mỗi lời nói của cô gái đều ngân vang trong lòng ta một âm điệu mới
khiến ta cảm giác như được nghỉ ngơi trong yên ổn thinh không và chỉ còn lâng
lâng một khao khát làm đẹp tâm hồn con người.
MG :" Nhân vật dẫn truyện này đưa ta đến một
câu hỏi :Nhật Tuấn, tác giả tiểu thuyết là ai ?
PHD : Đây là những lời tự thuật của chính tác
giả. Sinh ở Hànội năm 1942, năm 16 tuổi tôi phải lên rừng làm việc để cải tạo
con người cũ và xây dựng con người mới.Năm 1964 tôi tham gia xây dựng đường Hồ
Chí Minh dọc theo dải Trường Sơn. Năm 1968 tôi trở về Hànội làm công tác thông
tin khoa học kỹ thuật.Năm 1973 tôi tình nguyện tham gia trinh sát công
binh ở miền Nam Việt Nam. Năm 1976 tôi làm việc ở Nhà xuất bản Văn học Hànội. Hiện nay tôi
làm việc như nhà báo ở Sàigòn. Sau "Đi về nơi hoang dã", năm 1991,
tôi xuất bản "Lửa lạnh"ở Sàigòn được công chúng chú ý.
(còn nữa)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét