(tiếp theo)
Ý
kiến của Nhà văn Phan Nhật nam :
Chúng ta có thể bàn qua
người bạn kế tiếp,
Nhà văn Phan Nhật Nam
Mạnh mẽ, rõ ràng hơn thái độ còn đôi chút ngập ngừng do “chưa” đi hết biển..” của Nguyễn Mộng Giác, sau câu hỏi ẩn ý thăm dò (kèm thoáng mỉa mai- pnn) của Trần Văn Thủy (“Thế thì anh hẳn gắn bó với nơi chốn nầy (đất Mỹ) lắm nhỉ?”), Nhật Tiến xác nhận: “Vậy mà không đấy. Về mặt tâm cảm, tôi chưa nhận nơi nầy làm quê hương. Nói một cách cụ thể: Tôi biết ơn nước Mỹ đã cưu mang toàn bộ dân tỵ nạn kể từ sau tháng 4 năm 1975, đã đem lại cho gia đình tôi đầy đủ cơ hội an cư lạc nghiệp. Nhưng nhìn lại cuộc chiến vừa qua, tôi vẫn thấy ám ảnh về sự bất hạnh đã áp đặt lên số phận dân tộc mình..”(TVT sđd, trg 68)
Với trả lời như trên của Nhật Tiến, Trần Văn Thủy rất nhanh
nhạy “đạo diễn” ngay để có một câu hỏi khác theo mẫu mực “chống Mỹ cứu nước”:
“Từ năm 1990, nghe nói anh vẫn có dịp thường về thăm quê nhà (Bạn đọc lưu ý, về
thăm “quê nhà” chứ không phải cụm từ thông thường “về Việt Nam” khi trò chuyện
- pnn)”(TVT sđd, trg 68).
Nhưng không như Trần Văn Thủy “hy
vọng”, Huynh Trưởng Hướng Đạo - Nhà Văn Nhật Tiến định giá “đất Mỹ” và “quê
nhà” cùng một lần với chân thật và chính xác:
“Nỗi
ám ảnh (về sự bất hạnh) này đã khiến cho tôi cảm thấy luôn luôn là kẻ lưu vong,
trên xứ Mỹ cũng như ngay trên cả quê hương mình..”(TVT sđd, trg 68)
Đạo diễn Trần Văn Thủy hỏi: “Điều gì
đã khiến cho anh (NT) cảm thấy mình bị lưu vong ngay cả trên quê hương
mình?”(TVT sđd, trg 68).
Và đây
là câu (thật) trả lời:
“Cảm
giác xa lạ, sự không thể hòa nhập được vào đám đông ở chung quanh mình và cái
bầu không khí sinh hoạt văn hóa nói chung, văn học nghệ thuật cũng như báo chí
nói riêng, vẫn bao trùm một nền kiêu hãnh rằng: “dân tộc ta anh hùng, đã đánh
cho Mỹ cút, cho Ngụy nhào”. Là một người xuất thân từ Miền Nam trước đây làm sao tôi có thể
hòa nhập được..?”(TVT sđd, trg 68)
Trần Văn Thủy hỏi tiếp (về cái “key”
mà người Miền Nam thường tránh né (theo ý của người Miền Bắc) là do “mặc cảm
thua trận”, như đã có người nói cùng học giả Nguyễn Hiến Lê): “Vậy cuộc chiến
đã lùi xa, dưới cái nhìn của anh bây giờ, nó ra sao?”(TVT sđd, trg 69); hoặc
vấn đề gây “đụng chạm” hơn: “Với anh (NT), tôi không ngại luận bàn những vấn đề
chính trị tuy đã cũ nhưng cảm nhận của tôi có đôi chỗ khác anh. Nếu những người
bộ đội, những người lính tham gia chiến tranh mà tới nay vẫn thực sự ý thức là
họ hy sinh cho chính nghĩa, thì quả là điều đáng mừng. Nhưng tôi nghĩ, đối diện
với cuộc sống hiện nay, tâm trạng thực trong cuộc đời thực, số đông không hoàn
toàn như thế. Còn những người đã nằm xuống, tức là những người đã hy sinh như
anh nói, chúng ta chẳng thể biết chính xác họ nghĩ gì khi xung trận”(TVT sđd,
trg 69)
Nhật Tiến không tránh né nhưng vào
thẳng vấn đề trên một cách tự tin (cách của người tin vào Tính Thiện, Sự Thật):
“Dĩ
nhiên tôi không có thẩm quyền để phát biểu về tư duy của bộ đội miền Bắc trước
1975, nhưng nếu nói về những người lính VNCH đã nằm xuống, đã hy sinh mà bảo
rằng chúng tôi chẳng biết chính xác về họ nghĩ gì khi xông trận thì không thể
chấp nhận được. Đành rằng quân đội nào thì cũng có những mặt trái của nó như
lính nhát gan, lính cướp bóc, lính đào ngũ.. nhưng với quân đội miền Nam, đó
không phải là tính chất tiêu biểu..”(TVT sđd, trg 69-70)
Câu trả lời của Nhật Tiến đã đề cập
rất đầy đủ, không chỉ riêng đối với người lính, chiến tranh, mà phê phán đến
cái gọi là “tinh thần dân tộc” của cả hai phe cầm quyền nơi miền Nam, lẫn miền
Bắc thường nại ra để làm cớ sự giải thích cho lần tranh quyền, đoạt lợi của họ.
Nhưng bởi anh không thuộc giới chuyên nghiệp quân sự nên tôi có thể bổ sung
thêm những chi tiết: “Vâng, thưa ông đạo diễn Trần Văn Thủy, quân đội miền Nam
có đủ tất cả những khuyết điểm (mà bất cứ tập thể quân đội nào trên thế gian
nầy đều mắc phải - và cụ thể với lần thất trận vào năm 1975 - nên những khuyết
điểm nầy đã trở nên hiện thực). Nhưng đấy là một quân đội gồm nhiều Người Lính
Khắc Kỷ Hy Sinh và Cao Thượng Chịu Đựng hơn bất cứ người lính nào đã có mặt
trong tập thể quân đội của các cộng đồng dân tộc trên thế giới - Và họ gánh
chịu nỗi bất công uất hận nầy một cách có ý thức - Ý thức về Trách Nhiệm-Nghĩa
Vụ với lòng Tận Tụy-Hy Sinh. Nếu ông được chứng kiến cả một thế hệ thanh niên
Miền Nam (phần lớn là sinh viên của các phân khoa đại học chuyên nghiệp, đang
được miễn dịch vì lý do học vấn) thay vì đến giảng đường, đã leo lên dãy GMC
đậu dọc dài theo đường Lê Văn Duyệt (nay là Cách Mạng Tháng 8, Sài Gòn) đến tận
Ngã Sáu (Quân Vụ Thị Trấn) để đi lên trại Nhập Ngũ Quang Trung trong thời kỳ
xẩy ra trận chiến Mùa Hè 1972.”
Với trình bày nầy có thể Trần Văn Thủy bảo chúng tôi đã “hư
cấu và cường điệu” về sự kiện tuổi trẻ miền Nam “ý thức chọn nghĩa vụ người
lính”, vậy tôi xin nhắc lại trường hợp điển hình: Phạm Huy Phong (con trai còn
lại độc nhất của Ông Phạm Văn Bính, cựu Tổng Trưởng Thanh Niên, Thủ Hiến Bắc
Việt, nội các Bảo Đại, 1949-52). Vốn đang là sinh viên cao học ở Sorbone, Pháp,
Phong tự nguyện về nước nhập học Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức; đậu thủ khoa
khóa sĩ quan, buổi mãn khóa có đủ hàng chục đơn vị thuộc tất cả các quân binh
chủng để chọn lựa - Nhưng Chuẩn Úy Phạm Huy Phong đã tình nguyện về Tiểu Đoàn 3
Nhảy Dù, và tử trận tại mặt trận Quảng Trị, Vùng I Chiến Thuật nơi đối diện với
miền Bắc qua tuyến lửa phi quân sự. Tôi có thể kể ra danh tính hằng trăm, hàng
ngàn người tuổi trẻ rất có ý thức để sống-chết với Quê Hương Miền Nam - Không
nơi đâu xa, chỉ với đơn vị của chúng tôi - với mỗi Người Lính Nhảy Dù QLVNCH.
Chúng tôi mong được lắng nghe về một trường hợp tương tự như của Phạm Huy Phong
trong số đông những con em thuộc gia đình quan chức cộng sản ở Hà Nội. Hãy kể
cho chúng tôi nghe tên về một người tuổi trẻ con của các quan chức lớn của Đảng
Cộng Sản tình nguyện đi B (mặt trận Miền Nam), hay sau này khi phải đánh nhau
với hai nước Cộng Sản láng giềng Trung Quốc và Cao Miên. Chỉ cần một người
thôi.
Trước khi từ giã người trung trực
Nhật Tiến, chúng tôi nhận thấy cần đề cập đến một thái độ không mấy “fair play”
của Trần Văn Thủy (để tiếp mở đầu cho phần tới). Đấy là, Trần Văn Thủy không bỏ
lỡ một cơ hội nào để mở lối “tấn công chính trị (!)”, điển hình với cách đặt
vấn đề: “Rõ ràng hòa hợp, hòa giải là cần, là “sinh lộ” cho dân tộc ta như anh
(NT) nói, nhưng tôi không nghĩ nó là thần dược chữa bách bệnh như mất dân chủ,
nghèo nàn, chậm tiến.. (rồi bỗng dưng chuyển qua).. Anh (NT) nghĩ sao về những
“khuynh hướng cực đoan” trong cộng đồng VN ở hải ngoại như những chủ trương
không du lịch về VN, không gởi tiền về trợ giúp thân nhân, cũng như các công
tác từ thiện...”(TVT sđd, trg 71-72).
Hai vấn đề (“Mất dân chủ ở trong
nước” và “Khuynh hướng cực đoan trong cộng đồng người Việt - Không chịu về VN
du lịch”) hoàn toàn không liên hệ gì với nhau cả. Mất dân chủ là do cơ cấu
“Đảng lãnh đạo-Nhà nước quản lý-Nhân dân làm chủ”, còn “khuynh hướng cực đoan
không muốn du lịch về VN” là của riêng những ông, bà nào đấy muốn “biểu diễn
lập trường” với chính họ, hoặc vì một lý do nào khác, cụ thể như tự bản thân cá
nhân - không thích thấy những ông công an hậm họe nơi phi trường. Những người
có “khuynh hướng cực đoan” ấy không hù dọa, trấn áp được ai - kể cả những người
thân cận trong gia đình (ngoại trừ những đứa nhỏ vị thành niên không được phép
đi xa một mình, hoặc không đủ tiền mua vé máy bay). Thế nên đã có kết quả như
lời Nhật Tiến rành rọt kể ra:
“Từ nhiều năm qua.. Tôi thấy du lịch
về VN không còn là một điều phải giấu diếm (Ai giấu ai? Để làm gì? Tại sao phải
giấu? pnn); các nhóm thiện nguyện đem tiền bạc và kỹ thuật về làm công tác từ
thiện trong nước càng ngày càng nhiều.. Việt kiều hải ngoại gủi về mỗi năm lên
tới hàng 2,3 tỷ đô-la thì đủ thấy người Việt hải ngoại gắn bó thế nào với quê
hương, đất nước..”(TVT sđd, trg 73)
(ngưng trích)
(còn tiếp)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét