(tiếp
theo)
Chắc chắn phải sinh ra, lớn
lên, bú mớm “sữa” của chủ nghĩa Mác-Lênin mới có nhận xét “gan ruột” như Nguyễn
Khải khi ông hạ bút :
“ Tính hài hước là cái thứ mà
người cộng sản ghét nhất vì nó có thể biến mọi chuyện thiêng liêng thành trò
cười.”
Bởi vậy mọi chuyện tiếu lâm,
chuyện cười trước khi Đảng ra đời thì được coi là “vốn quý
dân tộc” còn ra đời sau khi “đời ta có Đảng” thì bị cấm
đoán, rượt đuổi có khi tù tội như nhà thơ Tuân Nguyễn với hai câu thơ :
“ Tiến lên ta quyết tiến lên
Tiến lên ta gọi cấp trên
bằng…thằng”.
Để nói rõ hơn việc “biến
mọi chuyện thiêng liêng thành trò cười.”, ông giải thích :
“. Học thuyết xã hội đã phải
đội lốt tôn giáo để tồn tại thì mọi thứ thuộc về nó đều là thiêng liêng. Lãnh
tụ thành thần thánh, lời nói bài viết của họ thành kinh bổn, cuộc sống cá nhân
và xã hội của họ đầy ắp những chuyện phi thường. Hình ảnh của Lenin và Stalin,
của Mao Trạch Đông và Kim Nhật Thành và lời nói của các vị ấy bao trùm lên toàn
bộ cuộc sống tinh thần của các quốc gia họ cầm quyền, làm gì, nói gì, nghĩ gì
đều không thoát ra khỏi cái bóng che ấy.. “
Vậy một cách không trực tiếp, Nguyễn Khải nói chủ
nghĩa cộng sản chẳng qua cũng là một thứ tôn giáo vì những lãnh tụ của nó đều
đã thành “thần thánh” như
Lênin, Staline, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành…tất nhiên ông không dám
nói tới Hồ Chí Minh. Và một khi
“chủ nghĩa cộng sản” đã trở thành tôn
giáo thì tội ác của nó ghê gớm hơn tôn giáo nhiều :
“Vì tôn giáo là niềm tin, là
thói quen, là tập quán, là vâng phục, là ở thế giới này chỉ có một chân lý, ngờ
vực nó, đặt quá nhiều câu hỏi về nó chỉ là kẻ phản đồ, phải bị trục xuất khỏi
cộng đồng, phải bị cách ly, bị ngồi tù để tránh mọi sự truyền nhiễm có thể.”
Tức là dưới cái bóng của lãnh
tụ, con người đã bị tan biến thành những giun dế thấp nhỏ và run sợ :
“Bài hát về lãnh tụ trang
nghiêm như thánh ca, người hát có dáng điệu sùng bái như tín đồ. Cái thế giới
cá nhân của các công dân đã bị đốt cháy, đã thành tro bụi và tan biến trong
hương khói của đền đài…”
Trong cái đám quần chúng giun
dế ấy, tội nghiệp nhất là những người trí thức, họ biết trốn vào đâu trong cái biển
mê cuồng và tăm tối đó :
“Trong không khí ngùn ngụt
lửa cháy cùng với tiếng sóng hoan hô khi gần khi xa không lúc nào dứt, vậy
những người làm việc bằng trí tuệ sẽ tìm đâu ra một khoảng trời yên tĩnh và tự
do để suy nghĩ về những công trình một đời của riêng mình..”
Ngay cả khi vạch trần thân
phận trí thức dưới chế độ cộng sản, nhà văn Nguyễn Khải vẫn còn len lét sợ
không dám gọi trực tiếp tên “trí thức” mà phải nhái thành “ những người làm
việc bằng trí tuệ” đủ biết nỗi sợ trong ông vẫn còn dai dẳng biết chừng
nào. Cái yêu cầu phải “nghĩ trong những điều Đảng nghĩ” đối với ông thật nực
cười khi ông dám huỵch toẹt Đảng còn lâu mới hiểu nổi trí thức :
“Người cộng sản sẽ không bao
giờ hiểu được cách làm việc cá nhân, đơn độc, xa rời quần chúng, xa rời các
phong trào cách mạng có tính địa phương của các nhà trí thức thấm đẫm “tư tưởng
tư sản” ấy. Phải cải tạo họ bằng các chuyến đi thực tế, bằng các lớp học chính
trị ngắn hoặc dài ngày, và bằng cả những lần được gặp gỡ thân mật với lãnh tụ
để có thêm lòng tin vào những lý do phải tự phủ định, để khẳng định sự nghiệp
vĩ đại của quần chúng. “
Chính vì không hiểu nổi hoặc
cố tình không hiểu, Đảng đã đề ra những yêu cầu thật quái gở đối với trí thức :
“Phải bỏ hẳn những tư
tưởng triết học và thế giới quan phù hợp với cách nghĩ, cách nhìn, cách đánh
giá của riêng mình, đã được chứng minh qua những trải nghiệm của bản thân để
nhập vào dòng tư tưởng chính thống, cái triết học chính thống, cách nhìn nhận
và đánh giá chính thống, xét cho cùng chả liên quan bao nhiêu tới cái tâm sự
đang ấp ủ, tới những điều cần phải viết, và trên hết, máu thịt hơn hết là những
phát hiện độc đáo của riêng mình trong lịch sử, trong văn hoá, trong nhân sinh.”
Vậy tất cả những gì “khác
biệt” với tư tưởng của Đảng đều phải bị triệt bỏ. Toàn bộ xã hội chỉ duy nhất được phép có một dòng “tư tưởng chính thống, cái triết học
chính thống, cách nhìn nhận và đánh giá chính thống “ mà hồi đương chức ông
Bộ trưởng VHTT Lê Doãn Hợp gọi nó là “lề đường bên phải”. Vậy nhưng nếu chiều
theo Đảng thì trí thức - ông nhà văn đâu
còn là mình ? Nhà văn Nguyễn Khải không dám “chống lại” mà chỉ dám “than vãn” :
“ Mất những cái đó thì còn
sống tiếp làm gì, còn viết tiếp làm gì nên một số đã phải đổi nghề, bỏ nghề
sáng tạo sang nghề cạo giấy, làm một anh công chức hiền lành, mẫu mực, vừa có
quyền vừa có lợi. Cái danh cái lợi cũng có sức quyến rũ người ta lắm, qua nhiều
năm tháng nó đã trở thành ý nghĩa quan trọng nhất để sống, sống với vợ con, với
bạn bè, với xóm làng, với xã hội. “
Đó là một lời than “nhói
lòng” một lời cảnh báo cho an nguy dân tộc khi kẻ sĩ tự chối bỏ vai trò của
mình nhưng lại là một “tiếng đàn gẩy tai trâu “ bên những ông quan văn hoá văn
nghệ của Đảng vừa dốt nát lại vừa vô cảm.
Tuy nhiên không phải văn nghệ
sĩ nào cũng đổi nghề thành “cán bộ cạo giấy”, còn những người không chịu buông
bút vì không thể kiếm sống bằng nghề khác đành cam chịu uốn ngòi bút theo yêu
cầu của Đảng và lắm khi cũng bị đòn vọt trong những vụ án văn chương vì dám “buông
thả mình theo cảm xúc tự nhiên “ mà đi trệch khỏi lề đường bên phải nên bị
trừng phạt khiến tài năng bị thui chột :
“ Còn một số nhỏ vì không làm
nghề gì khác ngoài cái nghề văn chương nên đã đầu quân về các nhà xuất bản,
tuần báo, tạp chí tiếp tục làm nghề nhưng phải viết trong khuôn phép đã quy
định, cũng có đôi lúc đã tự buông thả theo những cảm xúc tự nhiên hoặc bất chợt
bị mê hoặc bởi những hình tượng nghệ thuật quá đẹp đã trở thành những nạn nhân
oan uổng của nhiều vụ án văn tự, nghĩ lại mà tiếc cho nhiều người, mộng mơ
nhiều thì tài năng cũng nhiều đều bị thui chột ngay từ những năm còn trẻ.”
Vậy là mấy chục năm qua, mấy
chục triệu con người Việt Nam phải sống theo một dòng tư
tưởng, đi theo một lề đường bên phải, tuân theo một cách
đánh giá và nhìn nhận và theo nhà văn Nguyễn Khải đó là “một tai hoạ khôn
lường” :
“Trong suốt ba chục năm chiến
tranh, mỗi người Việt Nam đã quên hẳn những nhu cầu vật chất và tinh thần của
riêng mình để được cùng sống như mọi người, cùng cảm nghĩ như mọi người, sống
cùng sống chết cùng chết. Học thuyết Mác và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản
được tôn vinh đến tuyệt đối. Vì số phận cá nhân gắn liền với tập thể với dân
tộc, trùng hợp khít khao với các mục tiêu chính trị của đảng cầm quyền và những
tham vọng của người lãnh đạo. Nhưng cả mấy thế hệ cùng tham gia chiến tranh,
sống trong một môi trường xã hội, chính trị của một đất nước đang có chiến
tranh cũng là một tai hoạ khôn lường. “
Cái tai hoạ khôn
lường đó đã tác hại tới toàn thể dân tộc ra sao. Ta hãy coi nhà văn Nguyễn Khải
phân tích về sự xoá bỏ “cá nhân” trong thời kỳ chiến tranh :
“Trong chiến tranh tập thể
gạt phắt cá thể sang một bên, có thể giẫm đạp lên nó cũng chả mất mát gì, vì
chiến tranh đòi hỏi sự nhất trí, cần sự ra lệnh đúng lúc của một cái đầu chứ không có thời gian bàn luận, sai
đúng có sự tham gia của nhiều cái đầu. Vả lại nếu người lãnh đạo tính toán sai
lập tức sẽ bị đối phương trừng phạt ngay, không sớm tỉnh ngộ thì cả sự nghiệp
có thể bị đổ vỡ. “
Nhưng khi chiến tranh kết
thúc rồi cái “cá nhân” vẫn bị xoá nhoà trong đám đông “quần chúng nhân dân” –
tất nhiên là “ quần chúng cách mạng” của Đảng :
” Đến thời hoà bình thì chỉ
còn dân chúng đối mặt với chính quyền, quyền lợi khác nhau, nguyện vọng khác
nhau, có trăm ngàn thứ khác nhau trong một cộng đồng : dân tộc, tôn giáo, văn
hoá, điều kiện sống… trong một thời gian dài tạm quên đi, tạm gác lại để lo
việc lớn, lúc này nhất loạt trỗi dậy, đòi hỏi và mỗi cá nhân đều thấy cái mình
đòi là quan trọng nhất, bức thiết nhất. Độc lập có rồi, tự do có rồi, vậy cái
hạnh phúc của mỗi chúng tôi nhà nước định quên sao ?
Nhưng để đòi hỏi cái quyền
sống cho cá nhân đó, toàn xã hội đã bị
bịt miệng :
“Nhưng người dân phải tìm ra
cơ hội nào để nói, đến chỗ nào để nói, dùng phương tiện gì để nói. Nói với tổ
chức, với các đoàn thể mình là một hội viên, không ai nghe cả. Nói trên báo chí
không báo nào dám đăng. Viết kế sách, thỉnh nguyện gửi lên các cấp có thẩm
quyền thì chả bao giờ nhận được trả lời. Vậy phải làm gì nhỉ ? Làm loạn không
dám, biểu tình đúng pháp luật cũng chưa có tiền lệ. Người đứng đắn bộc lộ sự
không bằng lòng của mình tại các cuộc họp lập tức bị những kẻ cơ hội trấn áp
tức thì, bị cơ quan an ninh ghi vào sổ đen, thăng chức nên lương từ nay không
thể, chỉ còn đợi ngày về hưu thôi.”
Vậy thì lương tri của dân tộc
sẽ được cất lên từ diễn đàn nào ?
(còn tiếp)

"..Toàn xã hội đã bị bịt miệng..." Ông Nguyễn Khải đã thấy đúng thực trạng của Việt nam hiện nay, tuy rằng đã muộn. Nhưng thế kỷ 21 với những phương tiện thông tin tiên tiến, thế giới trở nên phẳng, thì không thể bịt miệng người dân được nữa. Đã có nhiều cuộc biểu tình, nhiều người viết blog lên tiếng và cũng có tác động đáng kể đến chính quyền, một ngày không xa mọi thứ ràng buộc bất nhân sẽ bị giả tỏa. Cám ơn nhà văn Nhật Tuấn.
Trả lờiXóaNhà văn mà không có tư tưởng, chính kiến và bút pháp riêng thì chỉ là anh "cạo giấy" kiếm ăn.
Trả lờiXóaNhà Văn Nguyễn Khải , đã hoàn thành vai kịch , trước khi viết những dòng văn được trích ở trên
Trả lờiXóa