(tiếp
theo)
VI. Nói thêm về kỹ thuật vắt dòng; và một số câu thơ,
bài thơ “không Tân hình thức” ngắt dòng đặc sắc
Trần Dần đã thấy “mưa rơi không cần phiên dịch”, hẳn thi nhân cũng
đồng tình rằng thơ hay không cần kỹ thuật. Thơ hay vượt lên kỹ thuật. Và trước
khi vượt, thơ phải vòng qua kỹ thuật. Vòng như thế nào là cả một đời thơ. Nhiều
khi hết đời cũng không được như thế. Vô tình hay hữu ý, hệ lụy kỹ thuật đeo
dính bên người làm thơ. Theo mỗi câu rồi mỗi bài, từ mỗi thế hệ tới mỗi khuynh
hướng…
Không vắt dòng, không có Tân hình thức; nhưng ngược
lại “cái áo” vắt dòng không làm nên “thày… Thơ” Tân hình thức. Đã có nhiều lý
giải, tranh biện về kỹ thuật này; nhất là xung quanh các bài của Khế Iêm. Chưa
thấy có bài nghiên cứu dành riêng cho kỹ thuật vắt dòng về nguồn gốc thể loại
và cú pháp, phân tích đặc trưng và minh họa sáng tác. Ở đây, chúng tôi cũng chỉ
điểm qua, kèm ý kiến từ một số nhà phê bình, nhà thơ tiêu biểu, nhằm làm rõ hơn
các phần trên đã đề cập. Sau đó sẽ dẫn ra một số câu thơ, bài thơ từ thơ
không-Tân-hình-thức nhờ ngắt dòng đã trở nên hay một cách lạ lùng; có những câu
vi diệu.
Trở về luật lệ, quy tắc - Tân
hình thức tự chọn gánh nặng “ngàn năm áo mũ”[i] mà
Thơ Mới đã trút bỏ những gì vướng víu bằng cuộc cách mạng thi ca đầu tiên trong
lịch sử văn học Việt Nam kể từ khi có thể loại văn học mang tên thơ. Nhưng thơ
là cuộc đời, là con người. Thơ Mới thực thi được sứ mệnh cũng nhờ công cuộc vận
động cải cách văn hóa và văn minh của toàn thể dân tộc và xã hội Việt Nam đầu
thế kỷ 20 ở buổi giao thời đang vượt thoát văn hóa Bắc thuộc, văn minh Trung
Hoa trong khi chịu phong tỏa của văn hóa Pháp, văn minh Âu châu. Luật tắc Tân hình
thức Việt được sinh ra từ một kỷ nguyên có đời sống vật chất và tinh thần Âu-Mỹ
giữ chủ đạo với đại diện là quốc gia Hoa Kỳ, trong giai đoạn thế giới vừa hết
thế lưỡng cực Chiến tranh Lạnh (1945-1991) và được giao lưu gần như về toàn bộ.
Từ con người, đất sống, chiến tranh… cho đến ngôn ngữ, nghệ thuật, thi ca… Tức
là, kỹ thuật Thơ Tân hình thức Việt thuộc về kỹ-thuật-thời-đại - cái kỹ thuật
đậm ảnh hưởng của tiếng Anh, của nước Mỹ. Theo đúng nghĩa của nó, một kỹ thuật
văn chương có tính toàn cầu phải phủ sóng lên các ngôn ngữ, quốc gia khác. Với
2 yếu tố vắt dòng và lặp lại, kỹ thuật Tân hình thức Việt đã như thế.
Theo
nhiều khảo cứu, thơ tự do như là lần đầu tiên có mặt ở Âu châu từ thời Phục
Hưng (các thế kỷ 14-17), điển hình qua tác phẩm của William Shakespeare (như Hamlet). Người ta cho rằng lối thơ này
coi trọng cách đọc thơ, hay sự sắp xếp theo chiều dọc của trang thơ. Với kỹ
thuật vắt dòng, thể thơ không vần tiếng Anh đã “phá bỏ cách đọc ngừng lại ở
cuối dòng và đọc từ dòng trên vắt xuống dòng dưới theo cú pháp văn phạm, rõ
chữ, và câu liền lạc.”[ii]
Khế
Iêm, như là người lập thuyết và người sáng tác, từng lý giải xuất xứ và ý nghĩa
của kỹ thuật vắt dòng ở Tân hình thức Việt:
“Trong thơ thể luật tiếng Anh, kỹ thuật vắt dòng rất thông dụng, so với kỹ thuật dòng gãy (line break) của thơ tự do. Khi chuyển
qua thơ Việt, kỹ thuật này được định nghĩa như sau: Khi dùng cách vắt
dòng (enjambment) phá đi cách đọc dừng lại ở cuối dòng, người đọc bị thúc đẩy
đi tìm lại phần đã mất (của câu), tốc độ đọc nhanh hơn, và phải đọc bằng mắt.
Điều này gợi tới ý niệm thời gian và không gian trong thơ. Cái phần mất đi ấy
là phần gì, phải chăng là một phần đời sống, của quá khứ hay của tương lai, và
như thế, hiện tại không lẽ chỉ là cái trống không? Nhưng cái trống không ấy lại
chẳng trống không vì những chuyển động không ngừng của cái biết và chưa biết,
đè lấp lên nhau. Thơ bật lên từ sự vặn vẹo và phức tạp của văn phạm và cú pháp
(syntax), tạo thành nhịp điệu và nhạc tính. Điều rõ ràng, bài thơ và tri giác
về nhịp điệu (perception of rhythm) không nằm ở ngôn ngữ (chữ), mà ở nội dung
ngôn ngữ (the content of the language). Nội dung ngôn ngữ chính là những chuyển
động của cảm xúc trong phạm trù văn phạm và cú pháp.”[iii]
Trước
Tân hình thức Việt, kỹ thuật vắt dòng từng đi vào thơ Việt Nam , và theo
Đặng Tiến, “thường gặp trong Thơ Mới, là một kinh nghiệm tiếp thu từ thơ Pháp,
làm nổi bật một từ ngữ, hình ảnh nào đó. Đến Bích Khê (1915-1946) thì lối vắt
dòng trở thành một thi pháp toàn diện, có giá trị thẩm mỹ riêng (dùng chữ ngắt
dòng có lẽ đúng hơn là vắt dòng)”. (Chú
thích 67). Lại có ý kiến cho rằng trong thơ Việt người dùng thủ pháp này
nhiều nhất là Xuân Diệu[iv]?
Với Nguyễn Hưng Quốc, “Thơ Mới và những dòng thơ chịu ảnh hưởng sâu đậm của Thơ
Mới cấu trúc trên sự pha trộn giữa dòng và câu, từ đó làm nảy sinh ra loại câu
bắc cầu (enjambment)
quen thuộc”.[v]
Qua những gì chúng tôi được đọc và còn ít ỏi, Bùi Giáng là
tác giả có nhiều ngắt dòng với những cái ngắt đáng giá. Thơ của Trung niên thi
sĩ thường ngắn, về văn bản vẫn là một bài, còn về nhịp điệu, ngôn ngữ và thi
cảm thì là cả một-bài-thơ-lớn trong đó những cú ngắt dòng đã không làm trầy
trậy văn bản. Nhân đây, cũng muốn lưu ý về 2 bài thơ tự do rất lạ, hy hữu về sự
ngắt dòng toàn thể nhưng dường như ít được dư luận quan tâm. Bài Hơi thở của Thanh Tâm Tuyền và bài Khúc mùa thu của Trần Kiêu Bạt. Hai bài cùng được viết ở miền Nam trước 1975, và dù hơi dài cũng sẽ
được dẫn lại trong phần Phụ lục. Nếu xét từng
thành phần thi pháp (ngôn ngữ, đề tài, nhịp điệu, tính truyện…) và rõ nhất là
hình thức (đều chữ) sẽ thấy ngay cả 2 bài cùng khác rất xa thể Thơ Tân hình
thức. Nhưng cả hai đều đã dùng kỹ thuật ngắt dòng làm thủ pháp. Đó cũng là ví
dụ chính xác để phân biệt ngắt-dòng với vắt-dòng mà
Đặng Tiến gợi ý. Là thơ tự do
không vần, Hơi thở mang cấu trúc cú pháp, hình tượng, cảm xúc
và cả nhạc tính của một bài thơ văn xuôi. Tỷ lệ ngắt dòng cao đến gần 9/10 và
nhiều chỗ khiên cưỡng. Còn ở Khúc
mùa thu sự ngắt dòng tự nhiên hơn, tỷ
lệ ngắt dòng chừng 4/10; về thể loại đó là một bài thơ tự do.
Là người sáng tác trưởng thành
bằng Tân hình thức, Biển Bắc chia sẻ:
“Vắt dòng để phân
biệt với văn xuôi. (…) Kinh nghiệm của chúng tôi khi áp dụng kỹ thuật vắt dòng
và lập lại là phối hợp 2 yếu tố này ở một biên độ rộng hơn. Vắt dòng không chỉ
gò bó ở dòng văn, câu chữ, mà chúng tôi nới rộng ra phía vắt dòng tư tưởng, vắt
dòng cấu truyện, vắt dòng âm thanh/ điệu. Song song chúng tôi dùng kỹ thuật lập
lại để lôi kéo người đọc trở lại với bài thơ. Đặc biệt là nếu phối hợp hai kỹ
thuật này nhuần nhuyễn, chúng ta có thể từ vắt dòng buộc người đọc phải rơi vào
bế tắc trên con đường rồi dùng lập lại, cụm từ giống nhau nhưng ở một ngữ cảnh
khác xô người đọc vào một thế giới khác, tùy theo sự suy diễn của độc giả (…)
Mỗi lần đọc, tùy lúc vắt dòng và tùy theo suy diễn ngữ cảnh của sự lập lại, một
bài thơ lại có thể thành một bài thơ khác với một tính truyện khác ở một góc
đời/ cuộc sống khác.”[vi]
Vắt dòng phải gọi ông này sư
ông: “Sư ông” Bút Tre! Lục bát Bút Tre vót lên một khuôn trời nghệ thuật ngôn
ngữ dân gian Việt Nam thời hiện đại mà chắc là độc nhất vô nhị giữa các nền văn
hóa nhân loại. Đã có nhiều bài vở dài và ngắn, nghiêm túc và tếu táo giải mã
siêu hiện tượng này. Chúng tôi chỉ muốn nhích thêm một điều. Không thuộc vào
loại hình trữ tình, thơ Bút Tre có kỹ thuật phá-dòng vô song với mục tiêu phi
văn chương. Cố ý, cố tình, cố công, cố sức để cưỡng từ, cưỡng vần, cưỡng ý,
cưỡng điệu, bằng mọi giá miễn sao về cảm xúc mang lại tiếng cười vô tư và đáo
để, hồn nhiên và thống khoái. Nếu có chút gì ác ý thì không ác tâm. Đó là nghệ
thuật của cái ác lành! Lành ở chỗ, chỉ nhằm cứu cánh tuyên truyền chính trị,
giải trí mua vui. Phương tiện phá dòng không phá hoại ai, không xuyên tạc gì.
Dân tình và giới có thẩm quyền sẽ miễn trừ hoàn toàn sự biện minh cho nó! Vâng,
nó chỉ phá dòng mà thôi. Vì con người, nghệ thuật đã tự hủy hoại; há chẳng cao
đẹp sao? Thủ pháp phá dòng ở lục bát Bút Tre đạt tới độ siêu-thi-pháp. (Viên
Mai tái sinh hẳn cũng phải chạy vào gia trang bótay.com mà trốn!) Nhưng, nghệ
thuật cú pháp và chức năng thẩm mỹ của nó khác hẳn sự ngắt-dòng, rớt-chữ, gãy-dòng, bắc-cầu ở thơ
vần luật, thơ tự do của các tác giả Thơ Mới và sau này; và tất nhiên hoàn toàn
khác vắt-dòng Tân hình thức. Khi có dịp chúng ta bình kỹ hơn về nghệ thuật
nối-dòng giữa các chi tiết, hình ảnh cười bay nước mắt cười bụm cả miệng của
một luồng thơ dân gian Việt đương đại khi liên hệ với thể thơ kể - nhịp đập đời
thường trong thời hậu hiện đại.
Phụ
lục 5- cống hiến độc giả một hàng châu ngọc xâu chuỗi từ kỹ thuật ngắt dòng/
rớt chữ/ bắc cầu trong thơ vần điệu, tự do của một số tác giả danh tiếng, quen
thuộc: Bùi Giáng, Bích Khê, Xuân Diệu, Du Tử Lê, Trần Lê Nguyễn, Chế Lan Viên, Trần Kiêu Bạt, Ngu Yên, Tế Hanh,
Thanh Tâm Tuyền. Chữ in nghiêng ở các câu thơ là người viết nhanh tay “bật ánh
sáng” báo hiệu sự giao thông của chữ! Khi nào kho quý đẫy đà, sẽ lại cùng nhau
luận bàn về điều hay cái lạ của mỗi loại ánh sáng ấy trong tinh thần Tân hình
thức và tất nhiên cả tinh thần không-Tân-hình-thức.
Ở trên, đã mở ra vắt-dòng bằng hình ảnh mưa và chữ của
một con người “của mưa và của chữ” trong văn chương Việt hiện đại, tôi muốn
khép thao tác thơ Việt mới lạ bằng hình tượng dân gian Việt Nam và cũng ở nhiều
xứ sở trên trái đất: Con quay!
Kỹ thuật vắt dòng như chiếc dây, quấn chặt vòng lấy
con quay (con vụ), ngoéo vào
ngón tay điệu nghệ của những đứa trẻ, vung lên trời, tung thả xuống mặt đất.
Con quay quay, quay mãi dưới bao cặp mắt chiêm ngưỡng, so bì trên nền trái đất
vững vàng. Kỹ thuật ở lại đó, trong bàn tay người. Khi con quay tít mù nó quên
tất cả. Kỹ thuật chỉ còn là một sợi dây mảnh, dai, đẫm mùi vị đất trời, quyện
mồ hôi nước mắt người. Nó chờ. Chờ những vòng quấn tiếp, vào con quay đó hay
con quay khác đang chờ nó… Nhịp chảy Tân hình thức là thế. Bạn quay đảo trước
những dòng chữ bất định, bất yên. Và bạn luôn phải hồi hộp liếc nhanh xuống
đoạn cuối bài thơ, chờ khi toàn bài thơ chao chao, nghiêng ngả rồi đổ vật ra ở
câu cuối cùng; mà nhiều khi ở vài chữ cuối cùng trơ trọi trong dòng thơ phá
luật đếm chữ. Tôi thấy nhiều bài Tân hình thức Việt đã có thủ thuật đổ vật
xuống lòng người đọc khi biết chọn những chữ thơ cuối cùng phá luật.
Hứng tình vắt dòng tứ con quay, bỉ nhân liều mình giỡn
chơi Tản Đà tiên sinh: chuyển bài Kiếp con quay thất ngôn bát cú Việt ra thể Tân hình thức 5 chữ! Thưa Cụ, con khoái nhất là ngả
được thi phẩm của bậc sư biểu thơ Việt tiền hiện đại lăn ra trong gọn một chữ
“ngày”, chữ thơ cuối cùng phá luật của Tân hình thức Việt. Kính tiên sinh hạ cố
xuống coi Phụ lục 6-.
… Rồi lên ta vắt dòng nhau
Vắt cho dòng ấy vào sâu dòng
này…[vii]
Những khi nghĩ về Tân hình thức, hãy cám ơn Tạo hóa đã
cho các xứ dân vùng đất, trong đó có dân Việt đất Việt, thấu hiểu luật con quay
của đời, điệu quay của thi ca.
VII. Tạm kết
Hôm nay, Tân hình thức Việt
cho chúng ta tụ hội.
Với bản thân, mỗi khi dân văn
thơ tụ tập, chỉ cần quá hai cái đầu, diện đàm hay qua tham luận, tôi lại thấy
những con sóng nổi lên từ bài thơ Đêm
liên hoan[viii]:
“Đêm Liên Hoan! Trời ơi, đêm
Liên Hoan!
Đầu người nhấp nhô như sóng bể
ngang tàng
Ta muốn thét như vỡ toang lồng
ngực…”
Gần 20 năm trước… Những câu
thơ ấy, lần đầu tiên trong đời tôi nghe được từ nhà văn Nguyễn Đức Lập diễn
ngâm vào một buổi chiều tà văn nghệ sĩ hải ngoại tụ lại từ khắp nơi.
Hôm nay, non sông Việt đã ra
khỏi từ lâu cảnh binh lửa như thời Hoàng Cầm kháng Pháp. Trên hành tinh này,
thi ca thời chiến, cũng như mọi thành viên lâm trận, có công tội của mình.
Nhưng thi ca thời bình, chỉ có thể có công mà thôi. Thơ Tân hình thức Việt,
ngoài đóng góp nghệ thuật, thuộc về thi-ca-thời-bình - thơ của thời con người
phải không còn biên giới giao tranh. Mà giao lưu.
Bài tiểu trường ca trong thể
thơ tự do theo phong cách tự sự xen đối thoại được kết ở lời hẹn mà Hội thảo
này cũng là ước nguyện của tiền nhân:
“Bao giờ thu lại tới thu
Liên Hoan bừng nở bốn mùa Non Sông!”
Nhịp
điệu lục bát sóng nước Việt uyển chuyển không biết đâu đầu cuối, quấn quít bất
kể âm dương. Với tôi, Thơ Tân hình thức Việt cũng là sóng. Là lời người nọ nối
tình người kia, là kiểu thơ này nối cách ca khác. Nối mãi. Đổ ra sông biển và
trôi về núi non. Là các nhà thơ Việt ra đi, và mang thơ trở về…
Để
kết thúc, mời trở lại sáng tác mở đường Những nụ hồng của máu của Nguyễn Đăng Thường. Tác giả từng
kể với Ban biên tập Tạp chí Thơ: “Bài thơ khá dài (dòng) vì tôi rất mong muốn
với vài ba người nó sẽ là một thứ ‘Chanson du Mal Aimé’, hoặc ‘Giây phút chạnh
lòng’ hay ‘Le condamné à mort’ của một thời kỳ/ thời đại nhiễu nhương. Những
nụ hồng của máu là một ca khúc đầy ‘âm thanh và cuồng nộ’; là thơ
tình, thơ lãng mạn, thơ hài, thơ châm, thơ hiện thực/ siêu thực, thơ hạng nhất,
thơ hạng bét hay không thơ (tùy người đọc); là tiểu thuyết ba xu, là soap
opera, là film noir, cải lương, hát bộ, TV, phim thời sự; là một tranh cắt dán
hằm bà lằng, hay đầy nghệ thuật (tùy vào người xem) với những cóp nhặt từ đông
tây kim cổ.”[ix]
Giá
trị nữa là khi “Nguyễn Đăng Thường vô hình trung đã đưa ra một định nghĩa linh
động và cụ thể về Thơ Tân hình thức, mà anh không ngờ tới. Ngoài ra Tân hình
thức không cắt đứt với truyền thống, ngược lại còn đa mang, hỗn mang hằm bà lằng
quá khứ”. (Đặng Tiến, Chú thích 67).
Kẻ
viết bài này không được là phê bình gia nhà nghề. (Chú thích 64). Bài với cả tá trọng điểm “đa mang, hỗn mang hằm bà
lằng” hẳn sẽ bị chê, âu cũng là… “tội” - gần thì của Ban tổ chức đã “kêu gọi
các tham luận xa gần, không có giới hạn về dung lượng và góc nhìn khen chê, nếu
có hứng thú”, “chấp nhận tất cả các ý kiến khác nhau về Thơ Tân hình thức và
Tân hình thức Việt từ khi xuất hiện đến nay”; xa là từ 3 thi hữu: 2 đàn anh và
1 bạn. Tôi lãnh chịu “vạ”. Còn như may được khen chút gì cũng nhường Ban tổ
chức (trong đó có Khế Iêm thi sĩ kiêm lý thuyết gia phất cờ) và 3 vị - người là
tiên phong trong hàng ngũ sáng tác và bảo vệ Tân hình thức Việt; người là nhà
phê bình có uy tín hy hữu sánh bút cùng giới sáng tác Tân hình thức Việt; và
người là thi sĩ kiêm phê bình gia, dịch giả không-Tân-hình-thức Chân Phương.
Họ, tất cả, đã gom tay khêu lửa dựng trại nổi gió bão cho tôi tân hình thức dù
nhúm thơ tôi làm không đáng nửa mồi củi bụi, và nay đang thử thêm một “linh
động và cụ thể” trong phê bình Thơ Tân hình thức Việt.
Kể
sao hết được…*)
Đỗ Quyên
-------------
*) Một phiên bản rút gọn
của Tham luận này đã in trong tuyển tập “Thơ Tân hình thức Việt - Tiếp nhận và
sáng tạo”; Kỷ yếu Hội thảo, Tạp chí Sông Hương (Huế), 450 trang, xuất bản tháng
8/2014.
Bài viết như
nén hương xa viếng tặng bạn văn Đà Linh.
[i] Tên cuốn sách đang được dư luận đánh giá cao của Trần
Quang Đức, Nxb Thế giới 2013, dựng lại lịch sử trang phục Việt Nam
1009-1945 trong cung đình và ngoài dân chúng.
[ii] Thơ Việt Nam,
wikipedia.org.
[iii] Chú thích 23; và Khế Iêm, Tân
hình thức, Tứ Khúc và những tiểu luận khác, ebook trên thotanhinhthuc.org.
[iv] Qua hàng - vắt dòng,
bloggoldmund.blogspot.ca 24/8/2012 .
[v] Chú thích 3: 26
Nhà thơ Việt Nam
đương đại, Nguyễn Hưng Quốc, Lời nói đầu, tr. 18.
[vi] Nguyễn Hiền, Biển
Bắc nhận giải Thơ Tân hình thức 2007, caidinh.com 2012.
[vii] Lại mượn tiền nhân làm
nguồn thơ: “Cụ hâm rượu nữa đi thôi/ Be này chừng sắp cạn rồi còn đâu/ Rồi lên ta uống với nhau/ Rót đau lòng ấy
vào đau lòng này.” (Uống rượu; Trần Huyền Trân; Xem thêm: Vũ Bình Lục, Trần
Huyền Trân uống rượu với Tản Đà, trannhuong.com 12/3/2012 .
[viii] Hoàng Cầm, Đêm liên hoan, 1947, tập Những
bài thơ lẻ; và thivien.net 28/6/2005 .
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét