Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 12 tháng 7, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ 60)



                       
                                                                   (tiếp theo)

Nhân vật trong Xung kích  của Nguyễn Đình Thi đều có mẫu số chung là căm thù giặc Pháp, dũng cảm chiến đấu, tình cảm riêng tư hầu như số không và đời sống tính dục hoàn toàn bị loại bỏ . Cứ như bao nhiêu nhân vật đàn ông dũng mãnh trong truyện đều bị “thiến bỏ” hết phần “bản năng tính dục” , khiến họ toàn tâm toàn ý tập trung giết quân thù.
Gía trị của “Xung kích” không nằm ở văn chương, không nằm trong phản ánh thân phận con người trong chiến tranh, mà  chính là đã nêu được một hình mẫu tổ chức quân đội, từ chế độ chính trị viên toàn trị cho tới các tổ 3 người kiểm soát lẫn nhau, từ cung cách quản lý tư tưởng cho tới quản lý sinh hoạt …tất thảy đều nhằm biến một đơn vị quân đội trở thành một cỗ máy chỉ biết xông lên chém giết quân thù.
Và phải chăng cái “sức mạnh quân đội  đã làm nên nhiều chiến thắng thần kỳ” như người  ta vẫn ca ngợi là do sự tinh vi về tổ chức, sự hà khắc về tư tưởng và sự tiêu diệt mọi màu sắc cá nhân. Bởi thế, cái hình mẫu tổ chức quân đội đó chẳng nơi nào trên trái đất  này có được, nó chỉ thực hiện được ở các nước cộng sản.
Trong sự nghiệp văn chương NĐT, những “Nhận đường”, “ Anh hùng cứ điểm”, “ Xung kích”  chỉ là những phác hoạ chân dung để sau này ông viết nên một pho tiểu thuyết đồ sộ : Vỡ bờ  1 dầy 500 trang , Vỡ bờ 2  trên 700 trang.
Như cái tên của nó, NĐT muốn dựng lại cả một thời kỳ lịch sử vào lúc dân Việt Nam dường như không chịu nổi ách áp bức của cả Pháp và Nhật nên đã “tức nước vỡ bờ”, bung ra làm cách mạng.
Xoay quanh nhiều nhân vật trí thức, “Vỡ bờ” dường như muốn tìm cách trả lời câu hỏi vì sao đại đa số trí thức Việt Nam đi theo cộng sản làm cách mạng ?  Cho tới tận bây giờ, vấn đề này vẫn được nhiều người quan tâm và vẫn chưa được trả lời một cách thoả đáng, liệu  Nguyễn Đình  Thi qua bộ trường thiên tiểu thuyết này có đóng góp gì hơn ?
Mở đầu thiên tiểu thuyết, NĐT cho “ra tuồng” cùng lúc hai nhân vật  trí thức tham gia cách mạng.
Một là Hội, có vợ con ở làng Chẩm , lên Hà Nội dạy học. Hội của  NĐT gợi đến khá rõ nhân vật Thứ trong “Sống mòn”  của Nam Cao chỉ khác Hội đã tìm được tới cách mạng còn Thứ thì chưa .
Thứ hai là Khắc, con trai cụ tú Nguyễn Mai, hoạt động Đông Kinh Nghĩa Thục và bị bắt đầy đi Côn Lôn rồi chết  ở ngoài đảo. Cụ Tú mất đi nhưng truyền lại được cái chí của mình cho con : “Năm ba mươi , Khác bị bắt về tội cộng sản, Toà đề hình xử án 20 năm tù và Khắc cũng lại đi Côn Đảo…đến hồi  chính  phủ bình dân Pháp lên , Khắc được tha về nhưng hai lá phổi của anh đã bị vi trùng lao đục ruỗng…”.
Từ Hà Nội về làng chuyến này, Hội có trách nhiệm báo động cho Khắc đi trốn  vì sắp có đợt khủng bố mới. Hai trí thức cách mạng gặp nhau, tất nhiên chuyện “cách mạng” phải nở như bắp rang.
“Khắc nhận định  :
“ Bây giờ không phải lúc Mặt trận Bình dân cầm quyền bên Pháp nữa. Chiến tranh đã nổ ra. Từ nay đã sang một thời kỳ khác rồi…”
Rồi ông chính trị phạm Khắc giải thích cho anh thanh niên Hội, cách mạng tay mơ vì sao “ông Xtalin lại bắt tay ông Hitle” để ký hoà ước Xô- Đức, vạch mặt bọn  trôtskit ở Hà Nội nhân vụ này đã la to :” vĩnh biệt Mạc Tư Khoa”…
Công tác giáo dục chính trị tư tưởng của Khắc tỏ ra rất hiệu quả, Hội nghe xong nắm cánh tay Khắc :
“Cứ nghe anh, tôi lại thấy vui một tý , tôi lại muốn vật lộn, xem cái xã hội này xoay vần đến đâu . Chứ còn nhìn vào sự thật hàng ngày thì lắm lúc tôi chỉ muốn buông xuôi hết. Dân mình không biết bao giờ mới cách mạng được . Cái nọc độc nô lệ nó đã ăn quá sâu vào xương tuỷ chúng ta rồi…”
Tất nhiên, Hội được Khắc đả thông ngay :
“ Anh nói thế không đúng đâu. Tôi thì tôi cho rằng anh vẫn chưa thực thấy cách mạng  là cần thiết. Đến lúc thực không thể sống thế này được nữa , thì anh sẽ có gan và có sức mạnh…”
Nhưng rồi Hội cũng thấy ngay dự định của anh thật viển vông, cách mạng đòi hỏi phải lao vào hoạt động không ngại tù đầy bắt bớ, phải đặt nhiệm vụ tổ chức giao cho cao hơn là việc kiếm tiền nuôi vợ con. Đó là một tương lai rất khó khăn đối với Hội, bởi lẽ anh là người nhút nhát, mật vụ mới chỉ lùng sục bắt bớ trên Hà Nội, anh đã mang bao nhiêu báo chí bí mật của cách mạng  “nhờ cụ vua bếp giải thoát đi cho…”
Đối lập với trí thức cách mạng là tầng lớp “thượng lưu quý tộc”  những năm 1940-1945 được Nguyễn Đình Thi mô tả khác xa so với  các nhà văn cùng thời  như nhóm Tự lực văn đoàn, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan…
Trước hết, Nghị Khanh là một tên đại địa chủ gian ác  “ngày nào , ngoài cổng nhà Hai Khanh cũng có hàng dẫy người chầu chực xin vào gặp quan chủ để vay mượn, cầm cố. “Quan” cứ trông giỏ bỏ thóc, nhằm nhà nào có mảnh ruộng miếng đất mới bỏ tiền cho vay, với lãi cắt cổ. Qua vài vụ thì ruộng đã về tay quan…”.
Vợ Hai Khanh được ông nhà văn mô tả :
” cặp mắt bà Nghị mở ra trắng dã …một làn phấn mỏng làm cho  nước da đen và dày bì bì của bà thành một màu khó tả. Mỗi khi bà nghị chú ý nhìn ai, hai con mắt long sòng sọc ấy như muốn nuốt chửng người ta …”
Hai vợ chồng Nghị Khanh cho anh nông dân Bào cấy rẽ  có mẫu hai lại ăn gian thành mẫu rưỡi và ông nhà văn ra sức bôi đen gương mặt giới điền chủ :
“ Anh Bảo cố nén uất ức :
“ Bẩm bà lớn nhà con cấy có mẫu hai thôi ạ…
Mụ nghị như chồm lên trên cái bàn giấy :
“ Tiên nhân bố mày, bà thèm ăn không của mày mấy thùng thóc à …”
…Anh Bảo tức đầy ruột đâm liều :
“ Bà lớn ức tôi quá. Tôi cày ruộng nộp đủ thuế thì thôi…’
Nghị Khanh vừa ở nhà trên đi xuống. Cặp môi mỏng và đỏ tía của lão mím lại dưới hàng ria đen. Lão cầm ba toong  bằng song quất thẳng vào mặt anh Bào đánh chát một tiếng.
“ Đồ khốn nạn. Ai cho mày đến đây làm loạn. Anh Long đứng đấy làm gì , sao để nó láo với bà lớn ? Giần xác nó ra …”
Vậy là anh nông dân đã bị “địa chủ, phong kiến”  bóp cổ lè lưỡi đến gần chết, phải vùng dậy đi theo Đảng làm cách mạng thôi.
Bám vào cái chủ đề “ vỡ bờ” đã được đặt trước cho cuốn sách , ông Nguyễn Đình Thi  phải ra sức “ép” cho “tức nước” nghĩa là phải mô tả “thằng địa chủ, thằng tư sản” phải thật xấu xa, thật độc ác , người nông dân phải thật nghèo khó, thật khổ sở , và rồi ách áp bức của “tư sản, địa chủ” choàng lên  đầu lên cổ nông dân đã khắc nghiệt tới mức họ không chịu nổi và Đảng đã phát động họ vùng dậy làm cách mạng tháng Tám.
Vậy là khi bỏ công sức ra viết cả ngàn trang tiểu thuyết “Vỡ bờ”, Nguyễn Đình  Thi không làm cái công việc ghi chép một cách chân thực diện mạo xã hội -  thiên chức của người cầm bút, “người thư ký thời đại” mà lại  nhào nặn đời sống để  minh hoạ cho những nhận định của Đảng về sự tất yếu phải nổ ra cuộc “cách mạng dân tộc, dân chủ” do Đảng lãnh đạo.

                        (còn tiếp)

Thứ Tư, 11 tháng 7, 2012

MIỀN..."CỤP LẠC" (KỲ 16)


                                     (tiếp theo)

Quả thực chưa bao giờ gã được ăn thứ cháo thơm ngon đến thế, gạo nhuyễn ra không còn hạt, thịt gà mềm nhừ,  ngọt tê lưỡi, hẳn Tố Oanh đã trổ hết tài nghệ nấu nướng cho gã.
Tên giả hành khất cười nhăn  nhở :
“ Có ngon bằng bát cháo Thị Nở nấu cho Chí Phèo không ? “
Gã gật đầu thú nhận :
“ Cháo ngon thật, ăn đứt mấy thằng ba tàu.”
“ Nàng trả  nghĩa cậu đấy. Yếu thận như tớ đến khoai lang nàng cũng chẳng thèm luộc cho ăn.”
  Lạ thay, hắn nói hài hước vui vẻ chứ chẳng hề ghen tuông, cay cú. Hay cái chuyện làm tình trong giấc ngủ là bịa. Chịu chẳng còn hơi sức đâu nghĩ  nưã, chỉ mong thằng giả hành khất cút xéo cho gã đóng chặt cửa, leo lên giường làm giấc nữa.
“ Đêm qua cậu có nghe thấy ở nhà dưới có tiếng động gì không ? “
“ Cái gì? Ông nói cái gì ? “
 Gã kinh hoảng nhìn thằng giả hành khất, khuôn mặt hắn to bè ra, mép mọc đầy râu y hệt mặt ông cảnh sát, trời ơi, hay là…  hay là chính lão ta đóng giả để điều tra gã ?
Gã cuống lên, hấp tấp xỏ mãi đôi chân vào dép không nổi, đành cầm lên, len lén bước ra cửa.
Tên giả hành khất trố mắt quát to:
“ Đi đâu ? Cậu định đi đâu ?”
“ Tôi…  tôi ra phố… mua thuốc lá.”
“ Thuốc lá còn cả đống trên bàn, sao phải mua. Cậu làm sao cứ như lên cơn động kinh thế ? Quay lại !”
Hắn nhảy tới, lôi tay gã lại, co kéo mãi làm cả hai ngã lăn trên sàn. Gã run lên trong ý nghĩ có thể hắn bóp chết nếu gã cưỡng lời hắn , đành để mặc hắn xách lên lủng lẳng như một con mèo quẳng lên giường.
“ Nằm yên đó, hắn ra lệnh, tớ chỉ hỏi đêm qua cậu có nghe thấy tiếng động nào dưới nhà không, đơn giản vậy thôi, sao hoảng kinh lên thế ?”
“ Tôi không…  tôi không… “
 Gã lắp bắp cố nghĩ xem có nên kể hắn nghe giấc mơ ân ái với nàng Emily và bị nàng bắn một phát súng vào ngực trả giá cho một đêm vui ? Và tiếng nổ đó không biết chỉ trong mơ hay có thực dưới nhà ?
 Tuy nhiên, cứ theo kinh nghiệm làm việc với ông cảnh sát, chỉ nên  trả lời những điều thật rõ ràng, chính xác, cụ thể, bởi vậy gã lắc đầu quày quạy.
“ Không, không, tôi ngủ một mạch tới sáng chẳng nghe thấy gì hết.”
“ Tốt , vậy rất tốt, bất kỳ ai hỏi cậu cứ trả lời như thế là tốt nhất.”
Hắn nháy nháy gã đầy riễu cợt và gã cảm thấy hình như hắn đang che giấu nó. Vậy nhất định hắn không thể là người của cảnh sát được, cảnh sát  bao giờ cũng truy đến cùng những điều gã chỉ mới hé lộ, chứ chẳng như tên giả  hành khất này dạy cho người ta cả cách trả lời. Gã thấy yên tâm hẳn, vui vẻ đốt một điếu thuốc, ngon lành nhả khói:
“ Tất nhiên tôi chẳng nghe thấy gì thì ai hỏi tôi cũng trả lời thế thôi. Nhưng sao bỗng dưng cậu hỏi chuyện đó, có liên quan gì đến cậu không ?  “
Gã chối biến và lảng chuyện như để xoá khỏi đầu hắn cái điều đã hỏi vừa nãy. Không, gã nhầm rồi, gã cứ tưởng những câu chuyện lăng nhăng về tử vi với bói bài sẽ làm gã không nhận  ra một điều  rất nghiêm trọng là cả lão cảnh sát lẫn gã giả hành khất đều quan tâm tới tiếng động nhà dưới vào lúc đêm khuya.
Nhất định giữa hai người phải có một mối liên hệ nào đấy.  Nó là cái gì ?
“ Cậu nhức đầu sao cứ bóp trán nhăn nhó thế ? “
 Câu hỏi bất chợt của hắn làm làm gã giật mình. Gã cười gượng : 
“Tôi đang nghĩ tới những điều Tố Oanh bói mà buồn quá.  Đời mình vứt đi rồi…”
Hắn bật cười :
“ Nàng bói sao ? “
 Hoá ra những điều Tố Oanh nói về gã hãy còn nguyên trong đầu chẳng mất đi tý nào sau giấc ngủ mê mệt. Gã đọc vanh vách :
“ Số ta phải ráng giữ gìn,  Phạm vào nơi chốn tội tình tù lao…”
Tên giả hành khất cau mày :
“ Lạ thực, lành hiền, cóm róm như cậu sao tù tội ? Cậu nói ngày sinh tháng đẻ có đúng không ? “
“ Tôi chỉ nhớ được năm sinh thôi. Cô ta còn đoán tôi đoản mệnh, chết bất đắc kỳ tử vì sông nước nữa kia…”
Tên giả hành khất vỗ đét vào đùi :
“ Đến thế thì không tưởng tượng được. Suốt ngày ru rú trên cái ổ chuột giữa thành phố lấy đâu ra sông nước. Nhưng nói vậy cậu cũng phải giữ gìn.”
“ Không hiểu cô ta bói vậy có đúng không ?”
Tên giả hành khất trợn mắt :
“ Sao không đúng ?  Có phải cô ấy bói đâu, tớ đã nói rồi, thần linh trong người cô ấy mách bảo đấy.”
 Gã tái mặt :
“ Vậy không cưỡng được số sao ?”
“  Đã gọi số mệnh cưỡng sao được, chỉ làm giảm bớt xui xẻo đi thôi. “
“À quên, Tố Oanh dặn cậu không được mặc đồ màu sáng, ra đường gặp máu me phải quay lại ngay, nó là điềm báo tai nạn đấy.”
 Gã hoảng sợ nghĩ tới lâu nay toàn mặc áo trắng ra phố và rồi có lần nhìn thấy tai nạn xe hơi, mặc dù nạn  nhân được xe cứu thương đưa đi, nhưng trên đường còn đọng một vũng máu tươi, ấy thế mà chẳng biết kiêng cữ quay về, cứ đi biệt suốt ngày hôm ấy.
 Phải chăng chính vì vậy tháng này gã xui xẻo quá, nào dính dáng cảnh sát, nào Nhà xuất bản huỷ hợp đồng dịch, liệu còn gì nữa không ?
Gã thở dài , buồn rầu :
“ Giá cậu đưa Tố Oanh đến bói từ mấy tháng trước thì hay quá.”
Tên giả hành khất nhìn gã ngẩn ngơ, bật cười.
“ Nhất ẩm nhất trắc giai do tiền định, cậu đừng có tiếc, từng miếng ăn miếng uống của ta đều do trời định trước . Cơ duyên giữa cậu và Tố Oanh có từ lâu, nhưng cái số cô cậu mãi giờ mới gặp  được nhau. Không thể sớm hơn và cũng không muộn hơn . Cậu có tin thế không ? “
 Gã không trả lời, cất giọng ngâm khe khẽ: 
“ Một dời thứ nhất lo toan,
 Không lìa thì thác, hai dòng lệ đau…
Câu thơ này thất vận cậu ạ !…”
Tên giả hành khất đập vai gã, cười sằng sặc :
“  Đã nhận coi tử vi còn bắt bẻ câu chữ. Cậu chú ý tới cái nghĩa của nó thôi, còn vần vèo là cái chó gì ?”
“ Đã là thần linh thì không được phép sai, ngay cả niêm luật nữa. Vậy người ta mới tin chớ.”
 Gã cãi lại yếu ớt vậy thôi, và cũng dừng ở đó không dám ngờ vực những lời phán bảo của thần linh qua miệng Tố Oanh.
Tên giả hành khất đưa mắt nhìn quanh phòng,  chép miệng:
“ Cô nàng bảo tớ sai lầm lớn nhất của cậu là nơi ở không có lấy cái trang thờ. “
 Gã trố mắt :
“Trang thờ ?”
“ Đúng, phòng cậu quanh năm không chút hương khói là không được, ma quỷ sẽ đến ở cùng cậu.”
“ Nhưng tôi biết thờ cái gì? “
Tên  gỉa hành khất trợn mắt:
“ Ong bà ông vải, bố mẹ, tổ tiên. Không lẽ cậu đứt dây từ trên trời rơi xuống, từ kẽ đá chui ra?”
 Gã ngẩn người, buông một tiếng thở dài :
“ Ừ nhỉ, bao năm tôi chẳng nghĩ ra  chuyện đó. Khổ nổi không có ảnh nào của các vị đó cả. “
“ Không có cũng được, chỉ cần bát hương , mấy chén nước, lọ hoa là đủ rồi. Tố Oanh dặn nếu cậu không lập trang thờ nó sẽ không đặt chân tới đây nữa đâu.”
 Gã rầu  rĩ gật đầu và để mặc tên giả hành khất ba hoa về thế giới thần linh, gã buông thả cho tâm tưởng bay chập chờn trong đám sương mù ký ức.
Tệ thật, tệ thật, mình không sao nhớ được khuôn mặt ông bố, bà mẹ, xa xăm quá rồi, loáng thoáng chỉ còn một người đàn ông và một người đàn bà bế đứa bé đi dọc dãy phố tối, trò chuyện vui vẻ.
“ Ta phải đẻ thêm đứa con gái nữa mình ạ”.
 Đúng rồi, mẹ mình đã nói như thế và lúc đó mình cứ gục đầu trên vai áo len đan kiểu cuốn thừng của bà nhai kẹo. Lạ nhỉ, bao nhiêu năm rồi sao bỗng dưng nhớ được câu nói của bà ấy rành rõ đến thế ?
Nhưng khuôn mặt thì không sao hình dung được. Tuy nhiên tưởng tượng của gã không quen đọng lại một nơi tắc tị, nó quành sang ngả khác và lập tức gã nhận ra không  phải mẹ mà là  gương mặt tươi rói của nàng Emily ngoài đời.
Không, đừng nên quên sáng nay tập thể dục xong, nàng đã hôn gã dẫu rằng chỉ hôn gió. Đương nhiên đó không phải một hành động vô căn, không, nó là một tín hiệu, một tín hiệu của tình yêu. Chứ còn gì nữa, nàng yêu gã  thực rồi, hẳn lúc này nàng đang nghĩ tới nên gã mới bồi hồi, xôi gan, sốt tiết  thế này. Trời ơi, phải làm gì, phải làm một cái gì chứ ?
Gã vùng vẫy như con thú bị trói, bừng bừng, choáng váng trong thôi thúc kỳ lạ và rồi từ miệng gã bỗng bật ra :
“ Háp háp háp.
 Sắp tan sắp tan sắp tan.
Cồn xa mờ láng váng chân mây.
Chốt giật tung, xoả tóc …” *
và khi gã nhào tới bàn vồ lấy giấy bút, bàn tay tên giả hành khất chụp lấy gã :
“ Cậu làm gì thế ?”
 Gã đẩy bật hắn ngã lăn kềnh trên mặt sàn với sức mạnh gấp đôi ngày thường mà không hề biết, chỉ cúi xuống tờ giấy, vội vã viết dòng chữ nghuệch ngoạc, lên xuống, run rẩy như gã.
Tên giả hành khất lồm cồm bò dậy, hoảng hồn vì sức mạnh kỳ lạ của thằng cha loẻo khoẻo ắn mới xách lên giường như xách một con mèo. Hắn không dám động tới gã nữa, ngồi im giương cặp mắt thao láo chờ gã viết xong, quăng bút, mới cất tiếng hỏi :
“ Cậu viết gì thế  ? “
 Gã quay lại và có vẻ đã nhận ra hắn , gã nở một nụ cười tươi rói :
“Tớ ghi lại câu thơ vừa làm…
Tên giả hành khất giằng mảnh giấy trong tay gã chăm chú đọc từng chữ  kêu to :
“ Đây mà là thơ ấy à ?”
“Chứ sao ? “
“Thần chú thì đúng hơn, ông  thi sĩ điên ạ. Cậu đã thấy phù thửy bắt quyết, yểm bùa chưa ? Nó cũng đọc những câu giông giống thế này…”

                      (còn tiếp)

“ mượn thơ Hoàng Hưng

Thứ Ba, 10 tháng 7, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ 59)



                              
                 Hai nhà văn Tô Hoài và Nguyễn Đình Thi
                                     
                                      (tiếp theo)

Ở đại đội,  “thủ trưởng quân sự “ tức đại đội trưởng vẫn dưới quyền “thủ trưởng chính trị” tức chính trị viên kiêm bí thư chi bộ. Đánh đấm ra sao, tư tưởng thế nào, tuốt tuột thuộc quyền “quản lý” và quyết định của anh chính trị viên. Bởi thế nhân vật quan trọng nhất trong “Xung kích “ của Nguyễn Đình Thi lại là anh chính trị viên tên Sản (chắc gợi từ “cộng Sản”).
Sản “nắm” cán bộ chiến sĩ,  “nắm” chủ trương chiến dịch, chiến thuật, “nắm” lương thảo, vũ khí, “nắm” địa phương nơi đóng quân… Để thực hiện  chế độ ‘toàn trị’ của Đảng trong quân đội, Sản phải nắm đủ thứ trên đời. Chính vì vậy trong lưng Sản lúc nào cũng kè kè cuốn sổ ghi chép và họp hành liên miên :
“ Mới mờ sáng, tới vị trí trú quân, Sản đã triệu tập các chi uỷ viên tới hội ý….”.
Hiền, một anh đại đội phó tố cáo :
“Tôi xin nhắc đồng chí bí thư vấn đề tiểu đội trưởng Tá…Càng về gần dưới này , tinh thần càng xuống. Anh ta có lúc nhắc tới chuyện giải ngũ…”
Sản cúi ghi trên sổ tay “ Chú ý công tác cậu Tá…”
Người bị tố cáo phải vào sổ đã đành, ngay cả người đứng ra tố cáo cũng không thoát :
“Sản nghĩ :”Đồng chí Hiền cũng cần được theo dõi và giúp đỡ hơn nữa. Còn hay dễ làm khó bỏ…”
Có người nhắc :
“Đồng chí bí thư chưa bàn vấn đề tiền ăn…”
Sản bỏ bút nhìn lên :
“ Tôi ghi cả đây. Giải quyết sau. Bây giờ tôi nhắc các đồng chí mấy điểm…Phải chuẩn bị ngay tinh thần cho bộ đội. Mọi việc phải gấp gáp lên. Còn vấn đề bí mật…nhiều cậu phất phơ ngoài chỗ trú quân, diện quần áo Mỹ giữa ban ngày, mua bán lung tung..Ngay cán bộ cũng coi thường bí mật. Đồng chí Hiền sao không nguỵ trang ? Đồng chí muốn bộ đội ăn bom dây à ? Các đồng chí phải về họp tổ mà chấn chỉnh ngay đi…”
Cứ vậy, cái gì Sản cũng phải ghi, phải để mắt tới và phải huấn thị  quần chúng mới tròn nhiệm vụ chính trị viên .
“ Sản ngồi với cuốn sổ tay đặt giữa đầu gối. Hai vai anh cúi ép xuống lồng ngực. Những con số, những dòng chữ đầy mãi trang giấy…”
Một chị cán bộ mới gặp thoáng trên đường cũng đã phải nhận xét về chính trị viên Sản :
“ Ông này chắc bộ đội khó giấu được ông ấy cái gì ?”
Giấu sao được, giấu là chết. Ngoài chuyện ghi chép tỉ mỉ, dọc đường hành quân, Sản còn phải tranh thủ giáo dục tinh thần cách mạng thường trực cho bộ đội :
“ Anh chính trị viên giơ cái ống tay áo cụt chỉ những đồi cỏ lau rậm rạp dưới ánh trăng, nói với mấy anh cán bộ trung đội :
“ Vùng này là chỗ “căng” ngày xưa Pháp đem đầy các đồng chí mình đây…”
Khi ra trận, Sản phải lo sao cho bộ đội người nào cũng  “có thư Bác cài trên mũ”, phải dặn dò đủ thứ :
“ Các đồng chí xông lên đồn còn là dễ, mà làm thế nào đủ điều kiện xông lên đồn mới là khó. Phải chú ý từ cái quai dép dây giày, túi cơm, cái giẻ lau, cái hộp mỡ, từ cái nan tre làm thang…”
phải nêu cao tinh thần “quyết đánh” cho bộ đội, dù có thiếu đạn dược vẫn cứ  đánh :
“ Phải làm cho tất cả anh em trong đại đội có tinh thần như  chúng ta (đảng viên.) . Là vì sẽ gay go, mệt, đói, vội, có thể thiếu cả vũ khí. Không biết chừng không kịp có bộc phá. Không có, vẫn phải đánh được.Không kịp nghiên cứu kỹ sa bàn, cũng phải đánh được…”
Vậy là cứ có ý chí là đánh được tuốt, người lính cứ thế mà xông lên  bất chấp mạng sống của mình. Sau cùng , Sản còn phải thể hiện rõ vai trò gương mẫu bằng thề thốt :
“ Đảng đã dậy chúng ta : người đảng viên bao giờ lời nói cũng đi đôi với việc làm. Tôi xin hứa với chi bộ, nếu tôi không tròn nhiệm vụ trong trận này, tôi sẽ không đem cái mặt nhọ mà về trước đoàn thể…”
“Thủ trưởng chính trị” bao giờ cũng to hơn “thủ trưởng quân sự”. Khi lâm trận, anh đại đội trưởng muốn ra cái lệnh gì cũng phải nhất nhất thông qua chính trị viên :
“ Đánh thế nào ? Kha (đại đội trưởng) nhìn bức tường dựng đứng . Ít ra là tám chín thước cao. Cho là ba tầng nhà. Phải chập thang, chồng người mà lên. Rồi từ lô cốt đã chiếm đánh toả ra. Kha quay lại Sản :” Bây giờ cho hai trung đội chiếm trên mái?” Sản gật.”
Sản gật rồi Kha mới được phép thực hiện. Vậy là ngay cả trong chiến đấu, mọi mệnh lệnh phải được đại diện Đảng thông qua rồi mới được phát ra. Chính trị viên quyền lớn , trách nhiệm cao như thế nên ắt phải là con người….đặc biệt . Bởi thế đại đội trưởng Kha đã nhận xét về chính trị viên Sản :
“Ai được như nó ? Có lẽ nó chưa biết tuổi trẻ là gì ? Lúc sáng, ở trung đoàn về nhìn thấy Sản ngủ, mặt  hóp lại , mắt nhắm im. Kha giật mình. Nó mở hai mắt đờ ra nhìn Kha mấy giây như nhận không ra rồi mới chớp chớp mấy cái…”

Hoá ra ngay trong giấc ngủ, anh chính trị viên cũng vẫn phải làm công tác “nắm tình hình”.
Trong lịch sử loài người, xuất hiện sớm nhất là thày tu và cô điếm rồi sau mới đến các loại phù thủy, nhà hiền triết, thợ thủ công, nông dân…Tuy nhiên phải đợi đến khi chủ nghĩa cộng sản xuất hiện, dùng bạo lực  cướp chính quyền, nhân vật “chính ủy” mới ra đời trước hết ở Liên xô, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên rồi Việt Nam. Đó thực sự là hạt nhân của các đảng cộng sản nắm súng đạn, nắm quần chúng huy động nhân tài vật lực vào bạo lực cách mạng cướp quyền dân.
Mang vai trò và phẩm chất đặc biệt như vậy, “chính ủy” về lý thuyết   phải xuất thân công nhân thì mới “ có ý thức tổ chức, có tinh thần kỷ luật”  . Nắm vững yêu cầu đó,  Nguyễn Đinh Thi đã không chọn nông dân hoặc tiểu tư sản mà  chọn  công nhân mỏ làm thành phần xuất thân cho chính trị viên Sản đúng y chang đường lối giai cấp trong xây dựng quân đội của Đảng. Bởi thế cái tâm niệm “người vô sản vùng lên tranh đấu chỉ mất có gông xiềng mà được cả thế giới “ đã ăn vào cả trong giấc mơ của anh chính trị viên :
“ Ngày nào được đánh về vùng mỏ, gặp chúng nó (bạn bè công nhân cũ) thì sướng đến thế nào. Tương lai kháng  chiến thành công rồi, chắc đoàn thể lại cho Sản về một nhà máy, nhà máy bấy giờ sẽ là của ta , Sản chỉ ao ước có thế …”
Hoá ra “người nô lệ vùng lên tranh đấu” “ chỉ ao ước có thế. ”, mai kia giành thắng lợi, chẳng cần tới cả thế giới, chỉ mong có trong tay một nhà máy làm chủ thoả nỗi khổ nhục làm công nhân ngày xưa. “Người anh hùng “ dù cho được vẽ vời cao đẹp đến mấy, vẫn thò ra cái đuôi hám chức quyền.
Chính trị viên đại đội đã như một “thượng đế toàn năng”, vậy còn lính  tráng thì sao ?
Cho dù bộ đội đã được tổ chức thành trung đội, tiểu đội nhưng để việc ‘quản lý” thêm chặt chẽ, Đảng  đã thiết lập “tổ 3 người” theo chế độ “tam tam chế” của bác Mao để “quản lý” và “dò xét “ lẫn nhau.
Trong “ Xung kích”, tổ tam tam tiêu biểu là Thông, Cốc và Mẫn – 3 anh lính cấp chót bét trong đại đội thường xuyên “để ý “ và “ bắt bẻ” nhau .
“Thông quay lại Mẫn :
“Cậu công tử lắm. Bớt ngắm vuốt đi. Soi gương luôn trông sốt ruột lắm . Mà có được thấy đàn bà con gái đếch đâu mà diện. Ban đêm thì đi như gió. Ngày lại rúc vào bụi rậm. Cái áo Mỹ ấy cũng đừng vác ra ban ngày nữa. Dân làng người ta trông thấy còn đếch đâu là bí mật….”
Rồi “Thông bảo Cốc :
“ Thằng Mẫn phải để ý thế nào mới được . Có lẽ cậu phải gần nó, nói chuyện luôn, giác ngộ cho nó…”
Trong sinh hoạt  ngày thường, “tổ tam tam” tăng cường “giám sát” nhau :
“ Thông vừa mài dao vừa liếc mắt nhìn Mẫn . Biết ngay là cậu ta đang muốn nhớ nhà. Hé ra một câu là cu cậu cắn ngay. Chưa về quê được cậu ơi. Còn là đánh…”
Trong tổ tam tam, còn gọi là “tổ keo sơn”  Thông là người “vững lập trường nhất”. Ngay cả cái “tàu điện của Tây” anh cũng dè bỉu :
“ Nước mẹ gì, nó lại cho vài cái đầu tàu điện thải ở cái xó nào bên Tây chứù gì ?”
Và anh mơ ước :
“ Sau này Hà Nội thể nào chả có tàu điện. Mình làm ngầm dưới đất theo lối Liên xô kia chứ ? Đánh Tây đánh tiếc xong chỉ xin đoàn thể cho về Hà Nội lái tàu điện ngầm là sướng nhất…”
Ước mơ về thiên đường cộng sản ghê gớm chưa ? Chỉ có điều vĩnh viễn cái tàu điện ngầm “theo kiểu Liên xô” ấy  sẽ chẳng còn có cơ hội xây dựng ở Hà Nội.
Nhân vật thứ hai trong tổ tam tam là Cốc, “bồ côi từ nhỏ, lớn lên là đứa trẻ ăn mày ăn xin đầu làng cuối chợ…Những ngày cách mạng tháng Tám, Cốc sướng nhất , Cốc được vào thanh niên…tập tự vệ rồi đi bộ đội…”. Còn lại là Mẫn , em út trong tổ 3 người thường bị “uốn nắn” cũng lại xuất thân từ một làng quê bên bờ sông Thao.
Vậy là từ sĩ quan tới lính tráng trong “Xung kích” của Nguyễn Đinh Thi đều là những nông dân, công nhân nghèo khổ bị phong kiến và đế quốc bóc lột tới tận xương tuỷ. Thế còn những học sinh, sinh viên, công chức, những trí thức thành  thị đã tham gia bộ đội  đã đóng góp rất lớn ngay từ những ngày đầu đánh Pháp đâu cả rồi ?
Chắc chắn không phải ông Nguyễn Đinh Thi vô tình quên họ mà  ông  tâm niệm “quân đội ta” phải là “nông dân mặc áo lính” –  muốn văn vẻ ra sao, ông không được quên nguyên tắc đó khi viết tiểu thuyết đề tài bộ đội  như “Xung kích” cho dù ông đã cướp công của bao nhiêu sinh viên, học sinh, con em các gia đình khá giả ở Hànội đã vì lòng yêu nước chống ngoại  xâm mà đổ máu trên các chiến trường.

                   (còn nữa)
                        

Thứ Hai, 9 tháng 7, 2012

MIỀN..."CỤP LẠC" (KỲ 15 )


                                        
                                          (tiếp theo)

Bàn tay cô chợt giơ lên vén tóc bên tai gã , đôi mắt cô cháy rực :
“  Trời đất ơi, anh là người có tính ôn hoà với đời, có đức tính làm nên nghiệp  lớn  sao cái số anh lại đoản quá thế này.”
Rồi cô véo von :
“   Phù trầm số mạng bất lương,
 Sông sâu sóng lớn tuyệt đường, mạng vong…”
 Anh phải hết sức cẩn thận, sắp tới chớ nên đi đâu bằng tàu thuyền, số anh chết bất đắc kỳ tử vì sông nước. “
 Gã cười nhợt nhạt :
“ Liệu có cách nào tránh được không ? “
 Cô gái vén tóc gã xem xét kỹ vầng trán  rồi lại cất giọng : 
“ Kiếp trước làm chuyện vô duyên .
 Kiếp này trả quả tiền khiên cho người …”
Gã bỗng vùng ra khỏi cô, kêu to :
“ Không đúng, không đúng, tôi không tin, không tin những lời xằng bậy của cô.  Cuộc đời này nằm trong tay ta… “
 Cô gái nở một nụ cười đầy  bí hiểm và tự tin.  Cô vươn người chộp lấy bàn tay của gã kéo về phía mình :
“ Đúng , anh nói đúng , đời người nằm trong bàn tay. Anh cứ bình tỉnh em xem tiếp . …”
Xem rồi cô lại hát :
“  Số ta phải ráng giữ gìn
Phạm vào nơi chốn tội tình tù lao…”
  Tử vi của anh có số phạm vào hình sát, trong đời người không khéo bị bắt bớ tù tội “
  Gã choáng người : 
“Bắt bớ tù tội ?”
“  Chứ lại không ư ? Đây này,  đường chỉ tay này báo hiệu anh đang có việc dính dấp tới nhà chức trách đúng không ?  “
Gã lặng người, quay mặt không trả lời.  Gương mặt lão cảnh sát chợt hiện ra, nháy mắt với gã. Không, cả anh và cả lão  nữa  chẳng ai có lỗi trong chuyện này, tất cả đều do số phận đã định đoạt từ trước khi ta sinh ra. Trời ơi, phải chăng có một lẽ huyền nhiệm nào đó chi phối tất cả cuộc đời con người ? Đời mình coi như vứt đi trả cho một cái nợ từ kiếp trước. Gã đưa cặp  mắt đỏ ngầu trừng trừng nhìn cô gái: 
“ Đúng đấy, em nói đúng đấy. Nhưng em có thể cho anh biết kiếp trước anh phạm cái tội gì không ?”
   Tố Oanh dịu dàng nắm lấy tay gã :
“ Không, em không biết được đâu. Anh quan tâm tới chuyện đó làm gì ? Mà anh cũng đừng lo lắng nghĩ ngợi tổn hao tâm lực. Người ta biết trước số mệnh để mà thung dung, bình thản chớ không phải hờn giận, oán trách. “
 Gã cười cay đắng :
“ Không, anh có hờn oán gì đâu. Cái số anh đã thế, cũng đành chứ sao…”
“Tội nghiệp, biết thế em chẳng coi cho anh…”
  Rồi bất ngờ, cô ôm chặt đầu gã vào ngực mình, hôn lên mắt gã :
“ Em thương anh lắm. Không hiểu sao lại như thế. Ngay từ lúc đặt chân tới đây nhìn thấy anh, em đã cảm thấy ở anh có cái gì đó, khó nói lắm, chỉ thấy xót xa cho anh thôi… “
Gã để mặc cô gái nựng nịu, ve vuốt như đứa trẻ trong lòng mẹ, chỉ cảm thấy nỗi mệt mỏi ghê gớm mỗi lúc đè chĩu gã xuống để rồi rơi tuột vào giấc ngủ.

                                             *
                                           *   *

Nàng Emily trong truyện chưa kịp nhận ra ai đạp tung cửa phòng và phóng vào như luồng gió, khẩu súng trong tay nàng đã bị đá văng đi. Nàng bật cười nhìn người lạ mặt đang giương tròn mắt sau chiếc mặt nạ chùm kín đầu :
“Người là ai dám ngăn không cho ta chết ?”
Tên người lạ cười ghê rợn :
“ Ta không tin, ta không tin bên trong thân hình tuyệt mĩ thế kia lại ẩn náu một con quỷ khát máu.”
 Nàng đẩy xác chết đẫm máu của gã thanh niên xấu số ra khỏi người, cười nhạt :
“ Vậy bây giờ, ngươi đã tin chưa ?”
“Trời ơi, ta biết chắc nàng đã giết hắn, nhưng ta vãn không tin, không tin nàng giết hắn chỉ vì khát máu.”
 Nàng Emily  choàng lên người tấm lụa mỏng, lạ thay nó không che đậy ngược lại chỉ làm nổi rõ những đường cong tuyệt diệu.
“ Điều đó ngươi nói đúng, ta chẳng khát máu ai, ta chỉ thực hiện  một trao đổi.  Ta sẽ dâng hiến hết trong một đêm cho những ai chịu trao tặng tính mạng mình cho ta.”
Tên lạ mặt nhìn xác chết :
“ Gã trai này có được báo trước điều kiện trao đổi đó không ?”
“ Tất nhiên, gã được ta báo trước chuyện đó.”
“ Và gã chấp nhận ? “
Nàng Emily nghiêm trang gật đầu :
“ Đó là một gã trai dũng cảm, sòng phẳng và yêu đương cuồng nhiệt.”
  Nàng đoán được những nét bối rối và ngỡ ngàng của gã đằng sau chiếc mặt nạ và nàng phì cười : 
“  Sao? Ngươi có đam mê và lòng dũng cảm như gã trai này không ? “
“  Ta không tin, có thể hắn tưởng nàng đùa cợt thôi. Nếu biết chắc phải chết, nhất định hắn không để nàng giết đễ dàng thế.”
  Nàng Emily cười khinh bỉ :
“ Đó là sự suy diễn từ cái đầu xơ cứng và hèn nhát của ngươi đấy thôi. Cút đi , trả lại súng để ta tự chết. “
Tên đàn ông phá lên cười sau chiếc mặt nạ :
“ Không, ta không cho phép nàng huỷ diệt tấm thân tuyệt mỹ thế kia. Và ta cũng không định đổi mạng lấy một đêm vui với nàng như gã thanh niên ngu xuẩn này.”
  Nàng Emily nhìn gã thách thức :
“ Chỉ duy nhất điều kiện đó, ngoài ra bất kỳ sức mạnh nào cũng chẳng cưỡng ép được ta, ngươi biết đấy, ngay cái chết ta đâu có sợ. “
 Gã đeo mặt nạ gật đầu :
“ Đúng, nàng không sợ cái chết, nhưng nàng sẽ sợ một cái khác…”
“Cái gì vậy ? “
“ Sự cô độc…”
  Nàng Emily vừa phá lên cười, trong tay gã đã tung ra một vuông vải làm nàng tối tăm mặt mũi và ngã lăn bất tỉnh. Tên đeo mặt nạ nhanh nhẹn giật tấm khăn trải giường loang lổ máu gói kín nàng lại, vác lên vai và đạp tung cửa sổ nhảy ra ngoài…
 Gã vứt bút , vươn vai và cũng đi tới mở tung hai cánh cửa sổ.  Nàng Emily ngoài đời vẫn vắng bóng từ mấy ngày nay. Nàng đi đâu nhỉ ? Hay nàng cũng bị một gã đeo mặt nạ lẻn vào phòng, bắt cóc ?  Gã bác bỏ ngay giả thuyết đó và buồn rầu nghĩ chắc nàng lại đi nghĩ mát đâu đó với gã trung tá như lời lão gácgian mách lẻo.
 Mấy hôm nay, kể từ sau khi gặp Tố Oanh, cô thầy bói thằng giả hàng khất đưa tới, gã cảm thấy lúc nào cũng buồn ngủ ghê gớm.  Nếu không có tên đầu nậu xuất bản đầu béo múp thúc giục thì hẳn gã đã quẳng cả bút lẫn bản thảo dịch leo lên giường ngủ và ngủ.
 Hôm gã thiếp đi trong lòng Tố Oanh, mãi chiều mới tỉnh dậy. Cô thầy bói đã biến đâu mất, trong  phòng chỉ có gã với tên giả hành khất đang cười nhăn nhở :
“ Tỉnh rồi hả ? Gớm, ngủ kỹ thế ? Nàng chờ mãi chẳng được, đành “biến” rồi.”
  Gã nhỏm dậy ngơ ngác :
“ Cậu nói ai chờ ai ? “
“ Nàng Tố Oanh chờ cậu chớ ai? Nó bảo bói cho cậu một lá số lạ ghê lắm phải không ? “
 Gã bóp đầu và nhớ ra tất cả :
“ Phải rồi, cô ta bảo ngay lúc mới gặp tôi cô đã cảm thấy một cái gì lạ lắm… “
Tên giả hành khất cười phá :
“ Cái đó thì cô ta đã tìm thấy rồi, không còn lạ gì nữa.”
 Gã há hốc miệng :
“_Cái gì thế ?”
Tên giả hành khất cười rinh rích :
“ Khả năng làm tình. Nàng bảo ở cậu cái đó siêu, khoẻ như trâu, dai như đỉa , bất kỳ người đàn bà nào đã qua tay cậu khó lòng mà không trở lại.”
“ Nàng coi trong tử vi thấy thế à ? “
Tên hành khất phì cười :
“ Tử vi nào nói cái đó. Nàng bảo nàng đã có kinh nghiệm thực tế với cậu mà…”
“ Tầm bậy, bói xong tớ lăn ra ngủ như chết còn biết gì nữa đâu ?”
Tên giả hành khất gật đầu :
“ Đấy đấy, khả năng kỳ diệu của cậu là ở chỗ ấy đấy. Trong chứng mộng du, người thì đi chênh vênh trên mái nhà, người thì trèo lên cây, còn cậu thì làm tình, mà lại còn xuất sắc nữa kia. “
 Gã kêu lên :
“ Vô lý, không lẽ cô ta cũng chấp nhận sao ?”
“ Hẳn đi chứ, cô ta chẳng nói là rất thương cậu ngay từ lúc mới gặp kia mà, vả lại cậu có khả năng kỳ diệu thế cô ta từ chối sao nổi. Cô ta bảo so với cậu tớ chỉ là thằng học việc vụng về.”
 Gã tròn mắt nhìn vẻ mặt nhơn nhơn của tên giả hành khất :
“ Vậy cậu không ghen  ?”
“ Ghen hả? Ghen là cái gì ? Sao lại phải ghen ?”
 Gã kêu to :
“ Không tin, tớ không tin có chuyện quái gở  thế ?”
“ Ấy thế mà có đấy, cậu thử nhớ lại coi, trong giấc ngủ cậu có nằm mơ hoặc có cảm giác làm tình với ai không ? “
 Gã bóp đầu, lắc lia lịa :
“ Không, không, tớ chẳng còn nhớ gì hết, đầu tớ đang nhức ghê gớm như muốn nổ tung ra đây.”
Tên giả hành khất cười cười :
“ Tại cậu mất nhiều tinh lực quá đấy. Giờ húp hết liễn cháo gà Tố Oanh nấu phần cậu rồi ngủ một giấc khoẻ liền. “

                    (còn tiếp) 

Chủ Nhật, 8 tháng 7, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN ( KỲ 58)


                                   
                                                Nghe nói Nguyễn Đình Thi đã viết "Xung kích" ở đây     

                         (tiếp theo)  

 Tuy nhiên, tác phẩm xuất sắc nhất trong thời kỳ chống Pháp, làm NĐT có thể rung đùi yên trí “ hoàn thành chỉ tiêu sáng tác” trên “mặt trận cầm bút” theo đúng yêu cầu của “ bác Hồ”  “mỗi nhà văn cũng là một chiến sĩ” lại là một “tiểu thuyết” đã được đưa vào sách giáo khoa cho không biết bao nhiêu thế hệ con em chúng ta ngồi trên ghế nhà trường phải phân tích và bình luận nhằm bồi bổ chủ nghĩa anh hùng cách mạng của cả nhân vật trong truyện  lẫn người viết ra nó.
Đó là “tiểu thuyết”  “ Xung kích” – một trong những tác phẩm đưa NĐT lên bục nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh, viết vào năm 1951 sau khi đã được “quán triệt”  sâu sắc “đề cương văn học Diên An” của Mao, tức những quy phạm ngặt nghèo của chủ nghĩa hiện thực XHCN phục vụ công nông binh đã hằn sâu trong quả tim và cả khối óc của nhà văn.
Gọi là “tiểu thuyết” nhưng cũng chỉ vỏn vẹn hơn 100 trang in, trong đó chương mở đầu “tường thuật”  dân công, bộ đội hành quân tới  cái cầu  qua  suối nhỏ bị sập giữa trời rét cắt thịt. Không lẽ nằm chờ công binh tới bắc cầu như chị em dân công; bộ đội  nảy sáng kiến “chuổng cời” lội suối , nước dâng ngang ngực, nhờ vậy đến được điểm tập kết đúng thời hạn. Chuyện có vậy thôi mà ông nhà văn “cà kê” mất gần chục trang. 
Rồi trước lúc vào trận, bộ đội tập trung nghe thư “bác Hồ”, ông nhà văn cũng bê nguyên si thư Bác :
“ Chiến dịch này là lần đầu tiên đánh đồng bằng mà địch có chuẩn bị. Chính vì lẽ đó mà ta quyết phải thắng ...Nào đơn vị nào hứa với Bác và Chính phủ sẽ lập nhiều công nhất nào ? Chính phủ, đoàn thể và Bác đang chuẩn bị sẵn sàng thưởng cho những chiến sĩ, cán bộ và đơn vị lập công to nhất…”
Tất nhiên tiếng “xin hứa, xin hứa” phải vang  như sấm. Chỉ có điều sao trong  thư , “bác” không viết  “ Đảng , Chính phủ, và Bác” mà lại viết :” Chính phủ, đoàn thể và Bác” ?  Đó là vì lúc này Đảng rút vào “bí mật” , tuyên bố giải tán, thành lập “Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác” nên khi nói tới lãnh đạo, phải đưa “chính phủ lên trước” rồi mới đến “đoàn thể” chứ chữ “đảng “ chưa được công khai nhắc tới  như bây giờ.
Sau phần động viên "trong nước”, tới phần “quốc tế “ :
“ Tiếng anh trung đoàn trưởng vang lên :
“ Tôi báo tin để các đồng chí biết. Bên Triều Tiên, các bạn chúng ta vừa mở cuộc tấn công mới, làm cho quân Mỹ lao đao. Chúng ta hứa với Bác thi đua với chiến sĩ Triều Tiên, đánh thật mạnh để hưởng ứng với các bạn chúng ta. Chúng ta hứa với Bác hôm nay không thắng không về…”
Cứ như vậy, người đọc ngỡ ông nhà văn viết “báo cáo chiến dịch” chứ chẳng phải tiểu thuyết. Tuy thế, trong “Xung kích”  NĐT cũng “sáng tác” ra nhiều nhân vật “anh hùng thời đại” để gắn nhãn “tiểu thuyết” cho nó.
Trước tiên là chú bé giao liên đại đội tên Luỹ, khi máy bay Pháp tới ném bom, “ chú đứng bên cạnh bến nước , nhìn về mé có tiếng bom, hai tay đút túi quần :
“ Ăn thua mẹ gì . Chỉ chết mấy con ngan là cùng. Rời thằng Mỹ ra thì ông bóp mũi…”
Ghê gớm chưa, chú bé Việt Nam của NĐT xem ra thấm nhuần chính trị tới mức lúc nói chơi cũng vạch rõ được “âm mưu can thiệp Mỹ”.
Giống như nhân vật chú nhóc Gavroche của văn hào Pháp Victor Hugo trong Les miséables , “bóng loắt choắt của chú bé liên lạc vẫn thoăn thoắt chạy đi giữa những tràng đạn lửa ngoằn ngoèo…Luỹ đã chạy qua hết sân đồn, bỗng đứng lại . Một thằng  quan hai đang giơ tay từ một cái ngách nhỏ chui ra . Luỹ thét “ra nhanh” . Thằng quan hai bỗng hạ tay xuống, sau lưng nó , một tràng tiểu liên bắn ra. Bóng chú liên lạc lăn xuống đống gạch vụn…giữa trán nó , một lỗ thủng sâu hoắm rỉ máu…” 
Người “tây học” như NĐT chắc đã đọc “Les misérables” và chú bé giao liên  Lũy hẳn đã được gợi ra từ chú nhóc Gavroche .
Một trong những nhân vật trung tâm cuốn tiểu thuyết là đại đội trưởng Kha. Anh này chắc không xuất thân “bần cố nông” vì trong người có chút máu tạch-tạch-sè (tiểu tư sản) nên trước khi ra trận còn muốn …diện đồ mới :
“ Anh mở ba lô, tìm bộ quần áo mới, vải thơm sạch, thay vào bộ nâu vẫn còn mặc trên người…Kha nghĩ :” Có chết mình cũng chết cho đẹp..”.
Mải mê khắc hoạ “nhân vật” cho có “cá tính” độc đáo, ông nhà văn quên bẵng  “cái chết đẹp” hiểu theo lập trường cách mạng chỉ mang ý nghĩa “hy sinh cho Chính phủ, cho đoàn thể và cho bác Hồ”  chứ không phải quần áo đẹp, hình như sợ cấp trên quở, ông vội vàng “sửa sai” :
“ Cầm cái áo lên , anh bỗng nhìn thấy cái huy hiệu Thanh niên dân chủ quốc tế…”
Và anh đại đội trưởng vừa sa đà chút xíu vào “ cá nhân chủ nghĩa”  vội vàng củng cố ngay lập trường cách mạng :
“ Kha tháo huy hiệu xem kỹ : một quả địa cầu và mặt ba người thanh niên trắng đen vàng. Chiều hôm nay ở đây sẽ lại có những  người thanh niên Việt Nam chết cho thực hiện cái cảnh hoà bình thân ái ghi trên tấm huy hiệu này…”
Tuy nhiên phải đợi tới giai đoạn 2 của chiến dịch, vào một trận tấn công cứ điểm Pháp trên đồi, Kha mới chứng nghiệm dự cảm về cái chết của mình. Trong trận đó, anh dẫn đầu đại đội tràn lên đánh địch .
“Một tiếng xoẹt , Kha nằm nấp xuống hố đạn. Đất xới lên lấp chân Kha. Qua rồi, Kha nhảy lên miệng hố. Kha hét :” Xung pho…ong …”. Kha bỗng choáng óc như bị một nhát búa. Đất lạo xạo đầy mồm. Tiếng trung liên tắc tắc. Kha thấy mình nằm úp mặt xuống đất…”
Bị trúng đạn rồi, Kha vẫn :
“ Tay nắm chặt súng lục, Kha cố đứng dậy đưa tay trái sang tìm vết thương. Sờ đến bả vai, thấy những ngón tay dính nháp nong nóng. “À đây, máu chảy nhiều.”…Luồng đạn qua mặt mát lạnh, Kha như ra khỏi sương mù. “ Không thể lui xuống lúc này được. Phải lên ngay cho kịp anh em. “ Kha cắn răng chạy lên…’
Thế rồi Kha lại nhận thêm một viên đạn vào cánh tay , anh vẫn “ quên hết hai vết thương ở vai và ở tay chỉ còn một ý nghĩ “ Chạy thẳng lên đồi giết hết, giết hết…”.
Rồi anh lại bị một quả đạn cháy “khắp bên trái người cháy bỏng , anh khuỵ xuống, ngáp ngáp cố thở . Kha vẫn không chịu ngất đi , tự bảo “cố lên, cố lên…”.
Chỉ đến khi anh bị tiếp một quả đạn cháy thứ hai “cả người Kha xèo xèo, Kha giãy giụa hai ba cái trong đám lửa…” , anh mới chịu gục ngã.
Tuy nhiên, ông nhà văn  vẫn chưa cho phép nhân vật được chết. Người anh hùng không thể chết câm lặng vậy được, cái chết đó phải được nhấn mạnh góp phần đắc lực cho công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Kha được khiêng về trạm quân y chờ chính trị viên tới thăm .
“Trong đám sương mù liên miên, trí khôn đã lạc lõng của Kha bỗng nghe thấy xa tít  có tiếng gọi. “ Kha ơi, Sản đây-Sản đây…”  ( Sản là chính trị viên) “ Kha cuống quýt …mấp máy cặp môi phồng rộp, tưởng mình đang kêu to mừng rỡ . Hai lòng trắng mắt động đậy. Bàn tay Kha giơ lên quờ quờ :” Ồ đồng chí Sản, sao bây giờ anh mới tới ? Ồ Sản, Thế nào ? Tối hôm ấy thế nào ?”. Sản nói to :” Ta tiêu diêu diệt được toàn bộ quân địch ở dãy đồi. Tiêu diệt toàn bộ quân đội…”
Vậy là phút giây thiêng, anh đại đội trưởng Kha vẫn chờ tin thắng trận, giống y chang anh đại đội trưởng trong truyện ngắn “ Anh hùng cứ điểm”, Nguyễn Đình  Thi lại cũng viết :” trước khi hy sinh, Còm còn thều thào hỏi : ”Vào đến đâu rồi ?” .
Hơn hẳn anh đại đội trưởng Còm, sau khi nghe tin chiến thắng, “ Kha cười :” Tao lo quá mày ạ. Mày  mà đổ thì cả chi bộ và đại đội lao đao…”. Rồi Kha căn dặn người ở lại :” Đồng chí Na phải đề nghị huân chương chiến sĩ hạng nhất mới xứng đáng. Nhấc lên làm trung đội phó…”. Vậy là tới lúc chết , người anh hùng vẫn chưa được nghỉ ngơi, vẫn lo công việc tới hơi thở cuối cùng. Cho tới khi chính trị viên ghé tai hỏi :
” Anh có điều gì dặn lại không ?”
Kha vội lắm, Anh còn ít thời gian lắm :
“ Chào Đảng, các đồng chí..chi bộ…”
Vậy là làm xong nhiệm vụ đảng viên trước khi chết rồi, Kha mới dặn dò riêng tư :
“ Sản nhớ cho Lý cái bật lửa…Hết”
Chẳng hiểu sao, cứ trước lúc chết, các nhân vật anh hùng của Nguyễn Đình Thi  cứ phải tặng ai một kỷ vật gì đó , anh Còm thì gửi lại cho chú giao liên chiếc đồng hồ đeo tay, anh Kha cũng gửi cái hộp quẹt cho cô bạn cũ gặp lại trên đường hành quân. Có lẽ ông nhà văn muốn có thêm chút ít ‘chất người “ cho nhân vật, nếu không cứ dặn dò, cứ hô khẩu hiệu trước khi chết thì “ khô khan, người máy” quá chăng ? Có điều ngay cả những chi tiết ‘tình người” đó cũng khó xúc động lòng người vì sự khiên cưỡng và lặp lại .

                             (còn tiếp)


Thứ Bảy, 7 tháng 7, 2012

MIỀN.."CỤP LẠC" (KỲ 14)


                                   
                                       (tiếp theo)



Không, không thể như thế, đó là tưởng tượng quái gở của gã nhà văn trinh thám, Emily của gã dù là trong sách hay đang giơ chân giơ tay ngoài cuộc đời kia đều là những người đàn bà tuyệt vời.

Chẳng qua nàng chưa gặp gã đấy thôi, nếu gặp , hẳn sẽ yêu thương gã bằng con tim say đắm, dâng hiến tất cả cho gã mà không hề đòi trả giá bằng chính tính mạng gã.

Lúc này Emily ngoài đời đã tập xong, ( từ nay chiều theo ý gã ta sẽ gọi nàng như vậy) nghiêng vai xoã mái tóc dài cho bay bay theo gió sớm đang ào ào nổi lên dán chặt bộ đồ ngủ mỏng manh lên thân thể ngồn ngộn.

Chẳng còn nghĩ ngợi gì nữa, gã mở toang một cánh cửa sổ, nhô hẳn nửa người chiêm ngưỡng cho hết cái vưu vật của thiên nhiên không bỏ sót đường nét nào.

Nàng Emily ngoài đời như đã nhận ra gã, không hề biểu lộ giận dữ , ngược lại, nàng nhoẻn cười và làm một cử động hết sức phô phang làm trí óc gã phải căng lên suy đoán. Nàng trách ta mọi ngày dậy quá muộn và khuyến khích ta dậy sớm cùng tập thể dục với nàng  đấy. Không phải, không phải vậy , chắc nàng gửi sang lời chúc một ngày tốt lành.

Vậy ta nên đáp lại thế nào cho xứng đáng nhỉ ? 

Chẳng chờ cho gã kịp xoay chuyển những ý nghĩ chậm chạp, nàng Emily ngoài đời đã quay ngoắt, biến vào trong không quên gửi lại gã một cái hôn gió.

Trời ơi, ta tỉnh hay mơ đây ? Phải nàng vừa ra dấu tình yêu ?  Đúng rồi, mối tâm tình nhẫn nại của ta đã cảm động lòng nàng và hạnh phúc biết bao, nàng đã không khước từ.

Vậy thì phải làm gì xứng đáng tình yêu của nàng chứ ?

Chao ôi, ước gì ta biết được nàng đang mong ước điều gì để ta thực hiện nó . Gã vùng vẫy, đi đi lại lại trong căn buồng hẹp, mặt sáng bừng, miệng lầm bầm những điều vô nghĩa để rồi bừng tỉnh cơn sốt tình yêu khi có tiếng gõ rầm rầm vào cánh cửa.

“ Cảnh sát “

Nỗi lo thường trực trở lại đâm nhói lòng khi nhớ tới điềm báo  đêm trước. Phải rồi, phải rồi, cảnh sát đã đến, gã lại bị đẩy lên chiếc xe rúc còi qua các phố , lại phải ngồi lì trong phòng hỏi cung nghe vặn vẹo đủ thứ chuyện nhất về cái tiếng động chết tiệt  nửa đêm .

 Không sao, không sao cả, cứ mặc kệ lão cảnh sát muốn làm gì làm, hỏi gì hỏi, ngay cả bắt nhốt gã cũng được, gã không sợ gì hết, mọi thứ với gã bây giờ trở nên nhẹ bỗng lông hồng bởi vì từ nay bên trong gã choáng ngợp tình yêu của nàng.

Gã ngẩng mặt lên, sáng bừng ngạo nghễ và ưỡn ngực đi tới mở cửa. 

“Chín giờ rồi vẫn còn ngủ sao cha nội ? “

 Ngẩn người, hoá ra không phải lão cảnh sát mà chính thằng giả hành khất đang cười nhăn nhở. Lần này hắn đã trút bỏ quần Jean, áo pull kiểu  thuỷ thủ viễn dương khoác lên người bộ ký giả màu lông chuột nhưng lại giống một thằng nhà thầu hơn là nhà báo .

 Thật bất ngờ, hắn không đi một mình mà dắt theo một cô gái lấp ló mái tóc uốn vỏ ốc đằng sau đôi vai to bè của gã.

 “ Kìa… mời khách vào đi chớ, sao cứ đực ra thế ?”

“ Ông…  ông đã gặp lão gácgian chưa ?”

Gã lắp bắp, hoảng lên khi nhớ chuyện lão gácgian mất xe đạp hôm trước. Gã giả hành khất này liều mạng thật, đã cuỗm chiếc xe còn khơi khơi dẫn bồ tới, khêu gan chọc tiết người ta. Dường như đọc được ý nghĩ gã, tên  giả hành khất cười phá lên : 

“ Cậu sợ cái lão  chuột trù đó hả ? Lão là cái thớ gì tớ phải gặp  chứ ?”

“Lão… lão đang tìm ông…”

Tên giả hành khất cười ha hả :

“Lại chuyện xe đạp phải không ? Tớ vừa an ủi lão rồi. Tử vi của lão báo năm nay gặp đại hạn, “của đi thay người “ như thế là may lắm rồi”. 

“Thế… thế ông không lấy của lão chứ ? “

“Sau hỏi ngu thế?Tớ lấy hay người khác lấy thì có gì quan trong.”

Hắn gạt gã ra, kéo tay cô gái lẹp xẹp đôi dép lê bước vào . Cô ta  thật khó đoán tuổi, có thể 23, 24 mà cũng có thể đã ngoài ba chục bởi cái miệng dẩu như cô bé con lúc nói chuyện nhưng đôi mắt tròn xoe lại đầy lọc lõi và lúc nào cũng vẻ như nhìn về vô cực ngay cả lúc dõi thẳng vào mắt gã.

Tuy nhiên, thân hình cô ta lại trái ngược với vẻ mặt. Đôi tay trần lộ cả bờ vai ra ngoài chiếc áo ba lỗ, chiếc quần ống túm bó căng đôi chân mập mạp, và khi cô cúi xuống một cách cố ý, bộ ngực đầy tròn căng chật trong chiếc áo mỏng lộ ra như đôi chim câu giãy giụa trong đôi mắt ngẩn ngơ của gã.

Không chờ gã hết ngỡ ngàng, tên giả hành khất đã ấn gã ngồi xuống mép giường, ngay cạnh cô gái :

“ Tố Oanh, em coi cho hắn đi, tiền vận, hậu vận thế nào,cứ nói bằng hết. Giới thiệu cậu , em bé đây chẳng phải loại thầy bói nói dựa ngoài đầu đường xó chợ chuyên loè bịp thiên hạ móc tiền các cô ưa phỉnh. Tô Oanh bói chính  là thần linh trong em mách bảo .”

  Cô gái đưa mắt nhìn gã và lập tức gã cảm thấy một ám ảnh bất an nào đó làm gã không thể quay đi, ngược lại ánh mắt nài nỉ của gã như bị hút vào đôi mắt cô gái.

Quái thật, hình như gã đã gặp cô ta ở đâu và rồi gã lại nhớ ra rằng không phải, chưa bao giờ cô giáp mặt gã.

“ Bói đi, em cứ bói thoải mái cho hắn đi. Anh đi , đến trưa mang đồ nhậu về…”

Tên giả hành khất nói oang oang, nhổm phắt dậy, bước ra cửa còn ngoái lại , nháy mắt :

“Cứ tự nhiên thoải mái nhá…”

Tên giả hành khất đóng sập cửa trong khi  ánh mắt đã trở nên  đờ đẫn của gã vẫn chưa dứt khỏi đôi mắt cô gái và càng lúc gã càng cảm thấy căn phòng chật hẹp đang nhốt một người con trai và một người con gái không phải là cảnh thực ngoài đời, hẳn là gã đang trong giấc mơ nào đó.

“Anh có nhớ ngày sinh tháng đẻ không ? “

“Không…  anh không nhớ…”

“Thế năm sinh vậy ?”

  Qủa thực gã chẳng biết chính xác ra đời vào cái năm nào, thôi đành nói theo năm gã bịa ra từ thời khai lý lịch. Cô gái ngồi xếp bàn tròn trên giường. Rút ra cỗ bài tây và bắt gã tráo số lần bằng đúng số tuổi. Gã ngoan ngoãn làm theo và cảm thấy như đang tham dự một nghi thức thật trang nghiêm đến độ gã không dám thở mạnh. Cô gái vẫn thoăn thoắt trải các quân bài xuống chiếu theo hình thù lạ mắt và rồi bất ngờ có nắm lấy tay gã xiết mạnh lên đùi cô.

“Anh ngồi xích lại, nhìn thẳng mắt em đi…”

 Đôi mắt vô sắc của cô xói sâu vào gã làm dâng lên một nỗi buồn ngày càng nặng chĩu không sao hiểu được nguyên nhân. Ý nghĩ cô gái này gã đã gặp ở đâu đó lại làm gã phải căng óc suy nghĩ  trong lúc mắt gã cay xè và phải  cố ngăn không cho ứa ra những giọt nước. Lạ thực, tại sao cô lại gây cho gã cảm giác thân thuộc và tin cậy đến thế ? Cứ như là người mẹ đã chết từ khi gã lọt lòng đang trở về nhập hồn vào cô để gã có thể kể lể than vãn biết bao nổi niềm từ những ngày thơ bé bơ vơ như một con vật tội  tội.

“ Lạ thực, con người anh rất lạ. Hình tướng xấu mà khí chất lại cực kỳ tốt. Anh nhân hậu lắm chứ không ác như vẻ ngoài đâu…”

 Cô lại nắm chặt tay anh, xiết mạnh lên đùi mình rồi cất giọng véo von : 

“ Cô tinh chiếu mạng thảm thương . Phải chịu cô quạnh một đường riêng lo… Chiếu theo lá bài này bố mẹ anh chết sớm từ ngày anh còn ẵm ngửa, đúng không ? “

“Rất đúng …”

“Nằm ngồi dạ nhớ bông lông  Gặp khi hoạn nạn chớ hòng cậy ai…  Tính anh hay nghĩ ngợi lông bông lắm, toàn nghĩ vẩn nghĩ vơ. Bạn bè thân thiết chẳng có ai tỏ bày tâm sự mỗi khi hoạn nạn. Đúng không ?”

“Đúng lắm…”



                                    (còn tiếp)






Thứ Sáu, 6 tháng 7, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ 57)


               Hạt bụi lấp lánh ánh sáng của đảng (!)




Ông hưởng lộc quan từ rất sớm, năm 21 tuổi đã là Tổng thư ký Hội văn hoá cứu quốc, đại biểu Quốc hội khoá đầu tiên của Nhà nước VN DCCH, và cũng hưởng rất lâu, năm ông mất, 79 tuổi, ông vẫn còn là Chủ tịch Chủ tịch đoàn  Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Nhà nước CHXHCN VN.
Trên thế giới, hiếm có nhà văn nào làm quan suốt  60 năm, làm quan tới hơi thở cuối cùng như ông, chỉ lạ một điều,  sao người ta chưa đưa ông vào Guiness. Ở nước ta, leo lên quan đầu ngành đã khó, giữ được ghế càng  khó hơn , bởi thế không ai ngạc nhiên khi đứng giữa bàn dân thiên hạ, trên tivi vào dịp  Đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ 3, ông trịnh trọng tuyên bố :
” Các nhà văn chúng ta…là những hạt bụi lấp lánh ánh sáng của Đảng.”
Thật không có một câu “văn bia” nào diễn tả thân phận văn nô hay hơn thế. Lập tức nó được các “hạt bụi” vỗ tay vỡ hội trường và “bảo hiểm” cho ông ngồi ghế quan đến trọn đời.
Chắc ai cũng biết, tác giả câu nói đáng ghi vào sử sách đó chính là nhà văn, nhà thơ, nhà sáng tác ca khúc …Nguyễn Đình Thi.
Khác với mấy “anh tiền chiến” sau cách mạng mới chịu theo đảng lên rừng, năm 18 tuổi NĐT đã bị đi tù vì hoạt động cách mạng, đã viết báo, viết văn  tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, tuy nhiên theo nhận định của hai nhà nghiên cứu quốc doanh gạo cội Phan Cự Đệ – Hà Minh Đức, phải đợi tới “ngọn lửa kháng chiến chống Pháp hun đúc, tài năng văn học của Nguyễn Đình Thi thực sự mới hình thành”.
Vậy thử coi “tài năng văn học “ trong kháng chiến chống Pháp của Nguyễn Đình Thi lớn cỡ nào ?
Trong tuyển tập Truyện ngắn Việt Nam (1945-1954) của NXB Đại học, cũng do hai ông Giáo sư gạo cội Phan Cự Đệ ~ Hà Minh Đức biên soạn cho sinh viên học có tới 2 truyện ngắn của Nguyễn Đình Thi được đưa vào “bia đá”.
Truyện ngắn “Anh hùng cứ điểm”  kể chuyện đồng chí Còm, đại đội trưởng đại đội 112 trong trận đánh một cứ điểm Tây ở mặt trận đông bắc. Trong đêm trước trận đánh, anh Còm tâm sự với anh Đăng, đại đội phó :” Đời mình không vui lắm. Vợ con mất cả từ ngày đói bốn nhăm. Hồi ấy mình lang thang ở mỏ. Lúc khởi nghĩa xong , vào bộ đội, đánh tây liên miên”.
Vậy là không lọt ra ngoài “phép nước”, ông nhà văn phải chọn một anh “thành phần giai cấp công nhân” làm nhân vật anh hùng cho dù hồi mới kháng chiến, hàng ngũ cán bộ đại đội phần lớn là dân…”tạch tạch sè”, “đêm mơ Hà  Nội dáng kiều thơm” ( thơ Quang Dũng), có văn hoá, có tâm hồn lãng mạn và toàn xuất thân thành thị. Bởi thế đặt chân lên đò qua sông xung phong vào đồn địch, trong đầu anh Còm chẳng có “dáng Kiều” nào hết, anh chỉ nghĩ đến ‘tương lai tươi sáng của dân tộc” :” Sau này kháng chiến thành công, thế nào mình cũng phải qua bên Lào hay bên Tây Nguyên một phen…”.
Thử hỏi tại sao khi đó anh không nghĩ tới chuyện về thăm bến Sáu Kho Hải Phòng quê hương anh ?
Xin thưa ngày đó tư tưởng giải phóng cả “Việt-Miên-Lào” thành lập Liên bang  Đông Dương hãy còn sâu đậm lắm trong cán bộ đảng ta. Và ông nhà văn NĐT cũng không quên điều đó khi mô tả người anh hùng, nhất là tránh xa “con người chung chung”  hướng tới “con người chính trị” mới đúng lập trường văn học cách mạng.
Khi xung phong tới gần cứ điểm, theo đúng kế hoạch lẽ ra đại bác phải bắn yểm trợ, rủi thay súng lại hỏng, cả đại đội của Còm vấp phải 8 khẩu “đui sết” của Pháp cứ nằm chết gí bên bờ ruộng. Thế là đồng chí Còm xông lên diệt ổ trung liên của địch cho toàn đại đội mở hàng rào. “Bỗng một phát đại bác nổ như xé tai, Còm đứng sững lại, bơi bơi hai tay trong không khí rồi ngã vật ra…”. Trước khi hy sinh, Còm còn thều thào hỏi : ”Vào đến đâu rồi ?”  và tháo cái đồng hồ đeo tay tặng chú giao liên rồi mới…chết.
Cũng na ná như nhà thơ Tố Hữu mô tả cái chết của anh Nguyễn Văn Trỗi :” Trước khi đi anh gọi Bác ba lần”, chẳng hiểu sao các văn thi sĩ cách mạng cứ buộc người ta lúc chết phải nghĩ tới chiến thắng, tới lý tưởng, tới đồng đội mà không nhớ tới vợ con, gia đình ruột thịt ? Thực sự những người lính lúc chết ra sao, có gọi Bác ba lần, có hỏi “quân ta vào tới đâu” không ? Hình như chưa nhà văn cách mạng nào nói  đúng được về họ. Bởi lẽ đó là yêu cầu chính trị. 
Trận đánh kết thúc, quân ta đương nhiên là thắng quân nó,  cứ điểm địch đương nhiên là bị nhổ bỏ và người anh hùng nằm xuống đương nhiên là được ca ngợi :” Đời anh Còm sống chiến đấu lặng lẽ, chết hy sinh lặng lẽ…”.
Truyện ngắn “ Người anh hùng cứ điểm”  được vào bia đá “văn học cách mạng” xem ra cũng chỉ là một bài ký sự “ người tốt việc tốt” với mạch kể chuyện đơn giản, tuần tự, lười nhác cả trong xây dựng nhân vật lẫn kết cấu truyện. Đó là cái giá phải trả cho việc hưởng ứng chủ trương “sáng tác kịp thời ” của Đảng chăng ?
Sang truyện ngắn “ Người tù binh da đen” , tác phẩm  “tuyển” thứ hai của NĐT xem ra còn…”kịp thời” hơn nữa.
Người tù binh da đen đó là lính hầu của tù binh da trắng Thiếu tướng Đờ Cát, Tư lệnh mặt trận Điện Biên Phủ mà chẳng hiểu sao ông nhà văn lại cho rằng “Mỹ” phong cho ông mới lạ chứ . Có lẽ vì vậy mà Đờ Cát được NĐT gọi bằng “tên”, “nó”. “ Trong đoàn tù binh, giữa hai người lính hầu lúc nào cũng theo hầu hai bên nó như hai cái bóng, tên tướng Pháp cầm cái gậy ngắn của sĩ quan, vừa hút thuốc lá vừa lòng khòng đi, cái mũi dài xuống …”, “Tên Đờ Cát ngồi một mình trong cái lán, chống tay lên cái bàn nứa.Nó lột cái mũ ca lô đỏ xuống , cầm mân mê, mắt tư lự nhìn ngôi sao thiếu tướng mới đính trên cái mũ ấy, đôi môi mỏng nhếch ra một nụ cười trầm ngâm…” .
Có lẽ thấy đánh “người ngã ngựa” chẳng “quân tử” chút nào nên NĐT “tha cho” “tên Đờ cát” mà quay sang người lính hầu da đen của ông ta.
Dọc đường đi, anh tù binh trẻ luôn đeo cái ba lô thật nặng cho ông tướng bị các bạn tù khác “ném đá” và “chế giễu” nên đã trốn mất tiêu, trao nó lại cho người tù già. Bác này lại “è cổ đeo cái ba lô nặng lù lù và cuộn chăn len dầy đi sau tướng Đờ Cát về tới trạm tù binh”.
 Khi “Đờ Cát được gọi đi, người lính hầu lại đeo vội cái ba lô lên vai” , nhưng lúc này anh lính Việt Nam  ngứa mắt quá bèn ra lệnh cho viên tướng phải tự đeo ba lô.
“ Đờ  Cát leo đến nơi, hai chân lẩy bẩy . Nó bĩu môi, vứt phịch cái ba lô xuống” .
Khi anh lính VN ra lệnh cho viên tướng Pháp mở ba lô, người tù binh da đen mới thấy rõ mình đã è cổ cõng toàn những thứ “phục vụ cho ông tướng “ :“ mấy tút thuốc lá Camen, hai chai rươự  Huýt ki, ba cái bút máy Pác ke vàng , bốn năm bộ quần áo Gabácđin, ảnh của tướng Tatsinhi, một gói bạc Đông Dương dày cộm, một gói tiền vàng và nhẫn vàng, hai cái đồng hồ vàng….và nhiều thứ khác nữa…”.  
Chính điều đó làm người tù binh già “giác ngộ” chính nghĩa thuộc “ bên nào ”, đêm đó ông tìm tới các chiến sĩ Việt Nam. Họ vui vẻ hỏi :
” Phini balô, phini ba lô?”.
Rồi họ lại hỏi :
” Sao anh tóc đã hoa râm thế còn đi lính cho Pháp ?” .
Người tù binh da đen cảm động chảy nước mắt kể chuyện đời mình. “ Anh là người Maroc, làm thợ mộc ở một làng vùng núi. Nhà có một mẹ già , hai anh em. Pháp đến bắt lính. Người em bỏ trốn vào rừng…Những hình ảnh quê hương xa xôi hiện lên dồn dập như gọi anh trở về nguồn gốc cũ…”.
Truyện ngắn ‘ Người tù binh da đen “  của NĐT  được xếp hạng trong văn học cách mạng gói gọn chỉ có thế. Nó như một bản phác hoạ chân dung sơ sài, nặng về thiên kiến chính trị mà tính chân thực của nó còn phải chờ ý kiến xác minh của chính nhân vật trong truyện :” Tướng De Castrie”.
Vậy mà nó vẫn được khen là tìm được một “lối khác” trong sáng tác văn học đề tài ca ngợi “chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại của Đảng và nhân dân ta” và là một gợi ý cho bà nguyên Cục phó Cục Điện ảnh Nguyễn thị Hồng Ngát viết nên kịch bản “Người hàng binh” tức “Ký ức Điện Biên” làm thiên hạ om sòm bàn tán vì tiêu tốn của Nhà nước cả triệu đô la mà trong dịp kỷ niệm “ chiến thắng Điện Biên Phủ ” tháng 5-2004  số người tới rạp trong mỗi buổi chiếu đếm được chưa hết mười đầu ngón tay. Tất  nhiên, thất thu đó không thuộc lỗi  nhà văn Nguyễn Đình Thi…  

                                 (còn tiếp)