Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 89

5/

(tiếp theo)

Tôi thuật lại cho anh Đoàn Thạnh Nam về lời ông Bùi Thế Dung đã nói thì anh gật gù cái đầu, đáp:

- Đó... đó! Anh thấy, những người nổi tiếng mà phải vượt biên thì sẽ dễ dàng lấy cái vé đậu thôi. Cao Ủy coi các cá nhân này là nhân vật nổi của xã hội, người của quần chúng... Tất nhiên họ đối xử có khác với dân thường, củi mục. Anh biết, con trai ông Bùi Tín ở trại Tai A Châu thực ra thì trước đó đã bị Cao Ủy đánh rớt thanh lọc chung với đám thuyền nhân miền Bắc, đơn kháng cáo của anh ta cũng bị bác luôn. Cao Ủy biết ông Bùi Tín là ai? Chỉ sau khi tin về cuộc đào thoát của ông ta loan trên các đài radio BBC, VOA... thì Cao Ủy bên trại đó đã cho anh con trai đậu lại chung với người vợ nữa.

Báo chí Việt ngữ từ Hoa Kỳ, CANADA gửi vào trại có nói về cuộc đào thoát của ông đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam tên Bùi Tín này cũng như các cuộc phỏng vấn ông ta trên đài BBC loan tin từng kỳ mà chúng tôi đã nghe qua radio trong các buổi tối. Có ngờ đâu, các buổi truyền thông trên BBC đã giúp cho cả con trai lẫn con dâu ông thành người tị nạn Cộng Sản. Vậy cũng mừng cho gia đình anh chàng thuyền nhân này sẽ không còn phải lo lắng viễn cảnh bị trục xuất về lại quê nhà.

Ngồi khá lâu, cảm thấy đói, tôi rủ anh Đoàn Thạnh Nam đi kiếm cái gì bỏ bụng thì anh lắc đầu, bảo:

- Tôi ngại ra ngoài mấy tiệm đó lắm, thế nào cũng gặp người quen. Thôi! Chẳng cần đi đâu ăn cho xa, quán Gió này có bán sẵn. Anh để tôi lo.

Rồi không đợi tôi trả lời, anh Đoàn Thạnh Nam gọi chủ quán làm cho chúng tôi mỗi người tô mì gói cùng ổ bánh mì kẹp trứng chiên ốp la. Vừa lùa gắp mì nóng vào miệng, chợt nhớ anh Đoàn Thạnh Nam nói về các bản assessment của luật sư Cao Ủy, tôi hỏi thêm:

- Mấy bản assessment đó anh lấy đâu ra vậy? Có thể cho tôi xem qua tờ nào được không?

- Đốt hết cha nó cả rồi, đâu dám giữ lâu anh... Cao Ủy hay phòng An ninh P3V mà biết mình có mấy thứ này là chết. Anh lắc đầu, trả lời.

Anh Đoàn Thạnh Nam kể có được các bản assessment là nhờ vào tình cờ của một thuyền nhân thiện nguyện lấy được từ các thùng rác khi anh ta dọn dẹp trong khu vực accomodation nơi luật sư Cao Ủy tạm trú. Đây là các đoạn giấy xé bỏ từ bản in kim máy computer của luật sư. Lẽ ra chúng phải bị đốt bỏ nhưng có thể vì vô tình, các luật sư lại vất vào thùng rác. Thuyền nhân này, do nghĩ các tờ giấy in bằng Anh ngữ sẽ giúp anh ta trong việc học English nên đã mang về barrack và đưa cho anh Đoàn Thạnh Nam xem trước. Nhờ vậy, anh Đoàn Thạnh Nam mới biết các nhận xét của luật sư về một số trường hợp của thuyền nhân. Ngoài các tờ assessment, thuyền nhân thiện nguyện đó còn lấy được nguyên quyển Handbook thủ bản về luật tị nạn cùng các hướng dẫn cho luật sư khi phỏng vấn nữa. Tiếc là anh Đoàn Thạnh Nam đã phải đốt hết cả cũng vì lo cho riêng bản thân, sợ Cao Ủy cùng phòng An ninh P3V làm khó dễ trong việc định cư nếu họ biết anh có các tài liệu này trong tay. Anh bùi ngùi, nói nhỏ:

- Cần đến hay muốn trù dập mình, phòng An ninh P3V có thể dìm hồ sơ bằng cách không chuyển cho các phái đoàn định cư thì sẽ rất kẹt. Cái gương của bác sĩ Luân ngoài Galang 1 còn sờ sờ ra đó anh Vũ... Anh ở ngoài đó chắc biết ông bác sĩ tôi nói.

Bác sĩ Luân làm thiện nguyện ở nhà thương Galang 1 và là chủ quán cà phê Dạ Lý mà nhóm chúng tôi vẫn thường đến trong các buổi tối thứ Bẩy hay Chủ Nhật. Ông bác sĩ như đã kể ở các phần trước, là người tị nạn vì đến trại Galang trước ngày Cao Ủy tuyên bố đóng cửa. Không phải lo vụ thanh lọc như chúng tôi, lẽ ra ông ta đi định cư ở Pháp từ lâu nhưng vì cần bác sĩ thiện nguyện mà phòng An ninh P3V giữ lại trại chưa biết đến bao giờ mới được thoát cũi, xổ lồng. Người có hạnh kiểm xấu cũng bị ảnh hưởng đến việc định cư như trường hợp của hai anh em Thạc, Văn mà thuyền nhân trong trại vẫn xì xào với nhau về chiếc canoe bí ẩn của họ. Điều anh Đoàn Thạnh Nam lo lắng rất chí lý, nếu trường hợp tôi, cũng sẽ phải vậy. Tuy tiếc nhưng tôi thăm dò:

- Bây giờ cái ông làm thiện nguyện đó còn lấy thêm được các bản assessment nào khác nữa không anh? 

- Ông Peter Cao Ủy trưởng không để bất kỳ người Việt nào vào làm trong khu vực luật sư tạm trú nữa... kể cả thiện nguyện không thù lao. Ông ta thuê lao công Indo bản xứ dù phải trả lương hàng tuần. Có thể ông ta phòng xa hay đã biết phong thanh về các tờ assessment này... nên tránh trước. Anh Đoàn Thạnh Nam trả lời.

Những lần trò chuyện trước kia, tôi đã kể sơ về bản thân cho anh Đoàn Thạnh Nam nghe và khi đó, anh hứa sẽ cố vấn cho tôi cách khai lý lịch với Cao Ủy khi nào gần tới ngày. Ngày đó nay đã tới nhưng chuyện anh vừa thổ lộ, tôi đành ngồi yên không biết vui hay buồn. Nếu đã nhờ anh cố vấn cho bản lý lịch thì bây giờ nó sẽ hố, tôi chẳng biết phải sửa chữa ra sao nữa. Rồi tôi lại thắc mắc, chẳng biết qua các tờ assessment anh xem được, lý lịch bản thân mình có giống với người nào đó trong trại không. Như đoán được tâm trạng tôi, anh Đoàn Thạnh Nam nói:

- Anh bảo từng đi dạy các lớp trung học phổ thông cấp 2... Phải không? Ở đợt xổ thanh lọc đầu, người nào khai lý lịch là thầy giáo dạy các môn như văn, lịch sử ở nhà trường Cộng Sản... rồi khi đứng lớp, lại giảng bài cho học trò nghe khác với trong sách giáo khoa của môn mình phụ trách mà do đó, bị phòng giáo dục trừng phạt đến phải vượt biên thì đều thắng cả. Luật sư Cao Ủy còn lấy các điểm trong Nghị định thư 1969 về người tị nạn để bảo vệ cho thuyền nhân đó nữa như một vài trường hợp tôi biết ở trại mình. Có kể tên ra thì anh cũng không biết họ là ai. Tất cả đều đậu thanh lọc dù Cao Ủy chưa công bố kết quả. Trước đây tôi định nói anh khai giống mấy người đó nhưng bây giờ thì lại không thể. Lý do như đã kể với anh, trong các assessment sau này, luật sư Cao Ủy nghi ngờ vì thuyền nhân mình khai giống nhau. Thực tình trong thời gian này, tôi chẳng biết phải cố vấn cho anh khai lý lịch ra sao nữa! Mong anh hiểu.

Anh Đoàn Thạnh Nam thuật lại các trường hợp bộ đội đào ngũ và phải vượt biên vì đã chống lại các chỉ thị của cấp chỉ huy khi buộc phải phá hủy chùa, đập bể tượng Phật để kiếm vàng bên trong hay đàn áp dân lành... bên chiến trường Kampuchia cũng như người kể đã gia nhập vào các tổ chức phản cách mạng trong ý định lật đổ nhà cầm quyền Việt Cộng hoặc người khai phải tu hành chui hay dạy giáo lý lén lút. Anh kết luận:

- Hết ăn ảnh rồi! Giống y chang nhau như một con cá bơi chung trong luồng cá, không có gì mới, không có gì lạ riêng biệt. Đọc các bản assessment, tôi thấy luật sư Cao Ủy sẽ dễ dàng tìm ra sự thật và trong lời đề nghị ở cuối trang, gần như họ bác hết cả... Đó mới chết cho thuyền nhân mình mà thực tình, không người nào biết cách phải khai sao cho đạt yêu cầu. Cộng đồng người Việt ở hải ngoại, nhất là bên Hoa Kỳ, cũng có các hội đoàn luật sư chứ nhưng tôi nghĩ họ cũng lúng túng, chưa biết phải giúp thể nào cho thuyền nhân ở các trại tị nạn từ Hồng Kông cho đến các nước Đông Nam Á ngoài các lời khuyên chung chung. Đây là lần đầu tiên kể từ khi mất miền Nam VNCH, mới có vụ Cao Ủy thanh lọc thuyền nhân vượt biên Việt nên cũng khó để mà giúp.

Thôi vậy là hết cách! Phải chi anh Đoàn Thạnh Nam còn giữ được các bản assessment để mình nghiền ngẫm thì may sẽ rút ra được các kinh nghiệm cho bản thân, nhất là quyển Handbook thủ bản về luật tị nạn. Các tài liệu cực kỳ quý mà anh lại đốt bỏ nhưng cũng chẳng trách được. Anh Đoàn Thạnh Nam đã thực lòng nói với tôi những điều này thì chắc bốn người ban nãy cũng hoàn cảnh tương tự nhưng khi hỏi về họ thì anh cười lớn và nhấn giọng:

- À há! Hai tay ba tàu đó đều được Cao Ủy công nhận là tị nạn trước khi vượt biên đến Galang này. Tay hành nghề hớt tóc có giấy bảo lãnh của vị hôn thê bên Na Uy gửi cho nên cũng tin tưởng sẽ qua được bằng diện đoàn tụ. Chỉ có cha chụp hình dạo là bất cần, lại còn bảo trước sau gì Cao Ủy cũng phải lo cho thuyền nhân đi định cư hết, ai nhát mà hồi hương thì ráng chịu. Chả nói chuyện có vẻ lạc quan nhưng thực sự thì đã thủ trong tay tờ bảo lãnh của anh ruột bên Hoa Kỳ rồi. Hai tay ba tàu thì một người tên là La Chí Kiên, bà con với nhà thuốc La Vạn Linh ở Chợ Lớn. Tay kia tên là Lương Sú Há, gia đình có phần hùn trong đại công ty dầu bơ Nakydaco ở khu kỹ nghệ Biên Hòa ngay ngã ba đường đi về hướng Vũng Tàu. Nhà thuốc La Vạn Linh chuyên làm cao dán con cọp, dầu gió song thập... có mùi thơm thơm chắc anh cũng biết. Cuối thập niên 1970 khi có vụ nhà nước Việt Cộng trục xuất Hoa kiều, gia đình họ đã đóng vàng để xuất cảnh bán chính thức mà không thành. Ngồi trên tàu sắt cả đấy nhưng chẳng đâu ra đâu rồi lại phải quay về. 

- Phải quay về! Anh nói hai người họ đi ra nước ngoài rồi phải quay về? 

Tôi hỏi vội khi nghĩ hai người Việt gốc Hoa này đã từng ra khỏi nước mà tàu họ phải quay về Việt Nam tương tự như chiếc ghe mình vượt biên chuyến trước.

- Không! Hai tay kể khi đó gia đình ghi danh và đóng vàng xong xuôi cho chính quyền địa phương thì công an đưa xuống một tàu sắt lớn cho đến khi đủ người thì họ mới khởi hành. Nhưng ra tới cửa biển thì công an lại neo con tàu đứng yên một chỗ mà không đi tiếp như dự định lúc đầu. Hình như ở cửa biển Bình Đại. Lý do có những chuyến tàu đi trước đã bị chính quyền Malaysia, Indo... kéo ngược ra đại dương cho trôi vật vờ, vô định. Thậm chí có chiếc bị nổ tan tành giữa biển làm chết rất nhiều nạn nhân mà người ta đồn do công an gài mìn hẹn giờ sẵn. Tin về các thảm cảnh này trên đài truyền thông quốc tế làm vụ xuất cảnh người Việt gốc Hoa lấy vàng của chính quyền Việt Cộng phải ngưng lại. Hai người họ cùng gia đình phải chen chúc chung với cả ngàn người ở trên con tàu sắt đó đợi quyết định mới của chính quyền trung ương ngoài Hà Nội về số phận. Trên tàu, lương thực cạn dần, công an bán một chai nước, một ổ bánh mì hay nải chuối... đều giá một chỉ vàng, tuy biết đắt cắt cổ thì cũng phải bỏ ra mua để ăn, để uống mà tồn tại. Rủi kiệt sức chết, xác bị người khác quăng ngay xuống biển. Ai sống thì ráng cầm cự chờ phép lạ nhưng cũng có người quẩn trí đâm đầu xuống biển tự vận trong tiếng than tiếng khóc của thân nhân. Hai tay này quen nhau khi ở chung trên con tàu sắt đó rồi thành bạn thân, đi đâu cũng rủ nhau.

- Ghê quá... Rồi sao cả hai về được nhà? Chính quyền có trả lại cho họ vàng đã đóng không anh? Tôi hỏi.

- Cuối cùng, công an kéo con tàu sắt đó vào bờ và giải toàn bộ người đi trên đó vào ở trong một khu chòi lá do họ dựng lên tạm thời rồi bỏ mặc. Ai ở đó chờ thì chờ, ai bỏ về lại nhà cũ thì tự mò về, công an làm ngơ không chận bắt. Còn vàng đã đóng... thậm chí căn nhà cùng tài sản bên trong đã bị chính quyền lấy trước khi đi... chẳng đòi được. Cái năm vồ mà chúng trả lại. Anh biết các tay nhà giàu Chợ Lớn thời còn miền Nam VNCH đều cho con cái trong nhà học hành rất kỹ. Hai tay này cũng vậy. Một người biết Anh ngữ, người kia thì Pháp ngữ rất khá... nên sau khi về tới gia đình thì họ tìm cách vượt biên ngay. Đi không lọt nếu bị bắt thì gia đình lại chạy vàng ra rồi tiếp tục việc buôn bán để sống để chờ chuyến vượt biên. Thua keo này họ bày keo khác cho đến khi làm một chuyến sang Tàu thì mới thành công.

Lời anh Nam làm tôi nhớ lại câu chuyện về người Hoa đã nghe từ miệng tiến sĩ Tôn trong chuyến đi chơi Tanjung Pinang lần trước về các đại xì thẩu Chợ Lớn như Lý Long Thân, Trương Vĩ Nhiên, Lý Sen, Trần Thành, Đào Mậu, Tăng Tài... thời còn miền Nam VNCH. Những đại xì thẩu Chợ Lớn này được phong chức là vua sắt thép, vua gạo, vua vải sợi... điều hành ngầm nền kinh tế khi đó. Họ đóng thuế công khai cho chính quyền miền Nam VNCH nhưng cũng đóng thuế lén cho cả phe Việt Cộng. Vậy, nhưng khi chiếm xong miền Nam, Việt Cộng trở mặt làm thịt họ thẳng tay trong các chiến dịch tịch thu tài sản, xuất cảnh. Ở buổi đầu từ rừng núi về thủ đô Sài Gòn trong tư thế kẻ chiến thắng, mấy gã cán bộ Việt Cộng có gì cho bản thân ngoài vài bộ quần áo cũ rích, cái nón cối, đôi dép râu mòn vẹt cùng mớ lý luận Marxis trong đầu. Một hình ảnh trên răng dưới cát tút, vô sản hoàn toàn. Thấy tài sản bên phe thua trận miền Nam VNCH ở trước mắt, đám cán bộ này nổi lòng tham nên lao vào chiếm đoạt. Rồi tranh nhau với các đồng chí khác để chiếm đoạt cho nhanh cho nhiều hơn. Đeo cấp bậc nào thì lấy tài sản của đối phương theo cấp bậc đó như gã tướng Trần Văn Danh đã lấy nhà riêng của tướng Phạm Quốc Thuần ở cư xá Chí Hòa. Tư gia của các trung tá Nguyễn Văn Lướt, Lê Trí Vị... ở vùng Hốc Môn cũng bị các tên công an, huyện ủy viên Việt Cộng nhanh chóng xí phần. Chiếm xong tài sản của người thuộc chế độ miền Nam VNCH thì đám cán bộ Việt Cộng để mắt tới các thương gia, xì thẩu ba tàu. Lóa mắt vì khối tài sản nếu lấy được sẽ quá lớn nên mới có vụ các chính quyền địa phương bày trò tịch thu tài sản, tổ chức vượt biên để lấy vàng bỏ túi. Kể cũng tội nghiệp cho dân ba tàu, sống ở quốc gia nào cũng dễ dàng trở thành vật hiến tế cho chính quyền nước đó khi gặp dịp. Đám ba tàu ở Việt Nam cũng vậy và đó cũng là nguyên cớ khiến có trận chiến trong năm 1979 ở biên giới Hoa-Việt. Tổ chức cho người Việt gốc Hoa vượt biên lấy vàng bỏ túi, có những gã cán bộ Việt Cộng chỉ một sớm một chiều trở thành giàu sụ như trường hợp của hai gã công an ở tỉnh Đồng Nai tên Mười Vân và Nguyễn Văn Hiệp. Hai gã trùm công an địa phương này, tên nào tên nấy có cả ngàn lượng vàng lá trong nhà khi bị xét bắt. Không riêng gì vùng Chợ Lớn, ở bất cứ địa phương nào từ Nam đến tận ngoài Bắc, xì thẩu dù từng ra mặt công khai hay lén lút, ủng hộ ngầm cho Việt Cộng khi còn chiến tranh, nay cũng phải ngồi tù sau khi bị chúng lột sạch tài sản trong những năm cuối thập niên 1970 đó. Tuy vậy sau khi được tha tù thì bằng các đường dây ngầm tài chính, đám xì thẩu Chợ Lớn lại từ từ trỗi dậy. Hai tay người Việt gốc Hoa sáng nay, tôi nghĩ tuy gia đình họ không bằng cỡ các đại xì thẩu kể trên nhưng cũng một cách chuyển ngân bí mật nên mới có tài chánh để tiếp tục các chuyến ra đi mới. Tôi cất giọng hỏi:

- Sang Tàu? Anh nói họ đi Hồng Kông hả? Khi nào vậy?

- Không! Họ đến thành phố Quảng Châu bằng cách đi đường bộ băng qua biên giới Việt-Hoa giữa năm 1989. Ngoài tiếng Anh tiếng Pháp, họ còn biết tiếng Việt và thổ ngữ Quan Thoại cùng Quảng Đông nữa... nên dễ dàng trà trộn trong dòng người buôn bán của hai nước. Hai người họ chạy vào tòa lãnh sự Hoa Kỳ ở thành phố Quảng Châu xin được tị nạn chính trị. Nhân viên lãnh sự quán Hoa Kỳ sau khi phối hợp với luật sư Cao Ủy điều tra thì đã công nhận tư cách tị nạn và gửi họ đến tạm trú ở một khách sạn tại thủ đô Bắc Kinh. Trong lúc đang chờ ở khách sạn này để làm thủ tuc nhập cảnh vào Hoa Kỳ thì có vụ công an Trung Cộng đàn áp sinh viên biểu tình ở công trường Thiên An Môn. Anh Vũ còn nhớ vụ sinh viên Tàu kéo nhau biểu tình ở công trường này từ tháng 4 năm 1989 và kéo dài cho đến đầu tháng 6 thì bị chính quyền Trung Cộng giải tán thô bạo. Cả ngàn sinh viên tay không đã bị đạn bắn chết, xích xe tăng nghiền nát trong những ngày đó. Công an Trung Cộng còn tràn vào các khách sạn ở Bắc Kinh để lục soát và kiểm tra tất cả khách cư trú với mục đích bắt thêm người ủng hộ vụ biểu tình. Khách nếu là người ngoại quốc thì bị trục xuất ra khỏi nước ngay vì chính quyền Trung Cộng muốn che dấu vụ vừa đàn áp dã man với thành phần sinh viên nước họ. Vì khai là dân Việt nên cả hai người họ bị công an Trung Cộng trục xuất về lại Việt Nam. Tới biên giới, công an Việt Nam bắt giam hai người họ cả 6 tháng trời mới trả tự do. Sau đó, cả hai tiếp tục con đường đã định và chạy thoát đến được trại Galang.

Nhẩm tính thời gian, tôi biết hai người Việt gốc Hoa đến trại Galang trước đoàn hai ghe chúng tôi chỉ vài tháng. Vậy họ vẫn chưa tới lượt Cao Ủy thông báo thanh lọc. Nói ra suy nghĩ của mình thì anh Đoàn Thạnh Nam gật đầu, xác nhận:

- Cả hai đều bảo với tôi khi nào vào thanh lọc, sẽ trình bày cho luật sư Cao Ủy biết về trường hợp của họ. Một câu hỏi họ định sẵn với luật sư Cao Ủy là đã được công nhận tư cách tị nạn rồi thì đâu phải thanh lọc nữa. Nếu cần, luật sư Cao Ủy cứ liên lạc trực tiếp với phái đoàn Hoa Kỳ tại trại Galang về nhân thân họ, sẽ biết chính xác.

- Họ sẽ đậu thanh lọc, tôi nghĩ vậy. Lãnh sự quán Hoa Kỳ ở Quảng Châu chắc chắn còn giữ hồ sơ của hai người. Tôi đáp lời.

- Họ nói vậy nhưng theo tôi cũng phải chờ xem Cao Ủy xổ thanh lọc đợt sắp tới đây thì mới yên tâm. Anh Đoàn Thạnh Nam cười nhẹ sau câu nói.

- Sao lại có vụ chờ xem xổ thanh lọc sắp tới hả anh? Tôi cất giọng.

- Ngoài hai người họ thì còn có một tay khác hoàn cảnh tương tự và đang sống tại Galang. Tôi không nhớ tên người này nhưng nghe nói anh ta từng ở trại tị nạn Sikiew bên Thái Lan, sau đó gia nhập vào đám phục quốc và trở về quê nhà để hoạt động cho tổ chức rồi bị bắt. Anh sống ở Sài Gòn chắc đã nghe chuyện chính quyền Việt Cộng xử án tổ chức phục quốc xâm nhập trong năm 1984 chứ?

Hồi còn ở trong nước, tôi đã nghe tin chính quyền Việt Cộng xử án hai vụ phục quốc từ hải ngoại xâm nhập nội địa và bị bắt. Tôi không biết gì về hai tổ chức phục quốc cũng như theo dõi buổi xử án nội vụ của họ tại pháp đình Sài Gòn khi đó nhưng có đến xem vũ khí cùng tài liệu do công an thu được, bày công khai tại tiền đình tòa nhà Hạ Nghị Viện cũ cạnh bên nhà hàng Continental nổi tiếng. Nghe anh Đoàn Thạnh Nam hỏi vậy, tôi gật đầu:

- Có! có nghe... Các năm 1983, 1984 ở trong nước, báo công an có đăng bài họ kể việc phá án nhóm phục quốc xâm nhập từ hải ngoại về Việt Nam. Một nhóm đi bằng tàu sắt và nhóm kia đi bằng đường bộ băng qua biên giới Lào-Việt... nhưng sao anh chàng phục quốc này có mặt ở đây hay vậy!

Anh Đoàn Thạnh Nam kể vì mới gia nhập tổ chức phục quốc nên anh ta bị chính quyền Việt Cộng kết án gần 4 năm tù. Được trả tự do, anh ta làm chuyến vượt biên mới và đến trại Galang cuối năm 1989. Anh ta đã qua thanh lọc và đang chờ Cao Ủy công bố kết quả. Cứ theo số thứ tự của ghe nhập trại thì anh chàng cựu phục quốc sẽ biết kết quả trong đợt Cao Ủy xổ thanh lọc kỳ tới.

Thấy trời đã hẳn chiều, cả hai chúng tôi chia tay sau câu nói của anh Đoàn Thạnh Nam trước khi rời khỏi quán cà phê Gió: " Cứ wait and see nha anh Vũ! Rồi mình sẽ biết thêm nhiều chuyện trong canh bạc thanh lọc của Cao Ủy với thuyền nhân người Việt ".

Buổi tối, tắm táp rồi cơm nước xong xuôi, tôi và Yến ra khỏi barrack, nhắm hướng quán cà phê Dạ Lý. Đến nơi, đã thấy anh Khảm, chị Phượng ngồi từ trước ở một cái bàn ngoài sân nên cả hai đứa tôi liền ghé vào. Yến cất tiếng chào nhưng cả anh Khảm lẫn chị Phượng đều im lặng, không đáp lời. Thấy lạ, tôi ngước nhìn họ, một vẻ buồn bã lộ trên khuôn mặt và trong khoảnh khắc, anh Khảm cất tiếng:

- Anh có tên trong chuyến định cư Mỹ sắp tới rồi Vũ à... Còn Phượng thì chưa...

Nghe anh Khảm bỏ lửng câu nói dở chừng, Yến cười, bảo:

- Em mừng cho thầy đấy. Còn chị Phượng... rồi cũng chuyến kế tiếp thôi, có gì mà phải buồn. Thầy thuộc diện đi Mỹ còn chị Phượng định cư Úc thì làm sao cùng chung một chuyến với nhau được. Phải không?

- Không phải vậy. Anh Khảm ngắt lời Yến rồi sau đó tiếp: " Phượng đang buồn, đang giận anh đây nè, mấy em đâu biết... Cũng tại do anh mà ra cả ".

Thấy tôi và Yến ngơ ngác không hiểu chuyện, anh Khảm nói thêm:

- Phượng bị bệnh phổi... Thế mới kẹt.

Anh Khảm kể phòng IOM khám bệnh cho thuyền nhân rời trại đi định cư báo tin chị Phượng bị bệnh phổi và cần ít nhất ba tháng liền phải đến uống thuốc trước mặt nhân viên y tế cho đến khi có xét nghiệm mới. Phòng IOM nếu xét nghiệm tiếp, thấy khỏi bệnh thì chị Phượng mới lên đường đến Úc được. Nếu còn bệnh, lại phải tiếp tục thêm ba tháng điều trị nữa cho đến khi lành hẳn. Chị Phượng có bao giờ hút thuốc lá mà nay bị bệnh phổi! Chỉ có mình anh Khảm, tôi nhìn qua anh thì như một hối lỗi, anh khoát tay, phân bua:

- Có ai ngờ... anh hút thuốc mà Phượng nó gánh cho mới khổ thân. Biết vậy, anh bỏ quách từ hồi còn ở trong rừng bên Mã Lai. Phượng khuyên bảo hoài mà anh có nghe đâu. Hối hận quá hai em à!

Cái này, ảnh hưởng từ hít chung khói của người hút thuốc lá mà tôi đã từng nghe. Yến đã một lần bảo với tôi: " Thầy Khảm hút thuốc rồi nhả khói mù mịt như tàu Tây chạy trên sông, em thấy mà sợ. Không hiểu sao chị Phượng lại chịu đựng nổi. Anh mà hút thuốc như thầy Khảm thì em sẽ goodbye ngay lập tức ". Có chút thắc mắc, tôi cất tiếng hỏi với anh Khảm:

- Anh hút thuốc lá mà phổi không bị gì? Phòng IOM thông báo sức khỏe anh ra sao, không lẽ...

- Anh khỏe... phổi phiếc lại bình thường. Phòng IOM khám đi khám lại mà anh không có bệnh ở phổi. Thế mới lạ! Từ chập chiều, nghe phòng IOM thông báo tin, Phượng buồn rồi trách anh cho tới giờ. Anh và Phượng, mấy em tính, nếu có bệnh phổi thì người đó phải là anh. Biết làm sao bây giờ... Anh dứt khoát bỏ thuốc lá từ hôm nay... Gói thuốc còn dở nhiều điếu, anh đã vất ngay vào thùng rác rồi.

Thảo nào tối nay, tôi không ngửi thấy mùi khói cùng gói thuốc lá Marboro hai màu trắng đỏ và cái quet máy Zippo quen thuộc nằm trên mặt bàn như mọi lần trước. Cái quẹt máy Yến đã nhiều lần lấy tay mở rồi đóng nắp để nghe tiếng kêu lóc cóc riêng biệt. Yến đứng lên, kéo ghế ngồi sát bên cạnh và cầm tay chị Phượng rồi nàng thỏ thẻ, nhát gừng:

- Chị Phượng ơi! Hôm nay em biết chị buồn... buồn lắm... em cũng chẳng biết nói gì đây. Nếu chị có khỏe, không bị bệnh phổi và đi định cư sớm thì trong em vui mà cũng buồn nữa... Em nói thật lòng... em buồn vì vắng chị. Trại Galang này đông người mà thân thiết với em có bao nhiêu đâu. Thầy Khảm nào muốn chuyện chị bị bệnh phổi. Khi thầy đi rồi thì còn em... còn em ở đây... với chị.

...

                                 (còn nữa)
                              

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét