Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 5 tháng 7, 2012

MIỀN.."CỤP LẠC" (KỲ 13)


                                
                                                          (tiếp theo)

Gã hoảng lên, nổi cáu :
“ Có quái gì bác cười như động rồ thế ?”
“Ơ… miệng tôi, tôi cười, quyền gì cậu cấm tôi ?”
“Bác cười mặc bác, nhưng đứng ở chỗ này thuộc phòng tôi, cấm bác không được cười. Rõ thật bất lịch sự…”
“ Ai dà dà… thế cơ đấy… bắt người ta phải lịch sự với cái con điếm ấy đấy…”
 Gã nở một nụ cười tinh quái :
“ Nhớ đấy nhé, bác nhớ đấy, câu nói ấy mà đến tai ông trung tá thì bác đừng chối nhé. “
“ Ơ… ơ, anh định doạ tôi đấy hả ? Tôi nói cho anh biết, cái loại như anh, nói chẳng lọt lỗ tai được ai , nói gì ông trung tá…”
Lão nguây  nguẩy bỏ ra khỏi phòng. Lão sợ, ha ha, lão sợ, mình điểm đúng huyệt lão rồi, từ nay đừng có mà vênh váo,  quát tháo như trước  nhá. Gã gài chặt cửa phòng,bước tới bên cửa sổ, đưa mắt buồn rầu nhìn sang bao lơn vắng. Tội nghiệp, tội nghiệp nàng, hẳn tràng cười thô bỉ của lão già làm nàng tổn thương lắm, không biết chừng giận lây gã nữa cũng nên.
Ôi, ước gì bày tỏ được cho nàng biết mọi chuyện là tại lão già,gã chẳng có lỗi gì, nếu được phép gã sẵn sàng quỳ xuống hôn đôi bàn chân thon nhỏ để bày tỏ lòng ngưỡng mộ nàng.
 Ý tưởng gã bất chợt dừng sững bởi sự xuất hiện đột ngột của tên đàn ông lực lưỡng nếm sang gã cái nhìn giận dữ. Trời ơi, cái thằng thô lỗ, mặt đầy thịt kia lại là chồng nàng ấy ư ? Nó chỉ đáng đầy tớ nàng thôi. Thảo nào nàng mang về cho hắn lắm cặp sừng thế.
Tuy nhiên, vốn không quen đối chọi với gân bắp, mà cái thằng cha trần trùng trục bên kia hình như đang gồng cả hai tay lên,bởi thế gã đành cúi xuống nhìn chiều sâu hun hút.
 Gã bỗng thấy choáng váng, chóng mặt trước dòng xe và người nhỏ tí như đồ chơi trẻ con bên dưới cả một vòm trời cao vợi.  Cuộc sống mới nhỏ nhoi, tội nghiệp làm sao, bao nhiêu lo toan, bận rộn ngược xuôi chẳng qua cũng giống đàn kiến tha mồi về tổ vậy thôi. Ấy thế mà con người ta cứ muốn phát rồ lên  trong yêu thương và thù hận, ôm ấp và đấu đá, làm cái gì kia chứ, để làm cái gì ?
Gã vung tay như cãi nhau với ai đó, chúi cả nửa người ra ngoài, may thay, bản năng sinh tồn đã cứu gã khỏi cái chết tan xác bằng cách móc cứng chân gã vào hốc tường. Giọng cười ré lên từ bao lơn bên kia, chan hoà trong người gã một sức mạnh khiến gã bật được người vào trong , trời ơi, phải chăng chính giọng cười của nàng đã cứu gã ? Tuy nhiên, không chịu nổi cảnh nàng  đứng sóng đôi với thằng đàn ông cho dù là chồng nàng, gã đóng sập cửa sổ và nằm sóng soài trên giường. Giọng cười của nàng vẫn còn vang lên trong gã và gợi lên một liên tưởng lờ mờ nào đó. Phải rồi,  chính giọng cười đó đã lóe lên trong gã một khám phá bất ngờ : nàng giống hệt người đàn bà trong cuốn sách gã đanh dịch, cũng giọng cười, cánh  mũi cao, miệng hơi rộng với hàm răng trắng đều và một cặp đùi tuyệt vời như nàng, như nàng…
                                *
                              *  *

Số phận người đàn bà trong cuốn sách dịch ấy giờ đây đã làm gã quan tâm tới mức vừa thức giấc trong đêm gã đã nghĩ tới và lò mò ra bật đèn bàn viết dịch tiếp. 
“Cúp điện”, ý nghĩ  lóe lên trong căn buồng tối om. Dở thực, mình dở thực, chẳng bao giờ nghĩ  tới mua cái đèn dầu dự trữ. Nhưng vậy cũng tốt, được leo lên giường nằm lại và tha hồ thả cho tưởng tượng bay bổng trong bóng tối. Đó là cái thú hiếm hoi trong nếp sống thường ngày vẫn dịch sách tới khuya, khi leo lên giường là ngủ một mạch tới bạch nhật. Vậy là gã sung sướng đốt điếu thuốc, thở chậm ra làn khói lơ lửng. Cửa sổ bên kia hắt lờ mờ sáng xanh,  nàng chắc  đang say sưa ngủ trên chiếc giường chỉ ló ra trước mắt gã có mỗi cái đầu màn. Chao ôi ước gì gã có thể biến thành con muỗi bay sang đó, dù chỉ được đậu bên ngoài cánh màn nhìn ngắm thôi cũng thoả lòng.
Ấy thế rồi không phải con muỗi mà chính trí tưởng tượng đã đưa gã bay sang bên đó. Thằng chồng nàng và đứa bé con nàng biến đâu mất như thể chưa từng có trong căn buồng thơm tho này. Làn gíó đưa gã qua cửa sổ, nhẹ nhàng lướt đi trên nền gạch bông và đặt gã đứng bên cạnh giường.
Gã ngẩn ngơ ngắm nhìn những đường nét tuyệt diệu ẩn hiện sau lần váy mỏng. Đôi mắt khép hàng mi dài, cánh mũi cao khe khẽ rung, miệng mở hé, bàn tay trắng ngần đặt nhẹ trên đôi gò ngực, trời ơi không một pho tượng vệ nữ nào có thể sánh nổi với nàng lúc này.
Trái tim gã đập muốn vỡ lồng ngực, tay chân bủn rủn không còn vâng theo  ý gã, đôi mắt bối rối không biết đặt vào đâu trên vườn địa đàng  kia. Gã cứ đứng thế nín thở khỏi kinh động giấc ngủ ngọt ngào của nàng cho tới khi đôi mắt nàng hé mở, đôi tay nàng vươn về phía  gã, miệng nàng thốt lên
” Kìa, anh lại đây với em… “.
Khi toàn thân nàng đã bùng cháy thành ngọn lửa trắng toát thiêu đốt gã giãy giụa trong cơn yêu  mê mẩn, gã bỗng thấy một cánh tay nàng với lên đầu giường và ngay lập tức một khẩu súng lục đã gí sát ngang ngực gã. 
“  Cầu chúa đi anh yêu, mình sẽ thực hiện đúng giao ước, em cho anh tình yêu, đổi lại, anh trao tính mạng  anh cho em.”
“Ồ không, không…”
  Gã lắp bắp kinh hoàng nhìn gương mặt người đàn bà lúc này biến dạng trở thành quỷ quyệt và độc ác.
“ Đừng quá sợ hãi vậy, anh yêu, trước sau rồi ai cũng chết  . Em sẽ dành  cho anh hạnh  phúc được chết trên thân thể em.”
“Đừng, đừng, em…”
  Gã cuống quýt, giãy giụa khỏi đôi tay và lúc này đôi vú nàng ép chặt đầu làm gã ngạt thở và hoa mắt bởi những vòng sáng trắng lóa. Thế rồi khi biết chắc không tránh khỏi cái chết, gã bỗng thấy ngực đau nhói và vang lên bên tai tiếng nổ khô ngắn. Gã choàng mắt, thấy mình thức giấc trên giường, quần áo ướt đẫm mồ hôi và bóng tối trong buồng lúc này đã loãng đi nhiều.  Chắc  quá nửa đêm rồi. Một liên tưởng bất ngờ làm gã ngồi nhỏm dậy. Phải rồi, cái tiếng nổ gã nghe thấy trong giấc mơ có vẻ giông giống tiếng động trong đêm cuối năm mà ông cảnh sát cứ buộc gã nhớ lại.
Phải chăng nhà dưới lại vừa nảy ra tiếng tiếng động nữa và chính nó đã làm gã thức giấc ? Ngồi bó gối trên giường, gã căng tai cố lắng nghe, hy vọng nó lặp lại để gã biết rõ nó là cái gì ?
Gã nhớ ra căn hộ phía dưới thuộc gia đình ông trung tá, ông đã đi công tác vắng, vậy chỉ còn bà ấy, cậu con trai và cô gái út thôi, con bé người làm nghe nói đã cho thôi việc tháng trước, giờ này cả ba hẳn đều đã ngủ, vậy ai là người gây ra tiếng động vừa nãy?
Chắc không có đâu, gã nằm mơ thôi.  Trời sáng dần và gã thấy bồn chồn. Lần trước, cũng một tiếng động trong đêm và ngay sáng hôm sau, cảnh sát đã tới đưa gã đi, phải chăng tiếng động vừa rồi dù chỉ trong giấc  mơ cũng báo hiệu một vụ bắt bớ  sáng mai.
Phải chuồn sớm thôi, phải chuồn trước khi lão cảnh sát tới, gã nhảy xuống đất, thu xếp bản thảo, giấy tờ trên bàn nghĩ xem ngày hôm nay nên trốn ở đâu . Tiếng loa khu tập thể oang oang nhạc thể dục, gã ghé mắt qua khe cửa sổ và cái hình ảnh gã nhìn thấy ở bao lơn bên kia làm gã tiêu tan hết lo lắng, phiền muộn. Hóa ra sáng nào nàng cũng dậy sớm giơ tay, co chân, thể dục thẩm mỹ trong lúc gã vẫn say sưa ngủ.
” Emily, Emily của anh, chẳng lẽ em xinh đẹp, tươi mát thế kia mà đêm qua em lại bắn chết anh sao ? “.
Gã lấy tên người đàn bà trong sách đặt cho nàng và thầm kêu lên như vậy.

                              (còn tiếp)

Thứ Tư, 4 tháng 7, 2012

ÔNG "SÔNG CÔN" ĐÃ ĐI RỒI !


       
 VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC NHÀ VĂN NGUYỄN MỘNG GIÁC                              
 
Tôi bàng hoàng nghe tin nhà văn Nguyễn Mộng Giác từ trần  ngày 2 tháng 7 năm 2012 thọ 73 tuổi. Ông là tác giả của những truyện ngắn nổi tiếng : Bão Rớt, Tiếng Chim Vườn Cũ, Qua Cầu Gió Bay... Truyện dài Ðường Một Chiều được giải thưởng Văn Bút của Việt Nam Cộng Hòa năm 1974. Năm 1981, ông hoàn thành Trường thiên tiểu thuyết Sông Côn Mùa Lũ , mượn bối cảnh thời Quang Trung để nói về xã hội ngày nay. Tháng 11 năm 1982 ông đến Hoa Kỳ, cộng tác với các báo Ðồng Nai, Việt Nam Tự Do, Người Việt, Văn, Văn Học Nghệ Thuật. Từ 1986 ông làm chủ bút tạp chí Văn Học, một tạp chí uy tín quy tụ nhiều cây bút văn học hải ngoại và cả trong nước. Năm 1989 ông xuất bản  Mùa Biển Ðộng (trường thiên tiểu thuyết gồm 5 tập, NXB Văn Nghệ ).
Nguyễn Mộng Giác là một nhà văn uy tín của Việt Nam, với nhiều tác phẩm ghi lại những biến chuyển dữ đội của xã hội. Bày tỏ lòng thương tiếc ông , xin đăng lại một phần một bài nói và một số trang viết của ông.

           Phát biểu  của nhà văn Nguyễn Mộng  Giác
                                                      
                                                     (trích)

trong buổi ra mắt tiểu thuyết ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ của Nhật Tuấn ngày 7-4-2001 tại hội quán LittleSaigon  Radio (Westminster, Quận Cam – California)

                                    Kính thưa các quan khách
                               Kính thưa các văn hữu thân mến,

Cái buổi ra sách hôm nay nói gì thì nói là một buổi ra sách bất thường , rất bất thường đến nỗi mà có một số người đặt câu hỏi và tìm cách giải thích tại sao vậy, tạo sao mà một số cơ sở truyền thông có uy tín ở đây tìm cách ra mắt một cuốn sách trong nước , cuốn sách đó không phải là xuất bản lần đầu tiên mà là tái bản lần thứ tư. Có âm mưu gì đây ? Và tại sao lại tự nhiên làm rầm rộ một cuốn sách mà đã viết từ năm 1988, in ra từ 1990 và hoàn toàn chìm vào yên lặng suốt 10 năm qua. Tại sao ?
Đó là một điều bất thường , tuy rằng có thể giải thích một cách đơn giản là bởi vì ông Nhật Tuấn là em ông Nhật Tiến.
Đành rằng ông Nhật Tiến là một nhà văn khả kính , mà cái tinh thần trách nhiệm xã hội cao của Nhật Tiến, người mà nhà văn Mai Thảo đã đưa và một biệt danh rất dễ thương là “ người thích đứng ngoài nắng”, và vì đứng ngoài nắng nhiều cho nên bị nhiều những lời chỉ trích hay là lời tranh luận quanh nững lời phát biểu của anh.
Nhưng mà tôi nghĩ là cái uy tín của anh Nhật Tiến cũng không đủ để mà bao nhiêu cơ sở truyền thông quan trọng ở đây hội tụ lại để mà tổ chức cái buổi ra mắt sách bất thường này.
Tôi cho rằng sự bất thường này là một điều phải xảy ra , để mà tái lập một cái công bằng , một sự công bằng về chính trị hoặc là một sự công bằng về giá trị văn chương, và sự bất thường này đã bắt đầu từ khá lâu.
Trước hết là về tác giả, sau năm 1975, tôi còn lại ở Việt Nam, và một cách ngẫu nhiên có gặp anh Nhật Tuấn , vì là em Nhật Tiến nên chúng tôi nói chuyện trao đổi cởi mở và thân thiện hơn.
Cái ngạc nhiên đầu tiên của tôi là hai anh em không giống nhau . Anh Nhật Tiến thì dạng người thanh, ốm, một nhà nho trong cách cư xử , cách ăn nói và cách viết. Ông Nhật Tuấn nhà ta thì là một người rất phóng khoáng, nghệ sĩ, ăn nói thì rất là mạnh bạo , nghĩ là hai anh em thì ngoại hình và tính tình khác nhau.
Tôi gặp xong thì đi tìm đọc các truyện ngắn cuả Nhật Tuấn thì không thấy có gì đặc biệt . Lúc bấy giờ anh Nhật Tuấn nổi tiếng bằng một số truyện ngắn mà tiêu biểu là “Con chim biết chọn hạt” mà nhân vật là cô thư ký  trong một văn phòng của Nhà nước, cuộc đời các cô tiểu thư trong chế độ cộng sản chứ không có gì đặc biệt , không có những cái đau, những cái cắn rứt những nỗi khổ mà cả dân tộc đang trải qua.
Nhưng mà trong một lần trong một dịp đi uống càphê với nhau, anh Nhật Tuấn  đã đọc cho tôi nghe một truyện anh vừa viết và rất thích và không  tìm được chỗ để in. Tôi nhớ đó là chuyện một nhân vật nữ là công nhân xây dựng vì nghe lời dụ dỗ của một cán bộ rồi có mang, và bị phụ rẫy , và trong một lúc làm việc thì do bất cẩn trong tổ chức và trong bảo vệ lao động rơi từ trên cao xuống và bị chết . Cái tai nạn khủng khiếp đó hoàn toàn bị mọi người  bàng quan.
Truyện ngắn rất xúc động và tôi hiểu rằng đằng sau  cái vỏ bề ngoài bàng quan, bên trong các nhà văn miền Bắc vẫn là một con người biết xót thương dân tộc…
                                 (hết trích)
                      
                    PHỤ LỤC  :

          Thông báo của đài LSR :

          “ Chiều ngày Thứ Bảy mùng 7 tháng 4 - 2011 này sẽ có một cuộc gặp gỡ giữa những người yêu sách tại Hội quán Little Saigon Radio. Dưới sự bảo trợ của các nhật báo Người Việt, Việt Báo và Viễn Đông, cùng tạp chí Thế Kỷ 21, Công ty truyền thông Kícon.com, đài phát thanh VNCR, đài truyền hình Little Saigon Television, Little Saigon Radio và một số thân hữu, một buổi ra mắt sách rất đặc biệt sẽ được tổ chức vào lúc ba giờ chiều ngày Thứ Bảy tại Hội quán Little Saigon Radio, số 15781 Brookhurst, thị xã Westminster.
Xin mời quý thính giả tham dự đông đảo, để nghe nói chuyện về một tác phẩm độc đáo, là cuốn Đi về nơi hoang dã của nhà văn Nhật Tuấn. Được viết từ hơn 10 năm trước, cuốn truyện vừa được tái bản lần thứ tư ở hải ngoại, nhưng ở trong nước, suốt 10 năm qua, nó bị chôn vùi dưới sự im lặng nặng nề và lúng túng của nhà cầm quyền. Vì sao như vậy, có lẽ hai nhà văn Nguyễn Mộng Giác và Hoàng Khởi Phong có thể trình bày cho chúng ta trong buổi gặp gỡ cuối tuần này. “

                        TUYÊN CÁO
  
( Của Hội Văn Nghệ Sĩ Việt Nam Tự Do)


XÉT RẰNG: Có một số cơ quan truyền thông, báo chí và cơ sở xuất bản tại Nam California đứng ra bảo trợ buổi ra mắt sách của nhà văn Cộng sản Nhật Tuấn vào ngày 7 tháng 4 năm 2001 tại Nam California,Hoa Kỳ. Được biết nhà văn Nhật Tuấn hiện là Giám đốc nhà xuất bản Văn Học của CSVN, phân bộ Miền Nam (tại Sài-Gòn). Đây là một nhà xuất bản lớn và quan trọng bậc nhất tại Việt Nam, lãnh trọng trách do Cục Tư Tưởng Văn Hóa của Đảng CSVN ủy thác.

Chúng tôi cực lực đòi hỏi:

Thứ nhất: Các cá nhân cũng như cơ quan truyền thông, báo chí và cơ sở xuất bản có chân trong Ban Tổ Chức hãy lập tức đình chỉ buổi tổ chức ra mắt cuốn sách ' Đi Về Nơi Hoang Dã" của nhà văn CS Nhật Tuấn vào ngày 7 tháng 4 năm 2001 tại Nam California.

Thứ hai: Các cơ quan truyền thông và báo chí có chân trong Ban Tổ Chức hãy ngưng ngay lời quảng cáo trên đài phát thanh; đồng thời ngưng đăng quảng cáo trên các báo Việt ngữ.

Chúng tôi tha thiết yêu cầu:

Thứ nhất: Giới báo chí, truyền thông và truyền hình Vlệt Nam tại Nam California hãy đồng loạt và liên tục tố giác các âm mưu myên truyền, trực tiếp hay gián tiếp, cho  Cộng sản cũng như cá nhân của người làm văn hóa Cộng sản.

Thứ hai: Các đoàn thể chính trị, văn hóa, hội đoàn và cộng đồng hãy xiết chặt hàng ngũ và hướng dẫn dư luận để phá vỡ âm mưu thâm độc của CSVN qua bàn tay nối giáo cho giặc của một số người Việt mang danh tị nạn chính trị.

Thứ ba: Yêu cầu đồng bào nhất trí tẩy chay buổl ra mắt sách của nhà văn CS Nhật Tuấn vào ngày 7 tháng 4 năm 2001 tại Nam California.

Làm tại Hoa Thịnh Đốn, ngày 4 tháng 4 năm 2001.

Thừa ủy Nhiệm Ban Chấp Hành Trung ương
Hội Văn Nghệ Sĩ Việt Nam Tự Do
Chủ Tịch,
Vĩnh Liêm

        
              Sông Côn mùa lũ                                                 

                          (trích)
   
 “ Sông Côn mùa lũ là trường thiên tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Nguyễn Mộng Giác viết về người anh hùng áo vải Lam Sơn Nguyễn Huệ. Tuy trong cả ngàn trang tiểu sử, chiến công lừng lẫy đuổi  quân Thanh xâm lược chỉ được diễn tả trong có vài trang nhưng đã thể hiện được tinh thần “ Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn ..Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ “ trong “chiếu xuất quân” của vua Quang Trung.”. Xin giới thiệu đoạn trích sau đây để thấy sự khác biết một trời một vực giữa ông cha ta ngày xưa và con cháu đớn hèn ngày nay.

Tiếng lao xao rộn rã vì mừng vui và khâm phục. Khi ba quân đã ngồi yên ngay ngắn, nhà vua mới nói:
- Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện chúng ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao nấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương nam phương bắc chia nhau mà cai trị. Người phương bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác. Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng Nữ vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái tổ, các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương bắc. Ở các thời ấy, bắc nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Đinh đến đây, dân ta không đến nỗi khổ như hồi nội thuộc xưa kia. Mọi việc lợi, hại, được, mất ấy đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước. Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông gương mấy đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng.
Các người đều là kẻ có lương tri lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn. Chớ có quen theo thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra sẽ bị giết chết ngay tức khắc. Ta không tha một ai. Lúc đó chớ bảo là ta không nói trước . 
Vua Quang Trung nói xong, tất cả đều im phăng phắc. Rồi đột nhiên không ai bảo ai, từ rụt rè đến sôi nổi, tất cả mọi người đều dùng hết sức mình hô to: "vạn tuế, vạn tuế". Nhà vua vui mừng, quay lại nói với Trần Văn Kỷ:

- Cái hạn mười ngày của La sơn phu tử chắc sai rồi. Không đến mười ngày đâu, ông Kỷ ạ!
Hôm sau, vua Quang Trung hạ lệnh tiến quân ra phòng tuyến Ba Dội, Biện Sơn. Dù đô đốc Tuyết đã nhắc đi nhắc lại rằng vua Quang Trung không hề giận dữ khi nghe tin quân Bắc Hà đã rút lui về Ba Dội, Ngô Văn Sở vẫn hoang mang e ngại khi phải ra mắt nhà vua. Quan đại tư mã chùng chình chờ đủ mặt nội hầu Phan Văn Lân và thị lang Ngô Thì Nhậm mới chịu cùng đến gặp Nguyễn Huệ. Nhà vua không chờ cả ba yên vị, đã cau mặt trách:
- Các ngươi đem thân đi theo việc binh, đã lên ngôi tướng suý, ta đã giao cho tất cả mười một tuyên, lại cho tuỳ nghi làm việc. Giặc đến chưa đánh trận nào, mới nghe thấy tiếng đã ù chạy. Binh pháp nói rằng: "Quân thua thì chém tướng". Tội các ngươi đáng chết một vạn lần mới xứng"
Lúc đó Phan Văn Lân và Ngô Thì Nhậm còn trù trừ chưa biết ngồi chỗ nào, còn quan đại tư mã thấy nhà vua liếc về phía cái trường kỷ gỗ lim đặt trước sập, tưởng vua Quang Trung cho phép ngồi, đã định ghé xuống góc ngoài. Nghe vua trách cứ, Ngô Văn Sở vội đứng thẳng dậy. Cả ba người đứng trân, hồi hộp chờ đợi cơn bão kế tiếp. Trong phòng, có thể nghe cả tiếng gió thổi vi vút qua đám lá thông bên kia cửa sổ. Trừ Ngô Thì Nhậm dám nhìn thẳng về phía trước mặt, hai viên võ tướng kia cúi gằm mặt xuống. Đúng lúc căng thẳng ấy, Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân nghe giọng nhà vua dịu lại:
- Nhưng ta nghĩ rằng: Các ngươi đều là kiện tướng, tự nhiên gặp giặc là đánh, sợ đến lúc lâm cơ ứng biến thì không đủ tài. Trước kia ta phải để Ngô học sĩ ở lại cộng sự với các ngươi chính là lo sẵn chỗ đó. Bắc Hà mới yên, lòng người chưa qui phục. Thăng Long lại là một thành trống trải có thể bị đánh bốn mặt, sông núi không có chỗ nào có thể nương tựa. Năm trước ta ra đó, quả nhiên chúa Trịnh không thể chống nổi. Đó là chứng nghiệm. Các ngươi đóng quân trơ trọi ở đấy, quân Thanh kéo sang, người Bắc Hà nào cũng có thể làm nội ứng cho chúng, thì các ngươi nhấc chân nhấc tay sao được? Chịu nhịn để tránh sức mạnh ban đầu của chúng, đành phải chỉnh đốn đội ngũ rút về giữ chỗ hiểm yếu, trong thì khiến cho lòng quân kích thích, ngoài thì khiến cho giặc kiêu căng, đó là một kế rất hay. Khi mới nghe nói, ta đã đoán là Ngô học sĩ đây chủ trương. Lúc hỏi ông Tuyết, thì quả đúng như vậy.
Ngô Thì Nhậm cảm động đến ngạt thở, tiến tới trước một bước, lạy tạ hai lạy. Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân cũng mừng rỡ, ngước lên hướng về phía nhà vua cười lỏn lẻn, rồi nhớ đến nghi thức cần có, vội nghiêm mặt lại. Da mặt cả hai đều ửng hồng. Nhà vua trỏ chiếc tràng kỷ và một cái ghế gỗ trước mặt, ân cần nói:
- Các ngươi ngồi xuống đi. Ngô thị lang, ông ngồi phía bên này. Nghe nói ông với Phan thị lang đã bị tên "rước voi cõng rắn" đó truất hết quan tước, về quê làm thứ dân, gánh vác sai dịch, có không?
Ngô Thì Nhậm đáp:
- Tâu Hoàng thượng, sự thực có như thế.
Vua Quang Trung cười lớn và nói:
- Quan tước cựu triều các ông đã vứt trả từ lâu rồi, có còn đâu nữa mà truất? Những ai cùng chịu nạn với ông?
- Tâu Hoàng thượng: hai vị lão thần Nguyễn Hoàn và Phan Lê Phiên vì đã ra trình diện ở bộ Lễ trước đây, Trương Đăng Quĩ theo hộ giá nửa đường lại bỏ nên cả ba bị biếm xuống làm chức tư huấn. Nguyễn Quí Nha, Trần Bá Lãm, Vũ Huy Tấn viết thư nói việc Sùng nhượng công đã làm giám quốc theo kế hoãn binh của quan đại tư mã, nên bị hạ ngục. Ngoài ra còn có ba vị hoàng thúc từng cộng tác với chúng ta, có vị gả con cho quan Tây Sơn, nên bị chặt chân vất ra chợ cung.
Vua Quang Trung nhíu mày hỏi:
- Tự hoàng trẻ tuổi, nhút nhát, mà dám làm những việc ác độc như thế à?
Ngô Văn Sở chen vào đáp:
- Bẩm Tướng công, việc gì hắn cũng nghe theo lời xúi giục của Lê Quýnh.
Vua Quang Trung hỏi liền:
- Lê Quýnh, tên nào thế?
Ngô Văn Sở liếc về phía Ngô Thì Nhậm, nhường lời cho quan thị lang vì biết mình không thể thông thạo nhân sĩ Bắc Hà cho bằng Nhậm. Ngô Thì Nhậm đáp:
- Tâu Hoàng thượng, Quýnh quê ở làng Đại Mão, huyện Siêu Loại, vốn là tay phong lưu công tử khi trẻ chỉ biết uống rượu đánh bạc, văn sự võ bị đều ít luyện tập. Trước đây vì là con nhà quyền quí, nên được làm gia thần của vua Lê. Đến hồi quân ta kéo ra, vua Lê sai Quýnh đi hầu thái hậu chạy lên Cao Bằng. Vì bị đuổi gắt không thể không chạy sang Tàu, Quýnh có hơi biết chữ nghĩa, cho nên lúc nói chuyện với người Tàu, thốt ra nhiều câu ba hoa khoác lác. Sĩ Nghị không xét chỗ đó, liền đem lời Quýnh tâu lên. May được vua Thanh ưng chuẩn. Cả bọn theo gót quân Thanh về nước, từ đó Quýnh tự cho đó là công của mình. Sau khi về đến Thăng Long, Quýnh liền ra sức báo ân báo oán, ăn đút ăn lót, làm nhiều việc chẳng ra gì. Hết thảy hào kiệt đều không thích Quýnh, nhưng vua Lê vì thấy Quýnh có công, nên mới giao cho hắn nắm binh quyền .
Vua Quang Trung gật gù, rồi nói:
- Thời suy yếu nào cũng nảy sinh bọn ăn hại đó. Luật trời buộc phải như vậy. Tôn Sĩ Nghị có tin hắn không?
Ngô Thì Nhậm đáp:
- Tâu Hoàng thượng, hắn dắt Nghị về cho vua Lê nên muốn truyền gì, Nghị cũng nói qua hắn. Ngược lại, đi đâu vua Lê cũng dắt hắn theo. Ngày ngày tan buổi hầu, vua Lê tự đến dinh Nghị ở bờ sông Phú lương, chờ nghe việc quân quốc. Lần nào cũng vậy, vua Lê cưỡi ngựa đi trước, Lê Quýnh đi sau, quân lính theo hầu chỉ vài chục tên. Người trong kinh thành không ai biết đó là vua Lê. Những ai biết thì đều lắc đầu ngao ngán, than rằng: Nước Nam từ khi có đế có vương đến nay, chưa thấy bao giờ có ông vua luồn cúi đê hèn như thế.
Vua Quang Trung mỉm cười, nói chậm:
- Tốt. Tốt lắm. Tự hoàng do tay ta gây dựng nên, làm gì ta không biết sức hắn đến đâu. Hắn yếu đuối quá, nên luôn luôn phải tìm một chỗ dựa, mới yên tâm. Ta không ngạc nhiên khi thấy trên các tờ hịch chiêu mộ nghĩa quân của hắn không đề niên hiệu Chiêu Thống, mà lại đề Càn Long. Làm như nước Nam này trở thành quận huyện của triều Thanh rồi!
Có lẽ tự nhận thấy từ đầu đến giờ chỉ hỏi Ngô Thì Nhậm khiến hai viên võ tướng thân cận ngồi không yên trên tràng kỷ, nên vua Quang Trung quay về phía Sở và Lân hỏi:
- Còn tình hình quân Thanh thế nào, các ông có nắm được không?
Ngô Văn Sở vội đáp:
- Bẩm Tướng công... tâu Hoàng thượng, quân Thanh ở các đồn tự tiện bỏ cả đội ngũ, lang thang ra ngoài, không còn ước thúc gì nữa! Có kẻ đi ra khỏi thành đến hơn mười dặm để kiếm củi đun, có kẻ đi chợ búa mua bán với dân gian, sớm đi tối về là thường. Tướng sĩ thì ngày ngày chơi bời ăn uống, chẳng nhìn gì đến việc quân. Hễ ai nhắc đến việc quân ta đang mài gươm ở đây, thì chúng đáp: "Chúng nó như cá chậu, chim lồng, sống sót ngày nào hay ngày ấy, không đáng nói đến. Theo quân lệnh của quan lớn Đốc bộ (Tôn Sĩ Nghị), sang xuân, mồng sáu tháng giêng, mới kéo quân thẳng vào sào huyệt Tây Sơn. Lúc đó, đảng giặc sẽ lần lượt làm tù, không đứa nào xổng vó" .
Vua Quang Trung đưa tay ngăn Sở nói tiếp, hỏi dồn:
- Mồng sáu tháng giêng? Chúng nó nói khoác hay là có tin chắc chắn?
Ngô Văn Sở ngước cao mặt, đáp rõ:
- Bẩm... tâu Hoàng thượng, tin ấy chắc chắn.
Nhà vua chồm tới trước hỏi:
- Ông dựa vào đâu khác không? Chẳng lẽ cả tin vào lời bọn say rượu nói khoác?
- Tâu Hoàng thượng, tin thám tử từ Thăng Long báo về cũng nói y như thế. Thấy quân Thanh chùng chình mãi, bọn cựu triều từng rước quân Thanh về cho Chiêu Thống cũng phải đâm sốt ruột. Nghe đâu... (Sở ngập ngừng, liếc về phía Ngô Thì Nhậm, do dự một chặp, rồi mím môi nói tiếp) có một viên quan từng làm phó hiến ở Kinh Bắc dưng sớ thúc giục Chiêu Thống nên tốc chiến. Chiêu Thống cuống lên, sai Lê Quýnh vào thưa lại với Sĩ Nghị. Nghị mắng cho một chập, sau đó vẫn án binh bất động. Về sau, thái hậu lại giục. Đích thân Chiêu Thống cùng Lê Quýnh vào dinh khẩn khoản xin Nghị ra quân. Nghị lại mắng như tát nước cho một trận nữa, rồi hẹn đến mồng sáu năm mới sẽ xuất sư.
Vua Quang Trung trầm ngâm một lúc thật lâu, miệng lẩm bẩm: "mồng sáu tháng giêng... mồng sáu tháng giêng". Cả phòng im lặng. Thật lâu về sau, đột nhiên nhà vua hỏi Sở:
- Còn dân chúng thì thế nào? Ông có chú ý đến lòng dân đối với chúng nó hay không?
Ngô Văn Sở đáp:
- Tâu Hoàng thượng, dân chúng oán ghét quân Thanh và bọn bán nước vô cùng.
Vua Quang Trung cắt lời Sở, hỏi:
- Ông suy bụng ông phải không?
Sở liền đáp:
- Tâu... không ạ. Duyên do lòng oán ghét đó rất rõ ràng đơn giản. Quân Thanh qua đây đông, "đường tiếp tế lương thực thì xa, nên bao nhiêu lương tiền vua Lê thu được của dân đều đem cung đốn cho họ hết sạch"
Nội hầu Phan Văn Lân cũng mạnh dạn thêm lời:
- Hơn nữa, bọn khách trú cũng lộng hành quá lắm. ở phường Hà khẩu trong kinh thành, ở phố Cơ xá của trấn Kinh bắc, và phố Hiến của trấn Sơn nam, khách trú có hơn một vạn. Chúng đều theo quân của Nghị, thành lập hẳn một trại riêng. Bọn đó biết tiếng Nam, nên hằng ngày cho lùng bắt những ai từng làm việc cho chúng ta đem về khảo của, cướp hết tiền bạc rồi giết đi. Mỗi ngày số nạn nhân lên đến ba bốn chục. Ai có máu mặt giàu có, là bị chúng đặt điều vu hãm để chiếm đoạt tài sản. Nhiều hôm, chúng dám cướp bóc, hãm hiếp đàn bà con gái ngay giữa chợ, không kiêng nể ai cả!
Vua Quang Trung bậm môi, giận dữ nói lớn:
- Quân bất nhân, chúng nó tưởng Trời không có mắt ư! Các ông họp quân sĩ lại kể hết cho họ biết.
Rồi hạ thấp giọng, nhà vua ân cần bảo cả ba người:
- "Nay ta tự coi đốc tướng sĩ, phương lược tiến đánh đã tính sẵn rồi. Chẳng qua mười ngày có thể đuổi được giặc Thanh. Nhưng ta nghĩ: nó là nước lớn gấp mười nước mình, sau khi bị thua trận, thế nào cũng hổ thẹn nên cố báo thù. Như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, thật không phải phúc cho dân. Lòng ta không nỡ làm vậy. Tới lúc đó, chỉ có một cách nói cho khéo thì mới ngăn được cái ngòi chiến tranh. Việc ấy, phi Ngô thị lang đây không ai làm nổi. Đợi mười năm nữa, ta đủ thì giờ gây nuôi, nước giàu thêm quân mạnh thêm, thì ta có sợ gì nó!"

N.M.G.

Thứ Ba, 3 tháng 7, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ 56)



                   Hai ta từng là ...con cái Chúa

                              (Nhân bài viết của nhà thơ Trần Mạnh Hảo)



       Chẳng biết mai sau, khi dắt tay nhau vào cõi vô cùng, hai ông có  hoan hỉ :” Hai ta từng là ...con cái Chúa “ ? Chứ bây giờ, ông nhà thơ Trần Mạnh Hảo vẽ chân dung ông nhà văn Nguyễn Khải trong bài “ Mùa Xuân thăm nhà văn Nguyễn Khải” như tranh biếm họa bất chấp hai ông cùng xuất thân na ná nhau. 
Một ông thủa bé “chăn trâu cắt cỏ”, tối tối vào nhà thờ nghe giảng kinh, một ông lớn lên trong gia đình quan lại, trí thức Thiên chúa giáo, hai ông chỉ giống nhau một điều là khi cách mạng về,  cùng...bán Chúa theo đảng. Và quả thực cái sự bán chác này đã đem lại lời vô kể. Chưa kể mỗi ông có cái nhà to vật ngay giữa Sàigòn, cả hai đều có cái danh rất oách. Một ông là nhà văn cách mạng được Nhà nước gắn huân chương, một ông là nhà thơ nổi đình nổi đám và cả hai đều chễm chệ chiếu trên trong làng  .
         Mở đầu bài viết, mới tới cổng nhà bác NK, thi sĩ TMH đã tả hai cây cau như hai anh lính gác  cổng :
        “ được trồng trong một chỗ chính ra để còi đi, lùn xuống, trồng trong chỗ kẹt, chỗ ép, chỗ tù túng sát sàn sạt bức tường, như được dính vào gạch, phải toát mồ hôi mọc cật lực trên nền xi măng...”
        Viết vậy thì đúng với …cả hai bác chứ chẳng riêng gì bác NK.Tài năng văn chương của hai bác, mấy chục năm qua chẳng được trồng vào chỗ kẹt, chỗ ép, chỗ tù túng mà hai bác phải “ toát mồ hôi, cật lực” mới mọc được trên “nền ximăng” đó ư ? Rồi chẳng ai khảo mà xưng, bác nhà văn thú  nhận :
      “... nói giấu gì ông em, nó chẳng đực cũng chẳng cái, chẳng phải ta mà cũng chẳng phải tây; nó là cau hoàn cảnh, cau chơi, cau mẽ đã kế hoạch hoá gia đình từ kiếp trước. Tôi vô ý buột miệng may quá, nó không có quả, nên giời không ban cho nó giầu, với lại "được mùa cau đau mùa lúa". Nhỡ hốt nhiên nó tức khí ra quả ồ ạt, e  ảnh hưởng ít nhiều đến những mùa bội thu lúa má văn chương của chủ nhân chăng ? “
Nếu phải dựng chân dung văn thi sĩ thời nay quả thực khó kiếm hình ảnh nào hay hơn thế. Chẳng đực cũng chẳng cái, chẳng phải  ta cũng chẳng phải tây, nó là thứ ...văn chơi, văn cảnh, văn mẽ  đã được...kế hoạch hoá gia đình. Thảo nào vào thời được “cởi trói”, một ông nhà văn đã la lên rằng “ nền văn học của chúng ta là một nền văn học bị...thiến”. Ôi chao ôi, chẳng đực cũng chẳng cái nên mới đẻ ra cái thứ văn chơi, văn mẽ như thế đó. TMH lại viết tiếp :
             “Gớm, ngồi một tẹo, anh em mới trà thuốc tí ta tí tách bác bác, chú chú, lúc lại ông ông, tôi tôi chưa ngấm câu chuyện, mà hai anh lính cau ngoài cửa cứ quạt phành phạch, sốt cả ruột; giời mới thương khuất nẻo cho tí gió máy đã cuống cả lên, đã sướng run lên cầm cập, rối rít đập vầng lá xanh um vào tường như cũng muốn đòi vào nhà hóng hớt chuyện văn chương.”
              Viết như thế khác nào TMH xỏ “cả làng văn chương” mỗi khi được Đảng cho  chút bổng lộc -  nào phân nhà, đi nước ngoài , tài trợ sáng tác...là anh nào anh nấy đã sướng run cầm cập, hoa bút múa giấy, rối rít ca ngợi công ơn . Vậy rồi cũng chưa hết cái thân phận “anh cau”, TMH còn nhấn thêm :
           “Cái giống cau trông vậy mà tham, ưa bất tử để đời, chết xuống rồi, tàu cau rụng cái ạch xuống đất rồi vẫn cứ cố sống lại cho kỳ được, sống làm cái thân quạt mo, làm dâu trăm họ, rơi vào tay anh Bờm mà bỡn cợt phú ông. Bác Khải lại cả cười, ấy vậy nó mới là cau cảnh, người cảnh, văn cảnh.”
           Chẳng phải tưởng tượng nhiều ta cũng thấy vào một buổi sáng ở nhà bác NK,  ngoài cổng có hai cây cau, trong nhà có hai nhà  văn “nhớn” hí hửng tự nhận cái “phận cau” , cam chịu làm cái thân quạt mo cho ...Đảng  mà bỡn cợt cái tụi...tư bản, nhà giàu. Và rồi  hai bác còn hả hê “ấy vậy mới là người cảnh, văn cảnh”. Thật không có lời sám hối nào thành thật hơn thế nữa. Chính vì “cảnh” vậy, TMH mới nhận xét :
          “Bản thảo của bác Khải với lối chữ đi ra đi vào la đà con cà con kê, túc tắc như thím gà mái kiếm mồi, dòng chữ cao to mà ẻo lả, lênh láng mà thẳng thớm, kiểu chữ thời ba mươi bốn lăm xưa lắm.”
       về văn chương của NK thì :
         “ Văn ông nhìn chung là thứ văn hoạt, thông minh, ranh mãnh, sắc như nước, lại dây dưa thừng chão, có mỏ có ngạnh mà cũng có vây có cánh, có gai có góc mà cũng chồng nụ chồng hoa, có nghịch phá dung dăng dung dẻ mà cũng cứ  nền nã, con nhà, vẫn gia phong, gia giảm, gia công, gia dụng, gia năng, gia giáo...Văn ông vượng về khí, ăn về hơi, giỏi về chữ, mạnh về hoành mà hãm về tung, hút bởi tán mà hụt hẫng khi tụ, mặn việc đạo nhưng nhãng sự đời, đi đường triết nhân hơn đường văn nhân. “
          Tưởng là khen đấy mà hoá ra xỏ đấy, “mạnh về hoành mà hãm về tung” chẳng qua là bốc phét một tấc đến giời, thùng gỗ kêu to chứ còn cái chiều “tung” – cái chiều “sự thực ở đời” , cái thế sự  ngổn ngang “khổ dân, sướng quan” thì  bác NK lờ tịt, tức cái sự “nói thực” trong văn chương thì còn...”hãm” lắm. Làm thân quạt mo phẩy mát cho Đảng lại còn muốn lưu tiếng thơm muôn thủa thì văn chương cần phải “ hoạt, thông minh, sắc như nước” , tưởng là “ nghịch phá dung dăng dung dẻ” mà thực ra “nền nã, gia giảm, gia công, gia dụng, gia năng, gia giáo” là đúng quá rồi. Đây chính là “cẩm nang sáng tác” chẳng riêng gì của nhà văn NK mà phàm là hội viên Hội nhà văn muốn in bài trên báo Văn Nghệ thì đều phải thuộc nằm lòng. Nếu không thì :
     “ muốn biểu tượng hai mặt à, mượn cau kiếc nói cạnh khoé nhà văn chúng anh  à ?...Không sợ  có ai rách việc mới hắng giọng ho lên, doạ rằng anh biểu tượng hai mặt đấy là co vòi, co rút bút lên với nhau, ngồi run như giẽ cả một lượt, thật chả còn ra làm sao....”
     Đúng như thế, nhà văn ta thật “ chẳng còn ra làm sao”, Đảng mới hắng giọng ho lên một tiếng đã co vòi, rút bút, ngồi run như giẽ cả một lượt...”. Hết nhận mình là “cau” , rồi lại là “giẽ”, cái phần tự bạch của hai nhà văn lớn quả thực không thua gì các bản “phản tỉnh” của các nhà văn Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng ... hồi học tập “ Đề cương văn học Diên An” của đồng chí Chủ tịch Mao Trạch Đông kính mến. Thế rồi sau khi tâng bốc NK lên mây xanh :
       “Ông là nhà văn lớn thời nay, một trong những con chim đầu đàn của nền văn nghệ cách mạng và kháng chiến.”
      ông bạn vàng TMH lại giở giọng xỏ xiên :
       “ Nguyễn Khải họp chợ trong tiểu thuyết chỉ có một mình, hàng trăm nhân vật nhưng hầu như chỉ có độc một mình ông tự thân chia ra mấy mươi phần trăm đối tác mà khóc cười rôm rả. Ông lặn xuống bề sâu từng nhân vật mà hoá thân chúng vào mình, thành ra tưởng đông lắm, nghìn nghịt lắm, tập thể lắm mà hoá ra vắng hoe như chùa Bà Đanh, chỉ một cá thể, một mình ông sắm đủ các vai tuồng trên sân khấu chữ nghĩa.”
      hoá ra bao nhiêu nhân vật trong văn chương  NK đều là “tào lao’, vẽ vời, ba xạo ...chỉ còn lại duy nhất một  người cầm bút :
       “lượn lờ đi lại, nói năng, giận hờn, buồn vui, ngơ ngác, vờ vịt, chân thành, khiếp sợ, dũng mãnh, cuồng si... mà hơn nửa thế kỷ chữ nghĩa văn chương cứ rào rào như tằm ăn rỗi, cứ cuồn cuộn hàng mấy chục đầu sách làm ồn ào lênh láng cả văn đàn,”
       Cái mẹo vừa đấm vừa xoa, vừa khen vừa chửi...vốn là “nghề của chàng” , vừa chửi “vờ vịt”, tiếp ngay đó lại khen “chân thành”,  vừa chê “ khiếp sợ” lại bốc ngay “dũng mãnh” rồi sau cùng mới huỵch toẹt :
        “Nguyễn Khải cứ ngồi một chỗ ru rú trong xó nhà mà nhặt được toàn bộ rác rưởi đời sống. Ông có biệt tài lượm ve chai trên ti-vi..., trên báo, lượm phế thải nơi những tâm hồn ủ ê néo hánh ù lì thấp thoáng quanh đời ông.”
         Nhận định này trùng với nhà thơ Xuân Sách làm thơ chân dung Nguyễn Khải :
            “ Cồn Cỏ nào ở đâu xa
            Cồn Cỏ là ở ...ngay nhà đó em...”.
       Và sau cùng cái “triết lý con lươn” mà NK vẫn hãnh diện khoe khoang với bạn bè – cái triết lý khi bị Đảng bắt giò, phải tiết ngay “chất nhờn” mà lủi đi, cũng được TMH khẳng định trong câu :
         “May mà ông còn một con cáy trong người để bảo hiểm cho văn mình ...”
       Và cũng còn may, trong con người TMH cũng còn “một con cáy”, chứ không thì …chưa biết sẽ đi về đâu ?
          Nghe nói đọc xong bài viết của TMH, Nguyễn Khải chỉ cười nhạt. Tuy nhiên, cầm chắc một điều, mai sau có về nước Chúa, dứt khoát hai ông không dắt tay nhau mà rằng : “ hai ta đã từng là con cái Chúa”.

      N.T.
    


     
       
           

Thứ Hai, 2 tháng 7, 2012

MIỀN.."CỤP LẠC" (KỲ 12)


                      
                                                                   (tiếp theo)

 Sự đời thật khó lường, cuốn trinh thám Mỹ gã nhận dịch cho gã đầu nậu với mặc cảm “ bán linh hồn cho quỷ” thật chẳng ngờ chỉ sau mấy chục trang gã vừa dịch vừa muốn bịt mũi vì tởm, bỗng dưng hình ảnh người đàn bà vừa dâm đãng vừa khát máu cuốn hút gã.
Sau khi bắn chết tên thanh niên đang nằm trên thân thể trần truồng của mình, ả bỗng thấy cảm giác mạnh vừa trải qua cũng đã nhàm chán và vô nghĩa lý, phải có cái gì nữa , cái gì nữa ả chưa được trải qua ?
Cái chết, còn cái chết, đúng rồi chỉ còn cái đó là chưa  thôi, gã trai trẻ này hơn ta ở chỗ đã có kinh nghiệm đó, ả nghĩ thế và mỉm cười cầm khẩu súng kê lên đầu mình. Đấy, cuối cùng rồi mình cũng  sẽ nhìn thấy gương mặt của tử thần, người khách cuối cùng mình được ôm trong vòng tay.
Đúng lúc đó, cửa phòng bật mở và một người lao vào như cơn lốc, trời ơi, một trùng hợp quái gở, gã dời trang sách ngước nhìn, cửa phòng gã cũng mở toang, lão gácgian nhảy bổ vào la hét :
“Thằng khốn nạn… thằng khốn nạn nó đâu rồi? “
“Bác hỏi ai kia ? “
“ Thằng khốn nạn… thằng bạn cậu ấy chứ ai nữa. Cái thằng hôm trước cậu cho nó ngủ nhờ ấy. Nó… nó ăn cắp của tôi chiếc xe đạp rồi !”
“ Bác có ngủ mơ không đấy. Cả tháng nay tôi chẳng thấy mặt mũi hắn đâu .”
  Lão gácgian sấn sổ tìm mọi ngóc ngách, thò cả đầu vào toilette như thể gã đã giấu chiếc xe đạp của lão và thằng giả hành khất ở trong đó.
“ Nó tên gì, nhà nó ở đâu, cậu phải cho tôi biết lập tức để tôi thộp cổ nó. “
 Bộ điệu hùng hổ,  quýnh quáng của lão làm gã buồn cười:
“Nó tên gì ? Nó ở đâu bác cứ mở sổ ghi tạm trú của bác ra khắc biết, cần gì hỏi tôi. “
 Lão sạm mặt, lắp bắp :
“ Nhưng hôm đó… tôi sơ xuất quên không ghi.”
“Bác quên không ghi hay là tờ bạc xanh đã che mất cuốn sổ rồi ?”
“Vu cáo, cậu vu cáo… “
 Lão run bắn,  xổ ra một  tràng những lời lẽ lão vẫn  dùng hồi còn làm  thủ trưởng mắng mỏ cấp dưới, nhưng càng nói lão càng lộ ra nỗi hoảng hốt về cái tội nhận hối lộ một khi nó bay tới tai anh cảnh sát khu vực.
“Thôi  được, gã ngắt lời, nhưng tôi hỏi căn cứ đâu bác nói anh bạn tôi ăn cắp xe đạp của bác ?  “
“Mới tối qua nó đến tìm cậu, tôi bảo cậu đi vắng, nó ngồi lại lân la trò chuyện, mãi khuya mới về. Thế rồi sáng nay tôi mở cửa  căn phòng ghép gỗ chân cầu thang lấy xe đạp thì hỡi ôi không cánh mà bay mất rồi.”
“Vậy chắc gì hắn ta lấy ?”
“Thì tối qua hắn lân la hỏi tôi chiếc xe đó mà. Hắn bảo, hắn có xe CUB hắn không dám đi vì con mẹ thày bói nào đó bảo hắn năm nay có đại hạn không què chân cũng gãy tay, tuyệt đối  không được chạy xe máy. Bởi vậy hắn nhờ tôi mua giúp chiếc xe đạp thật tốt, đắt mấy cũng chịu. Tôi thấy… thương tình, mở ngay cửa buồng xép chỉ cho hắn chiếc xe của tôi, bảo hắn nếu cần tôi bán rẻ, tôi chẳng đi tới đâu mà dùng nó,  còn bà nhà tôi cũng chỉ đi chợ gần đây thôi.”
 Hắn xem xong, gật gù hẹn vài hôm nữa sẽ đem tiền đến.
“ Thế là bác đưa luôn xe cho anh ta ?”
“Không đời nào, tôi cho hắn xem xét, sờ nắn chán chê rồi cất vào buồng khoá ngay lại.”
  Gã nhìn vẻ ngây dại trên mặt lão gácgian, nghĩ bụng không khéo lão này đang đổ bệnh thần kinh đây. Gã gắt lên :
“ Như thế làm sao hắn lấy của bác được ?”
 Lão già giọng đau khổ :
“Ay thế mà mất mới lạ chớ.”
“Nhỡ đứa khác lấy thì sao?”
“Không, đúng hắn ta, bao lâu tôi để đó có sao, chỉ từ lúc cho hắn coi mới mất thôi.”
“ Nhưng hắn lấy vào lúc nào ?”
“Ừ nhỉ, tôi cũng nghĩ nát óc không biết hắn lấy vào cái lúc nào ?”
  Cả hai chợt im bặt, căng thẳng và sợ sệt . Gã nhớ lại cái vẻ bí ẩn, “lai vô ảnh, khứ vô hình” của tên hành khất, “biết hết, việc gì xảy ra tớ cũng biết hết”, không lẽ hắn có ma thuật.
“Cậu giúp tôi, lão gácgian nằn nì, cậu cho tôi biết tên tuổi và địa chỉ hắn, đích thân tôi đi đòi xe về.”
 Vẻ tuyệt vọng làm gã tin lão mất của thực, khổ nỗi gã cũng mù tịt về tên ăn mày chẳng kém gì lão :
“ Tôi… tôi không biết hắn là ai, cũng chẳng biết hắn ở đâu.”
 Lão gácgian nhìn gã chòng chọc,  nổi cáu :
“ Cậu nói vậy chó không nghe được. Nhậu nhẹt, ngủ nghê với nhau lại không biết nó ở đâu, tên gì, cậu định bao che phải không ?”
“Bác đừng có ăn nói hồ đồ, tôi không biết là không biết, có thế thôi.”
  Lần đầu tiên gã cãi nhau với lão gácgan bằng lời lẽ mỗi lúc làm lão thêm trố mắt về sự “ nổi dậy” của cái thằng cha xưa nay vẫn nhũn như con chi chi . Tuy nhiên, cả hai đều cố nhỏ giọng để không lọt tai người thứ ba, thành thử nom giống như họ đang sôi nổi thủ thỉ chuyện tâm tình. 
Lão ngồi thu lu trên giường, chém lia lịa đôi tay xương xẩu vào không khí, còn gã dời bàn viết, đi đi lại lại xung quanh,vung vẩy điếu thuốc đã tắt ngấm, cố bác lại những xỉa xói của lão bằng những lý lẽ mà gã dẫn nó đi xa tới mức chính gã cũng không còn kiểm soát được hướng nó tới cái gì.
“Lầm lẫn phạm trù, gã chỉ vào mặt lão gácgian đang trợn lên đôi mắt tròn xoe, bác đã lầm lẫn phạm trù, bác hiểu chưa ?”
 Gã quay ngoắt, vung tay lên như thể cố nắm bắt ở đâu đó những ngôn từ giản dị nhét vào đôi tai điếc của lão.  Thế rồi bỗng dưng gã im bặt, trố mắt nhìn qua cánh cửa sổ mở hé. Chao ôi, gã bỗng quên hết, quên lão già nhảy choi choi trên giường, quên cãi cọ, quên cả lý lẽ trong đầu, như một con chiên bất chợt thấy Đức Giáo Hoàng, gã nín thở chiêm ngưỡng người đàn bà bên kia cửa sổ, lúc này phô ra đôi chân trần nõn nà bên ngoài chiếc váy ngắn, bắt chéo chân trên chiếc ghế bố.
Từ lâu rồi, dễ phải hơn nửa tháng nàng mất hút sau cánh cửa đóng kín, mặc cho không biết bao lần gã tuyệt vọng ngong ngóng chờ đợi. Nàng bị ốm ? Nàng đi nghỉ mát với chồng? Hay nàng đã dọn đi nơi khác ?
 Bao nhiêu câu hỏi nhức buốt đầu gã, bao nhiêu lần từ trên giường vùng dậy ghé mắt qua cửa sổ thấy cái ban công vắng lại nằm vật xuống giường cố xóa nỗi dằn vặt bằng chui vào giấc ngủ. Cái hạnh phúc được nhìn ngắm, chiêm ngưỡng nàng  đã  trở thành không thể thiếu . Nắng, mưa, sáng, trưa, chiều, tối, trung thành như một tín đồ cuồng tín, gã cứ chờ, chờ mãi bên cửa sổ mong được dù chỉ thoáng qua hình bóng nàng. Vậy mà, chao ôi, lúc này nàng đã đang nằm đó, ngời ngợi dưới nắng sớm, làn da tươi mát, đôi mắt long lanh nhìn xuống cuốn sách đang cầm nơi bàn tay  ngọc  ngà.
Lão gácgian sau giây lát ngạc nhiên hiểu ngay điều gì đã đến với gã trai trẻ. Lão nhảy trên giường xuống, vỗ vai gã cười ha hả :
“Bị hớp mất hồn rồi phải không ? Này, nhìn trộm thì được, xớ rớ là ăn đạn đấy nhá. Bồ của ông trung tá đấy.”
  Gã quay ngoắt người lại :
“Bác nói cái gì ?”
“ Đã bảo chị ta mới cặp bồ với ông trung tá mà lị. Mới trốn chồng đi nghỉ mát đấy thôi.”
“Thế chồng chị ta đâu ? “
“Giám dốc cho đi học dài hạn rồi. Thế mới có điều kiện “sang tên “ cho ông trung tá chờ ?”
“ Vậy trước cô ta là bồ ông giám đốc hả ?”
  Lão gácgian gật đầu :
“Hàng hai chiều đấy bố ạ.  Đổi lại ông trung tá can thiệp cho khỏi bị truy tố về tội thò tay vào túi tiền nhà nước. Ay đấy, đời là thế đấy… ha ha .“
 Tiếng cười phá của lão gácgian làm  chị hàng xóm cau mặt giận dữ, buông đôi chân trên ghế xuống, vùng vằng cầm cuốn sách đi vào nhà. 

                         (còn tiếp)

Chủ Nhật, 1 tháng 7, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ 55)


                             
                                                    (tiếp theo và hết )



Sau khi sổ toẹt bằng hết những luận điểm cơ bản của Mác- Leênin  , Nguyễn Khải nhìn thẳng vào nhưng vấn đề cốt lõi, những vấn nạn hàng đâu của xã hội Việt Nam. Ngòi bút của ông như lưỡi dao sắc bén mổ phanh những ung nhọt mà cả bộ máy tuyên truyền của đảng ra sức bưng bít.

Đại thắng mùa Xuân được ra rả tụng ca trong suốt 30 năm bằng những ngôn từ sáo rỗng được Nguyễn Khải đặt câu hỏi sinh tử : bằng những hy sinh mất mát của cả triệu con người , nó mang gì tới cho dân tộc . Và ông huỵch toẹt :

“Một nửa nước đã được độc lập nhưng lòng người tan nát vì tài sản một đời chắt chiu của họ đã bị nhà nước tịch thu hoặc trưng thu khiến họ trở thành những người vô sản bất đắc dĩ. “

Lòng người tan nát không chỉ vì tài sản một đời đã bị tịch thu mà còn vì những chịu đựng mất mát khác khó nói cho hết thành lời. Riêng với giới trí thức thì :

“Tầng lớp trí thức chả có tài sản gì ngoài cái đầu được tư duy tự do, thì cái đầu cũng bị nhà nước trưng thu luôn, vì từ nay họ chỉ được nghĩ được viết theo sự chỉ dẫn của một học thuyết, của một đường lối nếu họ không muốn giẫm vào vết chân của nhóm “Nhân Văn Giai Phẩm”. “

Nhìn lại tình cảnh dân tộc sau ngày thống nhất hai miền Nam Bắc, ông nhà văn  thẳng thừng :

“ Một dân tộc đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ mà mặt người dân nám đen, mắt nhìn ngơ ngác, đi đứng long rom như một kẻ bại trận. Quả thật dân tộc Việt Nam đã thắng lớn trong phong trào chiến tranh giải nhưng lại thua đậm trong công cuộc xây dựng một xã hội tự do và dân chủ…”

Vì sao, vì sao dân tộc lại đâm đầu vào thảm trạng đó, Nguyễn Khải đã phải kêu lên đau đớn :

“ Thoát ách nô lệ của thực dân lại tự nguyện tròng vào cổ cái ách của một học thuyết đã mất hết sức sống. Dân mình sao lại phải chịu một số phận nghiệt ngã đến vậy!”

Tuy nhiên, vì sao “cái ách của một học thuyết đã mất hết sức sống” tròng vào cổ dân ta lâu đến như vậy, lâu cho tới tận bây giờ và chưa biết bao giờ mới chấm dứt và trách nhiệm về những ai thì Nguyễn Khải chưa trả lời được , ông chỉ nhắc nhở giới nhà văn :

“ Một xã hội tan nát, lòng người chĩu nặng những phiền muộn ưu tư, mà là những người đã hết lòng hết sức với kháng chiến bằng cách này hay cách khác. Vậy nhà văn phải viết như thế nào, phải viết cái gì để tạo được một hiện thực tràn đầy hy vọng như các nhà lãnh đạo cách mạng yêu cầu.”

Đó là một công việc bất khả, nếu nhà văn không thét lên được những âm thanh cuồng nộ thì dù có thốt lên những tụng ca trơ trẽn, vô liêm sỉ như lãnh đạo yêu cầu, thì  chúng cũng bị mau chóng sổ toẹt  bằng sự thờ ơ của   công chúng.

Về trách nhiệm nhà văn, Nguyễn Khải đau đớn sám hối “

“ Về già tôi mới nhận ra nhà văn phải nghe theo tiếng gọi của tình cảm, của trái tim, của cái phần thiện lương trong con người mình. Nó đã bảo sai là sai, không có thứ lý luận nào chống đỡ nổi. Vả lại văn chương bao giờ cũng đồng cảm với nỗi đau của con người, những bất hạnh của con người. Chưa bao giờ vì sự mãn nguyện, sự thành công của con người mà cất lên tiếng hát ca ngợi cả. Ở các thể loại nghệ thuật ngôn từ con người phải chống chọi với mọi cảnh ngộ trái ngược chiếm gần hết các trang viết, các màn diễn, còn khi người nghèo đã thành giầu, người hèn được bước vào thế giới phú quý, trai gái phải chịu nhiều năm chia lìa tới lúc tái hợp là cuốn sách, vở diễn phải chấm hết ngay. Nó đã kết thúc cái phần nghệ thuật để bắt đầu sang phần tụng ca là cái thế giới của mãn nguyện của buồn chán, là cái phần phi nghệ thuật. “

Như vậy, văn chương chỉ có thể là tiếng nói khốn khó, uất hận trước mọi trà đạp lên con người, là những giọt nước mắt rơi trên những số phận bi thảm chứ không phải là sự reo vui, hồ hởi . Cố tình bỏ qua những đặc tính cốt lõi, những đặc điểm bản thể của văn chương, người cộng sản lại dùng nó như tiếng kèn thúc trận :

“ Nhưng người lãnh đạo lại chỉ thích cái phần không phải là nghệ thuật, tặng giải thưởng, trao huân chương cho các tác giả chỉ để tưởng thưởng cái phần nhạt nhẽo vô vị ấy mà thôi. Cái cách cảm nhận hiện thực đầy tính lãng mạn ấy đã làm lệch lạc cách xem xét, cách ứng xử của nhiều thế hệ bạn đọc, nhất là bạn đọc ở tuổi mới trưởng thành, trước những biến hoá muôn mặt của cuộc sống. Họ chỉ có mỗi khả năng làm người phê bình văn học theo đường lối chính trị chính thống, tại sao cuộc sống đẹp như thế mà nhà văn lại miêu tả nó xấu đến thế. Làm sao dám cãi, hãy để cho những trải nghiệm của chính họ qua năm tháng sẽ âm thầm biện hộ giúp mình thôi.”

Nguyễn Khải phát hiện ra một kẻ phá hoại giấu mặt trong xã hội : ngôn từ :

“Một xã hội không tự hiểu mình, mỗi cá nhân cũng không tự hiểu mình, vàng thau, phải trái, cao quí ti tiện lẫn lộn, các giá trị lẫn lộn bắt đầu từ sự không chuẩn xác của ngôn từ. Câu mở đầu kinh thánh Cựu ước “ Thoạt Tiên Là Ngôn Ngữ…” (Au conmmencement était le Verbe).

Nhưng ngôn ngữ trong xã hội ta hiện nay thật đáng kinh hoàng , nó được dùng như phương tiện để che đậy, dối trá :

“Vậy mà ngôn từ lại là cái mặt yếu nhất trong các lãnh vực thuộc thượng tầng kiến trúc ở các nước xã hội chủ nghĩa. Công dân của các nước ấy dùng ngôn từ để che đậy chứ không nhằm giao tiếp, hoặc giao tiếp bằng cách che đậy, “ nói vậy mà không phải vậy”! Nó là cái vỏ cứng để bảo vệ mọi sự bất trắc, chống lại thói quen hay xét nét lời ăn tiếng nói của công dân của mọi chính quyền chuyên chế. “

Cái bệnh “xảo ngôn”, tiếc thay lại rõ rệt nhất, nặng nề nhất ở cấp lãnh đạo :

“Cái cách tự bảo vệ ấy lại càng rõ rệt ở cấp lãnh đạo và các viên chức nhà nước làm việc ở các cơ quan quyền lực. Họ nói bằng thứ ngôn ngữ khô cứng đã mất hết sinh khí, một thứ ngôn ngữ chết, ngôn ngữ “gỗ”, nói cả buổi mà người nghe vẫn không thể nhặt ra một chút thông tin mới nào. Các buổi trả lời phỏng vấn báo chí, diễn văn tại các buổi lễ kỷ niệm, báo cáo của Đảng, của chính phủ, của quốc hội, tất cả đều dùng các từ rất mơ hồ, ít cá tính và ít trách nhiệm nhất. Người cầm quyền cấp cao nhất và cấp thấp nhất đều biết cách nói mơ hồ, càng nói mơ hồ càng được đánh giá là chín chắn. Và nói dối, nói dối hiển nhiên, không cần che đậy.”

Những kẻ nói dối không cần che đậy phần lớn lại là những kẻ dân gian đã tổng kết “ trông mặt, tắt tivi” :

“ Vẫn biết rằng nói dối như thế sẽ không thay đổi được gì vì không một ai tin nhưng vẫn cứ nói. Nói đủ thứ chuyện, nói về dân chủ và tự do, về tập trung và dân chủ, về nhân dân là người chủ của đất nước còn người cầm quyền chỉ là nô bộc của nhân dân. Rồi nói về cần, kiện liêm chính, về chí công vô tư, về lý tưởng và cả quyết tâm đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói không biết xấu hổ, không biết run sợ vì người nghe không có thói quen hỏi lại, không có thói quen lưu giữ các lời giải thích và lời hứa để kiểm tra. “

Những kẻ nói dối biết là mình nói dối không hề thấy xấu hổi, bởi lẽ họ thừa biết :

“ Hoặc giả hỏi lại và kiểm tra là không được phép, là tối kỵ, dễ gặp tai hoạ nên không hỏi gì cũng là một phép giữ mình. Người nói nói trong cái trống không, người nghe tuy có mặt đấy nhưng cũng chỉ nghe có những tiếng vang của cái trống không. Nói để giao tiếp đã trở thành nói để không giao tiếp gì hết, nói để mà nói, chả lẽ làm người lại không nói. “

Thật ra như trong cái trò “vua cởi truồng” , cả hoàng đế và dân đen đều hiểu cả nhưng  dao kề cổ nên vẫn phải “diễn” :

“ Thật ra nói thế mà vẫn hiểu nhau cả. Người cầm quyền thì biết là nhân dân đang rất bất bình về nhiều chuyện, nhân dân thì biết người cầm quyền đang nói dối, nhìn vào thực tiễn là biết ngay họ đang nói dối. Nhưng hãy mặc họ với những lời lẽ dối trá của họ, còn mình là dân chả nên hỏi lại [rằng] nói thế là thật hay không thật. Mình cứ làm theo ý mình và mình cũng sẽ nói dối, nói che đậy nếu như có dịp được người cầm quyền hỏi.”

Chính vì những nhu cầu chính trị của đảng, tài sản tinh thần của dân tộc cứ ngày càng mai một:

“ Cái thời mở nước, giữ nước chỉ còn lưu lại những cột mốc của các chiến công, còn cuộc chiến thầm lặng đã làm tan nát nhiều con người để con người được là chính mình, được là một thực thể thiêng liêng, đền đài lưu giữ muôn thuở cái tài sản tinh thần của một dân tộc, một dòng họ mãi mãi được vun xới, được phát triển tương ứng với sự phát triển của dân tộc, của thời đại thì chưa được văn thơ nói đến, triết học nói đến, các ngành khoa học nhân văn nói đến.”

Tuy nhiên, Nguyễn Khải vẫn kỳ vọng :

“ Dầu không nói đến, không được phép nói đến thì cái dòng chảy vĩnh cửu ấy vẫn được nhiều triệu người âm thầm khai thông, bồi đắp để các nhân tài Việt Nam không ngừng xuất hiện lúc ở lãnh vực này, lúc ở lãnh vực khác.”

Và ông cảnh báo :

“  Một đất nước không có những cá nhân kiệt xuất, tài ba làm chân dung đại diện trong cộng đồng nhân loại thì đó là một bất hạnh cho dân tộc, tạo ra một khoảng trống tiếp nối trong lịch sử sinh tồn của mỗi cá nhân. Rồi các thế hệ đến sau phải nối lại bằng cách nào vì vẫn phải bắt đầu từ môi trường chính trị, xã hội, từ một xã hội vừa truyền thống vừa văn minh, những mục tiêu nhắm tới vừa là phát triển cái riêng biệt, vừa là sự hòa nhập vào nền văn minh của khu vực và thế giới. “

Quả thực nhìn vào sự tiếp nối các thế hệ cầm bút, người ta không khỏi lo ngại về sự ngày càng khô kiệt những tài năng. Và Nguyễn Khải vạch mặt thủ phạm đích danh của bi kịch đó chính là : quyền lực toàn trị.

“Một nền văn minh riêng lẻ, với những mục tiêu hoang tưởng, một môi trường xã hội ngột ngạt vì cái bóng quyền lực phủ lên tất cả, quyết định tất cả thì số phận những cá nhân sẽ ra sao?

Kết thúc tùy bút chính trị “Đi tìm cái tôi đã mất”, Nguyễn Khải không đưa ra được tiên trị, dự báo nào về sự sụp đổ của quyền lực toàn trị , ông chỉ  răn đe và cảnh báo :

“  Một chế độ độc tài khi phải đối mặt với những biến động lớn thường rễ bị nứt rạn, từ nứt rạn đến tiêu vong, thời gian diễn ra rất nhanh vì nó chỉ có trụ đỡ là quyền lực của một phe đảng, không có trụ đỡ về tinh thần của cả dân tộc. Một chế độ chính trị tồn tại tới non một thế kỷ hay một nửa thế kỷ cũng là lâu lắm, đã tạo ra mấy thế hệ ăn chung ở chung với nó, sinh con đẻ cái với nó mà khi nó chết không ai nhỏ được một giọt nước mắt, có người còn nhẫn tâm đạp lên cái vừa chết đó rồi mới tiếp tục bước đi, đủ biết người ta đã xem nó như vật bất tường, là quái thai, là tai hoạ, thời thế đã bất thần xoá bỏ nó một cách êm dịu, không phải tốn đến máu cũng là một may mắn phi thường. Có thể kết luận, một chế độ chính trị được xem là văn minh hay lạc hậu, là sẽ tồn tại lâu dài hay chỉ có mặt trong khoảng khắc của lịch sử là tuỳ thuộc vào cương lĩnh chính trị của Đảng cầm quyền có thật sự tôn trọng những quyền của con người hay không, các cá nhân với những khác biệt, những phản ứng, những bất tuân của nó có được đặt ở vị trí trang trọng trong hiến pháp hay không? “

Với lời Nguyễn Khải đã hẹn tôi năm 1978 “tao sẽ vót nhọn gươm đâm một cú cuối cùng”, thì quả thực Nguyễn Khải đã vung một đường gươm xuất sắc . Tiếc thay ông thực hiện vào lúc ..đã muộn. Vào năm 2006 khi ông viết xong tùy bút chính trị này, những vấn đề của chủ nghĩa Mác, những lý thuyết chủ nghĩa cộng sản đã không còn là những bức xúc xã hội nữa, ngoài một vài nhà hoạt động dân chủ còn bàn tới “ dân chủ và tập trung”, tới “ vô sản chuyên chính”, tới “đấu tranh giai cấp”, hầu như đại đa số bàn dân thiên hạ , kể cả giới trí thức chẳng còn tâm thế đâu đoái hoài tới nó. Liên xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã sụp đổ từ lâu, chủ nghĩa cộng sản đã bị cộng đồng châu Âu đặt ra ngoài vòng pháp luật, những lý thuyết của nó hiển nhiên đã bị lãng quên. Bởi vậy khi xuất hiện, bút ký của Nguyễn khải cũng chỉ được một bộ phận trí thức tìm đọc, cũng chỉ gây nên một luồng dư luận thoáng chốc rồi tan nhanh trong những vấn đề nóng bỏng khác của dân tộc và đất nước.

Lời than vãn của Nguyễn Khải có tính cách tiên tri :” Thôi chết, tung tóe mẹ nó hết rồi Tuấn ạ…”, ngày nay những truyện ngắn, ký sự, tiểu thuyết của ông chỉ còn lại trong thư viện và trong các giáo trình của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Vậy nhưng Nguyễn Khải vẫn là nhà văn được yêu mến trong lòng bạn đọc. Bằng lương tri nhà văn, lương tâm người cầm bút, cuối đời ông đã nhận ra bi kịch của đời ông và đã viết một tác phẩm cuối cùng, chỉ tiếc nó không phải là  sáng tác văn học mà là tùy bút, một tùy bút chính trị…



N.T.



6/2012

          ( Kỳ tới : Chân dung hay chân tướng nhà văn (kỳ 56)