(tiếp theo và hết )
Sau khi sổ toẹt bằng hết những luận điểm cơ bản của Mác-
Leênin , Nguyễn Khải nhìn thẳng vào
nhưng vấn đề cốt lõi, những vấn nạn hàng đâu của xã hội Việt Nam. Ngòi bút của
ông như lưỡi dao sắc bén mổ phanh những ung nhọt mà cả bộ máy tuyên truyền của
đảng ra sức bưng bít.
Đại thắng mùa Xuân được ra rả tụng ca trong suốt 30 năm bằng
những ngôn từ sáo rỗng được Nguyễn Khải đặt câu hỏi sinh tử : bằng những hy
sinh mất mát của cả triệu con người , nó mang gì tới cho dân tộc . Và ông huỵch
toẹt :
“Một nửa nước đã được độc
lập nhưng lòng người tan nát vì tài sản một đời chắt chiu của họ đã bị nhà nước
tịch thu hoặc trưng thu khiến họ trở thành những người vô sản bất đắc dĩ. “
Lòng người tan nát không chỉ vì tài sản một đời đã bị tịch thu
mà còn vì những chịu đựng mất mát khác khó nói cho hết thành lời. Riêng với
giới trí thức thì :
“Tầng lớp trí thức chả có
tài sản gì ngoài cái đầu được tư duy tự do, thì cái đầu cũng bị nhà nước trưng
thu luôn, vì từ nay họ chỉ được nghĩ được viết theo sự chỉ dẫn của một học
thuyết, của một đường lối nếu họ không muốn giẫm vào vết chân của nhóm “Nhân
Văn Giai Phẩm”. “
Nhìn lại tình cảnh dân tộc sau ngày thống nhất hai miền Nam
Bắc, ông nhà văn thẳng thừng :
“ Một dân tộc đã làm nên
chiến thắng Điện Biên Phủ mà mặt người dân nám đen, mắt nhìn ngơ ngác, đi đứng
long rom như một kẻ bại trận. Quả thật dân tộc Việt Nam đã thắng lớn trong phong trào chiến tranh
giải nhưng lại thua đậm trong công cuộc xây dựng một xã hội tự do và dân chủ…”
Vì sao, vì sao dân tộc lại đâm đầu vào thảm trạng đó, Nguyễn
Khải đã phải kêu lên đau đớn :
“ Thoát ách nô lệ của
thực dân lại tự nguyện tròng vào cổ cái ách của một học thuyết đã mất hết sức
sống. Dân mình sao lại phải chịu một số phận nghiệt ngã đến vậy!”
Tuy nhiên, vì sao “cái
ách của một học thuyết đã mất hết sức sống” tròng vào cổ dân ta lâu đến như
vậy, lâu cho tới tận bây giờ và chưa biết bao giờ mới chấm dứt và trách nhiệm
về những ai thì Nguyễn Khải chưa trả lời được , ông chỉ nhắc nhở giới nhà văn :
“ Một xã hội tan nát,
lòng người chĩu nặng những phiền muộn ưu tư, mà là những người đã hết lòng hết
sức với kháng chiến bằng cách này hay cách khác. Vậy nhà văn phải viết như thế
nào, phải viết cái gì để tạo được một hiện thực tràn đầy hy vọng như các nhà
lãnh đạo cách mạng yêu cầu.”
Đó là một công việc bất khả, nếu nhà văn không thét lên được
những âm thanh cuồng nộ thì dù có thốt lên những tụng ca trơ trẽn, vô liêm sỉ
như lãnh đạo yêu cầu, thì chúng cũng bị
mau chóng sổ toẹt bằng sự thờ ơ của công chúng.
Về trách nhiệm nhà văn, Nguyễn Khải đau đớn sám hối “
“ Về già tôi mới nhận ra
nhà văn phải nghe theo tiếng gọi của tình cảm, của trái tim, của cái phần thiện
lương trong con người mình. Nó đã bảo sai là sai, không có thứ lý luận nào
chống đỡ nổi. Vả lại văn chương bao giờ cũng đồng cảm với nỗi đau của con
người, những bất hạnh của con người. Chưa bao giờ vì sự mãn nguyện, sự thành
công của con người mà cất lên tiếng hát ca ngợi cả. Ở các thể loại nghệ thuật
ngôn từ con người phải chống chọi với mọi cảnh ngộ trái ngược chiếm gần hết các
trang viết, các màn diễn, còn khi người nghèo đã thành giầu, người hèn được
bước vào thế giới phú quý, trai gái phải chịu nhiều năm chia lìa tới lúc tái
hợp là cuốn sách, vở diễn phải chấm hết ngay. Nó đã kết thúc cái phần nghệ
thuật để bắt đầu sang phần tụng ca là cái thế giới của mãn nguyện của buồn
chán, là cái phần phi nghệ thuật. “
Như vậy, văn chương chỉ có thể là tiếng nói khốn khó, uất hận
trước mọi trà đạp lên con người, là những giọt nước mắt rơi trên những số phận
bi thảm chứ không phải là sự reo vui, hồ hởi . Cố tình bỏ qua những đặc tính
cốt lõi, những đặc điểm bản thể của văn chương, người cộng sản lại dùng nó như
tiếng kèn thúc trận :
“ Nhưng người lãnh đạo
lại chỉ thích cái phần không phải là nghệ thuật, tặng giải thưởng, trao huân
chương cho các tác giả chỉ để tưởng thưởng cái phần nhạt nhẽo vô vị ấy mà thôi.
Cái cách cảm nhận hiện thực đầy tính lãng mạn ấy đã làm lệch lạc cách xem xét,
cách ứng xử của nhiều thế hệ bạn đọc, nhất là bạn đọc ở tuổi mới trưởng thành,
trước những biến hoá muôn mặt của cuộc sống. Họ chỉ có mỗi khả năng làm người
phê bình văn học theo đường lối chính trị chính thống, tại sao cuộc sống đẹp
như thế mà nhà văn lại miêu tả nó xấu đến thế. Làm sao dám cãi, hãy để cho
những trải nghiệm của chính họ qua năm tháng sẽ âm thầm biện hộ giúp mình
thôi.”
Nguyễn Khải phát hiện ra một kẻ phá hoại giấu mặt trong xã hội
: ngôn từ :
“Một xã hội không tự hiểu
mình, mỗi cá nhân cũng không tự hiểu mình, vàng thau, phải trái, cao quí ti
tiện lẫn lộn, các giá trị lẫn lộn bắt đầu từ sự không chuẩn xác của ngôn từ.
Câu mở đầu kinh thánh Cựu ước “ Thoạt Tiên Là Ngôn Ngữ…” (Au conmmencement
était le Verbe).
Nhưng ngôn ngữ trong xã hội ta hiện nay thật đáng kinh hoàng ,
nó được dùng như phương tiện để che đậy, dối trá :
“Vậy mà ngôn từ lại là
cái mặt yếu nhất trong các lãnh vực thuộc thượng tầng kiến trúc ở các nước xã
hội chủ nghĩa. Công dân của các nước ấy dùng ngôn từ để che đậy chứ không nhằm
giao tiếp, hoặc giao tiếp bằng cách che đậy, “ nói vậy mà không phải vậy”! Nó
là cái vỏ cứng để bảo vệ mọi sự bất trắc, chống lại thói quen hay xét nét lời
ăn tiếng nói của công dân của mọi chính quyền chuyên chế. “
Cái bệnh “xảo ngôn”, tiếc thay lại rõ rệt nhất, nặng nề nhất ở
cấp lãnh đạo :
“Cái cách tự bảo vệ ấy lại
càng rõ rệt ở cấp lãnh đạo và các viên chức nhà nước làm việc ở các cơ quan
quyền lực. Họ nói bằng thứ ngôn ngữ khô cứng đã mất hết sinh khí, một thứ ngôn
ngữ chết, ngôn ngữ “gỗ”, nói cả buổi mà người nghe vẫn không thể nhặt ra một
chút thông tin mới nào. Các buổi trả lời phỏng vấn báo chí, diễn văn tại các
buổi lễ kỷ niệm, báo cáo của Đảng, của chính phủ, của quốc hội, tất cả đều dùng
các từ rất mơ hồ, ít cá tính và ít trách nhiệm nhất. Người cầm quyền cấp cao
nhất và cấp thấp nhất đều biết cách nói mơ hồ, càng nói mơ hồ càng được đánh
giá là chín chắn. Và nói dối, nói dối hiển nhiên, không cần che đậy.”
Những kẻ nói dối không cần che đậy phần lớn lại là những kẻ dân
gian đã tổng kết “ trông mặt, tắt tivi” :
“ Vẫn biết rằng nói dối
như thế sẽ không thay đổi được gì vì không một ai tin nhưng vẫn cứ nói. Nói đủ
thứ chuyện, nói về dân chủ và tự do, về tập trung và dân chủ, về nhân dân là
người chủ của đất nước còn người cầm quyền chỉ là nô bộc của nhân dân. Rồi nói
về cần, kiện liêm chính, về chí công vô tư, về lý tưởng và cả quyết tâm đưa đất
nước tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói không
biết xấu hổ, không biết run sợ vì người nghe không có thói quen hỏi lại, không
có thói quen lưu giữ các lời giải thích và lời hứa để kiểm tra. “
Những kẻ nói dối biết là mình nói dối không hề thấy xấu hổi,
bởi lẽ họ thừa biết :
“ Hoặc giả hỏi lại và
kiểm tra là không được phép, là tối kỵ, dễ gặp tai hoạ nên không hỏi gì cũng là
một phép giữ mình. Người nói nói trong cái trống không, người nghe tuy có mặt
đấy nhưng cũng chỉ nghe có những tiếng vang của cái trống không. Nói để giao
tiếp đã trở thành nói để không giao tiếp gì hết, nói để mà nói, chả lẽ làm
người lại không nói. “
Thật ra như trong cái trò “vua cởi truồng” , cả hoàng đế và dân
đen đều hiểu cả nhưng dao kề cổ nên vẫn phải
“diễn” :
“ Thật ra nói thế mà vẫn
hiểu nhau cả. Người cầm quyền thì biết là nhân dân đang rất bất bình về nhiều
chuyện, nhân dân thì biết người cầm quyền đang nói dối, nhìn vào thực tiễn là
biết ngay họ đang nói dối. Nhưng hãy mặc họ với những lời lẽ dối trá của họ,
còn mình là dân chả nên hỏi lại [rằng] nói thế là thật hay không
thật. Mình cứ làm theo ý mình và mình cũng sẽ nói dối, nói che đậy nếu như có
dịp được người cầm quyền hỏi.”
Chính vì những nhu cầu chính trị của đảng, tài sản tinh thần
của dân tộc cứ ngày càng mai một:
“ Cái thời mở nước, giữ
nước chỉ còn lưu lại những cột mốc của các chiến công, còn cuộc chiến thầm lặng
đã làm tan nát nhiều con người để con người được là chính mình, được là một
thực thể thiêng liêng, đền đài lưu giữ muôn thuở cái tài sản tinh thần của một
dân tộc, một dòng họ mãi mãi được vun xới, được phát triển tương ứng với sự
phát triển của dân tộc, của thời đại thì chưa được văn thơ nói đến, triết học
nói đến, các ngành khoa học nhân văn nói đến.”
Tuy nhiên, Nguyễn Khải vẫn kỳ vọng :
“ Dầu không nói đến,
không được phép nói đến thì cái dòng chảy vĩnh cửu ấy vẫn được nhiều triệu
người âm thầm khai thông, bồi đắp để các nhân tài Việt Nam không ngừng xuất
hiện lúc ở lãnh vực này, lúc ở lãnh vực khác.”
Và ông cảnh báo :
“ Một đất nước không có những cá nhân kiệt
xuất, tài ba làm chân dung đại diện trong cộng đồng nhân loại thì đó là một bất
hạnh cho dân tộc, tạo ra một khoảng trống tiếp nối trong lịch sử sinh tồn của
mỗi cá nhân. Rồi các thế hệ đến sau phải nối lại bằng cách nào vì vẫn phải bắt
đầu từ môi trường chính trị, xã hội, từ một xã hội vừa truyền thống vừa văn
minh, những mục tiêu nhắm tới vừa là phát triển cái riêng biệt, vừa là sự hòa
nhập vào nền văn minh của khu vực và thế giới. “
Quả thực nhìn vào sự tiếp nối các thế hệ cầm bút, người ta
không khỏi lo ngại về sự ngày càng khô kiệt những tài năng. Và Nguyễn Khải vạch
mặt thủ phạm đích danh của bi kịch đó chính là : quyền lực toàn trị.
“Một nền văn minh riêng
lẻ, với những mục tiêu hoang tưởng, một môi trường xã hội ngột ngạt vì cái bóng
quyền lực phủ lên tất cả, quyết định tất cả thì số phận những cá nhân sẽ ra
sao?
Kết thúc tùy bút chính trị “Đi
tìm cái tôi đã mất”, Nguyễn Khải không đưa ra được tiên trị, dự báo nào về
sự sụp đổ của quyền lực toàn trị , ông chỉ
răn đe và cảnh báo :
“ Một chế độ độc tài khi phải đối mặt với những
biến động lớn thường rễ bị nứt rạn, từ nứt rạn đến tiêu vong, thời gian diễn ra
rất nhanh vì nó chỉ có trụ đỡ là quyền lực của một phe đảng, không có trụ đỡ về
tinh thần của cả dân tộc. Một chế độ chính trị tồn tại tới non một thế kỷ hay
một nửa thế kỷ cũng là lâu lắm, đã tạo ra mấy thế hệ ăn chung ở chung với nó,
sinh con đẻ cái với nó mà khi nó chết không ai nhỏ được một giọt nước mắt, có
người còn nhẫn tâm đạp lên cái vừa chết đó rồi mới tiếp tục bước đi, đủ biết
người ta đã xem nó như vật bất tường, là quái thai, là tai hoạ, thời thế đã bất
thần xoá bỏ nó một cách êm dịu, không phải tốn đến máu cũng là một may mắn phi
thường. Có thể kết luận, một chế độ chính trị được xem là văn minh hay lạc hậu,
là sẽ tồn tại lâu dài hay chỉ có mặt trong khoảng khắc của lịch sử là tuỳ thuộc
vào cương lĩnh chính trị của Đảng cầm quyền có thật sự tôn trọng những quyền
của con người hay không, các cá nhân với những khác biệt, những phản ứng, những
bất tuân của nó có được đặt ở vị trí trang trọng trong hiến pháp hay không? “
Với lời Nguyễn Khải đã hẹn tôi năm 1978 “tao sẽ vót nhọn gươm đâm một cú cuối cùng”, thì quả thực Nguyễn
Khải đã vung một đường gươm xuất sắc . Tiếc thay ông thực hiện vào lúc ..đã
muộn. Vào năm 2006 khi ông viết xong tùy bút chính trị này, những vấn đề của
chủ nghĩa Mác, những lý thuyết chủ nghĩa cộng sản đã không còn là những bức xúc
xã hội nữa, ngoài một vài nhà hoạt động dân chủ còn bàn tới “ dân chủ và tập trung”, tới “ vô sản chuyên chính”, tới “đấu tranh giai cấp”, hầu như đại đa số
bàn dân thiên hạ , kể cả giới trí thức chẳng còn tâm thế đâu đoái hoài tới nó.
Liên xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã sụp đổ từ lâu, chủ nghĩa cộng
sản đã bị cộng đồng châu Âu đặt ra ngoài vòng pháp luật, những lý thuyết của nó
hiển nhiên đã bị lãng quên. Bởi vậy khi xuất hiện, bút ký của Nguyễn khải cũng
chỉ được một bộ phận trí thức tìm đọc, cũng chỉ gây nên một luồng dư luận
thoáng chốc rồi tan nhanh trong những vấn đề nóng bỏng khác của dân tộc và đất
nước.
Lời than vãn của Nguyễn Khải có tính cách tiên tri :” Thôi chết, tung tóe mẹ nó hết rồi Tuấn ạ…”, ngày
nay những truyện ngắn, ký sự, tiểu thuyết của ông chỉ còn lại trong thư viện và
trong các giáo trình của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Vậy nhưng Nguyễn Khải
vẫn là nhà văn được yêu mến trong lòng bạn đọc. Bằng lương tri nhà văn, lương
tâm người cầm bút, cuối đời ông đã nhận ra bi kịch của đời ông và đã viết một tác
phẩm cuối cùng, chỉ tiếc nó không phải là
sáng tác văn học mà là tùy bút, một tùy bút chính trị…
N.T.
6/2012
( Kỳ tới : Chân
dung hay chân tướng nhà văn (kỳ 56)

Đó là tiếng nói trung thực và dũng cảm cuối cùng của nhà văn Nguyễn Khải
Trả lờiXóaMuộn còn hơn là không bao giờ.
Trả lờiXóaRốt cuộc, cái làm người ta nhớ đến Nguyễn Khải lại là một tùy bút chính trị chứ không phải là các truyện ngắn hoặc tiểu thuyết được các giải thưởng nọ kia.
Đời có nhiều nghịch lí không sao hiểu nổi!
Đúng là từ năm 2006, năm Nguyễn Khải hoàn thành tùy bút đến nay,"... những vấn đề của chú nghĩa Mác, những lý thuyết chủ nghĩa cộng sản đã không còn là những bức xúc xã hội nữa..." người ta vẫn ra rả nói hàng ngày đấy, nhưng ai cũng biết chẳng có tý nào sự thậ, đảng cầm quyền thì bám vào mớ lý thuyết đó để duy trì vị thế,đàn áp những người đối lập, để còn kiếm ăn. Người dân đã nghe quá chối tai, nên cũng tìm cách sống riêng cho mình. Việt nam bây giờ là "...Một đất nước không có những cá nhân kiệt xuất, tài ba làm chân dung đại diện trong cộng đồng nhân loại ...". Đáng buồn thay. Cám ơn nhà văn Nhật Tuấn.
Trả lờiXóaSự hối hận của nhà văn Nguyễn Khải là đáng trân trọng và có lý do
Trả lờiXóasâu xa,chứ không phải "đặt cục gạch ở 2 cửa" như Vương T.Nhàn nói.
Tôi cho là lúc hoàng hôn cuộc đời,con người mới hiểu ra được thân phận phù du,thậm chí là vô nghĩa của mình.
Thời thanh niên còn trẻ khỏe,người ta có tâm lý "coi trời bằng vung" hay "ngựa non háu đá" nhưng khi sắp đối diện với cáí chết,
hay bệnh hoạn họ mới thấy sự bất lực của kiếp người.
Xin lỗi, tôi chẳng thấy có gì dũng cảm (như bác Sơn-Thi-Thư) hay đáng trân trọng (theo ý bác) cả . Bác D.Nhật Lệ nói đến chữ "đặt cục gạch ở hai cửa" khiến tôi nghĩ như thế chính xác hơn. Như vậy lộc lúc trước anh cũng được hưởng mà khi anh chết hậu thế vẫn có thể đánh giá là anh "đổi mới". Có thể những "phản tỉnh" như của Nguyễn Khải hay Chế Lan Viên là trung thực, nhưng tôi chẳng thích cái "khôn ngoan" của các bác này, vì thế cho tiền tôi cũng không đọc những câu di cảo không thành thơ cuả bác Hoan, ý tôi muốn chỉ nhà thơ lấy họ Chế, chứ không muốn động chạm gì đến nhà văn Nguyễn Công Hoan.
XóaSám hối ư ?Muộn còn hơn không !Khối kẻ hại dân hại nước mà đến cuối đời vẫn nhơn nhơn đấy thôi .Vô liêm sỉ !
Trả lờiXóaThực ra nếu tinh ý thì đã thấy Nguyễn Khải nói bóng gió xa xôi trong những tiểu thuyết, nhất là trong ĐIỀU TRA VỀ MỘT CÁI CHẾT (1987). Bi kịch của Tư Tốn là bi kịch của một trí thức chân chính của đạo Cao Đài, cũng là bi kịch chung của trí thức mang theo chân lý xuống mồ! Ông mượn đạo để nói những điều không thể nói trắng ra được. Câu ông triết luận ở trang 100:"Viết về cái lạ lùng chỉ nhằm chiều lòng độc giả. Viết về cái giống nhau để mỗi người có cơ hội ngẫm về cái thân phận của chính mình"! Ai chịu khó ngẫm thì thấy thôi. Câu ông cứ láy đi láy lại trong tác phẩm:"CHỒN CÁO HẾT CHÓ SĂN VÔ CHẢO" chẳng đúng đấy ư?
Trả lờiXóaxin loi vi phat hien ra trang nay qua tre, va bay gio moi doc duoc comment nay, dong y ca hai tay voi bac NAC DANH 20:45 NGAY 02/7/2012
Trả lờiXóa