Tổng số lượt xem trang

Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2015

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 47




 (tiếp theo)

Nói xong câu đó, anh Khảm ngồi thừ người im lặng rồi dường như thấy lời mình nói ra có thể gió sẽ mang đến... tai papa Phước cùng cô gái nên anh vội lấy ngón tay trỏ đưa lên miệng và kín đáo chỉ về chỗ hai người họ đang ngồi. Tôi và Đỉnh hiểu ý nên không dám hỏi nữa. Bác sĩ Luân sau khi mang thức uống cho papa Phước và cô gái xong đã ghé lại ngồi bên anh Khảm và cho anh biết lớp dạy Anh ngữ có thể khởi sự vào đầu tháng tới. Bác sĩ cũng tỏ ý sẵn sàng giúp 5 đứa chúng tôi nếu ai có chuyện gì cần khi phải đi khám bệnh hoặc muốn xin thuốc ở nhà thương. Nghe ông ta nói vậy, chúng tôi rất mừng vì biết mỗi ngày thì nhà thương chỉ phát ra 100 phiếu khám bệnh cho cả số người Việt ở Galang. 
- Anh cứ tới dạy học từ 9 giờ đến 11 giờ trưa vì buổi sáng tôi đóng cửa quán đi làm cho đến lúc xế xế mới về và nếu cần bàn ghế thì anh cứ sử dụng tự nhiên. Ông Luân bảo thêm lần chót với anh Khảm trước khi bỏ đi.
Như đã kể ở các phần trước, tại Galang ngoài chuyện lấy cắp vặt quần áo phơi ngoài dây, cắt trộm bầu bí trên giàn thì hầu như không có vụ nhập nha nên nhiều căn nhà và thậm chí ngay cả ở các tiệm, quán bán hàng dù cửa nẻo gia chủ chỉ khóa sơ sài nhưng vẫn yên ổn. Một đời sống tương đối an bình trong khung cảnh thiếu thốn làm tôi ngạc nhiên. Chưa biết sau này khung cảnh sống trong trại Galang sẽ ra sao nhưng hiện tại được như vậy cũng là điều đáng mừng trong một khối tập thể người Việt tứ xứ sống tập trung xô bồ ở đây. Ai cũng nghĩ nếu người nào mà làm bậy để police bắt được thì sẽ ảnh hưởng đến hồ sơ định cư và chính nhờ vậy nên đã chùn tay đám người xấu. Quán cà phê của bác sĩ Luân cũng thế, ông bận làm việc tại nhà thương nên đành khóa trái bỏ mặc khi vắng nhà trong suốt buổi sáng. Không lo chuyện trộm cắp nhưng dẫu sao có anh Khảm đến mượn quán làm chỗ dạy học vẫn hơn là để không người coi nên ông Luân gật đầu liền. Có điều tuy ông Luân không nói nhưng anh Khảm cũng biết là phải có trách nhiệm đến sớm để dọn dẹp căn phòng chính của tiệm để có chỗ dạy học. Ly, tách khách bỏ lại cùng vụn tàn thuốc vương vãi trên mặt bàn và sàn phòng đều phải được dọn dẹp thật nhanh rồi anh còn phải sắp xếp kê lại bàn ghế, đặt tấm bảng đen sao trông cho ra một cái lớp trước khi các học trò đến. Dạy xong buổi học rồi thì anh Khảm còn phải dọn dẹp, kê trả các bàn ghế vào chỗ cũ nữa. May cái 3 cô gái cùng Đỉnh đã phụ giúp anh Khảm làm các việc này và đổi lại, anh sẽ dạy học miễn phí cho cả đám 4 người họ. Lớp Anh ngữ của anh Khảm đã bắt đầu mở ở quán cà phê Dạ Lý trong các ngày thứ Hai, Tư và Sáu từ đầu tháng và anh chỉ dạy mỗi buổi từ 9:00 cho đến 10:30 là tan. Hồi còn bên quê nhà, tôi biết anh Khảm chưa lần nào dạy học vậy mà ở đây, vì việc mưu sinh khi tạm dung và chiều theo nhu cầu cần biết Anh ngữ của người tị nạn nên anh đã trở thành một teacher dễ dàng từ khả năng English của bản thân. " Em biết đó, anh làm thầy giáo bao giờ đâu vậy mà thử dạy Anh ngữ một thời gian ngắn thì lớp anh đã có khá đông người theo học. Chính cái thời gian tu nghiệp tại Mỹ đã khiến anh dạy đàm thoại dễ dàng và thực sự anh chỉ có khả năng đến thế thôi. Anh chỉ nói khái quát chút văn phạm nhưng chú ý nhiều về đàm thoại vậy mà người ta lại thích. Có lẽ, người theo học nơi lớp của anh chỉ mong sao trong thời gian ngắn thì họ có thể đàm thoại những câu ngăn ngắn là đủ ", anh Khảm thố lộ với riêng tôi.
Một buổi sáng ngày thứ Sáu, tôi theo chân 3 cô gái cùng Đỉnh đến lớp Anh ngữ của anh Khảm xem cho biết. Cái phòng mà khách mỗi tối đến ngồi quán uống cà phê, xem TV giờ được anh Khảm dùng làm lớp dạy Anh ngữ trông cũng ổn. Bàn ghế được vần thêm từ ngoài sân vào mới đủ chỗ và anh chia lớp học thành từng nhóm ngồi riêng các bàn tùy theo trình độ từng người để họ vừa học vừa kèm cặp lẫn nhau. Người theo học trong lớp anh Khảm nếu gọi chung bằng hai chữ học trò thì thật ngại miệng vì ngoài những số tre trẻ như Đào, Bẩy hay Yến... thì có những người chỉ nhìn mặt không, cũng biết tuổi họ còn phải lớn hơn cả anh Khảm nữa. Coi như xí xóa chuyện xưng hô trong lớp học vì ai cũng hiểu đến được trại tị nạn thì chuyện phải lo trước mắt là chuyện thanh lọc rồi trang bị kiến thức để chuẩn bị bước vào sống trong một xã hội khác ở nước thứ ba nào đó và biết tiếng Anh là một trong những điều họ cần phải có. Mối quan hệ với nhau, nếu có thì khi chia tay đi định cư rồi cũng sẽ phôi pha theo thời gian. Anh Khảm cũng hiểu chuyện anh dạy họ học Anh ngữ như là việc người đã biết chỉ dẫn cho người chưa biết biết nên ai gọi anh bằng chữ thầy hay chỉ là anh, anh chẳng quan tâm. 
Ở đảo tị nạn Galang qua tới tháng thứ hai thì phòng P3V gọi barrack chúng tôi đi chụp hình để làm thẻ ID tạm dung. Trừ con nít đi với cha mẹ thì tất cả người trong ghe đều có thẻ mang số thứ tự theo vần ABC. Ghe chúng tôi mang số CL 135 và là ghe thứ 366 đến trại tị nạn Galang. Thời gian sống ở bên Malaysia thì phòng P3V ở đây không tính đến. Họ chỉ tính khi ghe cập vào một chỗ nào đó như đảo hay cảng và tiếp xúc được với chính quyền địa phương Indonesia nước họ. Vì vậy, dù ghe 233 người đến Malaysia sau nhưng vì họ cập vào cầu tàu Tanjung Pinang trước chúng tôi nên họ đã mang số thứ tự 365. Cứ ghe nào đến trước thì Cao Ủy sẽ thanh lọc trước và như vậy, ghe 233 người sẽ nằm trong danh sách thanh lọc trước ghe CL 135 chúng tôi. Hàng số CL 135 in trên thẻ ID mang nghĩa là ghe khởi hành từ Cửu Long và chở tổng cộng 135 người. Ghe 233 người mang số VT 233 vì họ ra đi từ bãi biển Vũng Tàu. Cái thẻ ID của những người đến sau ngày Cao Ủy tuyên bố đóng cửa chỉ khác với thẻ của thuyền nhân đến trước ngày đó ở hàng chữ Asylum Seeker (người tìm nơi tạm trú) thay cho Refugee (người tị nạn). Có thẻ tạm dung rồi thì người trong ghe chúng tôi mới có thể viết thư gửi đi cho thân nhân và nhận thư đến trại. Dù là chiếc thẻ mỏng manh nhưng cầm nó trên tay, ai nấy trong barrack đều mừng vì đã qua được một khúc ngắn của đoạn đường tị nạn còn dài thăm thẳm trước mặt. Nhưng cũng có người khi thấy con số thứ tự trên thẻ đã than: " Ghe mình mang số 366 thì không biết đến khi nào mới gặp được Cao Ủy phỏng vấn đây. Trời hỡi! ". Ông Thăng và Tám Kiệt thì an ủi nói là đừng để ý đến thời gian thì sẽ thấy nó qua rất mau.
Đỉnh và 3 cô gái học Anh ngữ rất chăm, khi rảnh rỗi thì họ đều lấy bài ra học và có nhiều bữa vì lo làm bài tập để nộp nên đã bỏ hẳn chuyện đi ra quán ngồi bù khú như trước. Theo lời giới thiệu từ 3 cô gái, trong barrack đã có thêm ít người đến học Anh ngữ của lớp anh Khảm. Khung cảnh trong barrack thật vui khi nghe tiếng hỏi thăm bài vở mới học được của nhau và chỉ duy nhất một người muốn cắp sách đi học Anh ngữ nhưng lại không thể. Đó là Thuận, tài công của ghe. Chàng ngư phủ trẻ tuổi nầy chỉ nói nhưng lại không thể đọc cũng như viết tiếng mẹ đẻ vì thời gian ở bên quê nhà, Thuận chỉ biết đến biển. Thật tội! Đành phải chờ Cao Ủy xây xong khu giáo dục cho người tạm dung thì khi đó Thuận mới có thể bắt đầu khởi sự việc học tiếng... Việt chung với các trẻ em trước rồi sau đó anh chàng mới nghĩ đến chuyện học Anh ngữ sau.
Một buổi tối khi cùng anh Khảm vào quán cà phê Sài Gòn thì có một người đàn ông ngồi sẵn ở cái bàn lộ thiên gần bờ rào vẫy tay và cất tiếng gọi hai chúng tôi. Anh Khảm kéo tôi đến bàn của người đàn ông đó. Ông ta, nhìn mặt tôi đoán tuổi đã ngoài sáu mươi nhưng trông còn nhanh nhẹn, có vẻ chịu chơi qua bộ dạng và y phục quần soọc ngắn với áo thun bó, đi giầy cùng vớ dài. Da ông ta xạm đen, khuôn mặt khắc khổ, đầu hơi hói nhưng tóc lại để dài nên trông có vẻ kỳ quái. Ông ta mỉm cười, thân mật nói giọng miền Bắc với anh Khảm: 
- Lúc này thế nào? Nghe nói anh mới mở thêm lớp ở chỗ anh Luân phải không? Dạy nhiều như vậy tiền sao tiêu hết? Tiếp máu cho anh em với chứ! 
- Cũng vẫn như thường thôi, mở lớp mới chỗ anh Luân thì tôi lại bỏ mấy chỗ cũ ngoài Galang 2. Dạy nhiều sao mà lết mà soạn bài được hả anh, còn phải giữ sức gìn sức khỏe nữa chứ. Anh Khảm trả lời. 
Anh Khảm giới thiệu với tôi người đàn ông đó tên là Bửu, cùng binh chủng không quân với anh và sau đó cả hai người họ xoắn lấy nhau trò chuyện về các tin thời sự đang nghe trong trại. Tôi ngồi yên nhìn ra phía bên ngoài quán nơi người Việt kéo nhau đi lên đi xuống thành từng nhóm dạo mát. Chợt tôi thấy một người đàn ông khá lớn tuổi cùng đi với một cô gái trẻ tóc dài ngang lưng lướt qua trước mắt. Trông hai người họ có vẻ quen quen, dường như tôi đã gặp mặt ở lần nào đó. Người đàn ông miệng hút thuốc lá còn cô gái cầm một gói đồ trong tay như vừa từ một tiệm tạp hoá nào đó đi ra. Anh Khảm và ông Bửu cũng thấy hai người này khi cả hai bỏ dở câu chuyện đang nói. Đang cố lục lọi ký ức thì tôi nghe tiếng ông Bửu: " Lúc vào thanh lọc anh gặp lão phải không? ". Anh Khảm gật đầu xác nhận rồi hỏi lại: " Sao lão nói sõi tiếng Việt quá vậy hả anh Bửu? ".
Ồ! Tôi đã nhận ra hai người họ rồi, papa Phước và cô gái tên Hướng đây mà. " Anh biết tại sao lão lại nói tiếng Việt sõi như vậy không? ", ông Bửu trả lời rồi ngừng lại chốc lát để hớp một ngụm cà phê sữa nóng và kéo thêm một hơi thuốc lá trước khi kể tiếp sau làn khói trắng.
- Lão nói sõi tiếng Việt là vì đã từng ở Việt Nam khá lâu anh à. Đúng ra, lão bị Việt Cộng giam tới 7 năm trời đó anh. Chính vì đã bị tù lâu như vậy nên lão rất rành về dân mình, nước mình.
Bị Việt Cộng bỏ tù 7 năm trời, tai tôi có nghe lầm không. Papa Phước là sĩ quan Indo nhưng sao lại bị Việt Cộng bỏ tù. Nguyên do và sự việc đó xẩy ra khi nào? Giọng ông Bửu khàn khàn nói quá nhỏ so với tiếng ồn của dàn máy nhạc trong quán nước làm tôi phải kéo ghế ngồi sát lại để nghe cho rõ. Anh Khảm cũng ngồi im chờ nghe chuyện ông Bửu sắp kể.
- Tôi bắt đầu bằng cái gì về lão papa Phước nầy đây? Ông Bửu khẽ nhắm mắt như đang hồi tưởng lại câu chuyện và ngay sau đó ông mở mắt ra nhìn hai chúng tôi rồi kể bằng cái giọng đều đều: " A! Chúng ta phải trở lại thời điểm của tháng Giêng năm 1973 khi mà hoà ước Paris về ngưng chiến tại miền Nam VNCH ra đời trước đã. Có một điều khoản hay chương gì đó trong bản hoà ước quy định phải thành lập ngay một ủy ban quốc tế nhằm kiểm soát và giám sát việc thi hành của các phía chính quyền liên quan. Hình như là Chương 6, nếu tôi nhớ không lầm. Có 4 nước là đại diện cho cái ủy ban quốc tế nầy gồm 2 nước thuộc phe CS là Ba Lan, Hung Ga Ri và 2 nước bên phe tự do là Canada, Indonesia. Lão papa Phước nầy đã đến Việt Nam trong thời gian đó và tên thật của lão là Suriahdy chứ không phải cái tên Phước như chúng ta thường nghe gọi ở đây. Các anh còn nhớ các xe hơi và máy bay trực thăng UH với các vạch sơn mầu cam hoặc hàng chữ ICCS bên thân trong thời kỳ đó không? Ông Bửu ngừng nói trong giây lát rồi không đợi chúng tôi trả lời câu hỏi mà lại kể ngay: " Đó... đó! Ký hiệu dành riêng cho các xe hơi, máy bay mà cái ủy ban quốc tế nầy sử dụng trong các chuyến đi kiểm tra cùng giám sát việc thi hành các điều của bản hoà ước. Họ sơn các vạch mầu cốt để phân biệt với xe cùng máy bay của chính quyền miền Nam VNCH ". Ông hắng giọng, nói liền một hơi: " Theo lời kể của lão papa Phước thì một trực thăng UH chở toán nhân viên ICCS trong chuyến bay con thoi từ thủ đô Sài Gòn đến thành phố Lộc Ninh công tác đã bị trục trặc máy móc và phải đáp khẩn cấp xuống một cánh rừng. Lộc Ninh, chỗ này trước đây thuộc tỉnh Bình Long và rất gần biên giới Việt-Kampuchia, thì đã thành thủ đô của đám Việt Cộng sau khi chúng chiếm được vào năm 1972. Máy bay vửa đáp xuống đất thì đám Việt Cộng trong rừng xồ ra bắt hết cả từ phi công cho đến các nhân viên trong đoàn công tác. Lão Phước là nhân viên của phái đoàn Indo trong chiếc trực thăng đó. Khi còn ở bên Indo thì lão đã biết bập bẹ chút tiếng Việt nên mới được chính quyền Jakarta tuyển làm nhân viên cho phái đoàn nhưng có ngờ đâu đó cũng là nguyên do khiến lão bị Việt Cộng bắt tù oan uổng. Khi đám Việt Cộng xuất hiện, ỷ mình là nhân viên của Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên nên lão đã xổ tiếng Việt với bọn khỉ. Đoàn nhân viên ICCS bị áp giải vô rừng được vài ngày thì Việt Cộng phải trả tự do cho toàn bộ người đi trong chiếc trực thăng nhưng chỉ giữ lại riêng mình lão. Bọn khỉ khăng khăng quả quyết lão là sĩ quan miền Nam VNCH giả dạng nhân viên Indo để hoạt động gián điệp. Dù hết hơi thanh minh bằng tiếng Việt rồi cả với tiếng Bahasa (ngôn ngữ Indo) nhưng bọn Việt Cộng vẫn không tin lời lão nói. Chúng đã tống lão vô tuốt hậu cứ nằm sâu trong rừng rồi sau đó, chuyển lão ra ngoài miền Bắc luôn ".


                                      (còn nữa)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét