Tổng số lượt xem trang

Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU : KỲ 115



                      (tiếp theo)


                 

Khuya hôm đó, phòng làm việc riêng của ông Thượng vẫn còn sáng đèn. Bà Kiểm tra về rồi, ông mở băng ghi âm ra nghe :

Giọng ông thành uỷ viên :

“ Có phải ông Thượng sai ông đến đây thuyết phục tôi bỏ qua vụ con gái tôi mất tích, thôi  không báo công an truy tìm nữa, đúng không ?”

Giọng ông Bí thư thành uỷ :

“ Đúng… đúng vậy đó…anh nên quên chuyện đó đi, đừng làm ầm ĩ lên, coi như cháu nó bị tai nạn …”

“Nếu vậy tôi sẽ được gì ?”

“ Anh sẽ được bỏ qua vụ kỷ luật và khoá tới vẫn được đề cử vào Ban chấp hành…Tôi đã nói hết  rồi… anh đưa tôi đi cấp cứu mau…”

 “ Chưa xong…anh phải nói rõ con gái tôi hiện giờ ở đâu ?”

 “ Tôi không biết…tôi có biết gì đâu ?”

 “ Vậy thôi anh cứ nằm đó…”

 “ Anh gọi…anh gọi lái xe …”

 “ Thôi được, thôi được…có lẽ ….con gái anh đã đi xa …xa lắm rồi…”

 “ Xa là ở đâu ? Ở trong nước hay đã ra nước ngoài ?”

“ Không không…không trong nước cũng không ở nước ngoài …con anh…con anh…”

 “ Con tôi…con tôi làm sao ?”

“ Chết rồi…nó chết rồi…”

 “ Ong nói thật không ? Tại sao nó chết ? Ai đã giết nó ?”

“ Tôi …tôi…có biết gì đâu…anh cứ hỏi ông Thượng…”

Tiếng máy lạo xạo rồi im bặt. Ong Thượng đập tay xuống bàn :

“ Thằng gớm thật…mày dám chơi nhau với tao ?”

“ Có chuyện gì thế ông ?”

Ong Thượng giật mình quay lại, bà vợ ông đã đứng lù lù sau lưng ông từ lúc nào. Khuôn mặt lạnh băng của bà càng làm máu trong ông sôi lên :

“ Thằng chó…nó tính vuốt râu hùm…”

Ong mở lại băng ghi âm, càng nghe mặt bà Phu nhân càng sắt lại. Sau cùng bà cười khẩy :

“ Ong làm ăn thế này bằng giết người ta…”

Ong Thượng tròn mắt :

“ Giết ai ? Giết tôi ấy à ?”

Bà Phu nhân không trả lời, ngồi phịch xuống giường, gác cả hai chân lên gối :

“ Bóp chân cho tôi ! Mỏi rừ ra rồi…”

Ong Sáu Thượng hơi nhăn mặt nhưng vẫn lặng lẽ cúi xuống làm theo lệnh vợ. Ong biết rõ tính bà , khi cần tập trung suy xét, bao giờ bà cũng nằm dài ra giường đòi ông bóp chân, mắt lim dim thả hồn vào cõi phiêu diêu. Thực ra lúc đó bà cần quên hết mọi vướng bận để cái máy tính trong đầu bà nhoay nhoáy làm việc. Người đời thường chỉ thấy ông xuất hiện trên ti vi vào những lúc đọc diễn văn hay chỉ đạo hoặc kêu gọi, động viên cả nước, chứ ít người biết được rằng sự nghiệp ông phần lớn do tay bà tạo dựng.

Ngày đó, sau khi “ đảng, Bác ” về tiếp quản Hà Nội , cô du kích đường 5 cũng được mời về Thủ đô báo cáo thành tích chiến đấu tại Đại hội liên hoan thi đua các lực lượng vũ trang. Thân hình rắn chắc, đôi chân dài và cái miệng dẻo quẹo lúc nào cũng ướt át của cô lọt ngay vào mắt đồng chí phụ trách công tác tổ chức trung ương. Thế là cô được giữ lại Hà Nội , hằng ngày đưa tới gặp “ đồng chí tổ chức” để đồng chí kèm cặp bồi dưỡng, nâng cao trình độ thành “ báo cáo viên” đi khắp các đơn vị vũ trang bồi dưỡng cho cán bộ, chiến sĩ  nêu  cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, chống các “viên đạn bọc đường” vốn là nỗi lo của đảng và bác Hồ khi đưa “những đứa con ưu tú “ vốn quen sống rừng  rú tối tăm về sống giữa chốn phồn hoa đô hội trong ánh đèn nê ông.

Báo hại cô du kích đường 5 được đồng chí “ tổ chức” kèm cặp, bồi dưỡng kỹ càng quá  nên kiến thức mở mang thì ít mà cái bụng cứ mỗi ngày phình ra thì nhiều. Vào một buổi vừa đi họp về, đồng chí “tổ chức’ đã thấy cô ngồi chờ ở phòng khách tư dinh. Tệ thật, đã dặn đêm nào cần thì sẽ cho xe commăngca bịt bạt tới đón, qua đêm xong xe lại đưa về, cứ phải như lời Bác dậy trong chiến thuật đánh du kích “ lai vô ảnh, khứ vô hình”, tức  cô tới không ai biết, cô về không ai hay thì mới bảo đảm an toàn, bí mật, giữ uy tín “tổ chức” được. Nghe cấp trên trách móc, cô mếu máo :

“ Biết rồi, em biết phải bí mật để giữ uy tín cho …thày em, à quên cho thủ trưởng rồi , nhưng đây là trường hợp cấp  bách…”

“ Cấp bách gì  cũng phải bảo đảm nguyên tắc “ bí mật, bất ngờ” chớ ?”

Cô du kích  ngồi xích lại gần đồng chí “tổ chức”, mặt đỏ ửng :

“ Cơ mà “thầy em” ơi…à quên báo cáo… thủ trưởng em …em…”

Hồi đó, các thủ trưởng đơn vị thường hay dấm dúi “lẹo tẹo” với các nữ chiến sĩ làm công tác văn phòng như nữ y tá quân y, nữ điện báo viên, nữ nhân viên cơ yếu….Cứ bí bí mật mật mãi cho đến khi bụng các cô đã lùm lùm lên rồi thủ trưởng mới biết mà “ dở khóc, dở cười” khiến dân gian đã có câu :

Thủ trưởng nhìn em thủ trưởng cười

Đau lòng em lắm thủ trưởng ơi…”

Bởi vậy cô nữ du kích đường 5 chỉ mới lắp bắp “ báo cáo thủ trưởng em…em…” là đồng chí “tổ chức” hiểu ngay ra chuyện gì rồi. Đồng chí càu nhàu :

“ Chính xác chưa ?”

“ Báo cáo thủ trưởng chính xác rồi ạ. Em đã …không thấy…không thấy từ cả hai tháng nay rồi ạ…”

Rồi bờm xơm, cô du kích đường 5 xích tới cầm tay “thủ trưởng” đặt lên bụng mình :

“ “Thày em thử rờ coi…nó đạp đấy…”

Đồng chí “tổ chức” mó phải chục than hồng, rụt tay lại , cáu kỉnh :

“ Khỏi rờ…cứ nhìn cái lông mày dựng ngược lên thế kia cũng đủ biết rồi. Các cụ nói “ thâm dưa thì khú, thâm vú thì chửa”….thế …thế đã thấy thâm…vú chưa ?”

Cô du kích đường 5 tinh quái :

“ Vậy em vạch ra cho thày em coi nhé…”

Đồng chí “tổ chức” vội vàng xua xua tay :

“ Ay chớ…chớ…chỗ này là trụ sở trung ương ….tai mắt khắp nơi…cô vạch vú ra ở đây bằng cô giết tôi à ?”

Cô nữ du kích lo lắng :

“ Vậy…vậy “thầy em “ tính sao giờ ?”

Đồng chí liếc xung quanh, ca cẩm  :

“ Đã bảo để đến tối vào phòng “mật” rồi muốn “thày em”, “thày anh” gì cũng được, còn ở cơ quan nhất thiết phải giữ mồm  giữ miệng, lộ ra là chết…”

Cô nữ du kích chẳng những không sợ mà còn lì lợm ngồi sát lại đồng chí “ tổ chức’ :

“ Mặc kệ…chết em cũng không sợ … cứ   được  sống với “thày em”  thì chết em cũng không sợ…”

Đồng chí “tổ chức” liếc nhìn xung quanh rồi đứng dậy, đi sang ngồi ghế đối diện :

“ Không được , không được manh động…manh động mất uy tín của tổ chức là tuyệt đối không được … cứ  phải tính cho thật kỹ…”

“ Thì bây giờ mình cứ ra công khai rồi làm đám cưới…”

Đồng chí “tổ chức” giật mình :

“ Ay chết  …cưới  sao được ? Đang còn “ bà Cả” trên Thái Nguyên làm sao “ra công khai” cưới xin được ?”

Cô nữ du kích ngúng nguẩy :

“ Vậy sao thày em bảo bà ấy sắp chết ?”

“ Thì sắp chết chứ đã chết đâu ? Kỳ này “tổ chức” thực hiện chính sách  cán bộ có công với cách mạng chiếu cố đưa bà ấy sang Liên xô chữa bệnh. Vậy bà ấy sẽ sống lâu sống khoẻ chứ đâu có chết ?”

Cô du kích xụ mặt xuống :

“ Em không biết…thày em muốn làm sao thì làm .”

Đồng chí “tổ chức” vỗ trán như chợt nhớ ra , mừng rỡ :

“ Được rồi, được rồi, ổn rồi…”

Cô  du kích nhìn xuống bụng, nguây nguẩy :

“ On là ổn thế nào ? Em không có chịu nạo thai “giải quyết hậu quả” đâu đấy.”

Đồng chí “tổ chức” lắc lắc đầu rồi bất chợt hỏi một câu làm cô nữ du kích giật mình :

“ Nghe nói em đã có nhân tình dưới quê ?”

Cô gái nhảy nhỏm :

“ Từ hồi còn chiến tranh kìa…đến hoà bình em bỏ nó rồi…em chẳng kể cho “thày em” biết rõ chi li rồi còn gì ?”

Đồng chí “tổ chức” bóp trán  suy nghĩ rồi lắc đầu :

“ Không được …không thể có cái kiểu “ 9 năm kháng chiến đợi chờ…hoà bình lặp  lại em lờ anh đi “ như thế được. Phải bảo đảm chính sách cho người cầm súng chiến đấu chớ…”

Rồi nhớ ra mình đang “méo mó” nghề nghiệp động  viên cán bộ , chiến sĩ sắp   chuyển ngành sang “lao động sản xuất”, đồng chí “tổ chức” cười hề hề :

“ Thực hiện lời dậy của bác Hồ “ phụ nữ Việt Nam chung thuỷ, đảm đang” , em phải về quê ngay chuẩn bị làm đám cưới với người yêu cũ !”

Cô gái  không tin vào tai mình :

“ Thày em bảo sao…sao lại về quê làm đám cưới ? Mà bác Hồ dậy là “trung hậu, đảm đang” chứ không phải “chung thuỷ đảm đang …”

Đồng chí “tổ chức” cười hề hề :

“ Trung hậu hay chung thuỷ thì cũng thế. Cái chính tìm được một thằng chịu  làm bố đứa con của cô. ”

Cô gái đã hiểu thâm ý của đồng chí “tổ chức”. Cô ngúng nguẩy :

“ Em không muốn làm vợ thằng dưới quê đâu. Em chỉ muốn sống với “thày em” thôi”.



                           ( còn tiếp)



Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Nhà văn Nhật Tiến : Sự thực không thể bị chôn vùi ( kỳ 16)

                                        (tiếp theo)              
           Thời điểm sáng tác : 1983
- Nhân vật thủ trưởng trong truyện ngắn “Người Tù Cuối Năm” của anh có liên hệ gì với lối lập luận trên của anh không ?     (Câu hỏi của Hoa Thịnh Đốn Việt Báo- trang 99)

NGƯỜI TÙ CUỐI NĂM
Truyện ngắn của NHẬT TIẾN

Khi lão thủ trưởng về tới đơn vị thì trời đã xế chiều. Hôm nay Ba Mươi Tết, các cơ quan đều nghỉ việc nên truớc cổng trụ sở không còn diễn ra cái khung cảnh ồn ào, hỗn độn của đám dân chúng chờ đợi để xin giấy tờ. Việc canh phòng cũng lơi là hẳn đi. Trên chiếc chòi đóng bằng gỗ thùng sữa tùm hụp như chiếc chuồng chim, lão thấy một nhân viên của mình đang ngồi hút thuốc trong tư thế chiếc ghế ngồi bị đưa ngả cả về đằng sau để cho lưng anh ta dựa được hoàn toàn lên vách gỗ. Điều này làm anh ta không nhìn thấy vị thủ trưởng của mình vừa đạp xe tới. Mãi tới lúc lão ta xuống xe và đã dắt chiếc xe đeo lỉnh kỉnh đủ thứ túi, giỏ, gói đồ cồng kềnh đi qua cánh cổng làm bằng sườn gỗ và những sợi kẽm gai thì anh chàng gác trên chòi canh mới bật dậy, giọng nói hốt hoảng hẳn lên :
- Thưa thủ trưởng…. thủ trưởng đã về. . .
Lão ngước mắt nhìn lên. Ánh mắt đầy nghiêm khắc, nhưng miệng lão vẫn nở một nụ cười làm ra vẻ hiền lành, dễ thương tương phản hẳn với tia nhìn lạnh buốt như lưỡi dao mới mài sắc. Lão nói với thủ hạ một câu, với một giọng chọn lựa đủ để anh ta không đoán ra được là lão đã xuề xòa bỏ qua hay vẫn còn để tâm tới sự canh phòng lơi là của mình:
- Mọi sự tốt cả đấy nhỉ ?
Anh công an vội vã xoắn xuýt:
- Thưa thủ trưởng mọi sự tốt cả. Trừ có mỗi một vụ ngày hôm qua. . .
Anh ta chưa kịp nói hết câu lão đã đi ngang qua mặt, chẳng ra vẻ ngạc nhiên hay chú ý gì tới lời báo cáo bất thường này. Hình như lão ta không cho anh cái dịp để xuề xòa cái tội đã canh gác trong tư thế "Ngồi trên ghế mà dựa cả lưng vào vách gỗ để nhìn trời !".
Lão lầm lũi dắt cái xe đi qua một khoảng sân cỏ nhỏ. Mặt tiền của trụ sở cơ quan đóng im ỉm nhưng ở phía trong vọng ra những tiếng cười nói ồn ào. Lão đi vòng ra phía sau và qua khung cửa sổ, lão nghe thấy tiếng reo hò lẫn những tiếng chửi thề tục tĩu.
Lão dựng chiếc xe ở đầu hè, cố tạo ra tiếng động rổn rảng bởi chiếc bàn đạp cọ sát trên sàn xi măng để gây sự chú ý của mọi người. Lão không muốn khi mình sắp bước vào văn phòng mà mọi người trong đó không ai hay biết gì cả, nhất là trong cái hoàn cảnh tất cả đều đang bệ rạc chúi đầu vào canh bạc.
Sự đánh tiếng của lão có ngay kết quả, vì hình như trong đám nhân viên đang sát phạt, vẫn có kẻ thỉnh thoảng liếc ra sân dòm chừng. Tiếng động do lão gây ra lập tức làm cho tiếng ồn ào bỗng nhiên im bặt. Lão bước tới những bước thật chậm về phía cửa phòng. Lão cảm thấy hài lòng về sự im lặng tuyệt đối ở chung quanh mình. Điều đó có nghĩa là lão vẫn nắm trọn vẹn quyền uy ở đây, loại quyền uy luôn luôn gắn theo một mục tiêu là tạo ra cái cảm giác khiếp sợ bao trùm trên tất cả mọi người.
Rồi lão bước chân vào phòng. Kẻ đứng ngay phía ngoài là một nhân viên trẻ. Anh ta mới được đổi về đây không đầy hai tháng. Trong mọi trường hợp, anh ta luôn luôn chứng tỏ là một kẻ cuồng tín nhưng lại rất non tay nghề ở chỗ dễ hốt hoảng, dễ bối rối. Cho nên mới vừa chỉ chạm vào ánh mắt sắc lẻm của lão, là Vinh, tên anh ta, đã vội vàng nói bằng một giọng ấp úng:
- Thưa Thủ trưởng. . . . hôm nay cuối năm . . . . .
Rồi mặt  đỏ rần lên, anh ta không thể tìm thêm được lời nào để tiếp nối câu nói của mình. Ngay lúc đó, ở góc phòng có giọng nói quen thuộc của Hào cất lên:
- Thủ trưởng đã về. Anh em đang vui tất niên. Nếu không mệt xin mời thủ trưởng nhập cuộc với anh em.
Lão đưa mắt về phía cuối phòng. Lão thấy Hào đang cởi trần và trên tay còn cầm mấy quân bài. Trong đám thủ hạ, Hào là kẻ vững chãi nhất. Gã có một đức tin mãnh liệt. Điều này nhiều lúc biến gã thành một kẻ cứng đầu, nhưng đồng thời cũng là một nhân viên ưu tú, góp phần đắc lực trong mọi công tác điều hành ở đây. Tuy nhiên về một phương diện nào đó, đối với thủ trưởng, gã là một tên đáng ngại. Tận tụy và hay rình mò. Đó là đặc điểm của những kẻ đứng chung trong cùng một ngành, làm chung một cơ quan, chia sẻ chung một mối quan tâm hay một công tác được giao phó.
Thái độ ngang nhiên của Hào đáng để cho lão ngừng lại một giây. Lão nhìn thẳng về phía Hào. Lão cố tạo cho mình một vẻ ngạo nghễ, ở ánh mắt, ở nụ cười chỉ nhếch ra không tới một nửa vành môi, bờ vai của lão cũng vuông thẳng lại. Rồi lão cất tiếng khoan thai, pha một chút bỡn cợt nhưng nhiều phần là quyền uy :
- Nhập cuộc với các đồng chí thì sẵn sàng rồi. Nhưng đừng vì ham vui mà mất cảnh giác đấy nhé.
Trong sinh hoạt thân thiết, ngoài nhiệm vụ hằng ngày, khi dùng tới tiếng "đồng chí" với nhau thì đó là lúc bắt đầu có vấn đề. Ai cũng thấy vậy. Và lão đã sử dụng tiếng xưng hô đó để bầy tỏ sự bất như ý của mình. Rồi không chờ cho Hào có dịp nói thêm một câu nào khác, lão lầm lũi quay lưng trở ra. Mấy nhân viên đang đứng gần đó vội vã lùi giật lại mặc dù lối đi còn rộng rãi. Lão trở về bàn giấy của mình trong một căn phòng ở cuối dẫy hành lang.
Khi lão kéo ghế ngồi xuống trước đống hồ sơ ngổn ngang trên mặt bàn thì Hào cũng đã vội vã theo vào. Bây giờ gã đã mặc thêm chiếc áo sơ mi tươm tất. Sự bỏ cuộc chơi đang ồn ào của gã để tới trình diện mình ngay khiến lão thấy cơn bực tức dịu lại. Lão nhoẻn ngay một nụ cười hoàn toàn dễ dãi rồi nói với gã bằng một giọng cởi mở, thân thiết:
- Sao chú Hào? Tết nhất rồi, nhớ nhà không?
Hào vui vẻ:
- Em mới nhận được thư của bà cụ hồi chiều. Cụ nhận được gói quà em gửi về rồi. Thôi, thà để tiền mua thêm cái bồi dưỡng cho nhà còn hơn là dẫn thân về, có đồng nào chạy vào tiền xe đi đường hết.
Lão mỉm cười :
- Hà..hà...Chớ không phải vì cô Tâm bên quán hàng trước cổng cơ quan mà chú chịu bỏ mấy ngày phép để ăn Tết ở đây hả?
Mặt Hào đỏ bừng lên. Gã tỏ ra luống cuống thấy rõ. Hiển nhiên là cấp chỉ huy của gã đã nhìn thấu đến tận tim đen của mình. Điều này làm lão thủ trưởng càng thêm hài lòng vì lão đã nắm trúng nhược điểm của gã nhân viên dưới quyền. Chỉ một sự vướng mắc này thôi thì lão cũng đã có dư điều kiện để vo tròn bóp méo con người của Hào như một món đồ chơi trong tay rồi.
Lão đổi giọng nghiêm chỉnh:
- Chú trẻ, chưa vợ thì có quyền tìm hiểu. Nhưng chớ có nhẹ dạ để mất cảnh giác đấy nhé.
Rồi lão chuyển ngay qua đề tài khác:
- Bây giờ chú báo cáo cho tôi cái vụ xẩy ra hôm qua coi.
Hào giật nẩy người lên. Gã thực sự thán phục cấp chỉ huy của mình về cái tài ma xó này. Lão ta về đây chưa đầy mười phút đồng hồ, lại chưa tiếp xúc với ai, chính gã là người đầu tiên đến chào lão trở về, thế mà lão đã "nắm được tình hình" thì thần sầu quỷ khốc thật! Gã cứ ngẩn mặt ra mất đến mấy giây rồi mới sực tỉnh và nói vội vã:
- Trình thủ trưởng, vụ này không xẩy ra trong phạm vi trách nhiệm của mình. Việc phát giác chiếc tầu trốn ra nước ngoài là ở khu vực của bên các đồng chí Vĩnh Hậu. Lúc bị phát giác, bọn phản động chạy phân tán khắp mọi chỗ. Đồng Văn có, Minh Thuận có. Thuận Hiệp cũng có. Riêng khu vực của mình thì chúng em chỉ bắt được một tên mà chúng em đánh giá là chủ chốt. Bản báo cáo đầy đủ nội vụ em đã thảo và đệ trình trong hồ sơ trên bàn của thủ trưởng.
- Chú thông báo vụ này đi những đâu rồi?
- Chưa! Em chờ lệnh thủ trưởng !
Mặt lão thoáng một vẻ hài lòng. Dĩ nhiên trước sau gì thì hồ sơ cũng được chuyển đi, nhưng lão không muốn bị ràng buộc bởi bất cứ một yếu tố sơ xuất nào có thể tránh trước để có thể được rộng rãi hơn trong cung cách giải quyết vấn đề. Yếu tố chủ động bao giờ cũng là điều kiện tuyệt hảo trong mọi công tác.
Lão vẫy tay cho Hào lui ra rồi tiến lại bàn mở tập hồ sơ ra coi. Hào đã báo cáo khá đầy đủ, từ bản tự khai của người tù cho đến lý lịch của đương sự, bản phúc trình nội vụ của Hào cùng biên bản về những tang vật tịch thu được. Mải nghiền ngẫm đến hơn nửa giờ sau lão mới đặt tập hồ sơ xuống bàn.
Những chi tiết ghi trong tập hồ sơ quả thực đã lôi cuốn lão một cách mãnh liệt đến nỗi lão quên bẵng cả mọi cảnh vật chung quanh lúc này thì nắng bên ngoài đã xuống thấp ở lùm cây phía bên ngoài cửa sổ và xa xa thỉnh thoảng vẫn có tiếng pháo đì đẹt vọng lại mang hương vị phảng phất cái rộn ràng của một ngày giáp Tết.
Trong khoảnh khắc, lão đã quên đi tất cả hiện tại để đắm hồn mình vào dĩ vãng xa xăm với những nhân danh, địa danh ghi trong hồ sơ mà hàng mấy chục năm qua, lão không có dịp được nghe nhắc lại. Những tên người, tên đất năm xưa xen lẫn với mớ kỷ niệm hỗn độn, mơ hồ tưởng như đã xóa nhòa trong dĩ vãng nhưng nay đã vụt trỗi dậy như hiện lên qua những hàng chữ trong tập hồ sơ để lôi kéo lão trở về những ngày xa xưa của thời kỳ đầu cách mạng. Lão vội vã đứng bật dậy và toan tìm xuống phòng tạm giam tù nhân. Nhưng bản tính trầm tĩnh đã khiến lão tự kiềm chế được ngay hành động vội vã của mình. Cả một đời lăn lộn trong đấu tranh nhiều khi vào sinh ra tử, nếu lão có leo lên được tới chức vụ bây giờ thì phần lớn cũng là nhờ ở cái sự biết tự kiềm chế đó.
Vì thế, lão chỉ tiến ra phía cửa sổ và móc túi lấy bao thuốc lá châm một điếu để cho cái đầu tự do lan man suy nghĩ. Bên ngoài, trời đang bảng lảng nắng chiều trên những ngôi gò thấp có những bụi cây um tùm xào xạc tiếng lá xen lẫn tiếng chim. Cho đến cái giây phút đó lão mới chợt ngạc nhiên nhận ra rằng ở đây sao giống với khung cảnh thôn cũ ngày xưa của lão đến thế, mà suốt thời gian qua do bận rộn nên lão không hề nhận ra.
Bây giờ thì lão phó mặc cho dòng tâm tưởng của mình trôi về dĩ vãng với hình ảnh của con sông hiền từ chẩy qua xóm làng, có những cánh đồng xanh bát ngát với những mái tranh lô nhô sau những bụi tre già, những thân cau thẳng tắp nhô lên bầu trời mầu xanh lơ và những đụn rơm cao ngất ngưởng mọc lên sau những vụ mùa. Chính ở đó đã xẩy ra cái bi kịch đầu đời của lão và cũng chính từ nơi đó, lão đã bỏ làng ra đi mang theo trong lòng tất cả mối hận thù của một con người bị đàn áp dưới bạo lực. Rồi hơn ba mươi năm trôi qua, trong khoảnh khắc, cái khởi sự và cái hiện thời bỗng nhiên trùng hợp nhau, ở đây, tại cái đồn công an hẻo lánh này qua tập hồ sơ báo cáo về một tên tù, một nhân vật mà lão không bao giờ quên, từ dáng dấp của hắn cho đến ánh mắt cuối cùng mà hắn đã nhìn lão trước khi mỗi người nổi trôi theo một ngả khác nhau trên đường đời.
Cái lý tưởng mà lão đã mang đi từ ngày đầu đã mờ nhạt chẳng còn gì sau những năm dài chứng kiến những cuộc đấu tố ở miền Bắc. Lão biết rõ sự thay đổi ấy trong tâm tư của mình từ lâu, nhưng cuộc sống vẫn lôi lão đi như một khúc gỗ trôi theo dòng. Nhưng cũng lại chưa bao giờ lão thấm thía với chính lòng mình ở giây phút này, cái giây phút khởi đi từ lúc lão miệt mài nghiền ngẫm bản báo cáo do Hào đã để trên bàn.
Những nhân danh, địa danh ghi gói trong đó chợt lôi lão trở về dĩ vãng ngày xưa và đặt lão trong khoảnh khắc vào vị thế của một con người sống cùng một lúc tới hai hoàn cảnh: Một kẻ bắt đầu ra đi và một kẻ đã đi gần như tận cùng của con đường cách mạng. Nhìn lại thành quả, lão thấy xã hội chung quanh hầu như chẳng thay đổi gì. Con người chung quanh lão vẫn lầm than cơ cực. Công cuộc đấu tranh giai cấp làm nảy sinh một giai cấp mới có đầy đủ bản tính bóc lột của chính cái giai cấp mà nó vừa đạp đổ !


                                 (còn nữa)

Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

HẺM BUÔN CHUYỆN - KỲ 144 - Con "Ngựa Quý" phi về đâu ?







                    

                 

 Tuy “lễ cả năm không bằng Rằm tháng Giêng” nhưng trong hẻm nhà nào nhà nấy chỉ thắp nhang với ít hoa quả, trừ nhà ông đại tá hưu rậm rịch nhất xóm. Mấy ngày trước , cô Ba đã lên chợ Bà Chiểu đặt làm đồ mã từ cái biệt thự 5 lầu, chiếc xe hơi Lexus đời mới, kẻ hầu người hạ cho tới cả thùng “đô la âm phủ” . Ông đại tá hưu ra Hà Nội ăn tết cũng vừa bay vào xách theo đồ mã  chính gốc phủ Tây Hồ .Ông ngồi quán cười nói hể hả :

“ Mừng nhất thửa được tẩu hút thuốc phiện cho cụ nội do đích thân  nghệ nhân phố hàng Mã làm y đồ thiệt mới ác  ...”

Cô Phương cave vừa cười vừa la chói lói :

“ I mèn ôi...sao chú Ba đặt làm tẩu hút thuốc phiện ? Sai chủ trương bài trừ ma tuý của đảng, chính phủ ...”

Ông đại tá hưu gắt :

“ Mày chớ dậy khôn tao. Chủ trương bài trừ ma tuý của đảng chỉ thực hiện trên dương gian thôi , dưới âm phủ làm gì có ...”

Thằng Bảy xe ôm cười ha hả  :

“ Vậy chú Ba chưa quán triệt . Đảng ta là đảng cầm quyền, lãnh đạo toàn diện và triệt để, từ trong nhà ra ngoài ngõ, từ nông thôn tới thành thị, từ rừng núi đến hải đảo, chỗ đéo nào cũng có đảng. Vậy sao chú Ba dám nói ở dưới âm phủ không có đảng ?”

Ong đại tá hưu mặt đỏ tía tai, đập bàn quát :

“ Mày đừng nói bậy. Dưới âm phủ chỉ có hồn ma  thôi làm gì có đảng ?”

Thằng Bảy xe ôm gân cổ cãi :

“ Có chớ sao không ? Vậy xin hỏi chú Ba ai lãnh đạo các hồn ma ? Đảng chứ còn ai . Bởi vậy đảng cũng phải cử cán bộ xuống dưới đó...”

Ông đại tá hưu còn chưa biết cãi sao, may thay ông Tư Gã nướng đã lên tiếng dàn hoà :

“ Thằng Bảy xe ôm nói láo. Ở dưới đó đã có quỷ sứ với Diêm Vương quản lý các hồn ma, mắc mớ gì đảng phải xuống đó..”

Cô Phượng cave cười rinh rích :

“ Làm sao mày biết âm phủ cũng có đảng. Bộ mày xuống dưới đó rồi hả Bảy ?”

Thằng Bảy xe ôm gân cổ :

“ Tôi đã chết đâu mà xuống  đó. Tôi nói theo di chúc bác Hồ chớ bộ. Bác Hồ viết bác đi theo cụ Các Mác, cụ Lênin. Mấy cụ này  đều là lãnh tụ đảng cả vậy dưới đó phải có đảng chớ ?”

Cô Phượng cave sợ ông đại tá hưu nổi cáu , vội dàn hoà :

“ Thôi thôi chú Ba cãi với thằng chày cối ấy làm gì tốn hơi...”

Lúc này gã Ký Quèn mới chen vô :

“ Thằng Bảy xe ôm nó nói đúng đó. Dưới âm phủ có quỷ sư Diêm vương để quản hồn ma dân thường thôi, còn hồn ma đảng viên phải có chi bộ quản chớ, bởi vậy đảng cử cán bộ xuống lãnh đạo phải rồi …”

Ông đại rá hưu đập bàn :

“Thằng Ký Quèn nói láo mày đã thấy đảng cử ai xuống âm phủ lãnh đạo chưa ?”

Cô Phượng cave cười rinh rích :

“ Chú Ba hỏi vậy thì trả lời được ngay là có cả đống. Đồng chí Lê Đức Thọ , đồng chí Phạm Văn Đồng, đồng chí Lê Duẩn, đồng chí Trường Chinh…và mới đây nhất là đồng chí….Phạm Quý Ngọ, Ủy viên trung ương đảng, Thượng tướng công an…”

Ông Tư Gà nướng càm ràm :

“ Chưa chắc đâu. Chẳng biết chết thật hay chết giả , có khi thằng nằm trong quan tài là Ngọ giả, còn Ngọ thiệt không khéo đang ở …Ap- gha- nít- tăng hay I-răng. I-rắc rồi cũng nên…”

Ông đại tá hưu đập bàn quát :

“ Ông Tư Gà nướng tung tin đồn nhảm, căn cứ đâu dám bảo đồng chí Ngọ chưa chết…”

Ông Tư Gà nướng gân cổ cãi :

“ Trên báo chớ đâu . Nào đồng chí Ngọ trấn lột lá gan con nuôi nên hồng hào khỏe mạnh sống thêm cả chục năm , nào tháng trước dự đám cưới con trai, đồng chí Ngọ chụp hình còn cười nói vui vẻ, nào mới đi Nhựt Bổn, Xanhgapo điều trị, nào nếu bố chết sao con trai con dâu không ở lại chịu tang lại đi nước ngoài trăng mật ? Khỏe mạnh , vui tươi yêu đời, “đang sống chuyển sang từ trần” , sao chết dễ qúa vậy ?”

Gã Ký Quèn :

“ Chết dễ vậy để chìm xuồng vụ án “lộ bí mật quốc gia” , để “ông anh” yên tâm đổi mới thể chế, xóa bỏ độc quyền, nắm vững ngọn cờ dân chủ” xây dựng “nhà nước kiến tạo”, chết vậy đáng chết lắm chớ …”

Thằng Bảy xe ôm xua xua tay :

“ Sai hết…sai hết…chẳng ông đúng nào cả…”

Cô Phượng cave trợn mắt :

“ Mày bảo ai cũng sai, chắc mỗi mày đúng ?”

Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :

“ Chớ sao ? Này nhé, đồng chí Phạm Quý Ngọ là con ngựa quý của đảng, giờ lỡ chẳng may ra tòa thì mất uy tín, bởi vậy phải cử đồng chí ấy phi xuống âm phủ để bác Hồ…xử lý nội bộ. Vừa bảo vệ được uy tín cán bộ, vừa đình chỉ án bảo vệ được “ông anh”.  Thế là vẹn cả đôi đường …”

Cả quán cười ầm ĩ. Ông đại tá hưu đập bàn quát lớn :

“ ĐM tụi bay xuyên tạc, tao báo cảnh sát bắt nhốt hết giờ ?” 



    20-12-2014

Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

BÁC BA PHI ĐI THĂM MỸ - KỲ 93

                              (tiếp theo)

         


Lão già cười phá lên khoái chí. Chị Kelly Thi cười  theo lắc đầu :
“Ngày xưa hoạ sĩ Tô Ngọc Vân vẽ thiếu nữ bên hoa huệ. Giờ chắc  không còn thiếu nữ kiểu đó nữa đâu mà ông mơ. Bây giờ các em gái thế hệ 8x, 9x…mới nứt mắt đã dắt nhau đi khách sạn ngủ với trai là chuyện nhỏ. Rồi nữ sinh áo trắng sân trường tụ bạ thành từng nhóm thanh toán lẫn nhau bằng dao Thái Lan không khác gì nặc nô chợ Đồng Xuân …”
Lão già lại trợn mắt :
“ Thanh thiếu nữ thì như thế, các cháu thiếu nhi , cháu ngoan bác Hồ còn hãi hùng hơn. Một tối ở Hà Nội tôi lang thang vào một tiệm NET đông nghẹt toàn con nít, máy vi tính đặt san sát, chen vai ngồi. Thoạt đầu cứ tưởng các cháu hiếu học ham hiểu biết, nhà chưa có điều kiện sắm máy riêng nên mới phải vào đây truy cập internet học hỏi kiến thức trên mạng. Ngờ đâu các cháu vào đây toàn chơi game với chít chát tán tỉnh nhau. Oh My God….thật trên đời tôi chưa được nghe bất cứ ở đâu cả một đám đông trẻ con la hét, chửi nhau, tán bậy mất dậy đến thế. Thôi thì bao nhiêu “của ngon vật lạ” trên đời tụi nó mang cho ông bà ông vải xơi bằng hết.Tôi tò mò ghé mắt coi tụi nó chát chít ra làm sao ? Trời đất ôi, tục tằn không thể tưởng tượng được, rồi lại dùng web cam để gọi là “show hàng” nữa chớ ? Vào đây mới thấy cả một thế hệ con nít mất dậy vô phương cứu chữa ...”
Chi Kelly Thi lắc đầu :
“ Vậy mà báo chí truyền hình cứ đưa tin các cháu thiếu nhi luôn thực hành 5 điều Bác Hồ dậy , luôn làm kế hoạch nhỏ như nhặt báo cũ, giấy vụn lấy tiền giúp đỡ người nghèo…”
Lão già cười hô hố :
“ Xưa rồi…xưa rồi…các cháu ngày nay đều nộp tiền cho cô giáo để làm “kế hoạch nhỏ” chứ chẳng đi thu gom giấy vụn nữa đâu…”
Bác Ba Phi lên tiếng :
“ Chỉ có mấy thứ đó mà làm bác chướng tai gai mắt không muốn ở lại thăm thú đất nước sao ?”
Lão già lắc đầu :
“ Ba cái lẻ tẻ đó đâu đã ăn nhằm gì ? Cái chính là ở Việt Nam lúc nào cũng nơm nớp sợ công an kêu lên Sở bất kỳ lúc nào …”
Bác Ba Phi ngạc nhiên :
“ Bác có hoạt động chống Đảng chống Nhà nước gì đâu mà lo ?”
Lão già cười  khà khà :
“ Mình không hoạt động gì nhưng ở bên này nói năng thoải mái, chửi bới đã miệng biết đâu lại chẳng lọt vào tai công an mật, nó báo cáo về nước, lập hồ sơ chờ mình thò cổ về rồi mới chộp thì sao ?”
Bác Ba Phi bật cười :
“ Ong quá lo xa…phải hoạt động đảng phái đòi dân chủ tự do thế nào người ta mới bắt chớ. Như bác chỉ chửi bậy ở bên này ai người ta bắt làm gì ? Với cả nếu Nhà nước cấp VISA cho về nước rồi thì mặc nhiên bác được coi như Việt kiều yêu nước rồi. Lo gì ?”
Lão già lắc đầu quày quạy :
“ Lo thì không lo nhưng không được thoải mái lắm, cứ nơm nớp . nơm nớp thì đi du lịch nước khác tội nợ gì về Việt Nam…”
Bác Ba Phi cười cười :
“ Ong nói thế nào ấy chứ ? Tôi thấy mỗi dịp tết , bà con Việt kiều về ăn tết nườm nượp, toàn trai thanh gái lịch, ông gìa bà già giàu có, sang trọng, ai ai cũng tươi cười hớn hở có thấy mấy ai phải nơm nớp lo sợ đâu ?”
Chị Kelly Thi hùa theo :
“ Bác Ba Phi nói đúng đấy, nếu về nước không buôn thuốc phiện, không hoạt động gì động chạm tới cái ghế của mấy ổng thì tha hồ muốn đi đâu đi, muốn làm gì thì làm, có tiền tha hồ tiêu giá rẻ…”
“Lão già” trề môi :
“ Ai chẳng biết vậy. Việt kiều mà cứ “mũ ni che tai”, về nước cứ luôn miệng “ good…good…very good” thì được  Nhà nước coi là “khúc ruột phương xa” của Đảng. Anh nào hót hay, được phiếu “bé ngoan” còn được mời về nước ăn ở miễn phí, đưa đón tận sân bay có cả xe cảnh sát mở còi hụ dẹp đường nữa kìa…”
Bác Ba Phi bật cười :
“ Làm gì có chuyện đó. Theo tôi được biết ở Việt  Nam chỉ có cán bộ cao cấp cỡ ông Tổng Bí thơ, ông Chủ tịch nước , ông Thủ Tướng đi đâu có xe cảnh sát hụ còi thôi, còn mấy anh Việt kiều sức mấy, được mời về bao ăn bao ở đã là may lắm rồi…”
“Lão già “ trợn mắt :
“ Vậy thì bác lạc hậu quá rồi. Vừa rồi Đảng và Nhà nước họp hội nghị Việt  kiều ở Hà Nội, khách được mời về có xe đón ngay tại sân bay Nội Bài rồi trên đường về Hà Nội có xe cảnh sát mở đường hụ còi cứ như là đón nguyên thủ quốc gia mới oách chớ. Bởi vậy sau khi nghe ông Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết  bốc phét về tình hình trong nước,về lòng ưu ái của Đảng với Việt kiều, khối anh chị mừng quá tự nhảy lên sân khấu vỗ tay cùng hát bài “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Rồi một anh giáo Việt kiều sau khi đi dự hội nghị về hót ngay một bài ca ngợi “nỗi bình yên” trong hội nghị…”
Bác Ba Phi nghi hoặc :
“ Sao những chuyện đó mà ở bên này ông cũng biết mà tôi ở nhà lại cứ mù tịt là sao ?”
Chị Kelly Thi bênh “lão già” :
“ Thì tại bác ở trong nước có vào internet đọc tin tức đâu. Mà có vào thì cũng bị tường lửa chặn hết, chỉ đọc tin tức trên báo chí Nhà nước thôi, không như bên này, đọc thả giàn, tin gì cũng biết . Bởi vậy ông ấy nói đúng đó bác. Tôi còn nghe mới rồi Nhà nước cũng họp hội nghị gì đó cũng mời một số nhà văn Việt kiều vừa họp vừa cho đi chơi Tuần Châu có xe cảnh sát hụ còi mở đường nữa kìa. Được đãi đằng thế lúc ra ngoài này mấy cha làm gì không hết lời ca ngợi Đảng Chính phủ trọng dụng nhà văn hải ngoại …”
“Lão già “ lắc đầu :
“ Mấy cha nắm trong tay tiền của dân nên thoải mái vung tay áo xô đốt nhà táng. Trong khi lương công nhân đầu tắt mặt tối không quá hai triệu rưởi thì một cái hội hoa Hà Nội sơ sơ cũng mất 20 tỉ, rồi thì các thứ  hội nghị tào lao như hội nghị Việt kiều, hội nghị nhà văn thế giới , chẳng có lợi ích thiết thực gì cũng tiêu đi cả chục tỉ, trăm tỉ. “
Bác Ba Phi cười cười :
“ Tôi nghe ông kể ra một loạt chuyện nhưng tôi chưa thấy chuyện nào nó dính dáng trực tiếp tới ông để đến nỗi không thèm ở lại thăm thú đất nước .”
“Lão già”  :
“ Thì đúng toàn những những chuyện tào lao chẳng dính dáng gì tới  tôi . Nhưng vì mấy ngày ở Việt Nam toàn gặp những chuyện ngang tai chướng mắt mất cả hứng , dzọt về cho lẹ…” 
Chị Kelly Thi thật thà :
“ Thì cũng vì tôi vật nài nhờ ông về nước đưa mẹ tôi sang đây nên ông ấy mới chịu đi chứ bảo ông ấy về Việt Nam chơi  chắc chắn không về đâu…”
“Lão già” gật đầu :
“ Chị Kelly Thi nói đúng . Tại bác sống lâu trong nước quen rồi, không còn cảm thấy ngang tai chướng mắt , chứ bọn tôi bên này về gặp nhiều thứ không chịu được, sống sao nổi…”
Bác Ba Phi cười cười :
“ Tôi thấy bên này nhà cao cửa rộng, phố xá tấp nập, xe hơi nườm nượp cũng giống như Sàigòn có khác nhau mấy . Mà ở Việt Nam thịt rừng , thịt chó, tiết canh ăn thoải mái, đâu có cấm đoán như bên này. Vậy sao bày chuyện sống bên này được, bên Việt Nam không được ?”
“Lão già” trợn mắt :
“ Bác nói vậy là mới chỉ so sánh bề ngoài thôi. Đúng là tôi có đến thăm khu căn hộ cao cấp cũng tiện nghi sang trọng, hiện đại không thua gì Mỹ, hay những khu nghỉ dưỡng sánh ngang thế giới. Tuy nhiên con người ta sống không chỉ bằng phương tiện, tiện nghi sang trọng, đắt tiền, người ta còn sống trong một môi trường bao gồm cả con người lẫn vật chất nữa kìa. Tức là tôi  muốn nói tới cái khí hậu xã hội ấy…”
 Bác Ba Phi giật mình :
“ Khí hậu xã hội ? Sao xã hội mà cũng có khí hậu ?”
Chị Kelly Thi chen vào giải thích :
“  Có chứ…tôi nói đơn giản như đi đường ở bên này cả ngày bác có nghe tiếng còi ô tô nào không ? Có nhìn thấy ông cảnh sát nào không ? Ngược lại ở Sàigòn hay Hà Nội, đi ra phố là nhức đầu nhức óc vì tiếng còi xe. Hình như ở Việt Nam người ta nghiện bóp còi . Đang chạy xe trên phố, chẳng có trở ngại gì cũng bóp còi . Rôi mấy ông cảnh sát giao thông , cảnh sát cơ động, công an phường, dân phòng…gớm gớm đâu ra mà đông thế. Đi qua ngã ba ngã tư mà thấy các ông đứng đầy cả ra. Chính tôi đi taxi cũng bị mấy ông ấy thổi kìa. Tài xế chỉ việc chạy xuống chẳng cần biết phạm luật gì cứ giúi  vào tay mấy ông hai ba tờ một trăm là xong xuôi . Chẳng có biên lai, biên bản gì hết…Đó..tất cả những cái đó tạo thành khí hậu xã hội đó…”
“Lão già “ tiếp lời :
“ Khó chịu nhất là đi đường hoặc nơi công cộng chứng kiến người ta xả rác công khai. Hôm xuống sân bay còn đang trong phòng cách ly đã thấy vỏ hộp  bánh, bịch ni lông, kẹo cao su vứt bừa bãi ngay dưới chân ghế. Một cô chân dài, ăn mặc  rất môđen  uống xong lon coca liệng ngay xuống đất. Những cái tuy vặt vãnh đó nhưng lại tạo thành khí hậu xã hội đó. Mà còn những cái khác nữa chớ. Ở ngay giữa thành phố mà mới mở mắt ra loa phường đã oang oang như chọc vào tai toàn những bài xã luận ca ngợi Đảng và Nhà nước một cách giả dối, sống sượng. Mở tivi ra coi thì chỉ toàn thấy mấy ông lãnh đạo chẳng thấy thằng dân đâu. Rồi báo chí truyền hình, phát thanh tràn ngập một giọng điệu giả dối…”
Bác ba Phi cắt ngang :
“ Ong đọc báo với coi tivi làm sao ông biết được đó là giả dối…”
Chị Kelly Thi lên tiếng :
“ Là vì bên này có nhiều nguồn tin để so sánh. Chẳng hạn mấy năm trước Nhà nước đàn áp các tăng ni làng Mai ở tu viện Bát Nhã , Lầm Đồng rõ ràng thuê cả lưu manh côn đồ vào đánh đập các nhà tu hành nhưng báo chí lại đổ riệt cho nội bộ các nhà sư đánh nhau. Rõ ràng thuê ma cô, nặc nô đến đập phá chùa lại đổ cho là “quần chúng tự phát”. Đúng là một thứ nói dối trắng trợn…”

                                       (còn nữa)







Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

nhà văn NHẬT TIẾN : "Thuở mơ làm văn sĩ" - KỲ 9



                                         (tiếp theo)                                      
Lúc ông đi qua bàn học, tôi chào ông : "Thưa Ba đã về", ông không nhìn tôi mà chỉ khẽ gật đầu, miệng ông hầu như muốn nhích một nụ cười, nhưng vành môi khô héo chỉ khẽ rung động rồi thôi.
Suốt buổi tối hôm ấy, Ba tôi lầm lì không nói với ai một câu. Bầu không khí trong nhà mang một vẻ u uất, buồn chán. Thật là xui xẻo cho tôi vô cùng, vì cứ với cái đà này thì làm sao tôi có thể đẩy trôi được công việc ký Học Bạ với cái thành tích khủng khiếp nhất so với tất cả mọi tháng kể từ đầu niên học đến giờ. 
Sau bữa cơm tối, ba tôi ra ngồi đọc báo trên ghế xích đu. Lũ em tôi quây quần bên bàn học. Hôm nay chúng nó có vẻ nhộn nhạo dữ. Hết đứa này gây gổ, chành chọe lại đến đứa kia quai mồm ra khóc. Hẳn nhiên cái bầu không khí om sòm, ngậu sị đó dễ khiến cho người lớn bực mình. Tôi thì lại càng bực mình hơn vì đang rình một cơ hội thuận tiện trong đó cả nhà đều vui vẻ để nuốt cho xong cái màn "ký Học Bạ" gai góc này.
Cuối cùng khi Ba tôi buông tờ báo xuống để sửa soạn đi ngủ thì tôi đành phải làm mặt chai lì, đẩy bảng phiếu điểm hằng tháng ra trước mặt ông. Trống ngực tôi đập thình thịch. Tôi không rõ ông sẽ phản ứng thế nào khi biết tôi "đội sổ" cho cả lớp. Ông bợp tai tôi chăng ? Hay là ông nọc tôi ra, phết cho một đòn nên thân như mẹ Hòa đã từng làm với hắn.
Nhưng bao nhiêu dự đoán của tôi đều sai hết cả. Ông đã đón lấy bản phiếu điểm của tôi để xem một cách kỹ lưỡng. Cuối cùng ông ký tên một cách lẹ làng, không hỏi một câu, không phiền trách một tiếng, cũng không thèm nhìn xem cái bản mặt của thằng con trai ông đã tồi tệ đến mức nào để mà phải nhận lãnh cái kết quả nhục nhã như vậy.
Thái độ ấy của ông đã xác nhận rằng tôi là một thứ bất trị, hết thuốc chữa, khỏi cần khuyên bảo chi nữa cho mất công. Hẳn là ông giận tôi lắm nhưng ông không biểu lộ ra bên ngoài. Tôi chỉ cảm thấy ông buồn nhiều hơn là giận. Mỗi lúc buồn, khuôn mặt của ông như nhăn nhúm thêm, cằn cỗi đi, và ông bỏ lên giường nằm, ngửa mặt lên trần nhà hút thuốc liên miên.
Về phần tôi, suốt đêm hôm ấy tôi đã thao thức. Tôi có cảm giác như ở giường bên, Ba tôi cũng đang trằn trọc. Tôi nằm lắng nghe từng tiếng động nhỏ nhặt ban đêm. Một vài con chuột nhắt chút chít kêu sau bàn thờ của mẹ tôi, tiếng nói mê lảm nhảm ở bên giường các em tôi, và lâu lâu có tiếng Ba tôi thở dài. Trong đêm vắng, tôi có dịp duyệt xét lại tất cả việc làm của tôi đã qua. Tôi nhớ lại được cả trách nhiệm của tôi là phải làm gương mẫu cho lũ em còn thơ dại đi sau. Việc học hành của tôi chắc chắn sẽ có ảnh hưởng đến chúng nó. Nếu tôi khá hơn, tất chúng sẽ noi gương mà học hành chăm chỉ. Còn nếu cái đà xuống dốc như hiện tại, chỉ một thời gian sau, chúng nó cũng chẳng ra gì. 
Tôi vụt bừng tỉnh như một kẻ vừa được dẫn dắt qua khỏi vòng tăm tối. Tôi tự hứa sẽ phải cố gắng thật nhiều hơn, giũ bỏ mọi đam mê hay những thú vui tầm phào để chỉ lo lắng cho việc học hành. Tôi sẽ bắt đầu làm lại cuộc đời từ ngày mai. Không văn chương, báo bổ gì nữa. Tôi sẽ bắt kịp các bạn tôi trong tháng tới. Và kỳ thi cuối năm (hồi đó còn có kỳ thi Tiểu Học Tốt nghiệp) cũng chẳng còn bao xa. Tôi sẽ chuộc lại lỗi lầm hôm nay bằng việc làm cụ thể. Tôi sẽ thi đậu để cho ba tôi được vui lòng. Và hơn thế nữa, tôi sẽ cố gắng để thi đậu vào trường Chu văn An vì được thế thì ngân khoản gia đình khỏi tốn kém thêm tiền ra ngoài học trường tư.
Những ngày tiếp theo đó, tôi đã vùi đầu vào việc học. Trước, thì như là một bổn phận, nhưng càng về sau, tôi lại càng thấy đó là một công việc cũng có sự say mê. Một bài toán khó, moi óc để tìm ra được lối giải thì cũng thỏa mãn được tính hiếu thắng mà từ đó sẽ vun đắp thành sự say mê. Hòa cũng như bị lôi cuốn vào luôn sự say mê đó và khi giao hữu với tôi thì hắn đã mang cả tính chất ganh đua nữa. Chì khác một điều là hồi xưa thì hai đứa ganh đua nhau về một bài sáng tác nhanh hay chậm, dài hay ngắn, hay hoặc dở. Nhưng bây giờ thì chúng tôi thách đố nhau về những bài toán khó. 
Có tiền trong túi, chúng tôi không còn chi ra để mua truyện Tầu nữa, mà gom lại để mua sách Toán như những cuốn 380 Bài Tính Đố, Tính Đố Luyện Thi Tiểu Học, Giải Những Bài Tính Khó ..v..v..Thậm chí gặp cuốn sách hay mà không đủ tiền, tôi và Hòa phải đem truyện cũ đi bán cho các nhà cho thuê truyện. Tôi còn nhớ cuốn Thủy Hử 72 số, mua gom từng số thành 72 đồng, đem bán chỉ 30 đồng. Cuốn Thất Quốc Chí 18 số, bán 9 đồng, cuốn Tây Du hơn 100 số, Hòa bán 60 đồng. Nói chung toàn là giá nửa tiền. Với tiền bán được, tủ sách học và luyện thi của chúng tôi dồi dào phong phú hẳn lên. Hầu như bao nhiêu loại toán khó thời đó, chúng tôi đều thu thập được hết và đã làm qua. Chúng tôi đã tiến bộ một cách không ngờ !
Gần tới kỳ thi, thầy Huỳnh bắt chúng tôi đi học sớm thêm 1 giờ để chuyên luyện Toán và Luận. Hồi này thầy càng dữ đòn thêm đối với những đứa lười biếng. Nhưng giờ nghĩ lại, tôi mới thấy lòng thầy đối với học trò thật bao la. Nhà thầy ở tuốt dưới khu Bạch Mai, coi như ngoại ô Hà Nội. Giữa trưa nắng, thầy đạp xe đi dạy học từ hơn 12 giờ. Tới lớp, cả trường còn vắng hoe, chỉ riêng có lớp của thầy là đã bắt đầu học. Thầy giảng bài rất tỉ mỉ và tận tâm. Thầy có tâm trạng lo lắng như một bà mẹ sắp sửa phải đẩy đàn con vào cuộc đời mà vẫn áy náy chúng nó chưa đủ lông, đủ cánh. Vì thế dù mệt mỏi, tốn sức bao nhiêu, thầy cũng vẫn không quản ngại. Miễn sao lũ học trò ra khỏi tầm tay của thầy, đứa nào cũng có một căn bản vững vàng như ý thầy mong mỏi.

Công trình khó nhọc của thầy trong suốt 3 tháng trước nghỉ hè quả đã không uổng một chút nào.
Kỳ thi Tiểu Học năm đó, cả trường Nguyễn Du chỉ rớt có vài chục người. Riêng lớp của thầy Huỳnh chỉ rớt có 5 người. Đó là một thành tích đáng nể ! 
Rồi vào đến kỳ thi tuyển lớp Đệ Thất ở trường Chu Văn An, lớp của tôi có tới 28 người đỗ. Đó lại là thêm một thành tích và vinh dự khác nữa vì tỷ lệ học sinh được vô lớp Đệ Thất trường công rất ít oi. Có cả vài ngàn thí sinh mà số học sinh được tuyển vô chỉ hơn 700 người. Tôi còn nhớ Hòa đậu hạng 69 được xếp vào lớp 7 B2, còn tôi đậu hạng 320, được xếp vào lớp 7 B5. 
Thế là ở niên khóa bước vào ngưỡng cửa của bậc Trung Học, tôi và Hòa phải chia tay.

                                  ***

Trường Chu văn An năm đó còn nằm ở phố Hàng Bài, phía sau trường, có cổng ra vào rất rộng thì nhìn ra đường Rolland, nay là đường Lý Thường Kiệt. Thông thường chúng tôi toàn đi vào trường theo lối cổng sau mà nơi đó cũng hay tụ tập khá đông đảo những hàng quà rong như bánh tôm, thịt bò khô, kẹo đúc bào…toàn những món khoái khẩu của đám học trò thuộc con nhà khá giả. Hồi đó, trong khuôn viên của trường còn chưa có sân khấu Côn Sơn, tức là một hí viện bỏ túi được xây dựng do công lao vận động của Giáo sư Vũ Khắc Khoan về sau này. Khi sân khấu Côn Sơn hình thánh, chính tại đây, các học sinh thuộc bậc đệ nhị cấp đã tập tành văn nghệ để cuối năm trình diễn Tất niên tại nhà Hát Lớn với vở Kịch Thành Cát Tư Hãn hay màn vũ Trấn Thủ Lưu Đồn mà những diễn viên của trường trở nên nổi tiếng như cồn, tôi chỉ còn nhớ có Hoàng Thư, Long Cương….
Cũng vào thời kỳ đó, tổ chức “Sinh Viên Học Sinh Hành Chính Kháng Chiến Đô Thành” hoạt động khá mạnh. Cứ vài ba hôm , đứng ở dưới sân trường tôi lại thấy có bàn tay thò ra từ các cửa sổ của mấy tầng lầu trên để tung ra hàng nắm truyền đơn bay lả tả rồi nằm phơi trắng xóa trong sân trường. Truyền đơn in bằng thạch bản hay đất sét trắng (thay cho thạch trắng), cũng toàn kiểu chữ kẻ bằng tay theo lối chữ in (để tránh bị giảo nghiệm) và nội dung thì kêu gọi học sinh toàn thành bãi khóa để chống đối chính quyền. Cái màn bãi khóa này, trước vì ham vui nên được học sinh tham gia nồng nhiệt, nhưng sau rồi cũng nhàm và nhất là bị mất nhiều ngày học trong năm nên sau cùng chỉ có ít người hưởng ứng. Điều này chứng tỏ ý thức chính trị của đám học sinh trung học thời đó cũng không rõ nét là bao nhiêu. Về sau, vào khoảng năm 1950 hay 51 thì trường Chu văn An được rời lên trường Đỗ Hữu Vị cũ, ở gần Cửa Bắc và ngôi trường ở phố Hàng Bài thì đổi tên thành trường Nguyễn Trãi cho đến khi di cư vào Nam năm 1954.
Năm đầu tiên của bậc trung học đối với tôi thì thật nhiều bỡ ngỡ. Tôi chưa quen với lối giảng dạy “mỗi thầy phụ trách một môn”, khác hẳn cái thời ở tiểu học thì “mọi môn chỉ có mỗi một thầy”. Vài vị giáo sư hồi đó mà tôi còn nhớ như: thầy Đặng hữu Thụ dạy môn Văn, thầy Lê Hữu Thu dạy Sử, thấy Bùi đình Tấn dạy Địa, thầy Huỳnh Quang dạy môn Toán (qua năm sau thì thầy Nguyễn đức Kim thay thế), thầy Nguyễn Quỳnh dạy Vạn Vật, thầy Nguyễn đức Hiếu dạy Pháp văn, thầy Lê văn Hoạch dạy Anh văn, Cụ Nghè Giác tức Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Giác dạy Hán văn, Nhạc sĩ Thẩm Oánh dạy Nhạc, sau này thầy nghỉ thì nhạc sĩ Chung Quân thay thế (thầy Chung Quân là tác giả bản nhạc rất nổi tiếng “Làng Tôi”, thế mà bọn chúng tôi hay gọi lén tên thầy là Chung Quần, thật láo hết sức !). 


                        (còn nữa)

Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU : KỲ 114

                             (tiếp theo)



Quả là một đòn quá bất ngờ đối với ông Sáu Thượng. Xưa nay trong mắt ông, tất cả mọi đảng viên dưới quyền đều là những con cừu non ngoan ngoãn sẵn sàng quỳ mọp dưới chân ông tung hô, xin xỏ và bầy tỏ lòng trung thành. Không một tên nào dám có ý kiến khác với những gì ông đã huấn thị , đã chỉ đạo, không một gã nào dám động tới cái tối thượng như Thượng đế với con chiên – cái bất khả xâm phạm, cái đó gọi là “uy tín của tổ chức”. Đúng vậy, để bảo vệ uy tín của Đảng, người đảng viên phải nhắm mắt làm bất cứ việc gì, hy sinh bất cứ thứ gì, ngay cả phản bội lại người thân, đúng theo nguyên tắc “ quyền lợi của Đảng cao hơn hết” và “ mục tiêu sẽ biện minh cho phương tiện”.  Vậy mà lúc này, một thằng  cha uỷ viên Ban chấp hành thành uỷ dám chửi Đảng là thối nát ngay tại giữa văn phòng của ông, một cán bộ cao cấp  đang giữ những trọng trách trên trung ương. Đó là một xúc phạm chưa bao giờ ông gặp, một báng bổ chỉ thấy ở những thằng phản động đang lén lút đấu tranh đòi đa nguyên , đa Đảng. Bới vậy lập tức ông trút bỏ vẻ oai nghiêm, đạo mạo, mặt ông đỏ tía lên, người ông run bắn, ông chỉ tay quát lớn :
“ Ra …ra ngay khỏi phòng tao không tao gọi bảo vệ gô cổ mày lại giờ…”
Ong thành uỷ vẫn không nao núng, ông đứng trơ trơ giữa phòng khách với vẻ đầy cao ngạo và thách thức. Bà Kiểm tra suốt từ lúc nãy chứng kiến lời qua tiếng lại giữa hai người, bà không còn tin vào tai mình nữa, bà hoảng kinh về thái độ chống đối táo tợn của ông thành uỷ. Thật không thể tưởng tượng được một đồng chí uỷ viên Ban chấp hành thành uỷ lại dám lớn tiếng trước đồng chí cán bộ cao cấp như ông Thượng những lời lẽ nói xấu Đảng  đến thế. Sự kinh hoàng làm bà mụ mẫm cả người cứ đứng đực ra nhìn hai ông đảng lời qua tiếng lại với nhau. Mãi đến khi ông Thượng quát lên, bà Kiểm tra mới sực tỉnh và cuống quít kéo tay ông thành  uỷ :
“ Kìa ông…ông làm sao vậy ? Nói năng phải suy xét cho kỹ chớ ? Nói bừa đi cho hả giận, cho sướng miệng đâu được ! Đồng chí Sáu Thượng thương ông lắm , lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ . Ong phải tĩnh trí lại . Ông phải nghĩ tới bà ấy ở nhà chớ ! Ngoài ông ra bà ấy còn trông cậy vào ai ?”
Ong thành uỷ cười nhạt :
“ Cảm ơn chị, tôi làm gì tôi biết chớ…tôi đâu có điên …tôi tỉnh táo lắm mà…”
Thái độ lì lợm của ông thành uỷ càng làm ông Thượng nổi cáu, ông quát :
“ Cút đi…bước ra khỏi phòng tao ngay…bước…”
Ong thành uỷ nhìn thẳng vào mặt ông Thượng, cười khảy :
“ Khoan đã, bình tình đã, trước khi ra khỏi đây tôi muốn đồng chí nghe băng ghi âm tiếng nói của đồng chí Bí thư thành uỷ tố cáo vai trò sát nhân giấu mặt của đồng chí đã…”
 Ong Thượng ngẩn người. Như con thú đánh hơi thấy hiểm nguy , cơn nóng giận trong ông xẹp ngay xuống, ông bất ngờ thay đổi thái độ , dịu giọng :
“Mày không lừa tao đó chứ ?”
Ong thành uỷ rút trong túi ra cái máy ghi âm nhỏ xíu :
“ Lừa anh làm gì ? Anh muốn nghe tôi mở cho nghe…”
Bà Kiểm tra cuống quít :
“ Khoan đã…khoan đã …để tôi về trước rồi anh hãy mở cho đồng chí Thượng nghe…”
  Ông thành uỷ xua tay :
“ Không được …chị phải ở lại nghe hết rồi mới được đi…tôi mất công đưa chị tới đây chính là để chị nghe cái băng ghi âm này và làm chứng cho tôi…”
Bà Kiểm tra nhảy nhổm :
“ Hèn chi…tôi cứ tưởng anh tốt với tôi cho tôi cái cơ hội nhờ cậy đồng chí Thượng …hoá ra  anh lừa tôi…lợi dụng tôi…”
Rồi bà quay sang ông cán bộ cao cấp van vỉ :
“Báo cáo đồng chí Thượng, thằng cha này nó lừa đảo tôi tới đây chứ tôi không đồng mưu với nó đâu ạ…Bởi vậy xin phép đồng chí tôi về trước khỏi phải nghe băng ghi âm theo âm mưu của hắn ta ạ…”
Ong thành uỷ cười nhạt : 
“ Tôi đâu có thèm rủ rê chị đồng mưu với tôi. Có điều tôi chỉ mở băng ghi âm nếu có chị cùng nghe thôi . Nếu chị ra khỏi đây tôi cũng ra luôn…”
Bà Kiểm tra quắc mắt :
“ Sao anh ép tôi thế ? Anh phải biết dù có dao kề cổ cũng không bao giờ tôi làm chứng cho anh chống lại đồng chí Thượng đâu…”
Ong thành uỷ cười nhạt :
“ Biết đâu đấy…biết đâu sau này chị lại chẳng căm thù đồng chí Thượng  này , lại tìm tới tôi rủ tôi đi diệt chính đồng chí ấy chớ… cuộc đời xoay vần…con người ta chẳng biết đâu mà lần”
Bà Kiểm tra quát lên :
“ Anh đừng có nói láo. Tôi xin thề có ngọn đèn kìa…dù trong bất kỳ tình huống nào, dù ở bất cứ nơi đâu…không bao giờ tôi làm bất cứ điều gì có hại cho đồng chí Thượng…nhất cái việc ác đức là đứng ra làm chứng cho anh chống lại đồng chí ấy…tôi mà sai lời thì trời cứ cho thiên lôi xuống sấm sét lên đầu tôi chết không toàn thây…”
Ong cán bộ cao cấp xua xua tay, cười giòn :
“ Thôi thôi, tôi biết lòng, biết dạ chị rồi…chị cứ ở lại nghe cái băng ghi âm đó coi đồng chí Bí thư thành uỷ nói sao ? Còn cái chuyện làm chứng sau này…”
Ong phác một cử chỉ như vừa đuổi một con muỗi vo ve rồi lại cười khẩy :
“ Chị lo gì…bố thằng Toà nào dám xử tới tôi …chị khỏi lo…”
Ong thành uỷ đau nhói lòng. Thằng cha này nói đúng. Đó là điều ông chưa  nghĩ tới. Từ xưa tới nay, Toà án Nhân dân tối cao nước cộng hoà XHCN Việt Nam cùng lắm chỉ đưa ra xử được cấp cao nhất là Ủy viên trung ương thôi . Vĩnh viễn sẽ không có vụ Năm Cam thứ hai để xử tới trung ương Đảng nữa, nói gì tới chuyện đưa được  ông Sáu Thượng ra Toà ? Lúc đó Đảng sẽ đưa ra lý lẽ nào đồng chí đó tuổi già, đã về hưu , có công với cách mạng, nào bảo vệ uy tín cho Đảng không cần thiết phải khởi tố hình sự mà chỉ xử lý nội bộ…Trước nay chẳng đã bao nhiêu  cán bộ chỉ cần ở cấp tỉnh hoặc Cục, Vụ, Viện trưởng đã thoát tội như vậy đó sao ? Huống hồ lão Thượng này lại ngồi ghế cao chót vót,  bố thằng Toà nào dám động tới ? Như vậy bao nhiêu công sức, bao hy sinh đau đớn của vợ chồng ông hoá ra công cốc cả ?
Ong thành uỷ chợt thấy mắt tối sầm, trời đất như quay cuồng, ông xỉu xuống như quả bóng xì hơi , chân tay lẩy bẩy, người run cầm cập như bị trúng gió. Không, không được ngất trong lúc này, phải cố…cố mà đứng vững…ông cố trấn tĩnh nhưng không sao xua được bóng tối đang từ đâu đó bủa vây kín quanh ông. Ong sắp ngã quỵ thì bà Kiểm tra đã kịp xô tới dìu ông nằm trên ghế sa lông.
Ong Thượng bước  tới vành mắt ông thành uỷ ra coi rồi cười lớn :
“ Sợ đến vỡ cả tim ra rồi…”
Ong đưa tay lục soát khắp các túi  áo, túi quần ông thành uỷ, rút ra được băng ghi âm, reo lên :
“ Đây  rồi…băng ghi âm đây rồi…ra thằng này láo thật…dám tới đây vuốt râu hùm…”
Rồi ông quay vào trong vỗ vỗ tay, gọi lớn :
“ Bay đâu…vào đi…”
Hai tên bảo vệ lực lưỡng từ nhà trong nhảy ra. Ong Thượng khoát tay :
“ Khiêng nó ra xe đưa đi cấp cứu...”
Rồi ông quay sang bà Kiểm tra đang mặt cắt không còn hột máu :
“ Cô nhìn thấy hết mọi chuyện rồi chớ ?”
Bà Kiểm tra sợ hãi :
“ Dạ hết…dạ thấy hết …nhưng em coi như không nhìn thấy gì …coi như tối nay em không tới đây cùng với ông ta ạ…em ..em xin thề…em xin thề…”
Ong Thượng khoát tay :
“ Thôi được…thôi được….tôi tin cô…”
Bà Kiểm tra cố thu hết can đảm :
“ Báo cáo anh…hắn ta xui em tới gặp anh là để …là để nhờ cậy anh….”
Ong Thượng cười nhạt :
“ Cô lo thằng Sáu lên làm Bí thư sẽ trù úm  cô đã tống đạt hồ sơ  con trai hắn là Giám đốc Công ty viễn thông tham ô tiền mua sắm thiết bị  sang bên công an điều tra, khởi tố chứ gì ?”
Bà Kiểm tra tái mặt, chắp tay vái ông Thượng :
“ Em lậy anh…ở cái thành phố này không việc gì lọt qua được mắt anh. Anh cứu em…muôn đời em không quên ơn anh…”
Ong Thượng gật gật  :
“ Cô lo xa vậy cũng đúng . Mai kia thằng Sáu nó chính thức nắm Bí thư thành uỷ thì nhẹ nó cho cô về hưu non, nặng nó moi ra những vụ cô ăn tiền chạy án thì mệt cho cô…”
Bà Kiểm tra sợ quá quỳ sụp ngay xuống chân ông Thượng :
“ Em lậy anh…anh cứu em….ơn này em xin khắc cốt ghi xương…”
Ong cán bộ cao cấp kéo tay bà Kiểm tra , cười khà khà :
“ Cô đứng dậy đi…đứng dậy đi… “
Bà Kiểm tra run rẩy :
“ Báo cáo anh …anh chưa nhận lời giúp  thì em cứ xin quỳ mãi thế này …”
Ong Thượng lại gật gật :
“ Thôi được …khi nào xảy chuyện…cô cứ chạy đến tôi…có điều…có điều…”
Bà Kiểm tra vội  vã :
“ Em hiểu…em hiểu…bất kỳ lúc nào…bất kỳ việc gì…anh cứ sai bảo là em làm ngay…”

                                (còn tiếp)

Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

PHỎNG VẤN NHÀ VĂN HOÀNG QUỐC HẢI NHÂN 35 NĂM NGÀY CHỐNG TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC (17-2 -1979)

           
                                                                                   
Hoàng Quốc Hải, nhà văn nổi tiếng viết  tiểu thuyết lịch sử. Khối lượng trang viết của ông thật đồ sộ :
Bộ Tám triều vua Lý gồm 6 tập: Thiền sư dựng nước, Con ngựa nhà Phật, Bình Bắc dẹp Nam, Con đường định mệnh , Huyết chiến Bạch Đằng, Đuổi quân Mông - Thát - viết về nhà Lý từ khi khởi nghiệp đến khi kết thúc (10091225) trải dài 216 năm trong tiến trình lịch sử Việt Nam.
Bộ Bão táp triều Trần gồm 4 tập: Bão táp cung đình,Thăng Long nổi giận, Huyền Trân Công chúa, Vương triều sụp đổ - được xuất bản lần đầu cả bộ năm 2003 và đã được tái bản nhiều lần. Lần tái bản này, bộ tiểu thuyết được bổ sung thêm hai tập mới là Đuổi quân Mông - ThátHuyết chiến Bạch Đằng - Với việc thêm 2 tập mới, bộ sách trở nên liền mạch từ khi nhà Trần ra đời cho đến khi kết thúc sứ mệnh lịch sử 175 năm tồn tại.
Dịch giả Chapuis Gérard đã hoàn thành bản dịch Huyền Trân Công Chúa/REQUIEM POUR UNE PRINCESSE cuối năm 2009.
Ngoài ra còn nhiều cuốn khác  : Trắng án Nguyễn Thị Lộ (phê bình tiểu luận), Huyền Trân Công Chúa, Thăng Long nổi giận, Bão táp cung đình….

  

                                
                                                   Nhật Tuấn – Hoàng Quốc Hải

Nhật Tuấn : Lại tới ngày 17 tháng 2,  kỷ niệm chiến tranh chống Trung Quốc xâm lược. Khác với chống Pháp, chống Mỹ được tổ chức rầm rộ, suốt 35 năm qua, Nhà nước làm lơ ngày 17 tháng 2, thậm chí còn cấm  hoạt động kỷ niệm. Chẳng hạn ngày 17 tháng 2 năm 2013, đoàn nhân sĩ trí thức đến viếng các anh hùng, liệt sĩ chống quân bành trướng Bắc Kinh  đã bị cản trở không được vào đài liệt sĩ. Tuy nhiên, hiện nay tình hình có vẻ đã khác, ngày 30 tháng 12 năm 2013 báo Thanh Niên online chạy tít lớn: “ Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cho biết, hiện Bộ Ngoại giao đang lên kế hoạch kỷ niệm 40 năm sự kiện (1974) Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam và 35 năm sự kiện tháng 2 năm 1979- chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc”. Tiếc thay, ngay sau đó bài báo bị gỡ xuống và ai cũng biết chỉ có Ban Tuyên giáo mới có “gan” giỡn mặt Thủ tướng .
  Vậy phải chăng đã có sự vênh nhau giữa Đảng và Chính phủ trong quan điểm đối với Trung Quốc?
Nhà văn Hoàng Quốc Hải: Điều mà anh hỏi, với sự thật hiển nhiên đó, đã là một câu trả lời đầy đủ, bất tất phải bình luận  thêm .
 Nhật Tuấn : Giả sử ý kiến của Thủ tướng là có thật, vậy trong lễ kỷ niệm chống quân xâm lược Trung Quốc, liệu người ta có nhắc và vinh danh 72 chiến sĩ quân đội VNCH trong đó có tướng Ngụy Văn Thà đã anh dũng hy sinh bảo vệ Tổ quốc?
Nhà văn Hoàng Quốc Hải: Quan niệm của tôi, có lẽ cũng của đông đảo  con dân đất Việt còn lương tri, thì bất cứ ai hy sinh xương máu bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của Tổ quốc, thì đích thị là người yêu nước. Không có sự cống hiến nào cao hơn là cống hiến cả mạng sống của mình để gìn giữ non sông đất nước. Họ là người anh hùng chân chính, tuyệt đối không có gì phải bàn cãi về sự hy sinh cao cả ấy.
Điều anh muốn hỏi về thái độ của Nhà nước thông qua ý kiến của ông Thủ tướng, thì ông Lê Phú Nguyện, Chánh văn phòng UBND huyện Hoàng Sa đã trả lời BBC trong việc hủy bỏ cuộc dự kiến làm lễ thắp nến tưởng niệm các liệt sĩ Hoàng Sa nhân kỷ niệm 40 năm sự kiện quân xâm lược Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm Hoàng Sa của Việt Nam. Và ông Chánh văn phòng UBND huyện Hoàng Sa thanh minh nhiều lần, là bởi lý do khách quan phải hủy bỏ lễ tưởng niệm đó, chứ không hề có sự chỉ đạo của cấp trên nào cả.
Thưa anh, ngạn ngữ có câu: “Thanh minh có nghĩa là tự thú”. Anh nên nhớ cái sự hoãn vào phút chót này ở nước ta nó là chuyện cơm bữa. Chắc anh biết vài năm trước, Báo Thanh Niên cùng với Công đoàn tỉnh Khánh Hòa đã phối hợp làm việc tri ân các gia đình chiến sĩ hy sinh trong cuộc chiến chống quân xâm lược Trung Quốc chiếm đảo Gạc Ma ở Trường Sa năm 1988. Tiền nong huy động được rồi, khách mời đều vui vẻ nhận lời. Nhưng đến phút chót Khánh Hòa từ chối.
Việc Nhà nước bỏ qua hoặc phớt lờ sự kiện Hoàng Sa vào ngày 19 tháng 1 năm 1974, là bởi họ chưa vượt thoát được tư duy giai cấp, và tư duy thể chế. Còn với nhân dân, bao giờ nhân dân cũng rất công bằng và không bao giờ bội bạc, cũng như nhân dân không bao giờ phản bội dân tộc. Vì vậy, từ lâu nay họ vẫn âm thầm kỷ niệm ngày thất thủ Hoàng Sa ( 19.1. 1974) như một ngày quốc hận. Hơn thế nữa, họ còn âm thầm chăm sóc các gia đình liệt sĩ Hoàng Sa.
Và như thế, 72 chiến sĩ hy sinh bảo vệ Hoàng Sa, trong đó có liệt sĩ Ngụy Văn Thà đã được nhân dân thừa nhận. Một khi nhân dân thừa nhận, thì các chiến sĩ hy sinh vì nước ấy sẽ đi vào bất tử.
Tôi xin kể một ví dụ trong trận đánh lịch sử trên sông Bạch Đằng vào tháng 3 năm 1288, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn trong khi đi điều tra tình hình thủy chế của sông Bạch Đằng có gặp bà hàng nước. Bà đã cung cấp cho vị thống soái nhiều tư liệu đáng quí, do bà quan sát trong nhiều năm sinh sống cạnh sông. Trận ấy quân ta thắng tuyệt đối. Tiêu diệt hơn 600 chiến thuyền cùng hơn mười vạn binh tướng giặc vừa bị bắt vừa bị giết. Không một chiến thuyền nào, không một tên lính giặc nào chạy thoát. Các danh tướng lẫy lững từng bách chiến bách thắng của Hốt –tất –liệt như Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp, Tích-lệ-cơ vương… thẩy thẩy đều bị bắt hoặc bị giết. Dường như sau chiến thắng, triều đình chỉ nhớ đến Trần Hưng Đạo và đoàn quân chiến thắng mà quên mất vai trò nhân dân. Đây là tôi nói dường như thôi, bởi quan sát cách thờ tự và danh xưng đối với thần linh cho ta quyền ức đoán như vậy. Vì rằng ở xã Yên Giang thị trấn Quảng Yên, Quảng Ninh hiện có đền thờ Trần Hưng Đạo khá bề thế. Và sắc phong qua các thời đại, danh xưng đến cực phẩm cũng chỉ là thượng đẳng tối linh thần và Hưng Đạo đại vương. Nhưng ngay chỗ bến đò xưa, cận kề đền thờ Trần Hưng Đạo, dân cũng tôn lập đền thờ bà hàng nước và hào phóng tôn vinh  là “Đền Vua Bà”.
Qua đó, ta thấy thái độ của nhân dân trước lịch sử là rất công bằng và minh bạch.

      


Nhật Tuấn : Nếu kỷ niệm ngày 17 tháng 2 được tổ chức ở cấp Nhà nước, liệu những cấm đoán từ trước tới nay trong sáng tác văn học nghệ thuật về đề tài đó có được rỡ bỏ? Cho đến nay những cấm kỵ  đó vẫn rất nặng nề. Như mới đây phim truyền hình  Thái sư Trần Thủ Độ  mãi không thấy tinh thần chống quân Nguyên – Mông, gần cuối mới xuất hiện câu nói nổi tiếng: “ Đầu tôi chưa rơi xuống đất thì bệ hạ chớ lo” còn từ đầu phim  xoay quanh những đấu đá cung đình. Phải chăng văn học nghệ thuật của ta mấy chục năm qua bị  “thiến” mất tinh thần chống ngoại xâm Trung Quốc thì từ nay sẽ khởi sắc trở lại?
Nhà văn Hoàng Quốc Hải: Tôi hơi ngạc nhiên về điều anh hỏi. Bởi cho tới lúc này tôi chưa thấy một văn bản nào của nhà nước được phổ biến công khai, về việc cấm các nhà văn không được sáng tác về đề tài chống quân xâm lược bành trướng Trung Hoa ngày 17 tháng 2 năm 1979. Chỉ có điều rằng, nếu anh viết thì Cục xuất bản không cấp giấy phép, và tất cả các nhà xuất bản đều từ chối nhận bản thảo chứ đừng nói in ra. Điều đó có nghĩa là đã có “lệnh ngầm”, “lệnh miệng”, những thứ lệnh không thể truy cứu nguồn gốc, do đó nó không có bằng chứng để truy cứu trách nhiệm, nhưng lại được răm rắp chấp hành như một thứ quân lệnh. Chính tôi cũng là nạn nhân kiểu đó với tác phẩm “Bão táp cung đình” long đong mãi mới in được.
Còn phim Thái sư Trần Thủ Độ chiếu gần đến tập cuối mới xuất hiện câu nói nổi tiếng khí phách của một bậc anh hùng cân quắc trước thế giặc mạnh: “ Nếu đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ chớ lo” . Tôi thấy nhiều người khen phim hấp dẫn, bởi có nhiều pha các tay võ hiệp thi thố… Và còn khen thêm: “ Trần Thủ Độ trong phim đúng là một tay hiệp khách”. Thế thì cái câu nói của bậc anh hùng cân quắc, một bậc chính khách lừng danh, được lắp vào miệng một tay hiệp khách loại xoàng kia hỏi có ích gì? Nếu không cho tay hiệp khách kia nói một lời thiêng liêng để làm vững thế nước của chính khách Trần Thủ Độ, thì đạo diễn mới cao tay ; bởi anh ta đã không biến một chính khách đích thực thành một hiệp khách giả cầy. Vậy có gì mà phải than phiền. Vả lại thị trường phim ảnh nước ta trong mấy chục năm nay đang vững vàng tụt dốc, anh còn đòi hỏi cái gì hơn thế nữa?
 Nhật Tuấn : Nhưng còn ý cuối của câu hỏi này anh vẫn chưa trả lời
Nhà văn Hoàng Quốc Hải: Thì tôi còn đang trả lời anh đã vội ngắt. Tôi không nghĩ rằng “ văn học nghệ thuật của ta trong mấy chục năm qua bị “thiến” mất tinh thần chống ngoại xâm , kể cả ngoại xâm truyền kiếp phương Bắc. Bằng chứng là trong mấy chục năm qua tôi thấy khá nhiều tiểu thuyết lịch sử ra đời như “ Vằng vặc sao khuê” của nhà văn Hoàng Công Khanh viết về cuộc kháng chiến chống quân xâm lược man rợ nhà Minh, trong đó có vai trò của quân sư Nguyễn Trãi. Cũng đề tài này, ta còn dịch tác phẩm “Vạn xuân” (Dix Mille Printemps ) của Yveline Feray, nữ văn sĩ Pháp, sách dầy tới cả ngàn trang. Rồi” Hồ Qúy Ly” của Nguyễn Xuân Khánh. Hai tác phẩm của Hoàng Công KhanhNguyễn Xuân Khánh được trao nhiều giải thưởng của các Hội Nhà văn Hà Nội và Nhà văn Việt Nam.
Đặc biệt trong dịp kỷ niệm 1000 Thăng Long, tiểu thuyết “Hội thề” của Nguyễn Quang Thân còn được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải nhất văn chương. Ngoài ra còn các phim có nội dung lịch sử cũng làm vào dịp này như “Lý Công Uẩn đường tới thành Thăng Long”, “Thái sư Trần Thủ Độ”v.v…
    Gần đây hơn nữa còn có bộ tiểu thuyết đồ sộ “Đại gia” của nhà văn trẻ Thiên Sơn. Tiểu thuyết này chưa phải là lịch sử, nhưng nó chứa đựng các sự kiện được coi như bộ ký sự lịch sử. Cùng với thời gian, sẽ đến lượt nó trở thành lịch sử. Theo tôi, ta hãy cứ tạm bằng lòng như thế đã. Đúng sai, hay dở thì công chúng và thời gian là vị quan tòa công minh nhất. Còn như anh mong mỏi  “tinh thần chống ngoại xâm phương Bắc từ nay sẽ khởi sắc trở lại”, chắc có hy vọng đấy. Vì từ cuối năm 2012 và cả năm 2013 Hội đồng lý luận phê bình Văn học Nghệ thuật Trung ương chỉ đạo khâu sáng tác văn học nghệ thuật theo chủ đề lịch sử sôi động lắm. Bản thân tôi cũng được mời tham dự và có tham luận hẳn hoi. Các tham luận đã được in thành sách, dầy gần 700 trang do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành.
Bởi vậy ta có quyền hy vọng, các sáng tác văn học , nghệ thuật về đề tài lịch sử sẽ khởi sắc.


Nhật Tuấn :Hội Nhà văn Việt Nam liệu có tham gia kỷ niệm Hoàng Sa và ngày 17 tháng Hai bằng các hoạt động như phát động cuộc thi viết về “ Những kỷ niệm sâu sắc chống quân xâm lược Trung Quốc” hoặc mở trại sáng tác về đề tài này?
Nhà văn Hoàng Quốc Hải: Câu hỏi này anh phải hỏi Chủ tịch hội Nhà văn Việt Nam, tức là hỏi nhà thơ Hữu Thỉnh. Còn với tư cách hội viên, tôi chưa thấy Hội ta có động thái gì. Hoặc Hội đã có chủ trương nhưng chưa chọn được thời gian thích hợp để triển khai, tôi cũng không rõ.
 Nhật Tuấn:Mới đây có hai sự kiện: Một là tầu Kilo Hà Nội cập cảng Cam  Ranh gây nhiều phấn khích cho người dân trong việc bảo vệ biển Đông, hai là có hai người Trung Quốc đóng xe tự chế chạy nghênh ngang suốt từ Bắc vào Nam vi phạm Luật giao thông cấm lưu hành xe tự chế mà vẫn không bị thổi còi.
Nhà văn Hoàng Quốc Hải: Đã là dân Việt Nam ai mà chẳng vui mừng vì sự kiện quân đội ta có phương tiện khí tài hiện đại ( tầu ngầm Kilo ) để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Song kinh nghiệm rút ra từ lịch sử, tôi thấy sức mạnh là ở lòng dân. Lòng dân mới là sức mạnh tuyệt đối để giữ nước. Tôi lấy ví dụ triều đình của nhà nước Đại Ngu do cha con Hồ Quý Ly thống lĩnh. Ông triệt để huy động sức dân trong việc xây đắp thành trì, lập chiến lũy, ngăn cửa biển, rào lấp sông, chặn đường thủy bộ của giặc. Cả nước như một công trường. Cả nước như một trại lính. Hồ Quý Ly xây tòa thành bằng đá khổng lồ để làm kinh đô, mà bây giờ UNNESCO công nhận là di sản văn hóa. Công trình ấy hoàn thành chỉ trong ba năm. Kể có hàng vạn người chết do đá đè, gỗ lăn hoặc chết đói, chết rét, chết vì bị đánh đập trong quá trình lao động.
Sức dân đã kiệt quệ trong mấy chục năm suy thoái về cuối nhà Trần. Nhà Hồ lên chưa hề có một cải thiện nào, nhưng lại bóc lột và đàn áp dân chúng đến cùng cực, để lấy của và sức dân xây đắp chế độ mới. Do vậy, dân với bộ máy triều đình là hai thế lực đối kháng. Tới khi triều đình nhà Minh uy hiếp nghiêm trọng, Hồ Quý Ly phải than: “ Ước gì ta có 100 vạn binh để kháng giặc.” Hồ Nguyên Trừng là con cả của Hồ Quý Ly liền đáp: “ Thưa cha, 100 vạn binh có thể bắt được, nhưng con chỉ sợ lòng dân không theo”.
Quả đúng như điều Hồ Nguyên Trừng lo lắng, nhân dân Việt Nam đầu thế kỷ 15 vì căm giận vua nước Đại Ngu ( quốc hiệu do Hồ Quý Ly tự đặt) tàn bạo nên đã bỏ mặc ông ta kình chống lũ giặc phương Bắc. và sau khi thất thủ thành Đa Bang, cha con ông không gượng nổi. Vừa kháng cự yếu ớt vừa bị giặc dồn về phương nam. Hồ Quý Ly chạy một mạch về ẩn nấp tại vùng biển Tĩnh Gia ( Thanh Hóa ), rồi giông tuốt vào Nghệ An. Hồ Quý Ly bị giặc Minh bắt tại núi Thiên Cầm, Hồ Nguyên Trừng, Hồ Hán Thương cùng các con và cháu Hồ Quý Ly bị bắt tại cửa biển Kỳ La( Hà Tĩnh ngày nay). Và ngôi thành đá kiên cố nhất do Hồ Quý Ly dầy công kiến tạo, lại không bắn nổi một mũi tên, một phát đạn về phía quân thù. Giặc Minh chiếm ngôi thành đá kiên cố nhất của họ Hồ, dễ như thò tay vào túi lấy chiếc hộp quẹt.
So số lượng quân binh hai bên thì giặc không hơn và cũng không có ưu thế gì vượt trội, kể cả khí tài quân sự.
Về chiến thuật quân sự và cách bố phòng cũng không có thể chê trách được Hồ Nguyên Trừng. Kể cả chiến thuật “vườn không nhà trống” Hồ Quý Ly cũng cưỡng bức dân chúng phải thực hiện. Ấy thế mà vẫn thất bại thảm hại. Chỉ vì dân không theo.
Đúng như Nguyễn Trãi nói: “ Thế dân như thế nước. Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng nói: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.
Cứ xem như cuộc kháng chiến chống giặc Minh do Lê Lợi phất cao cờ nghĩa, gian nan suốt 10 năm cùng toàn dân đuổi giặc mà giành thắng lợi huy hoàng. Hoặc cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp từ 1946 đến 1954 biết bao gian nan, nhưng toàn dân giốc sức cùng chính quyền cách mạng, cũng đi đến kết thúc vẻ vang.
Thưa anh Nhật Tuấn, trở lại chuyện chiếc tầu ngầm Kilo đầu tiên đã về bến Việt. Dù cả 6 chiếc Kilo đã về đủ, và ta kiến lập được cả một hạm đội mạnh cùng với các máy bay cường kích, máy bay ném bom đông tới cả trăm phi đội, theo tôi cũng mới chỉ là phương tiện phòng thủ rất mỏng manh. Cái chính là vũ khí lòng dân. Nếu cả nước triệu người như một, chín mươi triệu người cùng chung một ý chí giữ nước thì không một kẻ thù nào, không một sức mạnh nào có thể thôn tính được nước ta. Nhà Trần kháng giặc thế kỷ 13 là một kho báu kinh nghiệm giữ nước không gì so sánh nổi. Trong ba năm, hai lần giặc xâm lược, mỗi lần tới 50 vạn quân, lực lượng hoàn toàn áp đảo. Vậy mà chúng phải ôm đầu máu tháo chạy, bị thua nhục nhã. Vả lại quân Nguyên ngày ấy đánh khắp bốn phương, không nơi nào kháng cự nổi. Nước Nga và cả Trung Hoa lần lượt quỳ gối và chịu để cho quân Mông cổ thống trị. Nhưng Đại Việt thì không, một tấc đất của giang sơn Tổ quốc đều được bảo vệ vẹn toàn. Cho nên thưa anh Nhật Tuấn, theo tôi, vũ khí căn bản nhất để giữ nước chỉ có lòng dân là tối thượng. Vả lại, suy cho cùng, dân tộc nào học hỏi được kinh nghiệm lịch sử của chính dân tộc mình thì sẽ có trí khôn và sức mạnh được nhân lên gấp nhiều lần. Nhưng qua thực tế cho thấy, bài học lớn nhất của lịch sử là người ta ( vì ngạo mạn) mà không chịu rút ra từ lịch sử những bài học.


                                    
                                "đi lại nghênh ngang ngoài đường.Uốn lưỡi cú diều.."

Nhật Tuấn :Thế còn chuyện người Trung Quốc đóng xe tự chế nghênh ngang trên đất nước ta bất chấp luật lệ giao thông thì sao?
Nhà văn Hoàng Quốc Hải: Thưa anh, lực lượng cảnh sát giao thông kể cả thanh tra giao thông của ta phải nói là dày đặc, tôi không hiểu tại sao lại để xảy ra tình trạng quản lý đất nước như thế này,khiến người dân có mặc cảm như lũ Đaguratri thời Hốt-tất-liệt nghênh ngang hống hách.Và không khỏi liên tưởng đến lời Hịch của Trần Hưng Đạo: Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường.Uốn lưỡi cú diềuTrong khi đó, nhiều trường hợp người tham gia giao thông chỉ không đội mũ bảo hiểm bị cảnh sát giao thông truy đuổi gây nhiều tai nạn thương vong rất đau lòng.
Tôi nhớ cách đây mấy năm có vụ mấy “anh Hai Lúa” chế tạo trực thăng, đang thời gian thể nghiệm đã bị cấm. Thật đáng tiếc, nếu chính quyền địa phương không thù ghét sự sáng tạo kỹ thuật, ắt phải cấp thêm kinh phí, cử thêm kỹ sư có nghề để cộng tác, giúp họ thực hiện sáng kiến đến cùng, biết đâu từ đó chẳng nảy sinh một cái gì đáng trân trọng. Tôi thú vị, nước Mỹ, hàng năm họ trao giải cho cả những phát minh quái đản.
 Nhật Tuấn :Nhiều năm qua người Trung Quốc xâm lấn vào xã hội Việt Nam gây nhiều tổn hại. Nào người Trung Quốc tràn sang tranh việc của công nhân Việt Nam, nào các lang băm Trung Quốc mở phòng mạch lừa đảo, nào thu mua “hàng đểu” như đỉa khô, ong bầu, rễ sim, lá điềunào thuê đất trồng cây gây hại, nào các mặt hàng độc hại tràn lan khắp nước. Những sự việc nhức nhối nhãn tiền như vậy mà các cơ quan chức năng cứ như nhắm mắt làm ngơ. Liệu sang năm 2014 trong khí thế kỷ niệm Hoàng Sa và 17 tháng Hai, nhà cầm quyền Việt Nam có dám mạnh tay ngăn chặn những hành động tổn hại cho kinh tế và xã hội Việt Nam của người Trung Quốc?
Nhà văn Hoàng Quốc Hải: Những hiện tượng anh nêu chưa thấm vào đâu với thực tế đã diễn ra rất lưu manh và đểu cáng của đám  gian  thương  Trung Quốc nhằm phá hoại nền kinh tế và thương hiệu hàng hóa của nước ta. Có điều lạ lùng chưa một vụ lừa đảo phá hoại kinh tế Việt Nam nào của con buôn Trung Quốc mà ta tìm ra thủ phạm, ấy thế nhưng gần đây báo chí lại nói an ninh ta phá án nhanh nhất thế giới.
Về các vụ buôn bán hoặc đầu tư thuê mướn đất đai có quan hệ sống còn đến sinh mệnh quốc gia, các bậc lão thành cách mạng, các nhà kinh tế, quân sự lỗi lạc và giới trí thức đều có biểu tấu can ngăn, hoặc nói trực tiếp đối với tổ chức và cá nhân những người nắm vận mệnh quốc gia, nhưng hầu hết đều như gió thoảng ngoài tai. Thậm chí một nhóm trí thức đã lập hẳn một trang mạng Bauxit để giới khoa học và các nhà văn hóa đánh giá về nhiều mặt văn hóa, kinh tế, an ninh quốc phòng nhằm làm sáng tỏ thông tin nhiều mặt giúp các nhà quản lý đất nước có nhận thức đúng đắn về tác hại, nếu để Trung Quốc khai thác Bauxit ở Tây Nguyên. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trung tướng Đồng Sĩ Nguyên đều có thư can hoặc trực tiếp đề nghị. Nhưng tất cả những lời lẽ, những thư từ được nói hoặc viết thống thiết tựa như trích từ máu của trái tim mình gởi lên thượng cấp, đều như gió thổi vào khoảng trống.
Về tổng diện tích đất cho thuê khoảng 305.354 ha bằng 3.050 km2, tương đương với diện tích toàn tỉnh Hà Nam, thời hạn thuê 50 năm, 87% nằm ở các vị trí xung yếu thuộc các tỉnh xung yếu như: Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, KonTum… Trong tổng số hơn ba trăm ngàn hecta thì Trung Quốc, Đài Loan chiếm 264.000 ha bằng 87% ở các tỉnh xung yếu vùng biên giới.
Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên tư lệnh binh đoàn vận tải 559 từng cảnh báo việc cho nước ngoài thuê đất, bài in trên VNnet ngày 27 tháng 2 năm 2010 có đoạn: “ Sao không tự hỏi vì sao các doanh nghiệp nước ngoài lại chọn thuê đất chủ yếu ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh, đặc biệt ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình nơi có trục đường 7, đường 8 sang Lào, đường đi lên Tây Nguyên. Rõ ràng đó là những tỉnh xung yếu biên giới, có những vị trí chiến lược mang tính cốt tử”.

 Nhật Tuấn : Nhưng liệu sang năm 2014 với nhận thức mới như thông điệp đầu năm của Thủ tướng, tình hình này có sớm được cải thiện hoặc chấm dứt sự bất lợi cho nền kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh của Việt Nam?
Nhà văn Hoàng Quốc Hải: Thưa anh, câu hỏi này nên dành cho Thủ tướng hoặc Tổng bí thư thì thích hợp hơn.
 Nhật Tuấn :Tình hình biển Đông có vẻ lắng dịu, đột nhiên ngày 6/1 mới đây, lực lượng kiểm ngư Trung Quốc đã tấn công cướp tài sản của ngư dân Lý Sơn hoạt động tại vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Báo chí cũng như Bộ ngoại giao không hề đưa tin và lên tiếng. Liệu đây có phải là tín hiệu của một thời kỳ gây hấn mới của Trung Quốc?
Nhà văn Hoàng Quốc Hải: Tôi coi hành động của cái gọi là lực lượng kiểm ngư Trung quốc đối với ngư dân Việt Nam không hơn bọn cướp biển. Nào là bắt người đòi tiền chuộc, nào là cướp sản phẩm ( tôm, cá) , nào phá tài sản ( thuyền, máy) kể cả giết người.
Còn như việc họ có dám mạo hiểm cướp đảo mang tính nhỏ lẻ hoặc dùng tổng lực hất toàn bộ lực lượng của ta để độc chiếm Trường Sa hay không là tùy thuộc ở sự vận động chính trị của ta trong nội khối Asean và vận động quốc tế, liên kết thành một mặt trận giữ gìn cho trật tự và an ninh trên biển Đông, cũng tức là giữ gìn an ninh thế giới, đồng thời phải gấp rút võ trang đủ mạnh cho công cuộc phòng thủ đất nước. Nhưng hơn hết là phải mở rộng dân chủ, đoàn kết toàn dân thành một khối, khiến kẻ cướp không dám manh động. Vấn đề an ninh biển Đông thực chất là vấn đề của quốc tế, vì vậy ta phải quốc tế hóa càng rộng lớn bao nhiêu, càng sớm bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Kể cả việc khởi kiện Trung Quốc trước các tòa án Liên Hợp quốc.
 Nhật Tuấn : Thông điệp đầu năm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề cập nhiều vấn đề quan trọng: “ Đổi mới thể chế- xóa bỏ độc quyền- nắm vững ngọn cờ dân chủ” nhất là khái niệm mới “nhà nước kiến tạo”. Vậy nhưng tuyệt nhiên không nhắc tới biển Đông, chẳng lẽ không quan trọng bằng những vấn đề kia sao?”
Nhà văn Hoàng Quốc Hải: Thực tình tôi đã nghe khá nhiều thông điệp đầu năm cũng như thông điệp nhậm chức của các chính trị gia. Nó tựa như một thứ ma-két-tinh nhằm đánh bóng thương hiệu, vận động tranh cử hoặc một cái gì na ná như vậy thôi. Do đó thưa anh, độ tin cậy ở những phát ngôn này thường không cao. Sở dĩ thông điệp không gây sự chú ý của tôi, là bởi tôi không thấy Thủ tướng đưa ra các giải pháp và lộ trình thực hiện các vấn đề hệ trọng như cải cách hành chính, cải cách thể chế, cải cách kinh tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền v.v…Tôi nhớ hồi nhậm chức Thủ tướng lần đầu,ông Dũng cũng cam kết mạnh mẽ về chống tham nhũng.Nhưng tham nhũng ngày càng giăng mắc  như lũ bạch tuộc…Tuy nhiên,phải thừa nhận những vấn đề trong Thông điệp đầu năm đều  là những giải pháp cấp bách cứu nguy cho dân tộc ta lúc này. Rất mong Thủ tướng nỗ lực thực hiện cho bằng được các nội dung đó.Được như vậy, công ông đối với đất nước thật không nhỏ.    
 Nhật Tuấn :  Nhưng còn vấn đề biển Đông, tôi không thấy Thủ tướng đề cập đến trong thông điệp đầu năm. Vậy anh hiểu vấn đề này thế nào?
Nhà văn Hoàng Quốc Hải: Cái ông nhà văn Nhật Tuấn này sao cứ quan tâm hoài đến chính trị làm vậy.
Nhật Tuấn: Đó là sinh mệnh quốc gia. Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách. Người xưa nói vậy. Và nay ta cũng không thể nói khác. Tôi vẫn muốn biét ý anh.
Nhà văn Hoàng Quốc Hải: Lẽ ra anh nên gửi phần câu hỏi này đến chính ông Thủ tướng. Nhưng thưa anh, các nhà chính trị họ có nhiều kỹ năng ,kỹ xảo lắm. Chúng ta là mấy anh văn sĩ can dự vào làm gì. Nhưng với Thủ tướng Dũng, tôi thấy ông ấy đôi khi có những việc làm hoặc phát ngôn, ngay đến cánh nhà báo sừng sỏ cũng không lường trước được. Anh có nhớ kỳ họp Quốc hội mấy năm trước, đến lượt Thủ tướng báo cáo về tình hình kinh tế, thì ông ấy nói vo rất chính xác về Hoàng Sa, Trường Sa và chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam, khiến không chỉ Quốc hội mà cả nước ấm lòng. Biét đâu, bất ngờ ông Thủ tướng lại tung chưởng Hoàng Sa thì sao?
 Nhật Tuấn :Lịch sử quan hệ Việt Nam – Trung Quốc là lịch sử phòng, chống xâm lược. Ngày xưa đã thế, ngày nay vẫn thế. Vậy nhưng tiểu thuyết Việt Nam mấy chục năm gần đây né tránh đề tài này- Vắng hẳn những tác phẩm đau đáu nỗi niềm chống ngoại xâm như Hận Nam quan của Hoàng Cầm. là nhà tiểu thuyết lịch sử, anh có cho rằng đã mở ra thời vận mới cho cảm hứng yêu nước chống ngoại xâm tất nhiên là ngoại xâm Trung Quốc hay chưa?
Nhà văn Hoàng Quốc Hải: Thưa anh Nhật Tuấn, trước khi đi vào trả lời câu hỏi này, tôi thuật lại cuộc trao đổi bất ngờ giữa nhà văn Nguyễn Tuân, nhà văn Vũ Bão và tôi là người chứng kiến.
Năm 1973, khi ta và Hoa Kỳ sắp ký Hiệp định Paris, dân Hà Nội hy vọng lắm, đặc biệt là giới văn chương mong hòa bình lập lại, chắc sẽ có sự cởi mở dễ thở hơn cho văn học nghệ thuật. Sớm ấy, tôi và nhà văn Vũ Bão dắt tay nhau dạo phố.Khi tới gần Đại sứ quán Pháp, thấy nhà văn Nguyễn Tuân thủng thẳng bước từ nhà số 49 Trần Hưng Đạo ra hè phố.
Chúng tôi dừng lại chào và hỏi cụ đi đâu về.  Nguyễn Tuân nhếch mép cười khẩy:
Như Phong ( Giám đốc nhà xuất bản Văn học bấy giờ)  mời đến chữa cái Tờ Hoa ( tên bài bút ký cũng là tên tập sách).
Bác sửa xong rồi chứ ạ? Vũ Bão hỏi.
Vớ vẩn. Sửa, sửa cái gì.
Chúng tôi đều biết. Khi nói thế có nghĩa là Nguyễn Tuân không sửa, không hợp tác. Vũ Bão lảng sang chuyện khác, anh hỏi:- Thưa bác, hình như ta với Mỹ sắp ký Hiệp định Paris.
Ký tắt rồi, còn sắp, sắp cái gì nữa.
Lại hỏi:
Thưa bác, nếu hòa bình lập lại, chắc văn chương sẽ khởi sắc, vì vòng kim cô sẽ được nới.
Nguyễn Tuân cau vầng trán, vẻ không hài lòng. Ông sùy một tiếng rồi nói:
Nới, nới cái gì? Thì ra thế, các anh sợ như mấy anh thợ săn nhút nhát sợ cả cái bóng của con hổ đất người ta đặt dưới gầm các điện thờ Mẫu. Anh tư duy ở trong đầu, ai chui vào trong đầu anh mà kiểm soát được tư duy. Không ai cấm được nhà văn tư duy và viết, chỉ có nhà văn hèn mới không dám suy nghĩ tới cùng và không dám viết điều mình suy nghĩ.
Nói xong Nguyễn Tuân lại thủng thẳng bước đi như chẳng có điều gì xẩy ra.
Thưa anh Nhật Tuấn, chắc anh biết tôi đã viết và tái bản nhiều lần những tiểu thuyết lịch sử, trong đó gộp lại thành hai bộ. Bão táp triều Trần ( 6 tập 3000 trang) và Tám triều vua Lý ( 4 tập 3600 trang).
Trong đó thời nhà Lý có cuộc chiến tranh lớn, đánh tan gần 20 vạn quân xâm lược nhà Tống vào năm 1076. Sử Tống chép: “Mười phần quân ra đi, lúc về không còn vài ba phần, may mà An Nam chịu bàn hòa, nếu không thì không biết sẽ ra sao”.
Còn về bộ Bão táp triều Trần, tôi phản ánh trọn vẹn cả ba cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Mông- Nguyên vào các năm 1258, 1285 và 1288 trong ba tập “ Đuổi quân Mông –Thát”, “Thăng Long nổi giận” và “ Huyết chiến Bạch Đằng”.
Thời điểm lịch sử đó, đặt dân tộc ta trước nguy cơ tồn tại hay không tồn tại. Thế nhưng tổ tiên ta vừa khôn ngoan vừa đảm lược, không chỉ “Thoát Nguyên’ mà còn “Diệt Nguyên”toàn thắng .  Nên nhớ thời đó, quân Mông- Nguyên đã chinh phục gần hết châu Á, quá nửa châu Âu, từ bờ Hắc Hải đến Thái Bình Dương không một đội quân nào, không một quốc gia nào là địch thủ của chúng. Các nước khổng lồ như Nga và Trung Hoa cũng đều trở thành kẻ bị trị với thân phận nô lệ. Tiểu thuyết của tôi không có ý gây hận thù, không nhằm hạ nhục đối phương mà chỉ phản ánh tinh thần tự trọng của cả một dân tộc, và lòng vị tha trước kẻ bại trận. Có nhẽ tinh thần tự trọng là một trong những yếu tố quan trọng nhất của một dân tộc đã làm nên chiến thắng. Và tôi viết hai bộ tiểu thuyết đó cũng với tinh thần tự trọng của một nhà văn. Tuyệt nhiên khi viết, tôi không hỏi ý kiến ai và cũng không lo lắng có in được hay không in được, mà chỉ có một ý chí cần phải viết. Điều tôi sợ nhất là mình thoái chí. Ngoài ra không có điều gì làm tôi sợ hãi. Và thưa anh Nhật Tuấn, theo tôi, đã là nhà văn thì cứ làm đúng thiên chức của mình, không nên trông chờ vào bất cứ điều may rủi nào hết. Và nếu mục tiêu phục vụ của ta là Tổ quốcNhân dân thì đó không chỉ là điểm tựa mà còn là bức trường thành che chắn ta vững chắc nhất. Thử hỏi, còn điều gì khiến ta phải băn khoăn lo lắng, thậm chí chờ đợi.
 Nhật Tuấn : Điều sau  cùng tôi muốn biết cảm nhận của anh về ngày 17 tháng 2 này, sau 35 năm quân Trung Quốc xâm lược dã man 6 tỉnh biên giới nước ta.
Nhà văn Hoàng Quốc Hải : Ngày nay hai nước đã bình thường hóa, lãnh đạo hai nước đã xây dựng với nhau được mối quan hệ mà họ đúc kết thành 16 chữ. Và họ gọi là 16 chữ vàng gồm:
                                      Láng giềng hữu nghị
                                      Hợp tác toàn diện
                                      Ổn định lâu dài
                                      Hướng tới tương lai
Tuy nhiên, tôi rất thất vọng với nhà cầm quyền Trung Hoa. Hằng năm vào ngày này họ vẫn làm lễ kỷ niệm và tôn vinh những kẻ đã tàn sát đồng bào ta, chiến sĩ ta. Nhưng họ lại cứ lải nhải nói đây là: “Cuộc tự vệ đánh trả”.
Hãy xem ngày 17 tháng 2 quân xâm lược Trung Hoa đã tràn vào lãnh thổ ta như thế nào.
Họ đã sử dụng 9 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn bộ binh độc lập tổng cộng 32 sư đoàn. Sáu trung đoàn xe tăng. Bốn sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không. Tổng số quân họ huy động vào cuộc chiến tranh xâm lược này khoảng gần  600.000 tên. Khí tài hạng nặng gồm có: 550 xe tăng, 480 khẩu pháo lớn các loại, 1260 súng cối và dàn hỏa tiễn, chưa kể 200 tầu chiến của hạm đội Nam Hải và 1700 máy bay sẵn sàng trợ chiến ở phía sau.
Tướng Hứa Thế Hữu tư lệnh đại quân khu Quảng Châu chỉ huy hướng tấn công vào vùng Đông Bắc Việt Nam với trọng điểm là Lạng Sơn- Cao Bằng.
Viên tướng Dương Đắc Chí tư lệnh quân khu Côn Minh đảm nhận hướng tiến quân vào vùng Tây Bắc Việt Nam với trọng điểm là tỉnh Hoàng Liên Sơn ( chủ yếu là Lào Cai ).
Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc: “ Quân đội có vũ trang của một nước, tiến qua biên giới để vào lãnh thổ  của nước khác, thì  đó là hành vi xâm lược”. Thế mà người Trung Hoa từ giới chóp bu tới báo chí đứng đầu là Nhân dân nhật báo, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Trung Quốc đều ra rả nói là “Cuộc tự vệ đánh trả”, thử hỏi đó có phải là thói vừa ăn cướp vừa la làng quen thuộc của Trung Hoa từ xưa tới nay. Đó là chưa kể tội ác trời không dung đất không tha của quân xâm lược bành trướng Trung Hoa tàn sát đồng bào ta, đốt nhà, cướp của, phá hoại và lấy đi từ chiếc cuốc chiếc cày đến trâu bò gà lợn. Đường sá, cầu cống, cả từ chiếc cống thoát nước đường kính 20cm tới cây cột điện, chúng cũng dùng mìn đánh cho tan nát. Không những thế, họ còn làm tới gần chục bộ phim và nhiều tiểu thuyết,bút ký vu cáo phía Việt Nam gây hấn.
Cuộc xâm lược man rợ đã trải 35 năm, cả dân tộc ta đang chờ một lời xin lỗi từ phía họ. Nhưng điều đó tuyệt nhiên không xẩy ra. Tôi có cảm giác, giới chóp bu nước này đã bị tê liệt dây thần kinh xấu hổ, nên họ không biết hối hận. Trong lịch sử Việt Nam ,Trung Hoa suốt mấy ngàn năm lịch sử duy nhất có một lần, Chủ tịch Mao Trạch Đông nói với đội ngũ chuyên gia khi sắp sang giúp Việt Nam vào khoảng năm 1954 rằng: “Các đồng chí phải tận tình giúp đỡ nhân dân Việt Nam, và nên nhớ rằng tổ tiên ta đã gây nhiều đau khổ cho người Việt Nam đấy”.
Trong khi đó, suốt mấy chục năm qua, dường như ta không đả động gì tới cả vạn liệt sĩ đã nằm lại nơi chiến trường biên giới. Họ là ai? Họ là các quân nhân đã từng tham gia chiến tranh chống Mỹ, tham gia mặt trận biên giới Tây nam Tổ quốc. Tôi đã từng đến nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên từ sau hồi xây dựng và qui tập. Thật đắng lòng khi đọc tên tuổi và quê quán họ, nhiều người còn chưa đến tuổi hai mươi. Nhưng cũng tạm yên tâm vì họ được đất nước nhớ ơn. Vậy mà mười năm sau tôi trở lại nghĩa trang này, không chỉ tên nghĩa trang không còn đầy đủ, mà cả ngàn bia mộ đều ghi dòng chữ: “Liệt sĩ chưa biết tên”.

-Xót xa thay, họ cống hiến sinh mệnh mình vì ai? Phải chăng máu họ chỉ là nước lã?!
Kỷ niệm 30 năm cuộc xâm lược tàn bạo của quân bành trướng Trung Hoa, một nhà thơ vốn là cựu quân nhân đã viết bài thơ khá ấn tượng. Tôi thấy cần phải chép lại để mọi người cùng đọc.
          
                               Lời mẹ
  
                             Mẹ tôi nói:
Bố các con liệt sĩ Điện Biên
Anh các con liệt sĩ Khe Sanh đường  Chín
Em các con liệt sĩ Đồng Đăng xứ Lạng
Đều vì nước hy sinh
Đều vì con Hồng cháu Lạc
Sao các con lòng đen dạ bạc?
Đứa chết ở Đồng Đăng chẳng nhắc đến bao giờ?
Ba mươi năm rồi đó
Hay em nó chết chui?
Hay em nó hy sinh không chính đáng?
Lũ chúng mày mở mày mở mặt
Sống dư thừa nhờ cái chết của bao người
Cả cái chết cũng bất công đến thế
Lòng mẹ đau biết nhắm mắt sao đây?!

                             (   10.2.2009
                               Trần Nhương)
     

                             Hà Nội ngày 5 tháng 2 năm 2014