Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2015

SỐNG NHƯ LÀ CHẾT - -Tiểu thuyết NHẬT TUẤN - KỲ 19

                                    Chương 19




Gã thức giấc khi nắng sớm bò vào màn. Khác mọi ngày ngủ nướng,gã nhảy khỏi giường, và cũng khác mọi ngày, gã rảo bước ra vườn. Con bé ấy vẫn chưa tới làm. Gã ngạc nhiên …sao quan tâm tới nó vậy nhỉ ? Lâu rồi gã có để ý tới đứa con gái nào đâu. Không còn lãng mạn, tình yêu đã chết trong cái thời đểu giả này. Gã  cũng vậy thôi. Tình yêu chỉ là cái sức đẩy lôi cô gái lên giường.Gã làm tình hùng hục như đạp xích lô, như võ sĩ quyền Anh. Hết hiệp, cả hai lăn ra thở, lúc này gã sợ nhất  cô gái hỏi :
«  Anh có yêu em không ? »
Yêu là cái quỷ gì không biết , nhưng gã vẫn đáp bừa :
« Yêu chớ…không yêu sao thế này… »
Và gã lại đè sấn cô gái , lại hùng hục cho tới lúc gã thấy thèm rượu và mực nướng. Có lẽ không cô nào hiểu được tâm trạng gã khi gã thốt lên :
 » Yêu chớ… ».
Theo các cô phải yêu mãnh liệt lắm « anh ấy » mới đòi hỏi dữ dội vậy. Than ôi, các cô đâu biết với gã cô nào cũng như cô nào. Khi đưa được em lên giường, gã đè sấn, ngấu nghiến, nghiền nát, muốn xé toang em ra xem trong em có cái gì ? Chẳng có cái gì ngoài những giọt nước mắt thánh thót : 
» Anh có yêu em không ? » .
Tất nhiên đó là gái nhà lành. Còn mấy em « ăn bánh trả tiền » chẳng bao giờ hỏi thế. Còn nhớ sau ngày « giải phóng miền Nam », gã đi công tác xuống mãi miệt Cà Mâu lúc đó còn chưa có nhà trọ, khách sạn như bây giờ, đi qua phố "đứng đường" , một em gái nhìn gã , nói câu muôn thủa :
" Bốn mắt nhìn nhau…tìm ai đấy..?"
Em gái mắt đen láy, da trắng mịn, nom hiền như ma…cô. Không sao cả, gã ngủ được với cả quỷ sứ.
" Tìm em chứ ai. Đi khách sạn hay về nhà em ?"
Cô gái cười rú :
" Khách sạn đâu ra…em không có nhà …"
" Vậy mình đi đâu ?"
Cô gái đáp gọn thon lỏn :
" Ra nghĩa địa…"
Gã trố mắt :
«  Ra nghĩa địa ? »
Cố gái cười nhoẻn :
«  Chớ sao…ở đó lắm ngôi mộ sang trọng như biệt thự… »
Gã bật cười :
«  Ừ nhỉ… »
Gã nghĩ tới thi sĩ người Pháp , Paul Eluard với bài thơ « J’écris ton nom… » Anh viết tên em  - anh viết tên em  trên sa mạc và trên những đám mây - anh viết tên em trên vạn ngôi nhà tan hoang..trên muôn hải đăng sập, sóng tràn – vậy thì sao gã không yêu em trong nghĩa địa ?
Thế là gã vui vẻ nhận lời Cô gái dưa gã đi len lỏi qua những ngõ ngách chật hẹp, tăm tối đầy đe dọa khiến gã cảm giác cô là nữ giao liên ngày trước  dẫn đường cho bộ đội.
« Tới rồi…tới rồi… »
Cô gái khẽ reo lên. Quả thật nơi đó là nghĩa địa với hàng bia mộ chạy dài. Người già, người trẻ, đàn ông, con trai, đàn bà, con gái…hầu hết đều ghi chết ngày 30 tháng 4 năm 1975. Mặt trái của tấm huân chương ấy đây…cả vạn người  mừng thì cũng cả vạn người  than khóc vì thân nhân ngã xuống. Cô gái vẫn thoăn thoắt từ ngôi mộ này sang mộ khác. Sau cùng cô dừng lại ngôi mộ xây có mái che có mặt sàn lát đá. Gã còn đang liếc hàng chữ trên bia mộ, cô gái đã kéo tay :
" Tới rồi…tới rồi… "
Gã trợn tròn mắt :
" Ở đây à ?"
Cô gái cười rinh rích :
"Không ở đây còn ở đâu… khách sạn âm phủ đó anh…"
Cô rút trong hốc ra miếng vải nhựa , thoáng cái đã cởi đồ xong , giúp gã làm như cô và đẩy gã nằm bật ngửa
" Lẹ lẹ…lên anh !"
Ối mẹ ôi, dầu  cũng đã dạn dầy chinh chiến, chưa bao giờ gã lâm vào cảnh ngộ kỳ quái như lúc này. Cô gái ôm chặt lấy chưa chi đã rên rỉ, thở dốc làm như đang trên đỉnh vu sơn. Qua bờ vai trần của cô , loang loáng những hàng bia mộ xếp hàng trong nắng chiều. Cô gái đập đét vào người gã :
" Anh sao thế ? Anh sao thế ?Tập trung vào đây chớ !"
Nói rồi cô mắm môi mắm lợi theo ngôn từ nhà thờ - nhốt con quỷ sứ vào cái địa ngục. Rồi gã như người tỉnh cơn mơ, cười cùng cục :
" Vậy hả…vậy hả…tập trung vào đó hả…"
Đến lượt cô gái không còn giả vờ nữa, cô rít lên như cái còi hơi, xốc tới, vật gã xuống, đạp gã lên, xoắn xuýt , oằn oại như hai con rắn phủ nhau . Từ hoàng hôn tới tối mịt mới rời nhau ra, cả hai nằm bên nhau như cặp võ sĩ vừa qua trận đấu. Gã còn đang đê mê với cảm giác kỳ diệu sau cơn động đất, cô gái đã đập vào vai gã :
"Thôi…hóa vàng đi anh…"
Gã trố mắt ra không hiểu . Hóa vàng ? Sao lại hóa vàng. Cô gái rũ ra cười :
" Là tiền "dù"…anh đưa em  rồi dzọt lẹ …mấy thằng cô hồn sắp tới đòi tiền bảo kê giờ…"
Gã ngơ ngác :
" Có thấy thằng nào đâu ?"
" Nó nấp trong lùm cây đó…"
Cô gái nhét tiền vào ngực áo, hôn gã rồi biến mất sau hàng bia mộ. Suốt mấy  ngày ở Cà Mâu gã cứ lang thang dãy phố tối tìm cô gái với đôi mắt đen láy, làn da trắng ngần và "dịu dàng" như ma…cô mà không thấy, cứ như cô đã mất hút vào Đồng Tháp Mười. He he…"tháp Mười đẹp nhất bông sen", với anh,  em là người đẹp nhất.
Hình ảnh cô gái "hóa vàng đi anh" còn dai dẳng rất lâu trong gã. Trong những chiều thị xã, gã vẫn lang thang vỉa hè mong gặp lại. Đó là kỷ niệm  lãng mạn cuối cùng sót lại trong lòng gã.
Gã nằm ngửa trên thảm lá rụng ngước nhìn những tia nắng đang lách qua tầng cây xanh. Khí mát và sạch lùa vào phổi lan tới các phế nang nhỏ li ti làm gã thơ thới và nhẹ bỗng.. Kệ sự đời, cứ nằm thế này, nằm thế này và hít thở. Chắc gã còn ngủ thiếp đến trưa nếu không bị đánh thức.Gã mở choàng mắt ngồi bật dậy, con bé người làm lù lù trước mặt gã.
" Ông về nhà ngủ…nằm đây hơi đất cảm chết…"
Gã chẳng nói chẳng rằng lẽo đẽo bước theo nó. Hôm nay con bé mặc đồ công nhân cao su, kín đáo hơn nhưng những hình khối và đường nét của nó vẫn lồ lộ sau lớp vải xanh. Chính vì thế lại có vẻ lôi cuốn hơn là lúc nó mặc hở hang như chiều qua. Gã bực mình xóa ngay ý nghĩ so sánh đó  bước nhanh vào phóng vi tính và sập cửa lại. Khỉ thật, cái con bé này có cái gì đó làm gã xốn xang mỗi khi gặp. Không được, không được lại gần, không được nghĩ tới nó. Rồi sẽ phải bảo nó muốn làm lâu dài phải ăn mặc cho kín dáo , tuyệt đối không hở hang,
Gã bật vi tính và cố vùi vào trang đang đọc dở.Đó là truyện ngắn viết về lúc tỏ tình của chàng trai với cô gái. Lẽ ra chỉ cần nói "anh yêu em" thì anh chàng lại nói về cô gái cùng cơ quan mới mua một con Iphone 6  đập hộp,về ông sếp có vẻ bị "đồng tính" sao đó, lại rất lạnh nhạt với các cô gái trẻ trong cơ quan nhưng lại rất thích gọi các chàng trai vào phòng riêng trò chuyện…cô gái cứ chờ và chờ…sau cùng hết kiên nhẫn, cô thủng thẳng :" thôi anh về với cô Iphone 6, ông Giám đốc xăng pha nhớt của anh…em dzìa…". Hai chữ  "em dzìa" nhưng quăng vào mặt làm anh chàng đứng ngẩn tò te…
" Truyện dở ẹc…" gã càu nhàu đóng máy và vào bếp kiếm chai nước lạnh. Con bé người làm đã xong việc buổi sáng, giờ chắc về nhà đang nấu cơm. Gã bước ra vườn ngơ ngẩn nhìn những khoảnh đất đã cuốc cỏ, những tùm búi dây leo đã bị chặt hạ. Xem ra con bé rất chịu khó, có một buổi sáng đã dọn sạch quang cả một góc vườn.
                       
                      (còn tiếp)





Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2015

YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU – KỲ 197



                                (tiếp theo)



Ơng Bí thư đi khỏi, con Tuyết trắng mới ôm lấy bà Chánh văn phòng cười rũ rượi :
“ Hôm nay ông thủ trưởng bị một mẻ mất mặt nhé. Gớm cô lôi cả đạo đức bác Hồ ra mắng chửi thì đến  ông Tổng bí thư cũng phải há mồm ra nghe, đố dám cãi ?”
Bà Chánh văn phòng trừng mắt :
“ Tại ông ấy chứ ? Tại ông ấy chửi tao là xấu đến ma không thèm nhìn tao mới lộn ruột  chứ ?”
Con Tuyết trắng lại cười bò :
“ Bố này già đầu rồi còn dại…ai lại nói phụ nữ thế bao giờ. Cứ tưởng là cái nghề Bí thư huyện uỷ thì phải hiểu biết lắm ….”
Bà Chánh văn phòng huyện uỷ bĩu môi :
“ Cô nhầm to rồi…lão này hiểu biết cái gì ? Văn hoá lớp 7, nhờ luồn lọt , đội đạp mà lên. Ở nước ta là thế. Cứ sáu câu ba điều “ Đảng chủ trương”, “ Đảng chỉ đạo” nhắm mắt nói như vẹt, trên bảo sao răm rắp nghe theo là sống lâu lên lão làng, không chừng sau này lão còn lên cả trung ương vào Bộ chính trị quyền hành còn hơn cả Bí thư thành uỷ nứa kia…”
Cô Tuyết lè lưỡi :
“ Oi chết chết…Bộ chính trị là cái Bộ gì mà ghê thế hả cô ?”
Bà Chánh văn phòng định mắng cho nó một hồi về cái tội “ngu lâu” không biết Bộ chính trị là cái Bộ gì nhưng bà lại chợt nhớ con nhỏ này người dân tộc thiểu số, lại là hầu phòng , văn hoá lớp ba thì trách gì được nó. Bà đành lên tiếng giảng giải cặn kẽ cho nó thế nào là Ban Bí thư, thế nào là Bộ chính trị. Bà nói khản cả cổ hỏi nó “hiểu chưa, hiểu chưa” mà nó cứ lắc đầu quày quạy làm bà phát cáu :
“  Tôi đã giảng cặn kẽ như thế, rồi suốt từ ngày cô ra đời báo đài cả ngày cứ nói như rót vào tai cô mà cô vẫn không hiểu “ Bộ chính trị” là cái gì hả ? Cô không hiểu thật hay cố tình không hiểu.”
Con Tuyết trắng cũng chẳng phải tay vừa, nó gân cổ lên cãi :
“ Cháu không hiểu thật đấy chứ. Mà cô làm Chánh văn phòng huyện uỷ thì cô mới cần biết “Bộ chính trị” là gì, còn cháu là nhân viên làm phòng chỉ quét , giặt chăn  ,lên giường với các thủ trưởng thôi cần cóc gì phải biết “Bộ chính trị” là cái chó gì ?”
Bà Chánh văn phòng xanh mặt giơ tay bịt ngay miệng con Tuyết trắng :
“ Oi chết chết…mày dám nói Bộ chính trị là cái chó gì ? Công an mà nghe thấy thì nó còng cổ mày lại ngay…”
Con Tuyết trắng gạt bắn tay bà Chánh văn phòng, vênh váo :
“ Tới đây mà còng tay này ? Tôi là phó thường dân, chứ có phải quan chức như mấy ông mấy bà đâu mà sợ ? Cùng lắm là cho thằng trại giam ngủ với tôi một đêm là nó thả tôi liền chứ sợ cái đ…gì ? Lúc đó tôi sẽ gọi toáng lên tất cả những đồng chí cán bộ trung cao cấp từ thành phố tới trung ương đã ngủ với tôi cho đẹp mặt cả làng…”
Bà Chánh văn phòng hốt hoảng, chắp tay vái nó lia lại :
“ Tôi lậy cô…tôi lậy cô…cô cứ la hét rầm rĩ lên thế tới tai các đồng chí thường vụ thành uỷ thì tôi chết. Tôi lậy cô…cô thương tôi còn con nhỏ phải nuôi, chồng lại bệnh tật…”
Con Tuyết trắng bỗng dưng cười sằng sặc. Một niềm sướng khoái ngập tràn trong lòng nó. Ra nó cũng có giá đấy chứ. Nó dám bạo mồm bạo miệng cóc sợ gì ai đến ngay cả bà Chánh văn phòng huyện  uỷ cũng phải chắp tay vái nó lia lịa. Hoá ra thời nào cũng thế, vua thua thằng liều. Ngay cả trong xã hội cống sản toàn trị, tập trung quyền lực cao độ đến thế nhưng vẫn sản sinh ra một thứ “siêu “ quyền lực kiểu Chí Phèo  làm các cụ Bá Kiến đỏ cũng phải sợ.
Con Tuyết trắng chắc mẩm đã nắm được chỗ yếu của cả ông Bí thư huyện lẫn bà Chánh văn phòng  nên nó mỗi ngày một vênh váo, cóc sợ gì ai. Lẽ ra nhiệm vụ của nó chỉ quanh quẩn mấy căn buồng trong nhà khách huyện uỷ, hàng ngày dọn phòng và giặt giũ chăn màn. Nhưng từ ngày “lên giường” với khách do khách yêu cầu và được  bà Chánh văn phòng sắp xếp giờ giấc , con Tuyết trắng bỗng thấy mình quan trọng hẳn lên chẳng nể sợ gì ai . Thế rồi từ nhà khách huyện uỷ nó lân la sang văn phòng huyện uỷ và táo tợn hơn nữa ns xông cả vào phòng riêng của Bí thư huyện uỷ khiến gây ra sự cố làm hoãn cả cuộc họp thường vụ huyện uỷ.
Một hôm con Tuyết muốn nhắc lại lời hứa của ông Bí thư huyện uỷ  cấp cho nó miếng đất để sau này gom đủ tiền cất nhà nên nhằm lúc ông này vừa đi họp trên thành phố về nó tót ngay vào phòng ông.
Vừa nhìn thấy nó ông Bí thư huyện đã sa sầm mặt.Thôi chết, con bé này liều mạng thật, đã dặn nó là cần gì cứ gặp bà Chánh văn phòng, tuyệt đối không có được xông vào phòng ông để xảy ra chuyện lộn xộn như hôm họp thường vụ huyện uỷ nữa. Ong vừa mở miệng định mắng nó thì bỗng trợn tròn mắt, người ngây đơ như lên cơn động kinh. Hoá ra con Tuyết trắng vừa thấy nét mặt giận dữ của ông Bí thư nó vội lột phăng ngay khuy áo ngực để lộ ra đôi gò bồng đảo căng tròn và trăng nõn nà như khúc giò lụa. Oi chao, ông Bí thư huyện vừa nhìn thấy đã bị hút hồn ngay vào đó. Cổ ông tắc nghẹn như có ai bóp, mắt ông loang loáng hoa cà hoa cải, đôi con ngươi như muốn lòi ra khỏi tròng mắt. Khi con Tuytết trắng nở mọt nụ cười  nhoẻn, lập tức ông lao tới chỗ nó , quỳ sụp  xuống ôm chầm lấy cặp đùi nó , thở hồng hộc như người  đang leo dốc. Con Tuyết trắng xoè tay ra xoa xoa lên cái đầu hói của ông, cất giọng ỏn ẻn :
“ Nhớ ra chưa ? Anh nhớ ra hứa với em cái gì chưa ?”
Ong Bí thư huyện chẳng còn hồn vía đâu,  chỉ nói được  hào hển :
“ Anh hứa…anh hứa …gì cơ…ối  em ơi..sao mà trắng thế này…”
Côn Tuyết trắng ghì chặt lấy đầu ông vào người , cố uốn giọng thỏ thẻ :
“ Lại còn hứa gì cơ ? Hứa cấp cho em miếng đất làm nhà chứ còn hứa gì…”
Ong Bí thư huyện như người mê sảng :
“ Nhớ rồi…chậc…chậc…anh nhớ rồi…”
Vừa lúc đó cửa phòng bật mở kéo một tiếng rú thất thanh:
“ Hé hé…hé hé…hé hé…”
Trời đất thiên địa ơi, chẳng hiểu làm sao bà vợ ông Bí thư huyện lại lù lù xuất hiện vào đúng cái lúc này. Phải nói ngay rằng chính vì cái nhan sắc Thị Nở còn gọi bằng chị của bà đã làm cho ông Bí thư huyện ngày nay, hồi đó chỉ là một anh nhân viên văn thư có cơ hội lọt được vào gia đình ông lớn Phó Chủ tịch tỉnh khiến từ đó ông Bí thư huyện được cất nhắc dần lên chức quan đầu huyện.
Khổ nỗi làm rể ông lớn được ở nhà cao cửa rộng, được lên chức vù vù nhưng mỗi lần cắp cặp về nhà phải chung đụng với người  đàn bà gày đét, mắt lồi, răng vẩu lúc nào cũng nhăn nhó như khỉ ăn ớt khiến ông Bí thư có cảm giác như sống với quỷ sứ dưới âm ti địa ngục.
Rất nhiều đêm ông Bí thư huyện cố nhắm mắt nhắm mũi thực hiện nghĩa vụ người chồng để rồi sau đó ông cứ nằm trằn trọc chỉ mong sao cái người đàn bà nằm bên cạnh ông biến mất khỏi cõi đời này.
Than ôi, ao ước vẫn chỉ là ao ước, năm tháng qua đi, ông bố vợ Phó Chủ tịch tỉnh đã về hưu chẳng còn nhờ cậy được gì nữa , còn bà vợ ông Bí thư huyện thì vẫn sống nhăn, người cứ mỗi ngày khô đét , chẳng đẻ đái gì được nên tính nết mỗi ngày  một  khó chịu .
        
Mỗi ngày, bà gọi điện thoại  hai lần cho ông. Lần đầu lúc ông mới vào cơ quan, vừa đặt cặp tài liệu lên bàn để bà chắc chắn ông đã đi làm. Lần thứ hai lúc tan giờ làm buổi chiều  nhắc nhở ông phải về nhà ăn cơm không được la cà nhậu nhẹt. Có lần một gã Giám đốc Công ty xuất nhập khẩu trên thành phố đánh xe tới mời ông đi ăn chiều và gỉ tai ông sẽ có nhiều màn văn nghệ ngoạn mục.Ong đang mở cờ trong bụng vì chiều nay chắc bận bịu chuyện đồn cốt gì đó nên bà vợ quên không gọi điện. Thế là ông vui vẻ nhận lời gã Giám đốc. Ngờ đâu ông vừa bước chân lên xe, bà Chánh văn phòng đã chạy từ trong phòng làm việc ra hớt hải :
“ Vợ ông gọi điện kìa…ông vào trả lời bà ấy đi…”
Ong Bí thư đành quay trở lại nghe điện thoại và cam kết với vợ sẽ về nhà ăn cơm ngay. Ong quay ra buồn rầu từ chối là gã Giám đốc xuất nhập khẩu bực mình phải kêu lên :
“ Sao thủ trưởng không bịa ra lý do phải đi dự chiêu đãi trên thành uỷ ?”
Ong Bí thư huyện uỷ lắc đầu :
“ Bịa sao được, bà ấy có lịch hết rồi.Nói dối bà ấy truy tận nơi rồi làm ầm ĩ lên thì mất hết uy tín…”
Giám đốc xuất nhập khẩu suy nghĩ rồi tắc lưỡi :
“ Thôi được, thủ trưởng cứ về trước rồi lát nữa em sẽ ghé tận nhà giải cứu thủ trưởng .”
Ong Bí thư huyện uỷ buồn rầu lắc đầu :
“ Khó lắm…khó lắm..không qua mặt bà ấy được đâu…”
Ong Bí thư đành vuốt bụng tiếc rẻ lên xe của mình về nhà. Bà vợ ra tận xe đỡ lấy cái cặp Sansonui của ông than phiền :.
“ Hôm nay tôi mải trông cho thợ nó sửa cái cổng hậu quên không gọi điện mà ông đã tót lên xe thằng cha Giám đốc nào phải không ?”
Ong Bí thư chối đây đẩy :
“ Đâu có…tôi ra coi cái xe ô tô định ký mua cho huyện uỷ thay cái xe tôi đang đi cũ quá rồi…”
Bà vợ cười nhạt :
“ Coi xe chứ không phải là lên xe đi nhậu nhẹt hả ?May mà tôi gọi điện kịp thời không thì ông cũng tót đi rồi…”
Ong Bí thư chưa kịp trả lời thì ngoài cổng đã có tiếng còi xe. Chị người làm chạy ra mở cổng rồi quay vào :
“ Thưa bà có cán bộ ban thanh tra thành uỷ tới gặp ông …”
Bà vợ ông Bí thư huyện  giật mình :
“ Cán bộ Ban thanh tra…mời…mời ông ấy vào…”
Bà nhìn ông cuống queo :
“ Có chuyện gì…có chuyện gì mà cán bộ thanh tra lại tới giờ này…”
Ong Bí thư cũng hồi hộp :
“ Tôi ..tôi đau có biết…không khéo lại chuyện ba xe gỗ tuần trước cũng nên…”
Bà vợ ông Bí thư tái mặt :
“ Ba xe gỗ tuần trước ? Sao ông bảo êm rồi kia mà ?”
Nguyên là tuần trước đội kiểm lâm bắt giữ 3 xe gỗ lậu toàn loại thiết mộc, thứ gỗ nằm trong sách đỏ của Nhà nước. Tin tức lập tức báo ngay về Uỷ ban huyện và ở đây người ta cũng lập tức báo cáo đồng chí Bí thư để xin chỉ thị.Lúc này đã 10 giờ đêm, ông Bí thư đang bị vợ bắt lên giường ngủ đúng giờ thì có điện khẩn của đồng chí Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện :
“ Báo cáo đồng chí Bí thư cả 3 xe gỗ lậu hiện đang nằm cả ở trạm kiểm lâm ạ. Xin đồng chí cho chỉ thị xử lý ạ…”
Ong Bí thư huyện buông câu gọn lỏn :
“ Gỗ gì ?”
Tiếng Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện lắp bắp :
“ Dạ,,,toàn sến với táu cả thôi ạ…”
Ong Bí thư huyện  quát :
“Láo xược…gỗ đó nằm trong danh sách đỏ sao tụi nó dám chặt ?”
“ Vậy mà tụi nó làm luôn 3 xe kia ạ. Báo cáo anh cho chỉ thị ạ…”
Ong Bí thư trầm ngâm suy nghĩ. Theo đúng luật thì khai thác gỗ cấm nhất định phải bắt giữ để đưa sang công an khởi tố rồi. Nhưng vẫn cần phải thận trọng. Chẳng may bắt phải xe gỗ của chính vợ đồng chí Bí thư tỉnh uỷ hay vợ Chủ tịch tỉnh thì chết chắc. Đã có lần ông ra lệnh bắt nhầm gỗ của chồng bà Chánh án Toà án nhân dân tỉnh. Gỗ mới đưa tới trụ sở công an huyện điện thoại từ các cơ quan bảo vệ pháp luật như Viện kiểm sát, công an tỉnh, Ban bảo vệ nội bộ , Ban thanh tra thành uỷ đã gọi tới tấp. Ong nào, bà nào cũng khuyên đồng chí Bí thư huyện tuy giữ nghiêm kỷ cương nhưng vẫn phải bảo vệ đoàn kết nội bộ như lời bác dặn như giữ gìn con ngươi của mắt mình. “ Bảo vệ đoàn kết nội bộ” tức là đừng có gây thiệt hại cho nội bộ, đừng có mua thù chuốc oán, mặt khác nếu bắt giữ để công an điều tra thế nào cũng lộ mặt đồng chí đứng sau vụ gỗ lậu này làm mất uy tín lãnh đạo, gây giảm sút lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng thì ..tội to lắm.
Thế là lần đó ông Bí thư huyện uỷ gọi điện ngay về công an huyện ra lệnh xé biên bản, giải toả xe gỗ lậu mà sau này hoá ra là của bà Chánh án Toà án nhân dân tỉnh. Thật hú vía, nếu không lệnh cho công an huyện giải toả kịp thời thì cái ghế Bí thư huyện của ông bay mất là cái chắc.
Lần này cũng vậy, vụ bắt giữ 3 xe gỗ quý này làm ông phân vân. Bắt cũng chết mà không bắt cũng chết. Ong đang phân vân suy nghĩ bà vợ đã hỏi giật giọng :
“ Chuyện gì mà gần nửa đêm thằng Chủ tịch huyện còn gọi điện ?”
Không không dám giấu bà, đành thú thật :
“ Nó bắt được ba xe gỗ lậu gọi điện xin chỉ thị…”
Bà vợ ông Bí thư huyện uỷ tỉnh cả ngủ, mũi hít hít như ngửi thấy mồi thơm :
“ Thế kia à ? Những 3 xe cơ à ? Nhưng mà là gỗ gì ?”
Ong Bí thư càu nhàu :
“ Toàn lim với sến, táu thôi mới chết chứ ?”
Mắt bà vợ sáng lên :
“ Thế à…toàn lim với sến táu thôi à…giờ 3 xe gỗ đó ở đâu ?”
“ Vẫn nằm ở trạm kiểm lâm ấy chứ đâu…”
Bà vợ ông Bí thư mừng rỡ :
“ Vậy à…vậy chưa đưa sang công an à.,..vậy thì tốt quá rồi …”
Ong Bí thư giật mình :
“ Sao lại tốt…bà bảo cái gì tốt ?””
“ Thì  gỗ lim gỗ táu là tốt chứ sao ?”
Ong Bí thư bực mình :
“ Đương nhiên sến với táu thì phải tốt rồi…mà dính dáng gì tới bà ?”
Bà vợ ông cười toét miệng :
“ Dính chứ sao không ?”
Ong Bí thư huyện tái mặt :
“ I chết cha..bà cũng có cổ phần trong 3 xe gỗ đó hả ?”
Bà vợ ông Bí thư huyện lắc đầu :
“ Không không..ngu gì tôi làm chuyện đó. Ngày trước kia, bây giờ rút kinh nghiệm bà Chánh án tỉnh chẳng ai còn dại dột như vậy nữa.”
Ong Bí thư huyện thở phào :
“ Vậy mà tôi cứ tưởng…suýt thót tim ra ngoài . Thé bà còn dính dáng chuyện gì nữa…”
Bà vợ ông Bí thư nhảy xuống khỏi giường :
“ Bây giờ ông điện cho thằng Chủ tịch huyện bảo án binh bất động, cấm không được loan tin cho ai, nhất là bọn báo chí, tuyệt đối không để tụi nó biết…”
Ong Bí thư huyện uỷ ngơ ngẩn :
“ Lệnh như thế rồi giải quyết 3 xe gỗ ra sao ? Không lẽ bắt tụi nó trở lại về rừng dựng lại như cũ à ? “
Bà vợ bật cười :
“ Cái ông này ngớ ngẩn . Gỗ đã cưa ra thành tấm như thế rồi làm sao mà dựng lại được…”
“ Vậy bà bảo tôi giải quyết sao ?”
Bà vợ mặc vội xống áo :
“ Thì ông cứ gọi điện như thế . Tôi sẽ thay ông xuống giải quyết với chúng nó. Quả này mình thắng đậm đây…”

                             (còn tiếp)
              
                     


Thứ Năm, 2 tháng 7, 2015

ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ - Tiểu thuyết NHẬT TUẤN - KỲ 9


Chín.
Hàng ngày đi phát cây, thằng hộ pháp thỉnh thoảng lại trèo lên ngọn thật cao phóng tầm mắt về phía xa mờ cố tìm những dấu hiệu đầu tiên của cái bản Mù U ấy. Những lúc đó, bọn tôi xúm lại dưới gốc, há mồm, ngước mắt lên chờ đợi.
“Thấy chưa? Thấy gì chưa?”
Thằng hộ pháp nhìn rách cả mắt lại bị thằng học giả cứ hỏi cuống lên, nó phát bực: “Thấy cái nỗ đít, nàng bản đâu ra, rặt những núi với rừng. “ Mọi ngày đi làm về, thường thường nó hát nghêu ngao dăm câu đầu voi tai chuột, từ hôm buổi chiều chỉ có bữa cháo, nó quên hết mọi bài hát trên đời, nuốt xong ba bát cháo, mỗi ngày mỗi loãng, nó vứt bát nằm ngửa ra chẳng nói chẳng rằng. Thằng học giả chịu đói giỏi hơn, hình như nó ăn chữ nghĩa thay cơm, chưa tối nó đã vác củi đốt đống lửa thật sáng rồi lôi ra cuốn sách dày cả gang tay cặm cụi đọc, đọc chán rồi lấy giấy bút ra viết chẳng biết nó viết lách những gì chỉ thấy miệng nó lầm bầm, lầm bầm làm cho thằng cấp dưỡng ngồi ở xa lại tưởng nó nhai gạo sống, tôi phải can: “Không phải đâu. Nó nhai chữ đấy”, thằng hộ pháp đang vuốt bụng lép kẹp cũng phải bật cười: “Mẹ kiếp, có nhai cả đấu chữ cũng chả bằng có bát cơm nóng. “ Nói rồi nó đứng dậy, đi tới chỗ thằng học giả:
“Sách gì đọc lên anh em nghe coi có quên được cái đói không nào?”
Thằng học giả trợn tròn cặp mắt vốn đã trơn lên của nó:
“Chúng mày muốn nghe thật không?”
“Mày khinh tao óc bã đậu không nghe được sách của mày hả? Đọc đi, đọc ngay cái trang mày đang giở ra kia kìa.”
Thằng học giả nhếch miệng cười rồi hắng giọng đọc một hơi, miệng dẻo quẹo. Tôi thấy thằng hộ pháp và thằng cấp dưỡng cứ đực mặt ra, còn tôi thì ù cả hai tai như đang nghe người ngoại quốc nói chuyện. Tuy nhiên đứa nào đứa ấy làm ra vẻ lắng tai chăm chú lắm, thằng hộ pháp lại còn ra vẻ ta đây hiểu rõ, thỉnh thoảng lại hỏi cắt ngang:
“Duy tâm nạc quan là mấy thằng thày bói, thày cúng phải không? Ai mà chẳng biết.”
Thằng học giả phải đặt sách xuống sửa thằng hộ pháp nói cho đúng: duy tâm chủ quan chứ không phải lạc quan.
Thằng hộ pháp cứ gạt đi:
“ôi già, đại khái cũng thế cả. Mày giỏi mày giảng thử bọn tao nghe...”
Chao ôi, những lời nó giảng lại rắc rối tối mù còn hơn cả điều nó đọc trong sách. Tôi nghe mãi sốt ruột, chịu không nổi phải gắt lên:
“Mày giảng thế, đến giáo sư đại học cũng chẳng hiểu huống hồ bọn tao.”
Thằng hộ pháp hùa ngay theo:
“Thôi vứt mẹ nó sách đi, kiếm cái gì bỏ bụng lại chả hơn cứ ngồi nghe nó ný nuận suông ư?”
Thằng cấp dưỡng giật mình vội giao hẹn trước:
“ Tìm đâu tìm chớ có động vào ba lô thực phẩm. Tao đã ghi sổ đủ cả rồi, mất gì cứ chúng mày”.
Thằng học giả gói kỹ cuốn sách, lấy sợi dây buộc thật chặt theo thói quen rồi mới thì thào vào tai tôi:
“Tao biết chỗ này có cái ăn.”
“ Ở đâu?”
“Trong ba lô ông toán trưởng chứ đâu. Này, có cả thịt hộp nữa, mày tin không?”
Tất nhiên là tôi tin, bây giờ có chuyện gì mà ông không làm được, tôi đã hiểu ông khá rõ, nhất là trong chuyến đi này.
“Vậy đúng hôm trước mày lấy trộm mì chính của ông ấy rồi “.
Thằng học giả cười nhạt:
“Tao chỉ lấy lại cái ông ấy lấy của bọn ta thôi. Mày có định giúp tao một tay “thó” hộp thịt không?”
“Chữ nghĩa đầy một bụngnhư mày cũng đi ăn cắp vặt hả?”
“ôi nhà đạo đức giả...”
Nó thốt lên thế rồi giảng giải cho tôi nghe cái lý thuyết ““Ăn cắp cái bị ăn cắp tức là không phải ăn cắp”. Tôi chờ nó nói chán chê mới thủng thẳng:
“Tao thấy ông toán trưởng nói cũng có phần đúng, cái bọn trí thức chúng mày không đáng cục cứt”.
Nó không cãi lại chỉ nhe răng ra cười:
“Đúng đấy, mày nói đúng đấy, ở cái xó rừng này thì công cũng như quạ cả thôi”.
“Vậy sao mày không xuống thành phố ở cho có giá?”
Thật lạ, tôi chỉ nói vậy mà mặt nó nhăn lại như bị ong đốt, người run bần bật như thằng lên cơn sốt rét.
“Mày làm sao? Trúng gió hả?”
Nó gạt tay tôi ra, lững thững bước đi như người mộng du, giọng mê sảng:
“Trời ơi, tôi điên quá, bố ơi, con giết bố rồi, sao lại điên quá không biết...”
Tôi để mặc nó nằm vật bên đống lửa, cời rộng cho cháy to lên, phả hơi nóng vào người nó. Từ lâu tôi đã cảm thấy thằng điên điên khùng khùng này mang nặng một nỗi u uẩn nào đó, hoặc thất tình, hoặc gia sản bị tịch thu trong cải tạo tư sản nhưng tôi không thể ngờ nó lại mang tội giết cha, không, chắc không phải đâu, chắc nó lẩm bẩm những điều đã đọc trong sách như mọi khi thôi. Tôi tự an ủi vậy nhưng vẫn bối rối nhìn nó nằm co quắp, mắt nhắm nghiền trong khi từ trên cao vẫn thoang thả rơi những chiếc lá khô đậu trên người nó. Tôi cứ ngồi bó gôl mặc những ý nghĩ nhức nhối trong đầu tàn theo ngọn lửa.
Tôi cúi xuống bế bổng thằng học giả lên đặt vào võng của nó. Ngủ đi, sáng mai dậy, bóng đêm sẽ tan, cơn điên sẽ hết. Tôi đẩy nhẹ võng đu đưa cho nó. Gió bỗng nổi lên ầm ầm quét quang đám sương mù quẩn quanh từ chiều mà ngọn lửa xua mãi không chịu tan. Thằng hộ pháp đã dậy từ lúc nào, kéo tay tôi thì thào:
“Thằng học giả sao thế?”
“Trúng gió.”
“Bỏ mẹ, nó mà quỵ thì mai chỉ còn tao và mày vừa phát cây vừa kéo thước...”
“vậy đã sao?”
“Bò ra rừng chứ sao? Rồi đến cái thủaa nào mới tới được bản Mù U đong gạo.”
Tôi bật cười về nỗi lo cho cái dạ dày của nó, thảo nào nó không ngủ được phải bò dậy, nếu không nó đã đánh một giấc tới sáng.
“Mày có xem bản đồ của lão toán trưởng không?”
“Có tao xem rồi”
“Xem kỹ không?”
Quái lạ, xưa nay thằng này có bao giờ quan tâm tới bản đồ, bữa nay cái đói làm nó lẩn thẩn giống thằng học giả rồi sao? Tôi trố mắt:
“Tao xem kỹ rồi. Sao mày bỗng đốc chứng quan tâm cả cái đó?”
Thằng hộ pháp đảo mắt nhìn quanh, ghé tai tôi thì thầm:
“Tao nghi lão toán trưởng lắm. Có khi trên bản đồ đếch có cái bản Mù U ấy đâu, hoặc nếu có thì cũng còn khướt mới tới chứ chả phải như lão ấy nói đâu. Lão ấy lừa cho mình yên tâm đi đến đỉnh Hua Ca đấy thôi.”
Tôi bật cười về nỗi lo xa của cái thằng vốn chẳng quen nghĩ ngợi. Tôi nhớ ra tôi có xem bản đồ và có nhìn thấy một cái chấm nhỏ kèm theo hai chứ Mù U, tuy nhiên điều đó cũng chẳng chứng tỏ được chúng tôi chỉ còn cách nơi có xã hội con người ấy vài ngày đường như ông toán trưởngdự tính. Làm sao tin được tấm bản đồ chụp từ trên máy bay ấy, ngay đến đãy vách đá dài dằng dặc thế mà nó có “chụp” được đâu. Vậy nhưng giữa mênh mông rừng rậm núi cao này, ngoài nó ra, còn biết bám víu vào đâu? Tôi đành phải lên tinh thần cho thằng hộ pháp bằng những lời lẽ chính tôi cũng không tin. Nghe xong nó lắc lắc cái đầu bù xù:
“Mày chỉ giỏi bênh ông toán trưởng. Tao nói thực, còn ít gạo vậy, giờ cứ quay bố nó lại, lần theo tuyến mà về vẫn còn kịp, đi tiếp nữa là chết đói cả lũ giữa rừng”.
“Mày điên hả? ông toán trưởng thà chết còn hơn cho cả toán bỏ nhiệm vụ”.
“Kỷ luật là cùng chứ gì? Cốt giữ được cái mạng mình thôi, có phải đi hót cứt cũng được”.
“Sống thế thì nhục lắm. To xác như maỳ không ngờ cái gan chỉ bằng ngón tay”.
Tôi nói khích nó một chặp nữa chẳng hiểu có lọt tai câu nào không, chỉ thấy mắt nó trợn trừng, đôi lông mày sâu róm rúm lại rồi nín lặng, lủi thủi quay về võng.
Ngày hôm sau thằng học giả vẫn bò dậy đi làm, cứ như đêm qua không có chuyện gì xảy ra, đến chiều, khi thằng hộ pháp leo lên ngọn cây cao, phóng tầm mắt ra xa, nó lại ngước lên hỏi toáng: “Thấy gì chưa mày? Thấy gì chưa?”
Mấy ngày liền như vậy, thằng hộ pháp vẫn chưa thấy gì, cái bản Mù U ấy vẫn mù tịt ở nơi nào đó. Ông toán trưởng thôi không nói cứng nữa, ông cũng phải thừa nhận với bọn tôi bản đồ khu vực này không chắc đã chính xác, mọi người phải chuẩn bị tinh thần, sẵn sàng đón nhận tình huống xấu nhất, khi bao gạo của thằng cấp dưỡng đã rỗng hết mà cái bản Mù U ấy vẫn ở tít mù khơi. Bây giờ ông bắt nó nấu cháo cả hai bữa, tự tay ông đong gạo đổ nồi. Sáng sớm ôngthôi không còn thổi còi bắt tập thể dục nữa, suốt ngày ông nín lặng, mặc cho chúng tôi phát tuyến tới đâu thì tới, không giục “nhanh lên” để đảm bảo năng xuất hàng ngày nữa. Buổi chiều đi làm về, nuốt xong bát cháo loãng, cả bọn leo ngay lên võng nằm im để tiết kiệm sức. Thằng học giả cũng thôi không còn sờ đến những cuốn sách. Riêng ông toán trưởng, buổi tối vẫn loay hoay bên cái máy vô tuyến điện. Tôi biết ông vẫn đánh đi những báo cáo nhận về những mệnh lệnh, nhưng không hề hé răng “ phổ biến tức thời” như mọi bữa nữa. Tuy nhiên, sau mỗi lần nhận tin, không thấy gương mặt ông rạng rỡ, mừng vui như trước, ông cau có, lầm li, tức giận chuyện gì đó. Vào một tối, khi cả bọn đã leo lên võng, ông ra hiệu muốn nói chuyện riêng với tôi.
“Tôi đã điện về Ban chỉ huy đề nghị cho chúng ta quay lại...”
Tôi giật mình nhìn ông như không tin ở tai mình. Ông toán trưởng của tôi, người nổi tiếng trong toàn Đoàn khảo sát về ý chí gang thép “khó khăn nào cũng vượt qua, kế hoạch nào cũng hoàn thành”, vậy mà nay lại bỏ cuộc, từ chối nhiệm vụ? Hay cũng giống như thằng học giả, thằng cấp dưỡng, ông cũng sắp điên rồi? Ông ngập ngừng như định thổ lộ chuyện gì, rồi có lẽ tôi có vẻ không sẵn sàng nghe, ông im lặng, rụt cổ vào tấm khăn bông đang khoác lên người. Kể từ hôm tôi nổ ông về chuyện không cho thằng hộ pháp buông máy VTĐ khi nó rơi xuống sông, ông có vẻ dè chừng, thôi không còn hỏi ý kiến tôi nữa. Tôi cũng chỉ để ý tới ông mỗi khi ông phổ biến chuyện công tác. Theo lối nói của thằng học giả, tôi và ông chỉ là hai phần tử trong một tập hợp có chung một mục tiêu là sản xuất và cùng theo một lý thuyết là “ người ta chỉ ăn để mà sống chứ khôngphải sống để mà ăn”. Bởi vậy toàn bộ quan hệ giữa ông và tôi chỉ xoay quanh có mỗi cái việc làm sao đi tới được đỉnh Hua Ca và làm sao sống được khi gạo sắp hết.
Ông toán trưởng cứ ngồi như tượng mãi vậy, trong lúc tôi băn khoăn tìm cách rút nhẹ về võng làm một giấc, tránh không khí nặng nề, căng thẳng này. Thân phận chỉ quen cầm dao phát cây như tôi giúp gì ông được? ông là cái đầu, còn tôi là tay chân, cùng lắm gãi cho ông khỏi ngứa vậy thôi. Ngẫm nghĩ, chỉ huy là việc của ông chứ. Rốt cuộc hình như ông cũng đã nghĩ xong và lên tiếng:
“Tôi đã ba lần điện xin cho anh em quay lại nhưng Ban chỉ huy không đồng ý. Chúng ta vẫn phải tiến tới đỉnh núi Hua Ca bằng bất cứ giá nào. Mệnh lệnh là mệnh lệnh, tuyệt đối phải chấp hành”.
Tôi nghĩ bụng giờ có quay lại cũng không được nữa, gạo đâu ra, chuyện đó lẽ ra ông phải tự quyết định ngay khi gặp vách đá kia, than ôi, ông chỉ quen nghĩ trong những điều cấp trên đã nghĩ.
“Bằng giá nào cũng phải đi đến được đỉnh Hua Ca. Bởi vậy phải lường trước mọi diễn biến xấu nhất...”
Cái tính lo xa của ông, tôi không lạ, ông là chuyên gia của các thứ diễn biến: nào tư tưởng, nào thời tiết... thứ nào cũng nằm trong dự tính kế hoạch cả rồi, tôi chỉ lạ sao ông bàn chuyện đó với tôi, một thằng cán bộ chẳng phải, đảng viên cũng không. Vậy là sao?
“Trong trường hợp xấu nhất nếu tôi bị ốm nằm xuống, các cậu cứ đi tiếp, tôi sẽ giao phó bản đồ, địa bàn tài liệu cho cậu.”
Tôi giật nảy người, ấy chớ, chớ xớ rớ vào chuyện đó, chẳng may không dẫn tụi nó tới được đỉnh Hua Ca lại lạc sang đỉnh của nợ nào đó thì bọn nó giết tôi. Tôi chối đây đẩy, tôi không có trình độ, tôi không quen chỉ huy, tôi không có uy tín, tốt hơn hết khi cần ông nên giao cho thằng học giả, nó làm việc đó giỏi hơn tôi.”
“Không được, về nguyên tắc tổ chức tôi không thể nào giao cho nó được. Cậu hiểu ý tôi chứ?”
Tất nhiên tôi hiểu, ông không tin thành phần tư sản, ngay đến khẩu súng trường cổ lỗ ông còn không cho nó mó tới huống hồ cả một hồ sơ thăm dò khảo sát của một con đường quan trọng. Cái ý thức cảnh giác đó đã ăn vào máu ông chẳng thể nào thuyết phục nổi, bởi vậy tôi đành ngồi im nghe ông dặn dò cách dùng địa bàn, xem bản đồ, ghi sổ các số liệu đo đạc xem ra cũng chẳng khó khăn gì, cứ bám chắc lấy cái hướng ông vạch sẵn, ắt là phải tới nơi.
Tuy nhiên đó là giả dụ vậy thôi, lúc ông mà nằm xuống thì khó có thằng nào còn đứng được, ngoài những cơn hen đôi khi hành hạ, thân hình gày guộc của ông vẫn săn chắc dẻo dai đến mức đôi lúc nhìn ông cặm cụi bên tờ bản đồ dưới ánh đèn dầu sau một ngày leo trèo vất vả thằng học giả cũng phải thốt lên: “Cái lão này thật chẳng khác con báo rừng, quái, sức mạnh lão ở đâu ra nhỉ? “ Quả thực, trong thâm tâm, đôi lúc tôi cũng muốn ông... mệt mỏi, hoặc cảm cúm sơ sơ gì đó để tôi được nghỉ leo trèo một, hai ngày hoặc
ít ra cũng thoát được tập thể dục, nằm nấn ná thêm vài giờ lúc sáng sớm. Vậy mà không, ông vẫn trớ trơ và có vẻ lại còn khoẻ khoắn hơn cả bọn tôi nữa kia.
“Bác đừng quá lo thế, tới cái lúc bác ốm phải nằm đấy, chắc bọn tôi cũng chẳng thằng nào còn khỏe đâu.”
Tôi thoái thác bằng cái cớ cuối cùng như vậy, ông gấp tờ bản đồ lại, ngước lên nhìn tôi:
“Trong tình hình này, chuyện gì cũng có thể xảy ra, tôi phải giao phó trước cho cậu trách nhiệm nặng nề ấy.”
Chính vẻ vật nài trong ánh mắt, buồn buồn trong giọng nói của ông đã làm tôi nín lặng, và như vậy tôi đã chấp nhận để mai kia ông trút sang tôi cái gánh nặng đang đè trên đôi vai xương xầu của ông.


                        (còn tiếp)


Đi về nơi hoang dã
         trong tương quan 20 năm văn xuôi  đổi mới
                                          (trích)        

                                                                                       Văn Chinh
         

          Mấy năm trước, trong bài Văn xuôi Nam bộ nhìn từ xa, tôi có nhắc qua về cuốn sách quan trọng của nền văn học còn chưa nhiều đỉnh chúng ta: “Đầu thập kỷ 80, văn xuôi Nam bộ dường như đã một lúc có tới ba nhà văn lớn: Nguyễn Mạnh Tuấn, Nhật Tuấn, Trần Văn Tuấn mà báo chí đương thời coi là “tam Tuấn kiệt” trong văn xuôi. Thế rồi cũng báo chí với tập quán chỉ lăng xê những cuốn sách gần với nó, biến văn học thành cận văn học (para literatur) rồi thản nhiên cho qua hai rưỡi “tam Tuấn kiệt”. Nửa còn lại nền “phê bình có vấn đề” cũng cho qua nốt, đó là sự im lặng trước một tiểu thuyết hay Đi về nơi hoang dã.”

Cái mới đóng góp vào diện mạo văn xuôi đã nói trên như  nét bút bay bướm vượt khỏi những dòng kẻ cổ điển mà tiểu thuyết tự nguyện tuân thủ. Với một tay nghề vững vàng viết truyện ngắn xuất thân, Nhật Tuấn bố cục cuốn sách tài đến mức khiến cho độc giả bị hấp dẫn vừa bởi cốt chuyện chi tiết của truyện ngắn vừa bởi các tính cách nhân vật ngoắt ngoéo liên tục với sự vạm vỡ xô bồ vốn là đặc trưng của tiểu thuyết cổ điển. Tài tình nhất là tư tưởng thẩm mỹ xoắn bện hồn nhiên với chùm nhân vật ít mà phong phú, với cốt chuyện giản dị nhưng không dễ kể hết, chuyện hết thì tính cách cũng phát triển đến đỉnh điểm và những gì tác giả muốn nói cũng đã thấm thía rất sâu trong lòng người đọc.
        Đặt tiểu thuyết Đi về nơi hoang dã trong thành tựu 20 năm đổi mới của văn xuôi Việt, tôi thấy nó là một trong mấy cái đỉnh nhô lên khỏi nền chung đã không ngừng cao lên. Không có tên trên bản đồ tiểu thuyết với những Thời xa vắng, Nỗi buồn chiến tranh, Bến không chồng, Mảnh đất lắm người nhiều ma v.v. nhưng tôi thấy Đi về nơi hoang dã là tiểu thuyết hay hơn cả. Bạn có thể bảo tôi ăn nói bặm trợn, nhưng trước đó hãy làm ơn nhớ cho rằng tôi thích tất cả những cuốn sách vừa kể, cho nên không thể quy cho gu đọc của tôi bị bệnh. Nhà thơ Đoàn Thị Lam Luyến thuê tôi đọc để tư vấn cho chị bỏ vốn in hai cuốn sách khó bán là Nỗi buồn chiến tranh, Mảnh đất lắm người nhiều ma. Tôi thuyết phục chị rằng, có thể ít lãi nhưng nó hay, nó sẽ làm nên thương hiệu cho Luyến. Văn Bảo Ninh hay, nhìn chiến tranh tương đối khách quan, không ta tốt địch xấu như thói thường. Tiếc rằng nó có chỗ giống Remarqe, có chỗ lại giống Nghệ nhân và Magarita của Bungacop. Cái anh Giang Minh Sài rất hay, là một nhân vật sống bật ra khỏi được tã lót văn chương; tiếc rằng về cuối, anh ta lại không được làm theo ý mình là ở lại thành phố và quậy; khiên cưỡng trở về quê đốt gạch để lại dấu vết chủ quan khá đậm của cái thời văn trước đó. Bến không chồng cũng được nhân vật Vạn. Tuy chưa vạm vỡ bằng Sài, nhưng chứa đựng hết được tư tưởng thẩm mỹ hơn: Có một loại người, dẫu đầy thiện ý can dự cho đồng loại sống tốt hơn, nhưng Vạn động vào ai kẻ đó bại. Đi về nơi hoang dã trỗi vượt lên ở chỗ chỉ tả về lao động, lam lũ, đói khát của mấy thằng đực rựa sống lủi thủi trong rừng sâu mà đọc rất hấp dẫn. So với các cuốn trên, nó đã là một chỉnh thể nghệ thuật, cái mới mà tác giả đóng góp cho văn xuôi làm diện mạo cổ điển chợt lung linh sáng.



ĐỖ QUYÊN - Trung-Việt Việt-Trung - Truyện - KỲ 13





                                  (tiếp theo)

Khách văn không chịu nổi các dích dắc của những trò chơi chữ, các lắt léo nhằng nhịt của liên văn bản, các ma trận của dụng điển, giai thoại thì không hiểu nổi và dĩ nhiên không cười nổi cùng Đỗ Quyên. Nhảy cóc. Bỏ cuộc. Là hai loại khách dễ gặp trong phòng văn này. Xin phép thầy Hoàng Ngọc Hiên cho em nhại lời chúc quen thuộc trước một tác giả khó là Nguyễn Huy Thiếp hai thập niên cuối thế kỷ trước: Mỵ Châu không chúc Thiết Ngôn thuận buồm xuôi gió!

+ “Khủng khiếp, khủng khiếp và khủng khiếp! Tám nỗi sợ đó sẽ tiêu diệt những độc giả lười biếng. Siêu độc giả như Thiết Ngôn cũng chưa chắc sống sót. Nhưng nếu cần nhận xét ngắn gọn về mỗi truyện thì sao?”

- “Biết sẽ bị hỏi vậy, em đã đòi Quyên chuyển cho ‘còm’ của các bạn văn và vẫn đợi nhiều ‘còm’ nữa chỉ ra những gì chưa đạt. Đây, chàng xem…

Độc giả Y., trang mạng V.C.H. (Tây Nguyên):
Chuyện hay, đậm tính thời sự. Có lẽ do được viết bởi một hình thức cách tân khá lạ lẫm với thói quen đọc của người Việt, nên không dễ tiếp nhận nếu không có tính... kiên trì. Hì hì... Mới đọc cứ ngỡ đây là truyện của các tác giả do bức bối với ‘thời tiết xã hội’ nhưng e dè ‘cơn mưa chính trị’ dội xuống đầu, do vậy thường viết theo lối lấy chuyện xưa hoặc bên Morocco Congo gì đó làm nền cho chuyện nay. Đọc vào thấy thực ra tác giả viết lộ liễu, không kiêng dè gì cả; chẳng qua như một thủ pháp tung tẩy nhằm lật mặt mọi bề hiện thực.’ (Truyện 1)

Ban biên tập trang mạng BoVN (Hà Thành):
‘Tác giả đặt chúng tôi vào một thế khó khi gửi đến BoVN - là nơi không đăng truyện bao giờ - một truyện ngắn trào lộng nhằm giễu nhại những nhân vật và những vấn đề thời sự hiện nay. Đọc truyện ngắn khí dài này thú thực muốn đăng lắm, hiềm rằng quy chế của BoVN. rất chặt nên khó lòng phá lệ. Vì vậy xin gợi ý một giải pháp khả thủ để tác giả suy nghĩ: chúng tôi sẽ chuyển truyện ngắn này sang trang Việt Văn có được không.’ (Truyện 1)

Thi sĩ N. Đ. T. (Vancouver):
‘Truyện 1 đầy tính phúng dụ và tính văn học nhân chứng. Bất ngờ! Bất ngờ! Bất ngờ! Mạch đi của Truyện 2 OK lắm và có phần sắc sảo hơn Truyện 1. Phần lời đề tặng mở đầu hình như hơi dài. Có lẽ không nên viết bóng gió ẩn dụ nhiều quá. Đã nhận ra một số vấn đề khác, sẽ nói sau.’

Văn sĩ N.T.H. (Bình Định):
Truyện 1 gọi là tiểu thuyết cũng được, tiểu luận cũng được, hay là một văn bản lịch sử được văn chương hóa cũng được. Một sự ‘tân hóa’ thật thú vị. Tất nhiên phải chú hết tâm để đọc mới thấy được những kết hợp nhuần nhuyễn của người viết. Một câu chuyện thế sự, một câu chuyện lịch sử, đọc xong cứ thấy ngậm ngùi và căm phẫn. Một ước mơ như một bi kịch: chẳng bao giờ có chuyện đó đâu, chuyện di dời tổ quốc. Ở Truyện 2 thì là một viễn mơ khoa học, nhưng biết đâu… Biết đâu lại là một khơi gợi cho khoa học mai sau.”

Văn sĩ Đ. T. (Hà Thành):
Truyện 1 và 2 của bác kinh dị đấy! Nhưng cần ‘thâm hiểm’ hơn. Sơ phê thế đã. À, muốn viết cái này hay thì phải viết nhanh, nhịn ăn nhịn uống, phọt c. ra quần không hề biết, thì sẽ đắc chính quả. Chỉ mới xem tiếp được một số hồi của Truyện 3, đã thấy tất cả như một siêu từ điển: Trung-Việt Việt-Trung mâu thuẫn từ điển, hay Trung-Việt Việt-Trung trắng đen từ điển.’

Thi sĩ M. V. P. (Hải Phòng):
Truyện 2 viết theo lối liên văn bản, hậu hiện đại. Cách nhại truyện chương hồi của Tàu, ngả giọng Tàu giả cầy rất giỏi. Truyện vừa có tính giải trí vừa đánh trúng huyệt Tầu.’

Ký giả P.P.L. (Toronto):
‘Em thích kiểu viết này, rất mới; mang sắc thái ‘tân cổ giao duyên’ và upside down (đảo nghịch). Nội dung không mới với người Việt ở Canada (Ai cũng mong giá như chỉ cần đưa được tất cả 90 triệu dân Việt sang đây ở đủ 10 năm thì chẳng phải làm gì mà dân trí, dân khí cũng lên, hehe... Toàn là giấc mơ ngày như chị viết); nhưng là mới với người trong nước. Chưa đủ trình độ góp ý về nhân vật theo chị yêu cầu, vì em cảm thấy câu chuyện thế là được. Tuy nhiên hơi lấn cấn cái kết luận, khó nói là khiên cưỡng nhưng cảm thấy chưa nhuyễn; hay em chưa hiểu hết ý? Trên hết, truyện (cũng có thể gọi là ‘bài viết’) giống một bài thuốc, hay mạnh hơn là một lưỡi gươm. Dù là kiểu gì vẫn có tác dụng trong tình thế nóng bỏng hiện nay. Và cách viết dễ làm độc giả đọc tới hết vì thấy hay, lạ. Sau là dễ nhớ. Rồi sẽ có thể kể lại cho bạn bè: này, có người đã từng nêu ý tưởng như thế... Tức là theo quan điểm giáo dục của em thì có tác dụng tốt cho quảng đại quần chúng 30 tuổi trở lên, trừ một ít tuổi trẻ tài cao ở trong nước.’ (Truyện 1)
Em vẫn thích kiểu viết này của chị và tin sẽ có rất nhiều người thích cùng. Tác dụng chống Tàu vẫn giữ nguyên giá trị như Truyện 1 và như chị muốn. Ngạc nhiên trước ý tưởng táo bạo! Phải đọc đi đọc lại vài ba lần, mỗi lần cách nhau ít nhất 10 tiếng, em mới dám trả lời. Lạ, hay và sâu sắc - đó là những gì em cảm thấy. Truyện 2 hơn Truyện 1 cả về ý tưởng lẫn bút pháp chị ạ.’

- “Sẽ lĩnh ý của các ‘còm’. Giờ ta nói về Đặc công trứng trong truyện Chuyện cái mũi khoan và bom dị bào?”

+ “Vẫn cái giọng ra lệnh, ghét Chủ tịch Hội quá! Này nói riêng anh. Không phải em hờn ghen chị ấy đâu, nhưng cũng thấy dù là sáng tác theo kiểu khoa học hoang tưởng thì cung cách viết văn dựng chuyện về vũ khí dị bào với các Đặc công trứng sẽ chịu rủi ro về mặt nhân bản, khi tác giả đã dùng thân thể con người làm phương tiện hủy diệt nhân loại. Vậy ra nhà văn đã viết trái với chủ trương của nhà nước ư? Anh thấy đấy, hôm 20 tháng Năm vừa rồi, Ngoại trưởng Phạm Bình Sinh tuyên bố Đại Việt chúng em đã tham dự vào sáng kiến chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (proliferation security initiative) mà trước đó chính nước chúng em cùng nước Trung các anh vẫn khước từ. Một tiến bộ lớn của Đại Việt về lợi ích chiến lược ở khu vực và toàn cầu theo hướng Hoa Kỳ tán đồng. Chắc chị Quyên lãng quên. Nhà văn là thư ký của thời đại kia mà.

Không ít đoạn trong những trao đổi trên được viết giữa các cú làm tình động đất cùng cuộc rượu ngất trời giữa Thiết Ngôn và người tình nam lý tưởng Trương Du. Những khi chủ nhân của bàn phím mê mị là thời cơ xọc vào của bàn tay lông lá từ Cục Tình báo Hoa Nam.

3.7

- “Mấy hôm trước Mỵ Châu còn so sánh ảnh hưởng thời cuộc của truyện Đỗ Quyên với thơ ca gì đó của một thi sĩ tên Tú…”

+ “Đàn ông Trung nhớ dai thế! Anh hết mệt chưa? Đừng thức khuya quá mà xấu giai. Ừ thì là Hồn Phàm, trường ca của Nguyễn Đinh Tú, nick trên mạng là Cậu Tú. Cuốn Hồn Phàm sắp là tác phẩm văn học đầu tiên mô tả trực diện và vỗ mặt không chỉ cuộc chiến tranh xâm lược Biên giới Trung-Việt 1979, mà cả hai trận cưỡng chiếm Hoàng Sa 1974 và Gạc Ma 1988. Trực diện: sự kiện, chiến sự của ba cuộc chiến. Vỗ mặt: tên tuổi, địa danh thật, không nói bóng nói trại. Đúng là văn học có chức năng dự báo. Anh nghe này: Sách thơ của cậu thiếu tá Cảnh sát biển chưa hề xung trận lại trùng với tinh thần của một kiến nghị do 20 cựu sĩ quan từ trung tướng đến đại tá quân đội, công an vừa gửi các vị lãnh đạo nhà nước và chính phủ, làm nức lòng dân tình trong các ngày qua:

‘Việc cố tình phớt lờ cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979 và mấy trận chiến bảo vệ biển đảo không chỉ phủ nhận lịch sử, xúc phạm đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh xương máu vì Tổ quốc, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới tinh thần và quyết tâm chiến đấu của Lực lượng vũ trang. Đó là sai lầm không được phép tái phạm.’

Đàn bà như em thích nhất câu cuối, hôm qua vừa đọc tới thì mắt nhòa lệ lúc nào không hay. Tướng thế mới xứng danh tướng Đại Việt chứ! Tổ quốc Trung nhà anh tha hồ mà chết với chúng em. Cậu Tú, thiếu tá Cảnh sát biển độc thân lênh đênh nhưng tham vọng và bút pháp văn chương đã nhà nghề ngang ngửa văn sĩ chuyên nghiệp sống trên cạn như chúng em. Đẹp trai kinh hồn! Nguyễn tiên sinh thời trẻ cũng không bì được nữa là Thiết Ngôn tiên sinh thời nay. May, con Nghé Ọ đi du học chứ ở nhà là khổ với ‘cậu’.
Cứ theo Mỵ Châu thì ý nghĩa ‘thơ đại dương’ của Hồn Phàm có thể tương đương với phong cách ‘thơ quảng trường’ trong trường ca Quay Trái của Maia. Sách đang còn trong nhà in của Hội em, anh ạ. Sắp ra lò. Nhiều người đoán nó có thể tạo chấn động hơn hai truyện của bà Quyên. À anh có nghe tin đồn hãng phim nào đó lớn lắm ở Bắc Mỹ tính mua bản quyền hai truyện đó không? Quả này thì nước Trung các anh mất mặt! Sách của Tú, anh biết không, em chạy giấy phép muốn đứt hơi. Khổ cho dân viết lách nhà em! Có còn ‘nhạy cảm’ e ấp nữa đâu cơ chứ. Sau giàn khoan 981, mọi sự già dơ tô hô ra cả như gái thập thành rồi.”

- “Mỵ Châu hẳn theo dõi kỹ các nhận xét về Hồn Phàm từ khi nó đăng rải rác trên mạng?”

+ “Tất nhiên! Nhưng dạo đó ít lắm ai dám động vào ‘nhạy cảm’. ‘Mùa thu nay khác rồi’, nên sách chưa in mà tác giả đã có ngay 9 bài mới toanh phê bình, giới thiệu, tựa, bạt... Em bảo: ‘Đưa hết đây chị mày tống hết vào Phụ lục. Tội vạ đâu chị chịu, mày đi tù!’. Làm sách già đời, ngán gì! Ở bên ấy anh chắc đã biết tên tuổi Tổng biên tập Phạm Sỹ Sau với câu ‘Thà hy sinh chứ nhất định không chịu chết trên bàn kiểm duyệt!’ Tú bảo: ‘Ôkie thằng em chỉ biết nghe bà chị. Dịp may. Mai kia nhỡ các bố ấy lại ‘treo cờ đỏ bỏ cờ xanh’.’

Tạm gửi anh coi trước vài thu hoạch của riêng em, lọc từ Phụ lục:

‘Với Hồn Phàm, thi sĩ Nguyễn Đinh Tú đã thực thi một ván bài lật ngửa của dân Việt với người láng giềng phương Bắc đúng lúc có sự kiện giàn khoan HD-981. Vô giá, chúng ta lấy lại tiếng nói dân tộc, tròn vành rõ chữ, đúng âm hưởng. Cũng với Hồn Phàm, lần đầu tiên trong văn học Việt hiện đại đã xuất hiện đàng hoàng một cuốn sách viết trực tiếp về các cuộc chiến đẫm máu bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải; đã xuất hiện kiêu hãnh bởi một nhà xuất bản đàng hoàng trong nước’. (Phê bình gia Nguyễn Quan Thiều)

‘Nguyễn Đinh Tú đã thành quả khi xử lý bằng thơ các chất liệu chiến tranh. Hồn Phàm là lời cảnh tỉnh với các tác giả viết tiếng Việt: không được phép quên quá khứ đau thương của dân tộc, nhất là khi quá khứ đó chỉ cách hiện tại ‘vài ba bước sau lưng’. Tôi đánh giá cực cao tác giả khi cậu ta nhanh nhạy chọn hình thức trường ca, dũng cảm ở đề tài Trung-Việt và tài hoa ở thi pháp nghệ thuật.’ (Nhà mỹ học Nguyễn Thị Thông Thái)

‘Một thách đố về lối viết trường ca; sử thi mà hiện đại, tự sự khốc liệt mà đau đáu trữ tình. Tính trường ca được thể hiện hài hòa: Qua thể tài mang tinh thần không chỉ của từng cá thể hay giữa các cá thể, mà thuộc về giá trị chung của dân tộc và nhân loại trong một chủ đề nhân văn có ý nghĩa xã hội rộng lớn. Qua cốt truyện có có không không. Qua chất liệu hiện thực về trạng thái nhân thế lẫn trạng thái sử thi. Qua cảm xúc đã chấn động lại mềm mại. Qua giọng điệu như cuộc tình tay ba của hùng ca, bi ai và hài ca. Qua tư duy mạnh nhanh với chủ đích lôi cuốn trong thái độ chủ quan. Qua cấu trúc và thủ pháp sử dụng hình thức kỹ thuật của trường ca chuẩn tắc (chương, khúc) và phi chuẩn tắc (đa ngữ điệu, cạnh tranh các mặt đối lập). Chúng tôi đang nói về cái gì đấy ạ? Thưa, Hồn Phàm của Nguyễn Đinh Tú, nhà xuất bản Người Hà Thành sẽ ra lò quý III năm nay!’ (Giáo sư Cao Giá và Nhà lý luận Phạm Ngân Xuyên)

‘Tôi bật cười khi đọc tập trường ca của Cậu Tú. Cuốn sách nói tới vấn đề và sự kiện mà người Việt hiện nay ai cũng biết nhưng không ai nói.’ (Nhà thơ - Họa sĩ Phan Huyền Thu)

đây là lời của chính tác giả Nguyễn Đinh Tú:

‘Tôi cho nhân vật Hồn Phàm phải lên cõi niết bàn để giải phẫu chuyển đổi giới tính: đó là hình thức và cũng là nội dung của câu chuyện thơ. Để kể về Chiến tranh Biên giới 1979, về hai cuộc Hải chiến 1974 và 1988: đó là chất liệu của trường ca.

Theo Giáo sư Lê Ngọc Trà, ông Hegel là người đầu tiên tìm hiểu rất hệ thống cặp phạm trù nội dung và hình thức để rồi kết luận:
Nội dung không phải là không có hình thức, trái lại, nó không chỉ có hình thức ở bên trong mà còn có hình thức như cái gì ở bên ngoài nó.
Do đó sự chuyển hóa qua lại của cái này thành cái kia, khiến nội dung không gì khác hơn là sự chuyển hóa của hình thức thành nội dung, và hình thức không gì khác hơn là sự chuyển hóa của nội dung thành hình thức.
Sự chuyển hóa này là mối quan hệ tuyệt đối giữa nội dung và hình thức.
Vì thế, một tác phẩm nghệ thuật thiếu hình thức thích đáng thì không thể được gọi là tác phẩm nghệ thuật.

Thừa thắng theo ông Hegel, ông Bakhtin đã xông lên với nhận định sắc hơn:
Hình thức nghệ thuật là hình thức của nội dung; Hình thức như là hình thức của nội dung và nội dung như là nội dung của hình thức.
Đặc biệt, với Bakhtin, chất liệu không phải là hình thức; chất liệu muốn trở thành hình thức phải được tổ chức lại trong một kết cấu; những hình thức kết cấu này được quy định bởi những hình thức kiến tạo là hình thức tồn tại của bản thân nội dung cái nhìn nghệ thuật hay nhãn quan thẩm mỹ.

Thôi quên đi các ông Hegel ông Bakhtin lằng nhằng rách việc. Tôi muốn nói nhanh cho sớm chợ. Thông điệp của trường ca Hồn Phàm là: dù ở biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn hay ngoài biển đảo Gạc Ma thì câu chuyện chiến tranh Trung-Việt đã thành ẩn ức không dễ bày tỏ.
Cái đau cái nhục có cả máu và nước mắt mà không được nói ra. Phải chăng đó là một Việt tính, một bản sắc? Hay chỉ là tâm thức của một thời đại?’
(Trả lời phỏng vấn báo Văn Chương Trẻ).

‘Thời gian qua nhiều người hỏi nhà cháu Hồn Phàm có cái gì giấu trong đó mà báo chí nhòm ngó lắm thế. Bài tin đùng đùng, lời đồn đoàng đoàng cứ như thời anh Kim Đồng lên chiến khu. Các bạn nhà báo nhà đài mách hỏi nhau: ‘Sách vẫn còn bị gác ở trên bàn Tổng biên tập đấy?’; ‘Trường ca về chiến tranh biên giới phía Bắc à? Đã đọc chưa? Liệu có gì không?’; ‘Sao không? Còn dám mô tả hải chiến của ‘ngụy” nữa cơ đấy!’; ‘Thôi bảo bên truyền hình không nên đưa tin khi sách phát hành nhé, phiền phức lắm’. Ô hay, các bác các thím sợ Hồn Phàm của nhà cháu đến thế à? Nhà cháu tự ngoái sái cổ nhìn lại hành trình sáng tác 15 năm qua thấy mình tương tác ngon lành cành đào với bạn đọc nên chả cần phải gây sốt bằng chiêu trò này nọ. Nhà văn viết khi có sự trống vắng trong nội tâm của mình và của bạn đọc. Nhà cháu viết về các cuộc chiến tranh bị vắng bóng trên văn đàn. Năm ngoái nhà cháu cho ra tập truyện ngắn Hoang Tình, viết về biên giới Tây Nam hồi 1977-1978 mà cứ phải ẩn dụ hoán dụ đánh hỏa mù lung tung cả lên mới xin được giấy phép khống đấy. Năm nay, bám càng cái giàn khoan HD-981 Hồn Phàm thừa cơ xốc tới đàng hoàng hơn. Báo cáo hết ạ!’
(Trích Facebook Cậu Tú)

+ “Anh mới nghe nói tuần báo Văn Chương vừa ra mắt tuyển tập truyện và thơ mang tên Mặt Biển? Và cả vở kịch Họ Và Mình của đại tá - kịch tác gia Nguyễn Lập Phương đang tập vở tại Nhà hát kịch nói Quân đội?”

- “Sao anh ma xó thế? Sau vụ giàn khoan, chắc dịch giả Thiết Ngôn thành ký giả Thiết Ngôn mất thôi! Cũng tốt, bang giao văn chương Trung-Việt được nhờ.


                                        (còn nữa)

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2015

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 76


                           (tiếp theo)
Cái tin một ghe chở 33 thuyền nhân cặp bến Darwin của Úc Đại Lợi và được chấp thuận cho định cư vừa nghe trong tháng 7 chưa tan trong niềm mơ tưởng của đám thuyền nhân chờ thanh lọc như tôi thì lại thêm một tin từ radio có chiếc ghe vượt biên khác chở 37 thuyền nhân được một tàu buôn vớt ngoài khơi Nam Hải. Rồi tàu buôn đó ghé vào hải cảng Karachi của Pakistan để cất hàng hóa và để xin chính quyền quốc gia này cho số thuyền nhân lên bờ định cư. Pakistan chính là Hồi Quốc trong tiếng Việt và lần này, cá nhân tôi lại mong 37 thuyền nhân không được chính quyền cho định cư theo yêu cầu của chủ nhân chiếc tàu buôn. Pakistan là quốc gia theo đạo Hồi, nghèo và đầy rẫy xung đột sắc tộc, giáo phái với nhau nên không phải là mảnh đất mà một thuyền nhân Việt liều mình vượt biên để tìm đến định cư. Suy nghĩ của tôi cũng giống với khá đông người trong barrack, anh Khảm cũng đồng ý khi nói: " Dân xứ này vẫn dùng tay ăn bốc đó em, đạo Hồi là quốc giáo nên luật đạo chi phối luật đời mạnh lắm, cuồng tín và cực đoan chẳng khác gì Cộng sản. Vẫn là nước nghèo, đông dân hàng thứ 6 thứ 7 trên thế giới... Đời sống người dân chật vật lắm, mấy thuyền nhân trên tàu buôn đó bộ không biết sao lại xin định cư? ". Vài ngày sau, thắc mắc của anh Khảm được giải tỏa khi có tin trên radio báo chính phủ Pakistan đã từ chối thỉnh cầu của thuyền trưởng chiếc tàu buôn. Chiếc tàu buôn trên đường từ Nhật Bản về đã vớt 37 thuyền nhân này ở vùng biển quốc tế rồi sau đó ghé vào Singapore, vượt qua eo biển Malacca để đến Pakistan. Sau khi cất hàng hóa tại cảng Karachi, chiếc tàu buôn sẽ trực chỉ bán đảo Ả rập, Hồng Hải và cuối cùng là các quốc gia phía Nam Âu Châu. Dù đã thất bại trong việc giúp cho 37 thuyền nhân định cư ở Singapore và ở Karachi của Pakistan, nhưng thuyền trưởng chiếc tàu buôn vẫn hy vọng những khách người Việt này sẽ được một quốc gia nào đó trong vùng họ sắp đến chấp thuận cho lên bờ. 

Tình cờ tôi có một nguồn báo Việt để xem định kỳ từng tháng đó là khi theo Yến đến lớp học Anh ngữ là quán cà phê bác sĩ Luân, tôi đã làm quen được với một cô gái tên Châu cũng là học trò của anh Khảm. Trông thấy cô gái cầm trên tay tờ báo Làng Văn nên tôi đã hỏi mượn. Rồi biết thêm cô ta còn có các báo khác như Văn Nghệ Tiền Phong, Lửa Việt... nữa. Những báo này do vị hôn phu của cô ta ở Hoa Kỳ đặt mua từ nhà xuất bản gửi thẳng đến trại đều đặn. Anh Khảm kể anh chàng hôn phu này đã vượt biên từ mấy năm trước còn Châu thì đến Galang đầu năm ngoái. Anh thêm: " Cô gái này hay lắm Vũ, học khá lại biết vẽ và cả biết đàn Guitar nữa đó. Anh chàng hôn phu bên Hoa Kỳ kể cũng tốt số mới gặp được đấy. Chắc cũng biết vậy nên yểm trợ tài chánh hàng tháng cho cô nàng mạnh lắm ". Khi mới đến Galang, lần đầu tiên cầm được các tờ báo Việt hải ngoại, tôi đã đọc say sưa từng bài một kể cả những mục nhắn tin, rao vặt. Mười mấy năm trời nay mới thấy lại những tờ báo như thời miền Nam VNCH, hỏi sao không vui. Trước đó thì Yến tỏ ý với cả nhóm muốn mua một máy Cassette để vừa nghe nhạc và theo dõi tin tức trên các đài Việt ngữ nhưng Đỉnh cho là không cần thiết. Nó bảo: " Mua máy Cassette vừa tốn tiền lại phải mất công giữ kè kè bên người... Xài pin thì chẳng được lâu mà điện lại không truyền vào barrack lợp lá. Dùng bình accu thì bẩn tay chân, làm rách quần áo rồi nếu muốn sạc lại điện, phải ra tận Galang 2. Em tính khi nào có chòi riêng hẵng hay, giờ cứ nghe ké máy chung với thiên hạ là nhất ". Chính vậy nên quen được với Châu tôi rất vui vì dễ gì kiếm được báo Việt hải ngoại ở trong trại tị nạn. " Anh cứ giữ mà xem nhưng đừng làm mất. Phòng em còn nhiều số báo khác nữa, có mới có cũ ", cô gái bảo tôi khi cho mượn tờ báo đó. Anh Khảm kể là Châu cũng đã được Cao Ủy thanh lọc từ lâu rồi và hiện cô ta vẫn đang chờ nhận kết quả. " Anh nghĩ cô nàng sẽ đậu thanh lọc vì còn giữ được hình ảnh, thư từ liên lạc của anh chàng. Họ sẽ đoàn tụ thôi ". 

Ở trại, ngoài Châu ra thì các đoàn thể khác hoặc cá nhân cũng có báo Việt ngữ do những hội đoàn hay mạnh thường quân từ bên Hoa Kỳ, Canada, Úc Đại Lợi... gửi vào trại qua đường bưu điện nhằm giúp thuyền nhân biết thêm tin tức. Báo ít, người quá nhiều nên chẳng mấy chốc tờ báo đã nhàu cũ ngay nhưng dù vậy, vẫn được chuyền tay để xem. Có người nhận được báo gửi đến, xem xong lại khư khư cất làm của riêng, hạn chế cho người khác mượn. Có thể trong thâm tâm những người cất kỹ sách báo Việt ngữ này nghĩ nếu cho mượn thì phải mất công đi đòi. Thực tế đã có người mượn đọc, sau đó chuyền tay cho kẻ khác xem và để mất, thế rồi mất luôn tình bạn.






Cũng thời gian này thì trường Consortium bắt đầu mở các lớp dạy nghề cho thuyền nhân từ trưởng thành tới lớn tuổi trong trại. Bãi đất trống đầy cỏ bụi cùng hố nước, rác rưởi dưới chân đồi nhà thờ Công giáo Galang 1 ngày nào thì nay đã thành các ngôi nhà vách ván lợp lá rộng rãi, khang trang. Cũng do nhà thầu Titan nhận làm với Cao Ủy mà nhìn các căn nhà của trường Consortium này với từng barrack lợp lá của thuyền nhân thật khác xa. Trường Consortium do Cao Ủy tài trợ nên học phí được miễn. Sách giáo khoa, tài liệu, học cụ... cũng được nhà trường phát không tùy theo môn học. Cá nhân học sinh phải bỏ tiền mua vở, bút thôi. Môn học được nhiều người ghi danh nhất là đánh máy chữ, sửa xe gắn máy, điện và cắt may quần áo. Đó là dạy nghề, còn về giáo dục phổ thông thì trường Consortium định mở các lớp học của bậc tiểu học, trung học cho trẻ em trong trại. Cô-thầy cho học sinh các lớp tiểu học thì không khó nhưng cho bậc trung học thì lại hạn chế vì tìm không ra giáo viên giảng dạy trong số thuyền nhân tạm dung trong trại. 

Ông Thăng thông báo tin cả đoàn ghe phải đi khai bản lý lịch cho phòng An ninh P3V. Hồi mới nhập trại Galang, đoàn ghe chúng tôi đã khai lý lịch ngay tại cầu tàu rồi, tưởng vậy là xong, chỉ còn chờ ngày gặp Cao Ủy thanh lọc. Nay thông báo phải đi khai lý lịch lần nữa, vài người trong barrack thắc mắc thì ông Thăng giải thích: " Khai lý lịch ở cầu tàu là khai cho ban Đại diện người Việt biết, còn đây là khai cho chính quyền địa phương. Phòng An ninh P3V có lý lịch của ghe mình thì họ mới lập danh sách để Cao Ủy thanh lọc chứ ". Trong barrack ai cũng lấy giấy tờ cá nhân của mình ra xem lại, nghĩ là nhân viên phòng An ninh P3V sẽ hỏi rất nhiều điều nên cần chuẩn bị trước. Tính vậy nhưng buổi khai báo thật nhanh chóng chỉ tóm tắt ít chi tiết về tên họ ngày tháng năm sinh cùng thời điểm đến trại Galang mà thôi. Trên đường về lại barrack, Tám Kiệt nói: " Hôm nay, ghe mình mới thực sự có tên trong hồ sơ tạm trú của chính quyền Nam Dương đó các ông. Từ khi nhập trại cho tới ngày hôm qua coi như bỏ, họ không biết gì về ghe mình ", rồi y cho biết đã nhận dạy lớp điện và sửa xe gắn máy cho trường Consortium.

Thấy trường Consortium mở lớp dạy đánh máy chữ thì tôi cùng vài anh bạn trong phòng Dịch thuật ghi danh học ngay. Yến thì xin học lớp dạy cắt may quần áo còn Đỉnh thì học sửa xe 2 bánh và lớp động cơ nổ. Tôi học đánh máy chữ vì muốn biết cách đánh một văn bản sao cho nhanh và đẹp vì thực sự nhóm thiện nguyên phòng Dịch thuật chúng tôi hầu như ai cũng đều đánh máy chữ bằng cách mổ cò từng chữ một. Đi học rồi qua giao tiếp với hiệu trưởng Harry là một thanh niên Nam Dương thì mới thấy máy chữ đã cổ lỗ so với computer mà anh ta hiện đang sử dụng tại văn phòng. Lúc đầu khi trường Consortium dạy thuyền nhân trong trại cách đánh máy chữ theo phương pháp Pivot thì ai cũng thích vì đã biết đánh một văn bản sao cho đẹp từ cách chừa lề phải, canh lề trái, sắp xếp từng đoạn chữ cũng như tăng tiến tốc độ khi đánh trong vòng 1 phút càng ngày càng nhanh hơn. Nhưng máy chữ vẫn còn cái dở như khi đánh sai một chữ nào đó thì chúng ta phải dùng sơn trắng Wite-out tẩy bỏ nó ở bản chính và ở cả các bản sao bên dưới trước khi đánh lại con chữ hỏng đấy. Khi cần có thêm bản sao thì đả tự viên cũng không làm được nhiều tờ vì con chữ sẽ mờ dưới lớp giấy than trong khi ở máy computer lại là một việc dễ dàng. Thời bây giờ, đánh văn bản bằng máy computer là một việc đơn giản nhưng khi đó ở trại, tôi đã thích thú khi biết nó còn giúp người sử dụng căn đều đường biên hai bên, chuyển đổi từng đoạn viết cũng như trang trí các tiêu đề, chọn kiểu chữ mình muốn thật nhanh chóng chỉ sau một cú gõ vào bàn phím, một việc mà máy đánh chữ không sao làm được. Nhìn máy computer của Harry, tôi mong có dịp được học cách sử dụng và cả Nguyễn Sơn Hoàng, hiệu trưởng thiện nguyên viên của trường Consortium cũng cùng tâm trạng khi bộc bạch: " Anh Vũ biết không, năm 1985 khi có dịp đi Hội Chợ Quang Trung, tôi đã dừng chân rất lâu bên những máy computer của đám việt kiều mang về chưng bày cho người tham quan vào xem. Tôi nghĩ hiện thời trong trại tị nạn Galang này chẳng có người Việt nào biết cách dùng máy computer vì nó còn mới quá so với trình độ của bọn mình ở đây ".


                                (còn nữa)