Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 6 tháng 10, 2014

nhà văn VŨ HUY QUANG : Thoả hiệp Án: Nguồn gốc và Hậu quả.



          Tham Khảo:
     A.  “Người Việt ở Pháp 1940-54” - Ðặng Văn Long.1997.
     B.  “Việt Nam 1920-1945” – Ngô Văn.1995.
     C.  “France 1940-1955” – Alexander Werth.1956.
     D.  “Marxism, Wars & Revolutions” – Isaac Deutscher.1984.
     E.  “The Fate of the Revolution” – Walter Laqueur.1967.
Các chú thích dẫn trong sách, được đánh dấu tắt bằng “A”, “B”, “C”, “D”, “E”…kèm số trang.
I.Nguồn Gốc
Thỏa hiệp Án (Modus Vivendi) do Chủ tịch Hồ Chí Minh (HCM) ký năm 1946 với chính phủ Pháp diễn tiến rất bất ngờ cho không khí chính trị Việt Pháp, ảnh hưởng sâu xa sau này…Xảy ra nửa đêm 14 rạng ngày 15 tháng Chín 1946, tại nhà riêng Moutet.
Modus Vivendi chủ trương Việt nhường thêm bước nữa cho Pháp sau khi đã chịu Ðộc lập trong Liên Hiệp Pháp của Hiệp định Sơ bộ 6 tháng Ba 1946. Thỏa hiệp này, câu quan trọng nhất, là điều V, câu cuối như sau:
-Khi đã giải quyết xong vấn đề tiền tệ, một thứ bạc sẽ tiêu chung ở trong những xứ thuộc quyền chính phủ Việt nam và những xứ của Ðông Dương.
Ðồng tiền đó tức là đồng bạc Ðông Dương, do nhà băng Ðông Dương phát hành hiện nay, trong lúc chờ một cơ quan phát hành thành lập.
Ðiều lệ của cơ quan phát hành đó sẽ do một ủy ban Pháp-Việt […]
Ðồng bạc Ðông Dương phải thuộc vào phạm vi đồng Phật Lăng. (A:108)
Ðây là lý do chính cho tàn sát Hải Phòng: Pháp muốn kiểm soát mệnh giá đồng Phật lăng của Ngân hàng Ðông Dương, đang bị thất thoát qua Tàu, trong lúc quan kim của Tưởng đang lạm phát trầm trọng.
Ngày 17, HCM giải thích với hàng ngàn Công binh Việt tại Marseille, “Ta như người có ruộng mà không có thóc, Pháp như người có thóc mà không có ruộng, nay hợp tác thì hai bên đều có lợi. Kiều bào hiểu chưa?” Không ai hiểu cả, vì không mời thì Pháp cũng đã đến rồi! (A:117)
Ngày 18, HCM lên tàu về nước.
Từ ngày 29 tháng Tám, lính Pháp đã chiếm sở Ðoan và sở Công an Việt, bắt đi một số người. Từ ngày 15, Pháp nắm trong tay quyền kiểm soát hải quan và hải phận Hải Phòng, nơi người Việt xuất gạo để đổi lấy vũ khí của Tàu.
Ngày  20 tháng Mười một, trừ khu dân Pháp, Hải Phòng nổi dậy chống quân Pháp chuyên quyền […] Lối 8 giờ sáng, súng nổ vang trời, tiếng súng cối pháo kích làm rung chuyển thành phố, thiết giáp Pháp tấn công, lao vào các chiến lũy người Việt…Nửa thành phố bị phá trụi dưới lằn đạn các đại pháo từ 3 chiến hạm ngoài khơi bắn, chuẩn bị cho bộ binh tiến lên. (B:361).
Theo A. Werth, (“Background of the Indo-China War- dẫn tài liệu của D.Hemery và P.Devillers có từ Thư khố Bộ Thuộc địa”), thì…
10 giờ sáng [Nov 23 -1946] quân Pháp tiến vào Phố Khách, gặp chống trả của người Việt; Dèbes [Ðại tá] gọi chiến hạm Suffren bắn vào thành phố. Theo Ðô Ðốc Battet, “6 ngàn người Việt – đàn ông, đàn bà, và trẻ con - hoặc chết cháy dưới súng phun lửa của bộ binh, hoặc đạn đại bác Hải quân bắn vào.” (C:339)
Hãng Thông tấn Pháp AFP, trấn áp mọi tin liên quan đến vụ tàn sát (1), sợ Ðại tá Dèbes nổi giận, chỉ vài tháng sau mới loan tin qua loa biến cố mà sau này dẫn đến Ðiện Biên Phủ.
Các báo chí bên Pháp, Le Figaro, le Monde, L’Epoque, và Aube lúc ấy đang lo “cảnh giác nếu chính quyền Pháp thiếu cương quyết”, sẽ “mất Ðông Dương”.
Không 1 báo nào loan tin Tàn Sát Hải Phòng. (C:340).
Sau đó thì đến lượt tàn sát Hà Nội, ngày 19 tháng Chạp.
Tất cả, từ Modus Vivendi, khởi sự nổ bùng chiến tranh Việt Nam.
Modus Vivendi, có là điều chẳng đặng đừng, và có là sáng kiến của riêng H.C.M?
a). Chẳng đặng đừng?.
Sau Thế chiến, Pháp kiệt quệ. Phí tổn chiến tranh sẽ quá lớn, và lòng  người dân Pháp không muốn thêm chết chóc cho con em họ nữa. Chính vì ký Thoả hiệp án mới làm quân Pháp có cớ đổ bộ trở lại Việt Nam.
b). Sáng kiến “cụ Hồ”?
Trong lịch sử Quốc tế Ba, đã có 2 lần Stalin đòi Thỏa Hiệp án. Thỏa hiệp với đế quốc là chủ trương Stalin. Lần 1, khi Tưởng đòi Bắc chinh dẹp sứ quân Hoa Bắc, Stalin đã đề nghị Thỏa hiệp Án với Trương Tác Lâm (1926). Lần 2, quân Tưởng yếu thế rút dần về Hoa Nam, Stalin đề nghị Mao Thoả hiệp Án với Tưởng (1948).
“Sau tàn sát Quảng Châu - Thượng Hải 1925-27 của Tưởng Giới Thạch, Stalin tuyên bố tại hội nghị Postdam, rằng Tưởng “là lực lượng chính có thể cai trị Trung hoa,”Phải chăng nói thế để lấy lòng Ðồng Minh. Chưa chắc. Thật ra, Stalin không tin khả năng của Ðảng CSTQ có thể thắng được. Nên cho đến 1948, còn cố thuyết phục Mao nên Thoả hiệp với Quốc Dân đảng. Một bức thư của Quốc tế Ba, gửi cho Ðại hội đảng CSTQ ngay trước khi Hồng quân tiến chiếm các tỉnh quân Tưởng rút lui. Cộng sản Tàu khước từ đề  nghị này.
Trên tờ Times, ghi lại, “Cho đến tháng Bảy 1948, Nga không tin tưởng, cũng như không muốn một chiến thắng tức thì của Cộng trên đất tàu. Ðang trong lúc CS Tàu đang họp về chiến dịch mùa Thu, thì có khuyến cáo của Nga, là nên tiếp tục chiến tranh du kích trong tương lai, để làm yếu Mỹ, nước đang ủng hộ Tưởng. Nga chống kế sách tiến chiếm thành phố của Hồng quân. Ðại hội CSTQ bác khuyến cáo này. (The Times, 27 June 1950.)
Trước đó, khi giữa thập niên 1920, Tưởng muốn Bắc chinh, tháng Ba 1926, Chính trị bộ Liên xô nghị luận về việc này, Stalin nhấn mạnh, Tưởng chỉ nên củng cố tại Hoa Nam, và nên có Modus Vivendi (Thoả Hiệp Án) với Trương Tác Lâm. Tưởng bác bỏ khuyến cáo.( I. Deutscher, C: 43 fn.)
“Cụ Hồ” đề nghị “chuyện chính trị để người làm chính trị lo”, và , “đồng bào cứ đi theo tôi”.
Vậy đồng bào không làm chính trị đã không biết những gì, mà “cụ Hồ” biết những gì?
-Ðồng bào không làm chính trị, không biết Stalin chính thức giải tán Comintern (Quốc tế Cộng sản) ngày 15 tháng Năm 1943.
-Những điều “Cụ” biết:
Những ai không theo Stalin đều bị bẻ gãy, như trong các vụ án Mátcơva 1936-38 ở Nga. Bài học bên Tàu của Trần Ðộc Tú vào tù 1932 còn đó. Ðảng Cộng sản Pháp, ai theo đường lối Stalin thì còn sống (như Thorez), ngoài ra bị trục xuất (như A. Rosmer, Monatte, Souvarine). Các đảng Cộng sản Ðông Âu, Ðức, Ba lan…đều như thế cả. Năm 1938, Ðệ Tứ Quốc tế thành lập, thì 1940, Trotsky bị ám sát. Người “Cụ” từng phụ tá là Borodin đang trong tù (sau chết năm 1949, trong tù,)
Vậy đàng sau cánh gà của sân khấu Modus Vivendi lúc nửa đêm tại nhà riêng Moutet, hẳn có người nhắc tuồng - không phải sáng kiến của riêng “Cụ” - tức là từ Quốc tế Ba, của Stalin.
Cũng trong thời gian ở Pháp HCM tuyên bố với Daniel Guerin, “Ai không theo đường lối tôi sẽ bị bẻ gãy.”(B:361)
II.Hậu Qủa: Nghệ thuật bẻ gãy của “Cụ Hồ”.
Sau tàn sát Hải Phòng, là tàn sát Hà Nội. Tự Vệ thành đục tường kháng chiến rồi rút lui. Ngày 20 tháng Chín, quân Pháp kéo cờ tam sắc tên nóc toà Thị chính. Ðó là hậu quả đầu tiên của Modus Vivendi cho xương máu kháng chiến – đa số nông dân - về sau.
Những người bị bẻ gãy? Là những ai đòi độc lập, đòi thống nhất ngay sau Hiệp định Sơ bộ đều bị bẻ gãy. Suốt Nam ra Bắc, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch…cho đến Huỳnh Phú Sổ đều chết mất xác. Những người chỉ đòi góp ý kiến cũng có số phận bi thương, như Nguyễn Hữu Ðang, Phan Khôi…Và những cái chết mờ ám của các Tướng Nguyễn Sơn, Nguyễn Bình.
Tinh hoa nhất của Việt Nam thời bị đô hộ bị tận diệt, không bởi chính quyền Thuộc địa, mà bởi “Cụ Hồ” và đảng của “Cụ”, đảng “Lao Ðộng” (sau đổi là Ðảng Cộng Sản) bẻ gãy. Nay chỉ còn những con cá rô của “Bác Hồ”( Con cá rô ơi chớ có buồn/Chiều chiều Bác vẫn gọi rô luôn. -Tố Hữu.) Không ai có tiếng nói khác.
Theo đường lối Stalin, (Stalin, từng bị tố cáo là,”Kẻ đào mồ chôn Cách mạng”), nhưng ở Nga, những người bị Stalin bẻ gãy, nay được phục hồi danh dự gần hết: Bulkharin, Sverdlov…Bên Tàu, thì đã phục hồi cho Lý Lập Tam, Lưu Thiếu Kỳ…Cả Nga lẫn Tàu đã bỏ tệ Sùng bái Cá nhân. Chỉ có Việt Nam thì chưa. Nên không một ai từng bị bẻ gãy được phục hồi tên tuổi. Tài tình?
Người Việt Nam nghe “Cụ” tuyên bố, là đọc Mác-Lênin rất xúc động, nhưng “Cụ” cũng nói, là “muốn Ðộc lập trước”. Ðể Ðộc lập, “Cụ” nhờ hết. Các Ðế quốc, như ”nhờ Nga, Tàu, Mỹ, Pháp” để có Ðộc lập. Nhờ hết, trừ Vô Sản. Cho nên, chủ nghĩa Mác – Lênin chưa 1 ngày thực hiện ở Việt Nam. Nhưng không ai động chạm đến “Cụ”, mà “Cụ” vượt cả Mác, vì nay ai bất mãn với những bất công, chỉ đòi “bỏ chủ nghĩa Mác-Lê”, giữ lại “tư tưởng Hồ Chí Minh” - Làm thuốc bổ não cho dân Việt Nam. Thiên tài?
Ðấy mới là cái tài tình, thâm thúy, thiên tài của “Cụ”, người tuyên bố bao điều tốt đẹp, cần kiệm liêm chính, tự do, bình đẳng vân vân. Nhưng di sản thì lại là có 2 thứ pháp luật: Một cho đảng viên quan liêu của Ðảng; một cho nhân dân.
Và cho đến nay, ai viết về lịch sử, chính trị…đều im bặt, nếu không muốn bị bẻ gãy. (Theo Farida Shaheed, đại diện nhân quyền LHQ, Việt Nam chỉ có MộT bộ Sử.)
Bẻ gãy ý kiến đưa đến sự tù hãm (stalemate) tư tưởng. Trong quá khứ, những quốc gia không có sự phát triển tư tưởng, đã diệt vong. Karl Marx bảo, “tù hãm đưa đến tàn lụi của mọi giai cấp, cả thống trị lẫn bị trị.” Và, “Không một xã hội nào duy trì vĩnh viễn được nguyên trạng, status quo, kềm hãm sự đấu tranh, chỉ đến tự huỷ diệt”. Xã hội Việt Nam đang tù đọng, Ðảng Cộng sản Việt nam đang tù đọng. Trí thức Việt thì cùng nhau lên án chủ nghĩa Cộng sản. Lịch sử là tìm hiểu những cái chưa biết, hấp dẫn biết bao. Nhưng chỉ có một bộ sử, thành nhàm chán, vì ai cũng “biết hết” rồi. Và lịch sử thế giới thì càng xa vời! Nhưng chả phải cách mạng Nga, và Trung quốc đã tạo những thay đổi chấn động đó ư? (E:173-4)
***
Hegel từng phát biểu hung hăng rằng “lịch sử thế giới chuyển từ Ðông sang Tây”, và rằng “Châu Âu biểu trưng cho sự tận cùng của lịch sử nhân loại”. Nhận định quá khích này vì Hegel tin rằng thời kỳ Cải Cách và sự ra đời Nhà Nước Phổ là đỉnh điểm của sự phát triển tinh hoa nhân loại; và cũng không thiếu gì người, dù không tin Giáo Hội lẫn Nhà Nước, cũng cho rằng lịch sử thế giới đã đạt cao điểm chỉ ở Tây Phương, còn Ðông Phương, chả còn gì để cống hiến nữa, chỉ giữ vai trò phục tùng. Nhưng nào có thế? Chúng ta đã thấy cách mạng bùng ra ở Ðông Phương. Và không ngưng ở đó. Còn Tây Phương coi như đã thể hiện xong xã hội chủ nghĩa bằng vài trang sử rỗng chăng? Xã Hội chủ nghĩa còn cần vài cuộc cách mạng nữa, cả Tây lẫn Ðông.; và chả ở đâu mà lịch sử chấm dứt cả. Phương Ðông đã viết những trang sử thay đổi lớn, khởi nguồn từ tư tưởng Tây phương. 50 năm trong lịch sử Nga cho ta biết những thay đổi to tát trong một nước hậu tiến thế nào. Ðó là điều Tây phương sẽ nhìn thấy những chân trời mở ra cho chính xã hội họ, để họ thoát ra tư tưởng bảo thủ cùng lối sống thờ phụng vật dụng. Cách mạng Nga vẫn còn là bài học đáng để nghiên cứu, cả cái hay lẫn cái dở.
-Vũ Huy Quang, DEC 2013.
(Ðể chào mừng sự ra đời cuốn “Trần Văn Thạch, cây bút chống bạo quyền…” của các tác gỉa Trần Mỹ Châu&Phan Thị Trọng Tuyến)
    
1.  Vụ tàn sát Hải Phòng - nửa thành phố chìm trong biển lửa - từng được so sánh với vụ tàn sát nổi tiếng Guernica (mà Jacques Raphael-Leygues, Bộ trưởng Hải quân Pháp so sánh) xảy ra như sau: Những tàn phá đổ nát không chỉ do các trận chiến, mà trong nhiều trường hợp do chỉ thị là nhất định phải cho tụi người Việt “một bài học”. Ferrandi nêu một bằng chứng quan trọng. Tiểu đội anh ta hành quân trên đại lộ Paul Dumer,”Nhiệm vụ chúng tội mang tính chất một cuộc trừng phạt, đó là dùng súng phun lửa bắn vào khu buôn bán, nơi Việt minh có hoạt động mạnh. Ðại tá Dèbes đã có chỉ thị viết tay. Nếu như đốt một tiệm cắt tóc hay một tiệm thuốc dễ bao nhiêu, thì đốt một tiệm giày dép lại khó bấy nhiêu. Phải làm nhiều lượt và phải  quăng thêm những tạc đạn cháy mới có thể tiêu hủy hoàn toàn. Nhiệm vụ này để dọn đường cho việc tiến vào khu người Tàu.” -Chaffard, op.cit, p. 49. (B:362).


           
           


BÁC BA PHI ĐI THĂM MỸ - KỲ 130

                                      (tiếp theo)



 “Lão già” gạt ngang :
“ Cái đó đâu phải phát kiến của Đảng ta, cái đó là tinh thần bản tuyên ngôn độc lập của Mỹ công bố mãi từ năm 1776 kìa. Lúc đó đảng ta còn chưa ra đời …”
Chị Kelly Thi lại cười :
“ Nếu đảng ta không phát minh ra cái đó thì phát minh ra cái gọi là “làm chủ tập thể”.
“ Lão già” cười hô hố :
“ Đúng …đúng…”làm chủ tập thể “ đúng là phát minh vĩ đại của cộng sản Việt Nam thật. Nó chứng tỏ chỉ số IQ của Đảng ta rất cao nên mới phát sinh ra chủ thuyết vĩ đại , chưa từng có trong lịch sử đó. Chỉ có điều phát minh vĩ đại đó áp dụng vào thực tế Việt Nam khiến đất nước ta hoang, của cải xã hội thành một thứ cha chung không ai khóc, rốt cuộc chui hết vào túi cá nhân. Chính cái thứ “làm chủ tập thể” đó đã huỷ hoại tính công dân, tinh thần trách nhiệm xã hội, ngày nay ngay cả giới quan chức cũng chỉ chăm chăm “sống chết mặc bay, tiền thày bỏ túi” , có lo toan gì đến quyền lợi của người dân ?” 
Ut lúc này mới góp chuyện :
“Theo tôi “làm chủ tập thể” cũng chưa phải là phát kiến vĩ đại nhất trong thời đại ngày nay của cộng sản Việt Nam, phát minh thiên tài nhất phải  là đường lối “xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa…”
Bác Ba Phi lên tiếng :
“ Cái này tôi thấy báo đài trong nước nói tới nhiều lắm, mà thiệt tình tôi chẳng hiểu nó là cái con mẹ gì ?”
Chị Kelly Thi cười rinh rích :
“ Bác yên tâm đi, chẳng cứ gì bác, mà ngay tới ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nếu được hỏi “ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là cái gì thì ông cũng cứng , chẳng hiểu nó là cái con mẹ gì …”
Bác Ba Phi tròn xoe mắt :
“ Chị nói thiệt không ? Sao báo đài nói cả ngày mà ông Tổng Bí thơ Nguyễn Phú Trọng cũng không biết là cái con mẹ gì là sao ?’
“ Lão già “ cười hô hố :
“ Thì cũng như con ma do thày cúng bịa ra đó. Thày có thể nói nó thế này , nó thế kia nhưng hình thù cụ thể nó ra sao thì thày cũng chịu. Cũng tương tự vậy Cộng sản Việt Nam vẽ ra con ma “định hướng xã hội chủ nghĩa”, mấy anh thày cúng tức mấy anh tuyên huấn tuyên giáo tranh nhau nói nó là thế này, nó là thế nọ, nhưng rút cuộc chẳng  anh nào nói được cụ thể nó là cái gì, bởi vậy ngay đến Tổng Bi thơ cũng chịu chết không biết nó là cái gì ?’
Chị Kelly Thi ngắt lời :
“ Không biết nó là cái con mẹ gì mà vẫn hô hào kêu gọi toàn dân đi theo con đường xây dựng  chủ nghĩa xã hội mới chết chớ…”
Bác Ba Phi lắc đầu :
“ Làm gì có chuyện đó. Chẳng lẽ đảng lôi kéo toàn dân tộc đi theo cái mà chẳng biết nó là cái con mẹ gì ư ? Vô …vậy khác gì người đi theo ma hả ?”
Chị Kelly Thi vỗ tay :
“ Bác Ba Phi nói đúng đó. Chủ nghĩa xã hội chẳng khác gì một con ma . Đảng cứ khăng khăng bắt toàn dân tộc đi theo con đường bác Hồ đã chọn tức là bắt cả dân tộc đi theo con ma đó đó…”
Bác Ba Phi kêu lên:
“ Í trời ơi…sao lại nói vậy được. Tôi vẫn nghe đài báo nói đảng là trí tuệ của dân tộc, là đầu não của toàn dân. Sao đảng lại đưa dân đi theo con ma là sao ?”
Chị Kelly Thi cười rinh rích :
“ Vậy mới nói, đảng tuy là trí tuệ, là đầu não của dân tộc thật nhưng chỉ số IQ của đảng quá thấp, thấp dưới cả chỉ số IQ của một thằng đần độn bởi vậy đảng mới phát minh, sáng tạo ra toàn những quái thai kiểu như ‘chủ nghĩa làm chủ tập thể”, “định hướng xã hội chủ nghĩa”, “con đường bác Hồ chọn”…Hơn 70 năm cứ bắt dân đi theo những quái thai đó nên ngày nay nước Việt Nam mới xếp bét về đủ thứ nào thu nhập đầu người, nào chỉ số minh bạch không có tham nhũng, nào đàn áp người bất đồng, bóp nghẹt tự do dân chủ…Đó, tất cả những thối tha đó đều bắt nguồn từ cái đầu óc bã đâu, chỉ số IQ quá thấp của đảng mà ra…”
Bác Ba Phi cứ há miệng, tròn cả mắt. Từ hôm sang đây bác chỉ nghe toàn chuyện đảng tham nhũng, đảng đàn áp dân chủ, đảng ngồi lên pháp luật…Mãi tới hôm nay mới nghe chuyện đảng óc bã đâu, đần độn, toàn phát minh ra những quái thai. Đs là những hiểu biết hoàn toàn mới đối với bác Ba Phi. Bởi vậy bác cứ ngẩn ngơ cả người, ngồi nín lặng không biết nói sao ?
Ut nhìn thấy vẻ mặt bần thần của bố, hiểu ngay những gì đang diễn ra trong đầu óc bác Ba Phi. Cô vội nói :
“ Con phải dặn tía, những điều tía sang bên này nghe bà con nói về đảng, về bác Hồ, về Nhà nước thì tía cứ nghe tai này rồi cho nó thoát sang tai kia. Tóm lại là tía nên quên nó đi, coi như sang đây không nghe thấy những chuyện vậy. Tía không nghe lời con dặn cứ để những thứ đó ở trong đầu rồi bất chợt lúc say xỉn, rượu vào lời ra, tía lại cứ thao thao tuôn hết ra đằng miệng thì nguy hiểm cho tía lắm. Công an nó bắt là cái chắc….”
Chị Kelly Thi hùa theo :
“ Phải đấy, bà con bên này đa số là căm ghét cộng sản vì sau 1975 bị nó đàn áp, đầy đoạ, bắt bỏ tù chồng con, tịch thu gia sản, đuổi đi kinh tế mới làm gia đình tan nát. Đa số đồng bào một khi đã bỏ xứ vượt biên sang đây định cư thì đều căm ghét cộng sản hết. Bởi vậy họ mới nhìn rõ chân tướng của đảng và Nhà nươc đến vậy. Còn bác Ba Phi đang sống trong chế độ của nó, khác gì cá chậu chim lồng, nó muốn bắt lúc nào thì bắt,, bởi vậy những chuyện bọn tôi nói , bác nghe thì cứ nghe, nhưng tôi đề nghị bác nghe xong thì quên ngay, đừng để nó lưu lại trong đầu, chẳng may có lúc nào đó mình lỡ miệng, tuôn ra những chuyện đó thì phiền cho bác lắm. Nhất định công an nó không để yên đâu. Nó sẽ bắt bác khai bằng hết, sang Mỹ thăm con cháu thì gặp nhưng ai, họ nói những gì . Có chống đảng và Nhà nước không ? Tôi tin chắc một khi bị công an nó tra hỏi thì bác chẳng dấu được đâu. Nhất định nó sẽ bắt bác khai ra bằng hết. Nào bác gặp ai, làm việc ở đâu, quan hệ ra sao, đã phát biểu chống đảng , chống nhà nước thế nào. Tới lúc đó bác chẳng giữ mãi trong đầu được đâu, thế nào cũng phải phun ra bằng hết…”
Bác Ba Phi tự ái, nổi cáu :
“ Tôi cám ơn chị đã lo cho tôi. Nhưng tôi có phải con nít đâu. Tôi già rồi, đầu óc tuy không được học hành nhiều nhưng sang đây cũng đủ để nghe các bác nói chuyện. Tất nhiên những điều bên này các bác nói là động trời rồi. Hồi còn trong nước có mà nằm mơ cũng chẳng được nghe ai chửi đảng, chửi Nhà nước ghê gớm như vậy. Tuy nhiên tôi cũng có đầu óc của tôi biết phân biệt phải trái, trắng đen.Những điều các anh các chị bên này nói, tôi nghe hết, nghe hết nhưng không phải điều gì tôi cũng đồng tình. Những chuyện các bác nói về đảng tham nhũng, đàn áp dân oan, dân khiếu kiện, bắt bớ những người hoạt động dân chủ, những chuyện đó tôi tin chắc là có thật, ngay cả báo trong nước cũng nói tới. Duy cái chuyện các bác bảo cộng sản Việt Nam óc bã đậu, ngu đần, ngốc nghếch thì tôi chưa chịu. Phải nói trong hàng ngũ cộng sản Việt Nam cũng có nhiều người tài giỏi đấy chứ. Những người này chắc chắn sẽ làm bộ não , làm trí óc cho Đảng. Bởi vậy bộ não của Đảng chắc chắn sẽ không trì trệ , đần độn. Nếu không làm sao đánh được hai đế quốc to là Pháp và Mỹ ?”
 “Lão già” nghe bác Ba Phi nói xong, phá ra cười :
“ Oi thôi thôi…sao bác u mê quá vậy ? Việt Nam đánh thắng hai đế quốc to hồi nào ?”
Bác Ba Phi nóng mắt :
“ Tôi u mê hay chính ông. Rõ rành rành là Việt Nam ta đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ là gì ? Tôi đồng ý với ông la cộng sản có nhiều cái độc ác, thối nát, nhưng mình cũng phải công nhận công lao của họ là lãnh đạo đánh thắng Phá và Mỹ là gì ?”
Chhị Kelly Thi xua xua tay :
“ Thôi thôi…không gỉai hích cho bác Ba Phi hiểu được đâu. Chuyện này nó phức tạp lắm. Đến các đại trí thúc trong nước cũng còn mơ hồ trong chuyện này, nói gì đến bác Ba Phi. Bác thấy như Hàn Quốc kìa, rõ ràng cả vạn lính Mỹ đóng trên đất họ mà Hàn Quốc đâu có bị Mỹ xâm lược, đâu có cần đánh thắng dế quốc Mỹ ? Mà nói thật với bác , đảng ta cứ lu loa đánh tháng giặc Mỹ xâm lược , rồi đánh cho Mỹ cút, vậy mà bây giờ có lậy nó nó cũng không thèm vào cho, đành phải bám đít thàng Tàu…hi hì…”
Chị Kelly Thi tự thưởng cho mình một tràng cười dài. Ut giục :
“ Thôi tía có đi chợ Việt chợ  Mễ, chợ Mỹ gì con chở đi. Chiều nay tía còn phải trổ tài nấu món thịt kho hột vịt nước dừa cho hai vị đây ăn nữa kìa…”
Bác Ba Phi cũng muốn thoát khỏi những câu chuyện xoay quanh đề tài chính trị nên vội vàng :
“ Được được…để tía đi ngay…hai vị ngồi chơi…tôi đi mua về liền…”
Xe chạy gần tới khu thương mại, bác Ba Phi kêu cô Ut dừng xe để bác thả bộ  vào siêu thị. Cô Út ngần ngại sợ cha cô đi lạc nhưng sau cũng gật gạt :
“ Vậy còn chạy vòng vòng rồi quay lại đón tía. Mà tía phải mua lẹ lẹ lên…”
“ Được …được…”
Bác Ba Phi xuống xe rồi đi lẫn vào dòng người sang trọng đang đổ vào siêu thị. Bác đứng ngây người  ngắm nhìn những gian hàng sáng đèn và lộng lẫy. Người ra người vào tấp nập, hàng hoá bày hoa cả mắt vậy mà vẫn im lặng, không môtị tiếng động, thật chẳng bù cho chợ ở quê bác, tiếng vịt quạc, quạc, tiếng xe máy nổ ình ình, tiéng cười nói quát tháo, chửi bới…Thật đúng như  các cụ ta vẫn nói “ ồn ào như cái chợ”. Nhưng có lẽ vậy mà lại vui. Bước vào chợ quê ta, người  này dòm người kia, chen lấn, giành giật, mời chào, chèo kéo, cãi cọ…ấy thế có khi lại vui. Còn chợ bên Mỹ này cứ lặng như tờ, người nào người nấy cứ chăm chăm lo vào việc mua bán của mình, chẳng thấy ai co kéo, cãi cọ với ai, mọi việc từ chọn hàng  trên quầy, đưa xuống xe đẩy, ra chỗ tính tiền rồi lại đẩy xe tới chỗ đậu ô tô, cứ răm răp, răm  rắp như là cái dây chuyền máy vậy. Lại nữa chợ ở quê, mùi mắm ruốc, mùi phân lợn phân gà, mùi từ các đống rác, mùi thịt lợn ươn, nùi trái cây thối…tất cả cứ xộc vào mũi con người ta thành một cái “mùi chợ” rất đặc trưng. Còn ở đây, chẳng ngửi thấy mùi gì, cứ trống luễnh trống loãng như mùi…không khí vậy. Chẳng có chút nào gọi là ‘ mùi chợ” như ở Việt Nam.


                  (còn tiếp)

Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2014

CHUYỆN XƯA-NAY MỚI NÓI - KỲ 95 - Con én làm nên…mùa thi


              
Ngày 19 tháng 8 mới rồi, Trường đại học Huế công bố bài thi văn duy nhất được điểm 10 trong cả nước của nữ thí sinh Nguyễn thị Thu Trang ( sinh năm 1987) , học sinh chuyên ban của Trường Quốc học Huế. Thạc sĩ Hoàng Xuân Vinh, Giám khảo thứ nhất, sau khi đọc xong xuýt xoa: “Lâu lắm rồi mới có một bài văn đạt độ hoàn chỉnh đến như vậy”. Phó Giáo sư Bửu Nam , giám khảo thứ hai cũng cho điểm 10 . Bài thi được đọc cho cả Hội đồng nghe, và tất cả đồng thanh : bài thi trình bày đúng yêu cầu đáp án, còn mở rộng kiến thức bằng một văn phong lưu loát, chưa tính điểm thưởng cũng đã đạt tối đa. Tiếp theo, bài thi được  “chuyền tay” qua gần 50 giáo viên chấm thi đọc và đều thống nhất khen ngợi làm chấn động dư luận và được báo chí đăng tải toàn bộ kèm theo những lời reo mừng, coi như là tín hiệu tương lai rực rỡ cho môn dậy và học văn trong nền giáo dục vốn đang lâm trọng bệnh hiện nay …
Vậy sự thực ra sao ?
Ngay từ hồi tháng 3 năm 2005, trong kỳ thi giỏi văn, cô nữ sinh Nguyễn Phi Thanh, lớp 11A18 Trường THPT Việt Đức, đã chơi một đòn choáng váng vào môn dậy và học văn của cả nước trong bài thi “Giới thiệu vẻ đẹp của tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” bằng nhận xét thẳng thừng :” Em không thích tác phẩm này vì nó quá cứng nhắc, khó hiểu. Em đọc xong mà không hề có một chút xúc động hay xót thương, như vậy là lỗi tại em hay tại nhà văn không truyền tải được đến người đọc?... “
Mới đây thôi, kỳ thi tốt nghiệp Phổ thông trung học đã làm thầy cô “dựng tóc gáy” vì những bài làm văn “ khủng khiếp” :
“Mỵ và A Phủ là một đôi thanh mai trúc mã, họ thực lòng thực dạ yêu nhau quên trời quên đất, mặt dù quá xá người cản trở nhưng họ củng lấy được nhau bằng cách dắt nhau đi vô rừng. Nhà Tô Hoài đã đề cao giá trị nhân đạo bằng cách cho cô mỵ đánh bọn cường hào ác bá kia đề dành lấy tự do và tình yêu chung thuỷ. ( Kính thưa thầy cô, em sắp bị khống rồi, lạy thầy cô chấm nương tay cho em nhờ cậy, để thấy cô tích đứt, em cảm ơn) “ hoặc :“Hôm nay, bữa thi đầu tiên, thấy thầy giám thị phát đề văn, thầy đi đi lại lại, y chang mấy người lính tây tiến nên em có cảm hứng phân tích một đoạn bài Tây Tiến”.
Cho tới kỳ thi vào đại học , tình trạng “văn dốt chữ nát” vẫn tràn lan trong các thí sinh cả nước.Tại khoa Văn, đại học Quốc gia Hà Nội, 9.000 bài thi khối C đã chấm xong thì chỉ có 2 điểm 9, trong khi điểm 4, 5, 6 lại tăng đột biến đến không ngờ. Một nữ tiến sĩ văn học rất mệt mỏi chấm một túi 36 bài toàn là những bài văn đều đều, thậm chí vô hồn và vô cảm. Chị nêu ví dụ, đề thi yêu cầu phân tích truyện ngắn Vợ nhặt nhà văn Kim Lân thế nhưng vì lâu nay, họ quen thói bê nguyên xi một bài văn mẫu ở lò luyện thi vào bài thi nên không ít thí sinh  viết “ba lăng nhăng”. Có em còn lạc đề một cách khó hiểu như đề yêu cầu phân tích nhân vật Hộ trong Đời thừa của Nam Cao thì lại đi phân tích nhân vật Độ trong tác phẩm Đôi mắt: "Mỗi người có hai con mắt, một con mắt sinh học và một con mắt tâm linh". Lỗi chính tả trong bài thi văn "nhiều như trấu": "dòng thơ bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm lãng mạng ơi là lãng mạng", "Nguyễn Khoa Điềm sáng tạo ra âm hưởng chữ tình trính chị để xây nên một Mặt đường khát vọng hoành tráng", "Cuộc sống mà Nam Cao không bàng quang"… Người ta nói đùa rằng thủ phạm đang giết chết nền văn học hiện nay chính là thí sinh thi đại học đã viết ra hàng ngàn bài văn chất lượng tầm tầm với thái độ "lãnh cảm" với văn học.
 Tại sao việc học và dậy văn lại lâm tình trạng “Đúng là nguy thật! Điều đó đôi lúc khiến chúng ta phải giật mình lo sợ” như lời Phó Giáo sư Trần Hữu tá trả lời báo Tuổi Trẻ. Giảng viên Bùi Việt Thắng, khoa Văn Đại học Khhoa học & Nhân văn cho rằng, việc phân tiết học quá hạn hẹp trong khi cơ cấu chương trình quá nặng nề buộc học sinh phải học văn theo kiểu "nhồi nhét", hiểu tác phẩm đã khó, nói chi đến sự rung cảm. Thạc sĩ Thu Hoà, nguyên là giáo viên chuyên Văn của Trường THPT Lê Quý Đôn (Hà Đông), lại đổ lỗi cho các sách tham khảo. Chẳng hạn, "Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe", trong bài Thu ẩm của Nguyễn Khuyến được sách viết lại thành : "Mắt lão không viền cũng đỏ hoe".  "Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san"  của Nguyẽn Du  đã bị  "biến dị" thành: "Rừng thu nay đã nhuốm màu quan san". Nhà thơ Nguyễn Công Trứ vốn "ngất ngưởng", kiêu bạc, bản ngã mạnh mẽ, nhưng sách lại "tán" nhà thơ "nép mình chốn cửa Phật".
Tuy nhiên không ai dám chỉ ra cái nguyên nhân cốt lõi của thảm trạng dậy và học văn hiện nay là học sinh bị nhồi nhét hầu hết những tác phẩm mang tiếng là văn học nhưng lại nghiêng về chính trị, hoặc những tác phẩm văn học cách mạng trong đó phần lớn là bịa đặt và giả dối khiến cả thày lẫn trò phát ngấy.
Trong cái toàn cảnh ảm đạm vậy, bài thi được điểm 10 của cô nữ sinh Nguyễn thị Thu Trang được coi như “cứu tinh” lấy lại uy tín cho cả ngành giáo dục.
Sự thực, giá trị nó ra sao, liệu nó làm nổi vai trò “một con én” làm nên cả mùa xuân cho việc học và dậy môn văn hiện nay chăng ?
Như nhận xét của Hội đồng, “bài thi trình bày đúng yêu cầu đáp án,”, như vậy là khác hẳn với cô nữ sinh Nguyễn Phi Thanh dám có ý kiến riêng chê “Văn tế chiến sĩ Cần Giuộc”, cô thủ khoa văn này nhất nhất lặp lại toàn bộ những gì người ta nhồi nhét vào đầu cô.
Câu I (2 điểm):” Anh/chị hãy trình bày những nét chính trong sự nghiệp thơ văn của Xuân Diệu. “.
Cô thí sinh viết theo kiểu cảm nhận “chính trị” :
Hơn năm mươi năm lao động miệt mài trong thế giới nghệ thuật ấy, con người và thơ văn của Xuân Diệu đã có sự chuyển biến rõ nét từ một nhà thơ lãng mạn thành nhà thơ cách mạng. Đó là bước chuyển tất yếu của một trí thức yêu nước, một tài năng nghệ sĩ.” .
 Thật đúng  là thuộc bài như một con vẹt .
“Xuân Diệu chào mừng cách mạng với Ngọn quốc kì (1945) và Hội nghị non sông (1946) với tấm lòng tràn đầy hân hoan trước lẽ sống lớn, niềm vui lớn của cách mạng.”. Rồi cô phóng bút :” Nhà thơ hăng say viết về Đảng, về Bác Hồ, về Tổ quốc Việt Nam, về quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội miền Bắc và công cuộc thống nhất nước nhà. Các tác phẩm tiêu biểu: tập Riêng chung (1960), Hai đợt sóng (1967), tập Hồn tôi đôi cánh (1976).
Kể ra nếu còn có một chút thành thực, ắt hẳn cô thủ khoa này đã thấy những tập thơ cô vừa nêu chỉ là một thứ thơ tào lao, tuyên truyền sống sượng, chẳng có mấy tí giá trị nghệ thuật.
Câu II (5 điểm): Phân tích vẻ đẹp của tình người và niềm hy vọng vào cuộc sống ở các nhân vật: Tràng, người vợ nhặt, bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ nhặt (Kim Lân).
Lẽ ra chỉ cần vài trang là đủ, cô thủ khoa kéo tới gần chục trang, lan man phân tích, khoác cho nhân vật nỗi khao khát  cách mạng vốn nó chẳng biết là cái chi chi :“nhà văn đã để những số phận như anh Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ được thăng hoa trước ngọn cờ đỏ phất phới cùng đám người đói phá kho thóc Nhật ở cuối thiên truyện.”  Và “Chính tình yêu của người vợ, tình mẹ con hoà thuận ấy đã nhen nhóm trong hắn ước vọng hạnh phúc, niềm tin vào cuộc sống sẽ đổi thay khi hắn nghĩ đến đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới.” .
Rồi thì cô tranh thủ ca ngợi cách mạng :
Đêm tối ấy rồi sẽ qua đi để đón chờ ánh sáng của cuộc sống tự do đang ở phía trước, trước sức mạnh của cách mạng…” và lên án thực dân phong kiến :”Thị tuy theo không Tràng về chỉ qua bốn bát bánh đúc và hai câu nói tầm phơ tầm phào của Tràng nhưng chúng ta không khinh miệt thị. Nếu có trách thì chỉ có thể hướng vào xã hội thực dân phong kiến kia bóp nghẹt quyền sống con người.”
3: (3 điểm)
Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Kính gửi cụ Nguyễn Du của Tố Hữu:
Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày
Hỡi người xưa của ta nay
Khúc vui xin lại so dây cùng người!
Cô thủ khoa chưa kịp bình giảng gì đã ca ngợi tới tấp :
Tố Hữu, một nhà thơ chiến sĩ, một người thư ký trung thành của thời đại ấy đã cùng hành trình làm cách mạng tiếp cận với thơ ca. Thơ ca đối với ông không ngoài mục đích chính trị, phục vụ cho lý tưởng của Đảng, của cách mạng. “
 Rồi thì cô nói liều :
Bài thơ đã thể hiện một cách cảm nhận, suy nghĩ và đánh giá của Tố Hữu tiêu biểu cho thế hệ hôm nay nhìn về quá khứ lịch sử của cha ông xưa để từ đó khẳng định cuộc kháng chiến chống Mỹ hôm nay của dân tộc.”,
Rồi thì dùng sai từ :
đại thi hào vĩ đại của dân tộc Nguyễn Du, một thi hào kỳ tài ấy đã chắp bút .
Rồi thì cà kê rối rắm :
Trên trục kết cấu "xưa-nay", "con-Người" cùng vang lên tiếng lòng khát khao tìm kiếm tri âm. "Con" sẽ cùng "Người" hát tiếp khúc tráng ca ấy chào đón cách mạng. Chữ "cùng" đã thể hiện đầy đủ ước vọng của chúng con và Người. Tình cảm ấy, nghĩa cử ấy thật đáng tự hào và trân trọng.”
Mặc dầu được các thầy và báo chí thổi lên mây xanh, ngay tại trường cô thủ khoa học, vẫn có thầy giáo dậy văn nhìn nhận khá khách quan. Thầy Mai Văn Hoan (giáo viên văn Trường THPT Quốc Học - Huế) nhận xét :
Đọc bài văn điểm 10 này, tôi vừa mừng vừa lo, vừa vui vừa buồn. Mừng và vui vì lâu lắm rồi mới có một điểm 10 môn văn trong kỳ thi đại học. Nhưng tôi lại cảm thấy lo và buồn. Điều đáng lo nhất, qua bài văn này, đó là cách trình bày vấn đề: đủ ý nhưng dài dòng quá. Về cách diễn đạt, bài viết còn đôi chỗ vụng và hơi sáo. Và đây cũng là tình trạng chung của học sinh hiện nay”
Tuy nhiên, cái khiếm khuyết chết người của bài thi lại ở chỗ “bài thi trình bày đúng yêu cầu đáp án,”. Chính vì thế nó sáo rỗng và giả dối, căn bệnh trầm kha không thể nào sửa chữa của nền giáo dục Việt Nam nhất trong giảng dậy môn văn đang bị các cán bộ của Bộ giáo dục kiểm soát rất chặt. Và ngay cả tác giả của nó, cô nữ sinh Nguyễn thị Thu Trang sau khi đã chiếm thủ khoa cũng đâu có theo ngành văn, cô xin vào học khoa sinh vật học.

                                                                            22-8-2005

                                                                  
        



PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 31




                                                 
  (tiếp theo)

Tôi gật đầu dù không biết chắc về cái tin đồn. Đầu đuôi câu chuyện là do lính gác trại xì ra cho mấy cô gái biết và đám đàn ông đã bàn bạc liền ngay đó. Người gốc lính hoặc viên chức thời miền Nam VNCH như ông Hưng ông Thăng, ông Phát... đều phấn khởi vì nghĩ vào được Sungei Besi thì chỉ chờ làm thủ tục đi định cư tại đệ tam quốc gia. Phải chuyển ra đảo Bidong thì bị xét lý lịch và phải chờ rất lâu nếu nhân thân lờ mờ hoặc thuộc phe Việt Cộng. Đỉnh ngồi cạnh, hích nhẹ đùi vào chân tôi miệng cười tủm tỉm. Yến đã hai lần mang cho tôi mì gói và thuốc lá. Tôi không hút thuốc định đem trả thì Đỉnh giữ lại dành phần cho nó. Sau lúc đôi co giữa tôi với cậu thanh niên đòi lại bộ quần áo rồi do sắp xếp, Đỉnh và tôi nằm sát bên nhau trong căn nhà lều khiến cả hai thân thiện với nhau hơn, đi đâu cũng hai đứa. Có lần Đỉnh đã kể về cha ruột hiện đang sống tại Mỹ.

- Ba em là trung úy tòng sự tại nha an ninh quân đội miền Nam VNCH. Sau ngày 30-4-1975 ổng bị Việt Cộng tập trung cải tạo như các sĩ quan khác. Mẹ em tưởng chỉ có một tháng sẽ về nào ngờ ông đi đằng đẵng cả mấy năm. Anh biết khi đó em mới có 13 tuổi còn niên thiếu, biết gì. Lúc mấy tháng đầu không thấy ba trong nhà, em cứ hỏi mẹ rồi hỏi mãi thì mẹ em gắt không biết nên sợ không dám hỏi nữa. Cả năm trời không thấy ba em về mà cũng chẳng có tin tức gì của ổng, mẹ em ra chợ Tân Bình, sang lại một sạp buôn bán quần áo cũ sống qua ngày chờ xem tình hình. Bất ngờ có thư của ba gửi về cho biết chỗ ổng bị giam, mẹ em mừng quá liền đi thăm ngay nào ngờ khi đến nơi, quản giáo nói ông đã bị chuyển sang trại khác. Mẹ em đành quay về, lên phường xin giấy đi thăm nuôi thì bọn công an bảo chưa được phép, phải chờ. Chờ cả mấy tháng trời không được cấp giấy, mẹ em lại đến trại của ổng thì được biết đã chuyển đi nơi khác rồi và lần này thì quản giáo không biết ổng chuyển đi đâu nữa. Mãi hơn ba năm cho đến một hôm thì tự dưng bọn công an phường đến nhà hỏi thăm nhiều chuyện về ba càng làm mẹ em lo lắng, rối trí thêm. Rồi một lần, có vài người lạ mặt đến gặp mẹ em và gặp riêng cả em nữa anh. Ngừng một chút, Đỉnh tiếp: " Mấy người đó tự xưng họ ở trong tổ chức phục quốc và muốn liên lạc gấp với ba em, hỏi em biết ba đang ở đâu thì chỉ chỗ. Em đâu biết phục quốc phục kiết gì. Phần mẹ em thì ngạc nhiên vì từ lúc ba đi cải tạo tới giờ còn không biết chỗ để liên lạc thăm nuôi. Khi mấy người này đi khỏi nhà thì mẹ em lờ mờ đoán đã có chuyện với ba em. Khổ cái gia đình không biết đi hỏi dò tin tức ở đâu ". Đỉnh dứt lời, ngồi im lặng như nhớ về chuyện cũ.

- Rồi sao nữa, kể tiếp? Tôi hỏi dồn Đỉnh.

- Một ngày vào cuối năm 1980, lúc đang bán hàng ở chợ thì mẹ em tình cờ gặp lại một thuộc cấp dưới quyền ba em khi trước. Nhờ ông này, mẹ em liên lạc được một người cải tạo đã có lúc ở chung trại với ba em và được chính quyền CS thả về sớm. Đến nhà ông ta rồi thì mẹ em mới biết ba đã trốn khỏi trại Suối Máu từ cuối năm 77. 

- Trốn khỏi trại từ năm 77 mà ba mầy không về nhà? Tôi hỏi.

Đỉnh lắc đầu, kể tiếp: " Mẹ em nghe tin kể, về đến nhà thì lâm bịnh vì chuyện đó. Thời gian ổng bỏ trốn trại, tính ra đã quá lâu mà không thấy về nhà nên mẹ em nghĩ ba đã chết. Mẹ em bịnh nằm đó, bỏ mặc việc đời. Lúc đó em đã hơn 18 tuổi nên phải thay mẹ bán hàng nuôi cả nhà. Quên không nói anh biết trong nhà còn 2 đứa em gái nữa. Chính vì bán hàng ở chợ trời nên khiến em có cái tính du côn trong người nhưng thực sự không phải như vậy. Đỉnh cười hiền lành, tiếp: " Cả năm trời mẹ em nằm liệt trên giường gần như buông xuôi tất cả thì gia đình nhận được tin ba em đang sống tại Mỹ ".

- Sống ở Mỹ! Sao biết ba em ở Mỹ? Tôi ngạc nhiên:

- Từ lá thư của ổng gửi bên Mỹ về và nó đã cứu mạng mẹ em. Trước lúc đó, anh biết sức mẹ em yếu lắm, bà buồn rồi bịnh gần như sẽ chết. Lá thư là thuốc tiên đã làm bà trỗi dậy được và hồi phục nhanh chóng. Sau lá thư là các thùng hàng ba em gửi về giúp gia đình. Nhờ vậy mà mẹ em đã có phương tiện để lần lượt lo cho từng người trong nhà đi vượt biên, kể cả mẹ em nữa. Người trong nhà em đi chuyến nào thắng chuyến đó, chỉ có mình em bị trục trặc hoài. Đánh chuyến nầy mới thoát đó anh.

- Ba mầy trốn khỏi trại tù cải tạo rồi sau đó vượt biên tới Mỹ phải không Đỉnh? Chuyện ly kỳ nha mầy mà có biết chuyện của ông trốn trại như thế nào không? Tôi thắc mắc.

Đỉnh lắc đầu, tiếp: " Đại loại câu chuyện là vậy. Em cũng không biết chuyện ông đã làm ra sao, định bụng khi nào sang được Mỹ gặp nhau thì sẽ hỏi cho rõ ".

- Phải bị chuyển ra ở đảo Bidong khổ lắm, Yến nghe bảo còn phải chở nước uống từ đất liền ra nữa phải không hai anh? Lời cô gái kéo tôi về cuộc trò chuyện, Đỉnh ngồi yên không đáp, tôi nói:

- Anh không biết rõ. Nếu có như vậy thì chật vật thật mà cũng không chắc vì đảo nào cũng có các nguồn nước ngọt tự nhiên. Tôi kể cho Đỉnh và Yến nghe về lần bị kẹt ở hoang đảo trong chuyến đi vượt biên kỳ trước. 

Có lần khi ở trong căn nhà lều, Đỉnh lôi trong túi xách vài tấm hình mầu gia đình chụp bên Mỹ ra cho tôi xem. Trong các hình, ba mẹ Đỉnh trông thật sang, đứng bên nhau trước khuôn viên một căn nhà thật đẹp có sân cỏ xanh rì bằng phẳng hoặc gần những bụi hoa bên cửa sổ lớn. Hai em gái Đỉnh trông thật duyên dáng ngồi ở sofa phòng khách gần bên cái TV to đùng. Vườn sau nhà, trồng những cây đào đang mùa cho trái. Những trái đào to mơn mởn thấy rõ cả các lông tơ trên bề mặt. Đỉnh lấy tay chỉ vào trái đào trong hình hỏi:

- Anh biết trái đào này giống cái gì không?

- Giống cái gì? Tôi hỏi nó.

- Gò má con Yến đó. Trời ơi! Được cắn nhẹ vào đó một cái thì sướng lắm. Đỉnh cười thành tiếng, tiếp: " Làm tới đi anh Vũ ơi ".

- Mầy cứ đùa tao. Tôi trả lời.

- Không, không đùa đâu. Em biết con nhỏ thích anh. Anh không nhào vô ngay để thằng khác vớt mất uổng lắm. Đỉnh nhìn tôi.

- Thôi Đỉnh ơi! Nói tầm bậy tầm bạ không hà. Tôi ngắt lời.

- Thiệt! Em nhìn cặp mắt khi con nhỏ nói chuyện với anh là em biết liền. Chịu anh lắm đó anh Vũ. Tin em đi.

- Mắt nó! Sao mà mầy biết nó chịu... tao. Nói nghe coi.

Đỉnh kẹp các tấm hình trong một quyển sổ rồi cất chúng lại vào túi xách xong, khẽ nói với tôi:

- Cặp mắt ướt rượt, đắm đuối khi nhìn anh là hiểu rồi. Em quan sát kỹ mỗi khi anh và nó nói chuyện với nhau. Tình yêu đến từ đôi mắt... Kinh nghiệm đã dạy em.

Kinh nghiệm của Đỉnh, theo nó nói là nhờ những năm tháng bán hàng ở chợ trời Tân Bình mới có được. Mỗi khi có khách ghé vào sạp, nó chỉ cần nhìn cặp mắt, lời nói và thái độ thì đã biết ngay người đó có muốn mua hàng hay không? Có khách say món hàng, chỉ sợ bị mua tranh mất khi thấy người khác mới đến xem. Những lúc như vậy thì rất ngon ăn, cầm chắc sẽ bán món hàng với giá hời. Ngay cả khách khi đến đưa hàng của họ ra để bán, Đỉnh kể nó có thể biết người khách muốn bán thật hay chỉ vờ dọ giá qua lời nói và thái độ. Đỉnh cười đắc chí rồi quay lại chuyện của Yến.

- Con nhỏ thích anh lắm mà em hỏi thật, anh và nó đã làm gì ở dưới ghe với nhau. Khai báo ngay.

Tôi kể vắn tắt cho Đỉnh biết về cái va chạm nhỏ giữa tôi và cô gái khi ở dưới khoang hầm cá lớn. Đỉnh yên lặng chốc lát rồi nói:

- Con gái nó vậy đó. Thích, thương hoặc ghét một thằng cà chớn nào có khi chỉ bắt nguồn từ những cái nhỏ nhặt, bất thường. Con nhỏ xinh gái lắm chứ anh, bộ anh không biết à? Nhào vô đi, đừng chần chờ nữa.

Đỉnh khỏi nói ra thì tôi cũng biết Yến rất xinh. Đỉnh xúi nhào vô, thật sự trong tim tôi có lúc vẫn còn hình ảnh của Ánh Phương và của cả Hường nữa. Ánh Phương thì chưa biết số phận ra sao còn Hường, chắc nàng vẫn mong sẽ có thư tôi sớm. Nghĩ về Ánh Phương và Hường làm tôi im lặng, phân vân. 

Một buổi trưa khi đang thiu thiu ngủ trong căn nhà lều thì tai tôi nghe có tiếng la hoảng hốt vọng lại ở bên ngoài. Tiếng la từ phía cổng trại, tôi chạy vội ra xem. Một đám người lớn nhỏ đứng lố nhố chỉ tay về hàng cây rừng cạnh đường mòn hướng đi ra suối. Một con vật khá to, lông đen tua tủa đang lững thững đi từng bước từng bước về phía trại. Đầu con vật lúc lắc khi sang phải khi sang trái và có lúc, nó dừng lại nhìn đám người chúng tôi. Hai cái nanh vàng lườm dài cả gang tay lòi ra ở bờ mép, có người la lớn.

- Heo rừng bà con ơi, gọi tụi lính mang súng ra bắn nó.

Nghe ồn ào, hai gã lính gác tay thủ súng trường M 16 từ trong căn nhà lều nhỏ đi đến chỗ đám đông chúng tôi. Một phụ nữ tay chỉ con heo rừng, miệng lí nhí vài câu tiếng Anh: " Animal, animal... shoot... shoot, please ". Con heo rừng chết tới nơi, ai cũng hồi hộp chờ xem một cảnh bắn thú hoang trước mắt. Thật ngạc nhiên, vừa thấy con heo rừng đó thì hai gã lính vội khoát tay xua chúng tôi quay trở ngay vào trại. Vài người còn cố nán lại nhìn con vật không có vẻ gì sợ người, đủng đỉnh đi từ từ và sắp khuất sau các bụi cây ở bìa rừng. Đuôi con heo, như một cái cái chổi cùn nhỏ vẫn còn quất qua đảo lại ở bờ mông to.

Đám chúng tôi bước trở vào trại thắc mắc tại sao bọn lính không bắn hạ con heo rừng? Phải chi hạ nó, ngay tối nay cả trại sẽ có món thịt quay thịt nướng ngon phải biết. Sống ở rừng, việc gầy một bếp than hồng rực lửa đâu khó khăn. Thịt heo tươi như thăn, đùi... mà nướng trên bếp than hồng còn gì hơn! Mỡ chảy xuống các hòn than đỏ, mùi thơm ngào ngạt bốc lên sẽ điếc cả mũi. Còn bộ lòng nữa. Không có nồi lớn để nấu cháo lòng cho cả bọn thì chia ra nấu bằng xoong nhỏ cũng xong. Chỉ nghĩ không thôi mà tiếc hùi hụi. Kể từ lúc xuống dưới ghe cho đến giờ, ai đã được nếm món thịt heo! Cơm hàng ngày trong trại chỉ rặt cá chiên rồi lại cá chiên. Cứ hết cá ngân lại cá bạc má hoặc cá lù đù rồi cá hường. Những ngày đầu ai cũng khen ngon vì bọn đầu bếp chiên cá rất dòn, ăn được luôn cả đầu. Nay ai cũng phát ngán, có dĩa cơm còn bỏ dở hơn nửa con cá. Người có tiền nhờ bọn lính mua thịt thì chỉ toàn thịt gà. Đỉnh đến bên tôi, chắc lưỡi tiếc vì cứ nghĩ nó sẽ chộp được một cái nanh heo để có dịp bịt vàng hình ông Phật đeo trừ tà.

- Anh Vũ biết không, ở chợ Tân Bình em đã thấy có người đeo những cái nanh bịt bạc nhưng ngắn ngủn đâu có dài bằng của con heo ban nãy. Uổng quá, dễ gì có bên Việt Nam mình.

Tôi và Đỉnh kéo nhau về lều tranh ngồi trò chuyện cùng những người khác. Không như bên quê nhà, thú rừng ở đây thấy người đã không sợ còn đủng đỉnh giương mắt nhìn. Người nói hai nanh lòi dài cả gang tay, con heo đã quá già thuộc loại lăn chai, độc chiếc... thịt dai nhách không ai thèm nên lờn mặt mới thong dong như vậy. Một cậu trẻ quả quyết bọn lính không bắn con heo rừng vì họ theo Hồi giáo có tục thờ heo. Câu ta so sánh với đạo thờ bò bên Ấn Độ. Nơi đó, dân chúng không dám xua đuổi khi con vật nằm ì ở giữa đường cản lối xe cộ qua lại. Thậm chí khi gặp được bò đang đái, có tín đồ còn hứng lấy nước tiểu rồi vuốt lên tóc lên mặt mình nữa. Con vật thiêng tôn giáo, như vậy ai mà dám giết. Phạm thượng sao! Nhưng ông Thái, người đã đọc kinh ở khu mộ địa khi nghe như vậy đã bật cười, cải chính:

- Cậu này nói sai rồi. Sở dĩ tụi lính không bắn con lợn lòi vì bởi tín lý đạo Hồi coi nó ô uế do bị ma quỷ đã nhập vào nên không bao giờ ăn thịt nó chứ không phải họ thờ heo đâu. Đạo Do Thái cũng tin y vậy đó.

Cậu trẻ im lặng không cải chính, ông Thái nói tiếp:

- Ngoài việc không ăn thịt heo, tín lý đạo Hồi còn không cho phép ăn thịt những giống vật bay trên trời, nằm vùi dưới bùn hoặc bò lết trên mặt đất. Họ chỉ ăn thịt những con vật có chân hai móng chẻ và nhai lại như bò, dê, cừu... thôi. Con heo, có chân hai móng chẻ nhưng không thuộc loài nhai lại còn ngựa, tuy nhai lại nhưng chân nó chỉ có một móng nên họ cũng không ăn. 

Sau hôm đó, bữa điểm tâm ngày kế thì không phải gói bánh qui nhỏ cùng bịch trà đường như thường lệ mà đám lính cho chúng tôi mỗi người một cái bánh patechaud khá lớn và một hộp nhỏ sữa lạnh. Hai thùng nước trà đường nóng thay cho nước lã đun sôi. Rồi khi nam giới chúng tôi đi tắm về, thấy một xe van trắng của hội Hồng Nguyệt đậu sẵn trong sân trại và được lệnh xếp chung hàng để ba nhân viên y tế khám bệnh, phát thuốc và chích ngừa sốt rét. Chúng tôi, mặt người nào ngươi nấy vui mừng thấy rõ và suy diễn đủ thứ tin có lợi. 

Đã thế, bọn lính cho chúng tôi món ăn mới là thịt trừu kho và đậu ve luộc trong bữa trưa. Ở Việt Nam, kho thịt hay cá đều thắng đường làm nước mầu rồi nêm bằng nước mắm và cho hành lá vào. Cục thịt trừu kho trắng nhách trong ít nước mặn sền sệt mùi gây gây, trông không bắt mắt nhưng ai cũng ăn rất ngon, dĩa để lại trên các bàn sạch nhẵn. Bữa cơm đã củng cố niềm tin của cả bọn. Phần cơm cho người lớn cũng nhiều hơn và hai thùng nước mới đổi cũng đầy tới miệng là nước trà nóng pha đường.

                                                  (còn nữa)

Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2014

CHUYỆN XƯA-NAY MỚI NÓI - KỲ 94- hành quyết nàng Thơ trên sân Văn Miếu.

 Hàng năm mỗi độ Xuân về, các thi sĩ trong cả nước lại nô nức làm thơ Tết. Nói ra thật buồn, phần lớn nhà thơ chẳng phải do “hoa đào cười trong gió   tức cảnh sinh…thơ mà chính là vì…nhuận bút báo Tết đều là tiền triệu trở lên, lâu nay đã là một thứ “quả thực” ngoài việc cống nạp cho các “cây đa cây đề”, còn thì chia cho các công tác viên tuỳ thân quen, hoặc trao đổi giữa hai toà soạn, anh in cho tôi thì tôi in cho anh,  hoặc có khi tệ hại hơn, ăn chia theo tỷ lệ giữa biên tập viên và nhà thơ.

Thơ Xuân có mùi “phong bì” vậy thật khó mà hay, huống hồ lâu nay bao nhiêu sự nhiễu nhương, quái đản sinh ra do nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm bạt cả vía Nàng Thơ nên thơ Xuân cũng giống như hoa giả vậy, dẫu có muôn hồng nghìn tía ma chẳng bói đâu ra một con ong, con bướm  bay tới “vờn cùng hoa”.
Trước hết các lão tHàng năm mỗi độ Xuân về, các thi sĩ trong cả nước lại nô nức làm thơ Tết. Nói ra thật buồn, phần lớn nhà thơ chẳng phải do “hoa đào cười trong gió   tức cảnh sinh…thơ mà chính là vì…nhuận bút báo Tết đều là tiền triệu trở lên, lâu nay đã là một thứ “quả thực” ngoài việc cống nạp cho các “cây đa cây đề”, còn thì chia cho các cônhi sĩ sót lại từ thời tiền chiến đều có thơ đăng báo Tết :
    
  “Đường phố và tán lá
        Đều nung đậm hồn người
        Khi em là tất cả
        Thì gió trải : mùa tươi”
                                                  (Nguyễn Xuân Sanh)
Than ôi, còn đâu là “mầu thời gian xanh xanh” của thi sĩ “ đáy đĩa mùa đi nhịp hải hồ” của ngày xưa nữa. Thi sĩ của “Bên kia sông Đuống” cũng hô hoán lên nào là “đẹp tươi”, “phong độ” nào là “lấm tấm vui” :
     
         “ Khí tượng đầy tia nắng đẹp trời
           Bụi mưa nhăn nhở thả chim trời
          Mong em ấm lạnh vừa phong độ
         Anh cứ tầm xuân lấm tấm vui”
                                                    ( Hoàng Cầm)
                                        
mà vẫn phải nhờ tới “anh khí tượng” (dân gian gọi là “thằng khí gió”) để diễn tả mùa Xuân thì quả thực thi sĩ đã …hết lộc thơ. Lạ một điều là năm nay nhiều ông “chủ báo” bận rộn thế mà cũng bỏ thời giờ vàng ngọc ra làm thơ tết và lại tết ở…chùa. Chẳng hạn, ông Trưương Vĩnh Tuấn, Phó Tổng biên tập báo Văn Nghệ, liệu có phải đang lo bị thanh tra sờ gáy không mà :

Bâng khuâng đứng trước cửa thiền
Cầm bằng lấy sự bình yên trở về…”

Hoặc ông Tổng biên tập báo công an nhân dân, mấy hôm nay vừa được Nhà nước phong hàm cấp tướng công an, nhà thơ Hữu Ước cũng lo xa :

Mùa Xuân nào cũng cũ
Tiếng chuông chùa cũ hơn
Xuân và tiếng chuông chùa có bao giờ xa nhau …”

Xuân tết mà cứ nói chuyện “chuông chùa” với “cũ mới” thì hẳn đang lo chuyện gì khiến tâm bất an đây.  Ong Thiếu tướng công an, Cục trưởng Cục an ninh văn hoá Bộ công an  cũng làm thơ Tết :

“Vài cánh mai nở sớm
Báo hiệu mùa Tết đến
Giữa xứ sở ngàn hoa
Nhớ sắc đào quê xa…”
                                                 ( Khổng Minh Dụ)

Buồn cười nhất là các nhà phê bình lý luận cả đời chỉ bắt bẻ các nhà văn , nhà thơ viết sao cho đúng định hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa thì năm hết tết đến cũng bỏ “lý luận” để làm thơ :

Xóm núi nằm trong thung sâu
Bốn bề sương toả
Thấp thoáng ngọn đèn
Chìm trong bóng đêm”
                                                      ( Hà Minh Đức)

Cũng may, Giáo sư tiến sĩ Phan Cự Đệ trong cặp bài trùng “ Đức – Đệ” , hai “lý luận gia” nòng cốt của Đảng chưa thấy làm thơ đăng báo tết không thì thành sự kiện của thơ tết Bính Tuất.
Các nhà thơ thuộc thế hệ “ chống Mỹ” cũng không chịu kém :

Thôi thì trời thẳm nước trong
Hãy chơi Đại Lải mấy vòng thuyền vui
Biết đâu chốc lát rong chơi
Sóng xuân lại thấy trang đời mở ra “
                                                    ( Phạm Tiến Duật)

 Sông Hồng vỗ sóng, tôi nghe
Núi cao nên chẳng khuất che tầm nhìn
Màu hoa sắc cỏ tôi tin
Thiên nhiên năm tháng giữ gìn bền lâu…”
                                                 ( Nguyễn Đức Mậu)

Sang năm mới, chúc nhà thơ “ giữ gìn bền lâu” được …nhiệt tình làm thơ tết. Các thi sĩ trẻ “hậu hiện đại” thời @ tất nhiên cũng không chịu buông lỏng trật địa báo Tết cho thế hệ cha anh :

Ngồi trên đỉnh ngày
Nhắm mắt gọi không tên tuổi
Thề thốt yêu không lời nói
Phụ tình đêm bằng sương mai…”
                                               ( Phan Huyền Thư)

“Cành – khô –  rời – lá
Cố nuôi một nụ hoa
Trong mưa
Tiếng chim ca ngất trời”
                                                  ( Ly Hoàng Ly)

Quả thực nếu che đi tên tác giả, người ta có thể lẫn lộn thơ của “thế hệ @” với thế hệ “chống Mỹ và tiền chiến “ tạo nên tình trạng “tam đại đồng đường” trong nền thi ca của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam .
Qua tết , ngoảnh đi ngoảnh lại đã tới tết nguyên tiêu, tới “Ngày thơ Việt nam “ lần thứ 4 hiện đã trở thành một ngày “quốc lễ”.
Gọi là “quốc lễ” là vì có cả các nguyên thủ quốc gia Đỗ Mười, Nguyễn Khoa Điềm , Trương Quang Được ( Phó Chủ tịch quốc hội), Phạm Quang Nghị ( Bộ trưởng Bộ văn hoá & thông tin) …tới dự. Rất tiếc, năm nay Ban tổ chức không mời mấy ông Bộ trưởng Bộ công an, Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án Toà án nhân dân tối cao…bởi lẽ mấy ông đó  đều là người…”yêu thơ” (!) , nếu được mời nhất định sẽ tới  để thắt chặt mối quan hệ gắn bó giữa “bộ máy chuyên chính” với các nhà thơ của Hội.
Ngày hội thơ được mở đầu bằng chào cờ, quốc ca, kéo cờ thơ , biểu diễn những bài “quốc thi” như  bài thơ“Nguyên tiêu” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bài thơ “Đất nước” của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, biểu diễn ca khúc “Mùa xuân nho nhỏ” của Trần Hoàn; sau đó là lễ thả thơ  của 50 nhà thơ tiêu biểu của Nhà nước. Tiếp theo màn trình diễn thả thơ là lễ kết nạp 40 hội viên mới vào Hội Nhà văn Việt Nam. Danh sách hội viên vừa được công bố, người thân và đồng nghiệp đã nhào lên sân khấu ôm hôn và tặng hoa khiến cho lễ trao thẻ hội viên bỗng chốc trở nên nhốn nháo.
Năm nay Ban tổ chức có sáng kiến chia “sân chơi” thành hai : “sân thơ già” gồm các lão thi sĩ , có “giao lưu”, có ngâm thơ, “sân thơ trẻ” dành cho thế hệ @. Trên sân trẻ ở bên nhà Thái Học, các thi sĩ thả sức tự “mác két tinh”, bởi vậy đã “mọc” lên rất nhiều “cây”. Mỗi cây thực ra là một cái bảng giống như bảng quảng cáo rất lớn trên đó tuỳ nghi “vẽ vời”. Chẳng hạn : cây Linh của Vi Thuỳ Linh có ảnh của cô cỡ lớn  và chữ “Famous” to tổ chảng, cây Tương tư của Phan Huyền Thư trình bầy tiếng nói của một người đàn bà luôn hết mình đắm say và trăn trở với những giây phút tương tư trong tình yêu,cây Mù của Dạ Thảo Phương, nổi tiếng với hai câu thơ :” Dưới chân ta/ Cả loài người say ngủ”, trên bức trướng thơ dài, cô còn tung ra 2 dấu chân nam và nữ, ban đầu chụm vào với nhau, về sau chỉ một dấu chân còn lại. Người xem đoán già đoán non: ám chỉ nỗi cô đơn? hay ám chỉ sự hoà nhập làm một của người nam và người nữ? Ngoài ra còn cây Không mùa của Bình Nguyên Trang, cây Nêu của Trần Nguyên Anh... Thường thường các thi sĩ chọn những câu thơ mình tâm đắc nhất để kẻ lên cây, nếu ai có sách “tồn đọng”, nôm na là sách ế thì mang ra bán tại chỗ tuy chẳng mấy người móc túi ra mua.
Để hỗ trợ cho “sân thơ trẻ” , còn có ông Nguyễn Thanh Sơn, Việt kiều mang tiền về nước mở  Công ty quảng cáo và truyền thông T&A, vừa rồi bị báo chí chửi xéo  lấy tư cách là nhà phê bình để “lăng xê” cây bút trẻ Nguyễn Thế Hoàng Linh lên cỡ…”thiên tài” chỉ nhằm để bán sách mà ông ta bỏ vốn ra in. Còn có cả 2 MC kiêm phê bình gia là  Phạm Xuân Nguyên và Nguyễn Thị Minh Thái làm hoạt náo viên cho thêm rôm ra. Ngoài ra còn có cả các ca sĩ như Nguyễn Vĩnh Tiến, Hồng Ngọc tới hát giúp vui…
Mặc dầu ngày hội thơ năm nay được nhận xét “ sinh động hơn, giàu chất thơ hơn”, nhưng xem ra hương hồn các cụ tiến sĩ trong Quốc tử Giám chứng kiến “cuộc hành quyết nàng thơ” trên sân nhà Thái học cũng phải buông một tiếng thở dài, đúng như báo điện tử Vnexpress  đã viết : “ xem thơ để  thấy ngậm ngùi cho thơ”…
 NT