Tổng số lượt xem trang

Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2014

YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU - KỲ 151


                           (tiếp theo)



Cửa phòng bỗng bật mở. Gã thư ký lừng lững xuất hiện. Từ nãy nấp sau cửa phòng, gã đã nghe hết mọi chuyện và hiểu hết mọi ngóc ngách giữa ông Sáu Thượng và cô gái. Gã từ từ tiến tới gần hai người, cất giọng lạnh băng :
“ Ghê quá nhỉ ! Căm thù cao độ quá nhỉ ? Khắc cốt ghi xương như ngày xưa căm thù đế quốc Mỹ xâm lược hả ? Mày không biết thân biết phận con điếm mà dám lên mặt căm thù cả phu nhân sếp tao kia à ?”
Cô gái dường như đã quá quen với bạo lực, với hiểm nguy trong đời nên cô bình tĩnh đến không ngờ, cô nhìn gã thư ký từ đầu đến chân, cười  nhạt :
“ Đúng đấy…tao căm thù con mụ vợ của ông Sáu Thượng thủ trưởng của mày còn hơn ngày xưa căm thù đế quốc Mỹ xâm lược  nữa kìa. Tao thề sẽ băm vằm mổ xẻ con mụ ấy ra vứt xác cho chó nó nhá may ra mới thoả cái lòng tao. Mà mày là thằng nào dám chen vào việc riêng của tao …”
Gã thư ký cười lớn :
“ Tao là ai thì mày không cần biết. Ngược lại về mày thì tao biết quá rõ từ hai năm nay rồi. Có điều bây giờ tao mới giáp mặt. Tao tưởng mày sắc nước hương trời như thế nào mới hút được hồn thủ trưởng tao không ngờ nom mày cũng chỉ là một con điếm thối. Mày có cút mẹ mày ra khỏi phòng không tao gọi cảnh sát lôi mày đi trại phục hồi nhân phẩm giờ…”
Cô gái gào lên :
“ A…thằng này láo…dám chửi mẹ mày hả ?”
Rồi hết sức bất ngờ cô lao tới đấm một quả như trời giáng vào mặt thằng thư ký. Hoàn toàn bất ngờ, gã chúi đầu xuống đất, văng mất cả kính biến gã thành thằng mù, chân tay cứ múa may loạn xạ. Cô gái như đang phát điên tiếp tục cứ nhè mặt thằng thư ký đấm túi bụi , làm nó toé máu , ngã ngửa ra trên nền gạch, tay chân khua chới với, miệng la hét :
“ Oi trời đất ơi…nó giết tôi…ối trời đất ơi…”
Gã thư ký thực ra cũng không đến nỗi quá yếu đuối, loẻo khoẻo, chỉ vì gã quá bất ngờ, không thể tưởng tượng nổi một con điếm lại dám hỗn láo với gã ; vả lại suốt ngày gã nhậu và hành lạc với cô tiếp viên dưới huyện thành ra  gã yếu như một con cua bấy, gã đành cứ nằm ngây đơ chịu trận đòn tấn công điên cuồng của lòng căm thù bấy lâu nay bị nhốt lại trong lòng cô gái không may rơi  vào tay bọn Khuyển Ưng   tan nát cuộc đời .
Ngày xưa, thời miền Bắc bắn máy bay Mỹ, báo chí kể lại rằng ở mặt trận cầu Hàm Rồng Thanh Hoá có cô dân quân Ngô thị Tuyển trong chiến đấu vác được thùng đạn nặng mấy trăm ký, gấp mấy lần trọng lượng thân thể cô. Nhiều nhà báo nước ngoài không tin,  quả nhiên khi được yêu cầu biểu diễn lại , Ngô thị Tuyển đã không vác được quá … 40 kí. Tuy nhiên những nhà tuyên truyền đã đưa ra thông tin này tuyệt đối không cải chính, họ cắt nghĩa hiện tượng đó bằng…sức mạnh tinh thần. Họ cho rằng khi máy bay Mỹ tới trực tiếp bắn phá, lòng căm thù địch kết hợp với lòng yêu nước đã tạo nên sức mạnh tinh thần cho cô Ngô thị Tuyển ngay trong lúc đó.  Khi hoàn cảnh đặc thù ấy qua đi, lẽ tất nhiên cô không còn khả năng vác nặng như lúc đang chiến đấu nữa vì sức mạnh tinh thần đó đã qua đi.
Thực hư về lý thuyết “sức mạnh tinh thần ” thế nào chưa trắc nghiệm nào nghiên cứu rốt ráo, nhưng trong trường hợp con bé Thật hành hung gã thư ký thì quả nhiên nhất định phải có yếu tố “ sức mạnh tinh thần”. Cái đó hình thành do lòng căm thù tội ác quá ghê tởm của bà vợ ông Sáu Thượng gây ra cho nó bị dồn nén bao nhiêu năm trong lòng nó, nay gặp lại ông sáu Thượng dù trong thời gian ngắn ngủi  nó như sống lại tất cả những năm tháng hãi hùng đó. Gã thư ký hoàn toàn không hiểu được tâm trạng con bé mang trong người dòng máu người miền Nam đang như thùng thuốc súng và gã đã dại dột chửi mắng nó, khác nào châm lửa vào ngòi nổ. Và thế là chỉ trong nháy mắt, gã đã thấy trời đất tối sầm, gã ngã quay lơ , máu toé ra mồm, ra mặt. Con bé Thật như một con thú dại xông vào gã bằng sức mạnh man rợ của lòng căm thù chẳng khác gì sức mạnh của nữ dân quân Ngô thị Tuyển vác đạn ở cầu Hàm Rồng ngày xưa.
Rất may ông Sáu Thượng kịp kéo con bé Thật ra không thì nó giết chết thằng thư ký . Một tay ông lôi nó, một tay bịt miệng nó . Nó vẫn gào lên :
“ Tôi phải giết nó…tôi phải giết nó…”
Ong Sáu Thượng phải tát vào mặt nó cho nó tỉnh ra . Ong nói :
“ Cô định giết nó hả . Cô muốn tù mọt gông sao ?
Con bé Thật dường như đã tỉnh lại. Nó chịu để ông kéo nó ra thật xa khỏi gã thư ký. Lúc này dường như bao nhiêu sức mạnh của nó đã dốc hết vào những quả đấm lên mặt gã thư ký nên nó chẳng khác gì quả bóng xì hơi, hoàn toàn sụp đổ. Nó nhìn ông với ánh mắt đờ đẫn và sợ hãi :
“Tôi không…tôi không giết nó…”
Ong Sáu Thượng kêu lên :
“ Cô lên cơn điên rồi hả ? Tôi không kéo cô ra thì cô đã giết chết nó rồi. Tôi không ngờ người như cô mà gan góc thế?”
Gã Ký Quèn vẫn nằm bất tỉnh dưới đất, máu trên mặt vẫn chảy loang ra chiếc áo trắng nom như một vụ án mạng vừa xảy ra . Ong Sáu Thượng suy nghĩ rất nhanh và quyết định :
“ Cô  phải chạy thật nhanh ra khỏi chỗ này. Tốt hơn hết là trốn đi thật xa. …”
Ong Sáu Thượng mở cặp rút hết tiền trong ví hiện có đưa cho Thật :
“ Cô cầm lấy mà sống tạm. Cô muốn tránh khỏi tù tội hoặc bị sát hại thì đừng có tìm tôi. Cô tìm tôi nhất định sẽ bị tụi nó tìm ra và lúc đó cô hiểu tụi nó sẽ trả thù cô như thế nào ? Chuyện này cô rõ quá mà…”
Con bé Thật cầm lấy tiền , trước khi ra khỏi phòng bỗng dưng nó ôm chầm lấy ông Sáu Thượng bật khóc. Cứ như bao nhiêu nỗi niềm ông già này vừa là cha nuôi, vừa là tình nhân đã mang tới cho nó cả những lạc thú thân xác cả những bất hạnh tột cùng mà vợ ông gây ra lâu nay bị chôn chặt trong lòng giờ bung ra làm nó không còn chịu nổi nữa, nó muốn bám chặt lấy ông như kẻ sắp chết đuối vớ được  cọc.
“ Ong ơi…ông đi với em…em sợ lắm…”
Ong Sáu Thượng phát hoảng đẩy nó ra :
“ Cô nói gì thế ? Tôi đi với cô sao được ? Tôi đi với cô để nó giết cả đôi à ?”
Con bé Thật vẫn ôm cứng lấy người ông :
 “ Ong đưa em đi trốn. Trốn lãi lên rừng í, nó không tìm thấy đâu, em sẽ làm vợ ông, em sẽ đẻ cho ông đứa con khác…nhé…ông nhé…”
Ong Sáu Thượng bỗng thấy lòng chùng hẳn xuống, cái cơ thể non trẻ mấy năm trước  đã mang lại cho ông biết bao nhiêu giây phút thần tiên, sau mấy năm mất tích giờ đã trở lại nằm gọn trong tay ông. Oi trời ôi, ước gì ông có phép thần thông thực hiện mong ước của cô : đưa cô đi thật xa, sống đời chồng vợ sinh con đẻ cái ở một nơi thật hoang vắng, khuất hẳn cái xã hội khốn nạn đầy nhưng âm mưu đểu cáng này đi. Nhưng mà đó vẫn chỉ là ước vọng tội nghiệp của một đứa con gái bị dồn vào bước đường cùng thôi. Ong làm sao có thể theo nó chạy trốn khỏi cái xã hội ông đang ngồi chễm chệ trên một địa vị cao chót vót như hiện nay được ? Làm sao ông có thể sống chui sống nhủi trốn tránh sự truy bắt của cả một bộ máy chuyên bắt người và giết người đang nằm trong tay  chính vợ ông, một con mụ phù thuỷ độc ác hơn cả phù thuỷ trong truyện cổ tích, giết người không gớm tay được ?
Ong đẩy bật con bé ra khỏi ông, lôi sềnh sệch nó ra cửa :
“ Trốn đi…trốn mau đi…để tôi còn gọi xe cấp cứu đưa thằng này đi…cô cứ chần chừ ở đây, tôi không đưa nó đi cấp cứu được, nhỡ nó chết thì cô tù mọt gông…”
Có vẻ như đã nhận ra mối hiểm nguy đang chờ sẵn, cô bé đã chịu rời ông Sáu Thượng ra nhưng vẫn còn ngần ngừ chưa chịu đi. Vừa lúc đó chuông điện thoại reo lên giòn giã . Ong vội vã đi tới bàn cầm máy . Từ trong ống nói vang lên giọng nói đầy bực bội của vợ ông :
“ Sao ? Tình hình sao rồi ? Ong đã thấy thằng thư ký nó về đó chưa ? Sao không thấy điện đóm gì cho tôi vậy ?”
Ong cuống lên, đầu óc bấn loạn chưa biết trả lời sao , đành cứ đứng ngẩn như tượng gỗ . Tiếng vợ ông lại vang lên chát chúa :
“ Sao ? Tình hình thế nào rồi ? Sao ông không nói gì cả ? Mồm miệng cứ như đang ngậm hột thị vậy ?”
Ong lắp bắp :
“ Tôi  ..tôi…à không..không có gì…”
Tiếng bà quát lên trong máy :
“ Không có gì là nghĩa sao ? Ong đang ở một mình hay là thằng thư ký nó lại rủ rê cúng  cho ông con đĩ nào rồi phải không ?”
Ong xua xua tay ra hiệu cho con bé Thật đi đi rồi vội  vã :
“ Không không…làm gì có chuyện đó…tôi..tôi đang ở có mình tôi thôi mà…”
“ Ong giờ cái thần hồn đó…ở địa vị ông mà sơ xuất để lộ ra chuyện gì thì ầm cả nước lên  đó…”
Ong như người đã lấy lại được  bình tĩnh :
“ Bà yên trí đi…xa bà tuyệt đối tôi không có làm chuyện bậy bạ…từ sau chuyện con bé kia tôi đã thề trung thành với bà mà..”
Ong chợt nhìn thấy mắt con bé Thật long lên dễ sợ. Nó vừa nghe câu nói “thề thốt” của ông với vợ và nó xôi  máu lên. Trong phút chốc nó quên hẳn nguy hiểm đang rình rập, nó lẳng lặng bước tới gần và bất ngờ giật lấy máy điện thoại của ông , hét vào đó :
“ Con quỷ cái…tao căm thù mày…tao cầu trời cho mày chết đường chết chợ chết giữa gươm đao,  chết không nhắm mắt…”
Không biết bên kia máy bà vợ ông Sáu Thượng nói gì  chỉ thấy cô Thật hét vào máy :
“ Mày không biết tao là ai hả ? Tao là hồn ma mà mấy năm trước mày đã đưa tao xuống địa ngục, bây giờ tao trở lại để đòi mạng mày đây . Mày đã biết tội mày chưa ? hai năm trước, mày thù tao vì tao cướp chồng mày thì chỉ mình tao chịu tội thôi chớ ? Đứa con trong bụng tao có tội tình gì đâu mà mày cũng giết nó ? Mày độc ác còn hơn cả loài hùm beo rắn rết, trời Phật sẽ trừng phạt mày…”
Ong Sáu Thượng hoảng quá , giật lấy điện thoại đặt lên giá , đẩy cô gái ra cửa buồng :
“ Thôi thôi cô đi đi…đi nhanh lên không nó gọi điện cho người của nó tìm đến đây thì nó giết chết cô…”
Con bé Thật vừa rời đi, điện thoại lại vang lên giòn giã, ông Sáu Thượng đâm bổ vào nhấc máy . Bên tai ông vang lên giọng chát chúa của vợ ông :
“ Thế là thế nào ? Con đĩ chết băm chết vằm ấy đâu rồi. Sao nó lại ở trong phòng ông ? À…ra ông lừa tôi lợi dụng đi công việc để tìm nó hả ? Nó đâu rồi, giữ ngay nó lại tôi cho lính tới bắt nó …”
Ong Sáu Thượng lắp bắp :
“ Tôi…tôi đâu có tìm nó…chẳng qua khách sạn nó tìm người tẩm quất đưa lên để đấm ưng cho tôi thôi…ai ngờ đâu lại chính là nó…”
Tiếng bà vợ thét lên trong mấy :
“ Tôi không tin, tôi không tin cái mồm miệng dối trá của ông…thằng thư ký đâu rồi…ông đưa ngay điện thoại cho nó để tôi bảo nó còng tay con khốn nạn kia lại ngay…”
Ong Sáu Thượng hoảng sợ :
“ Thằng thư ký bị con nhỏ nó đánh chết ngất rồi…máu me lênh láng kìa…thôi tôi cúp máy để gọi xe cấp cứu cho nó…”
“ Chưa được …chưa được …ông phải giữ ngay con bé lại, nhốt nó trong phòng để tôi gọi thằng Giám đốc công an tới bắt nó…ông nghe rõ chưa ? Ong không giữ nó lại để nó trốn mất thì đừng có trách tôi…”
Ong Sáu Thượng  vội vã :
“ Thế còn…thế còn tối nay hẹn tới gặp ông bí thư thành uỷ thì sao ? Thằng  thư ký còn đang bất tỉnh nhân sự thế kia sao mà đi…”
Bà quát lên :
“ Ong cứ ở đó không được đi đâu, tôi sẽ cử người khác, còn thằng thư ký thì gọi xe cấp cứu đưa nó vào bệnh viện đi…nhớ đừng có để chuyện toé loe ra thì hỏng việc lại còn xấu mặt nữa…Ong cứ nói nó bị ngã thôi…Ong cứ chờ đó, sẽ có người tới ngay…”
Bà cúp máy không để ông hỏi han thêm câu nào. Ong Sáu Thượng lòng dạ ngổn ngang. Quả thực chưa một buổi tối nào lại dồn dập đến với ông nhiều chuyện đến vậy. Giờ chắc con bé Thật đã trốn rồi, nấn ná ở đây tay chân vợ ông vớ được thì lôi thôi cả tới ông. Trước  mắt phải đưa ngay thằng thư ký đi cấp cứu cái đã.  Ong bước tới chỗ gã thư ký đang nằm quay lơ dưới  đất. Máu nó đã ngừng chảy và khô lại thành từng vệt trên mặt. May quá, nó chưa chết, vẫn thở nhè nhẹ. Ong đập đập tay vào vai nó, quả nhiên nó hé mắt nhìn ông. Ong reo lên, hỏi vội vã :
“ Tỉnh rồi hả ? Trong người thấy thế nào ?”
Gã thư ký không nói gì, chỉ hơi lúc lắc cái đầu. Ong cúi sát xuống nói vào tai gã :
“ Mày chịu khó nằm đây nhé. Tao không sao cõng mày lên giường được . Cứ yên tâm nằm đây, tao gọi điện tiếp tân kêu cấp cứu …”
Gã thư ký vẫn không nói gì, chỉ hơi gật gật rồi lại nhắm nghiền mắt, thiếp đi. Ong vội vã quay số gọi điện xuống tiếp tân . Chuông điện thoại đổ dồn mà chẳng có ai nhấc máy. Thôi rồi chắc con bé tiếp viên lại trốn ra ngoài đường ăn quà rồi. Mẹ kiếp, chẳng bù cho lúc chặp tối, cứ điện liên hồi hỏi ông có cần gì không ? Giờ ông cần thì nó lại bỏ đi mới chết, giờ biết tính sao đây. Phải đưa ngay thằng thư ký đi chụp  sọ não coi nó có xuất huyết bên trong không đẻ có biện pháp cấp cứu. Cái con ranh con Thật, không hiểu sao bình thường nó hiền lành thế mà lúc nổi xung lên, nó đập thằng thư ký như đập cái rẻ rách. Rồi lại cú điện thoại nó la hét chửi toáng con vợ ông nữa. Thật đáng đời con mụ này, ác độc lắm thê sào cũng có ngày. Ong chỉ lấy làm lạ tại sao con bé Thật lại có máu liều đến vậy. Đúng là con giun xéo lắm cũng quằn. Con người ta càng hiền lành, cam chịu nhưng bị đàn áp dã man quá , lâu ngày tích tụ căm thù, thế nào cũng có lúc vùng dậy, kiểu như cái nút chặn bị bật tung, bao nhiêu sức mạnh bị giam hãm lâu ngày được  thoát ra thì phải biết…sức công phá của nó kinh khủng lắm. Từ trường hợp con bé Thật ông thoáng nghĩ tới cảnh ngộ những người dân oan bị bọn cường hào địa phường chèn ép, cướp nhà cướp đất, năm này qua năm khác đội đơn đi khắp nơi kêu van. Họ rồi cũng sẽ giống như con bé Thật này, một ngày nào đó, sự căm thù tích tụ đã đủ lớn, lúc đó không một nút chặn nào giữ nổi, lòng căm hận của họ bùng ra thì Đảng và Nhà nước có dùng xe tăng, đại bác mà đàn áp cũng chẳng ăn thua.
Ong gác máy điện thoại, khoác thêm cái áo ngoài rồi lấy cái chăn mỏng đắp lên người gã thư ký bước ra khỏi phòng. Ong vừa đóng cửa phòng thì bên tai có tiếng khóc thút thít. Oi cha mẹ ôi…hoá ra con bé Thật vẫn còn ở đó. Nó chưa chịu đi trốn có chết không, nó vẫn gan lì đứng trong góc tường như muốn ăn vạ ông hẳn thôi. Ong cuống quýt :
“ Kìa kìa…sao không trốn đi…trốn mau đi….nó đang cho người tới bắt cô đó…”
Cô bé khóc nức lên :
“ Nhưng mà…em biết trốn đâu bây giờ ?”
Ong hoảng lên lôi tay cô bé :
“ Đi..đi ngay…không tay chân nó tới đây  nó bắt đi thì khổ…”
Cô bé có vẻ như đã hiểu ra được nỗi hiểm nguy đang chờ sẵn, vội vã líu ríu theo chân ông Sáu Thượng chạy xuống cầu thang. Trong đầu ông Sáu Thượng lúc này đang rối bời bời. Không hiểu đưa con bé Thật này đi đâu bây giờ . Cứ loanh quanh ở đây thế nào tay chân mụ vợ ông nó cũng tóm được.
Hai người xuống tới chỗ tiếp tân vắng tanh không có ai.  Ong Sáu Thượng vội kéo tay cô bé Thật bước nhanh ra ngoài phố. Ong hỏi dằn giọng :
“ Giờ cô tính đi đâu đây ? Cô có quen ai trong thành phố này không ?”
Cô bé Thật sợ hãi, lắc đầu :
“ Không quen ai cả …”
Ong Sáu Thượng bực mình :
“ Vậy cô từ đâu tới đây ?”
“ Dạ….đang ở nhà trọ để tối tối khách kêu đi mát xa ạ…”
Ong Sáu  Thượng  quyết định rất nhanh :
“ Giờ cô phải về ngay nhà trọ lấy quần áo rồi trốn về quê ngay…”
Cô bé mếu máo :
“ Quê có còn ai nữa đâu mà về ….”
Nói rồi cô gái lại bật khóc thút thít làm ông Sáu Thượng lại càng thêm cuống.  Chợt ông nảy ra một lối thoát , ông nói với cô Thật :
“ Cô còn nhớ bà nấu bếp ở nhà ăn của nhà khách tỉnh uỷ hồi đó không ?”
Cô bé Thật nhăn trán lại rồi gật gật.
“ Ngay trong đêm nay, cô phải tìm mọi cách trốn về đó và tìm đến bà nấu bếp nhờ bà đó kiếm cho chỗ mà ẩn náu một thời gian. Tôi sẽ tìm cách gửi tiền cho cô. Chờ con mẹ kia nó quên đi tôi sẽ tìm lên đó tìm cô…”
Con bé Thật tươi mặt :
“ Thật nhé…ong nói thật nhé…”


                                                                                (còn nữa)


Thứ Năm, 2 tháng 10, 2014

CHUYỆN XƯA-NAY MỚI NÓI - KỲ 93- anh đi công tác Pờ lây...



          Quý vị nào ham...vui với thơ hẳn đều biết hai câu thơ này :                    
                             “Anh đi công tác Pờ lây...
                     Cu dài dằng dặc biết ngày nào ra”
là của nhà thơ Bút Tre. Vậy nhưng cũng có người cho rằng không phải, Bút Tre chỉ làm một số bài thôi, người đời đã “nhại” theo “lối thơ” của ông mà thêm vào kho thơ Bút Tre. Thế gian đa sự, ngay tới một số bài của bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương có người cũng bảo không phải của bà, thôi thì ta cứ coi những bài thơ “ấm ớ” mà lại rất vui, rất “cười”, rất dân gian ,rất “ dân chủ”, rất...bút tre là thuộc nhà thơ Bút Tre người đã khai sinh ra một thể thơ độc đáo mà các nhà phê bình bác học không thể đặt cho một cái tên nào khác ngoài cái tên “thơ Bút Tre”.
               Thơ Bút Tre không “dân chủ” sao được , ngay từ thời các lãnh tụ cộng sản, mửa ra khói, ói ra lửa, chỉ một cái lừ mắt khối anh sợ mất vía, ấy thế mà Bút Tre dám giễu đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Trưởng ban nông nghiệp của Đảng bằng hai câu láo lếu :
                       “ Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh
                       Anh về phân bắc phân xanh đầy đường...”
       hoặc “dị bản” :
                         “Anh Thanh ơi hỡi anh Thanh
                      Anh về, phân bắc, phân xanh đầy chuồng”
              Tức là anh đi đến đâu thì phân người, phân cây bày ra đến đấy. Riễu đến thế thì ngẫm ra quá “cay” cho đồng chí Nguyễn Chí Thanh rồi còn gì . Ấy thế mà Ban tuyên huấn không bắt tội được Bút Tre mới tài. Thì đúng là đồng chí Nguyễn Chí Thanh kính mến đã chẳng dấy lên phong trào “phân bắc, phân xanh” ở khắp chốn cùng quê nhờ đó mới phất cao ngọn cờ Hợp tác xã Đại Phong đó là gì. “ca” đó mà lại “chửi” đó mà không “bắt giò” được mới hay.
                       “ Hoan hô đồng chí Võ Nguyên
                     Giáp ta thắng Điện Biên trở về...”
             Ừ thì Đại tướng Tổng tư lệnh , Uỷ viên Bộ chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng oai danh lẫy lừng suy ra cũng chỉ là Mít ta, Mỗ ta...chứ sao ? Thử hỏi 500 nhà thơ Hội viên Hội nhà văn Việt Nam đã có ông nào “sáng tác” được hai câu thơ “dân chủ” đến thế chưa ?
            Chẳng hiểu sao, tâm tình kính mến thế nào, Bút Tre lại làm lắm thơ về các “lãnh tụ” như thế.
            Với Nguyễn Chí Thanh, còn một bài nữa khi “lãnh tụ” về thăm Phú Thọ :
                    “ Anh đi đồng ruộng lắng nghe
                   Lúa mừng phân bắc khoai che mảnh vườn...”        
             Cả hai bài ca ngợi “lãnh tụ” đều có “phân” cả, bài sau phân nặng mùi hơn vì là phân bắc, tức phân chuồng, phân xã viên.
        Với đồng chí Ung Văn Khiêm, Bút Tre cười  tủm tỉm :
            “ Đồng chí Uỷ viên Trung ương Ung văn Khiêm
                    Đi trên tàu bật một que diêm
                   Mắt lim dim nhìn lên đồi cọ
                  Gật gù khen tỉnh ...Phú Thọ”
        Ô hay bao nhiêu “thành tích cách mạng” của đồng chí Uỷ viên trung ương không được nói tới mà lại nói cái chuyện “ bật que diêm”,” mắt lim dim” ...thì thật là phạm thượng, khác gì vẽ ‘chân dung lãnh tụ” thành biếm hoạ.
       Rồi thì tặng Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Duy Trinh  :
              “ Anh thăm hợp tác xuống từng nhà
               Vang lừng tiếng trống đỏ cờ hoa
                Đàn bò béo múp, coi bụ bẫm
               Đẹp vườn mía tía đẹp luống cà...”
         Tôi dám đoan chắc Bút Tre chẳng lấy từ chân dung lãnh tụ mà vẽ ra “bò béo múp, coi bụ bẫm” đâu, nhưng sao câu thơ cứ gợi ra cái vẻ như vậy nếu như ta biết rằng đồng chí Nguyễn Duy Trinh vốn ghiền ...”trứng vịt lộn”, sang tới hoà đàm Paris còn bắt lính chở theo thì đủ biết cái sự “ăn uống” đã làm đồng chí...nặng ký tới cỡ nào.
      Tặng đồng chí Bộ trưởng Bùi Quang Tạo , Bút Tre cũng nôm na :
            “ Mùa thu cách mạng sao bay
           Anh về công tác ở ngay tỉnh nhà
            Năm đầu kháng chiến nổ ra
             Khu Mười dìu dắt dân ta diệt thù...”
       Quả thực nếu chưa bị “quy chụp “ là biếm hoạ lãnh tụ thì bài thơ cũng chỉ là vài nét chì nguệch ngoạc vẽ vội. Tuy nhiên, khi không “viết” về lãnh tụ, thơ Bút Tre mới thực là ...bút tre :
             “ Tàu xe đi lại nhịp nhàng
              Thái Nguyên, Yên Bái lại càng Lào Kai...”
      hoặc :
             “ Cầu tiêu giếng nước đủ đầy,
             Chuồng lợn hai bậc dựng xây từng nhà...”
      hoặc :
             “ Đồng Lương, Phú Thọ, Sai Nga...
             Bao nhiêu lợn nái trâu cà bấy nhiêu...”
    Thơ xem ra có vẻ ca ngợi xã hội phát triển, đời sống sung túc, nhưng kỳ thực là ...giễu. Chế độ ưu việt, dân giàu , nước mạnh gì mà chỉ thấy “tàu xe đi lại”, “ cầu tiêu giếng nước”” chuồng lợn hai bậc” với “ lợn nái, trâu cà”... Ở các nước xã hội chủ nghĩa, ngày xưa thỉnh thoảng lại phát động lên một phong trào gì đó trong toàn Đảng toàn dân. Ở Trung Quốc người ta đã được thấy các phong trào “nhà nhà sản xuất...thép”, “toàn dân ...bắn chim sẻ”, thì ở Việt Nam ta cũng rầm rộ không kém các phong  trào “toàn dân diệt chuột”,”toàn dân tổng vệ sinh”...  và nhất là toàn dân “tăng gia sản xuất”. Một khi phong trào đã được phát động lên , không một ai được phép đứng ngoài, không một ai được phép bàn lùi thậm chí buông một tiếng thở dài. AÁy thế mà Bút Tre dám cả gan giễu cợt cái phong trào “toàn dân tăng gia sản xuất “ bằng mấy câu thơ :
           “Núi Voi trong thật giống...con voi...
            Voi cũng như người hăng sản xuất
            đầu thì trồng đậu , đít trồng khoai...”
      Ấy thế, ca ngợi cả một phong trào thi đua rầm rộ như thế mà chơi ngay hai chứ “đầu” với “đít” thì thử hỏi có còn coi “tăng gia sản xuất” ra cái thứ gì ? Tuy nhiên thơ Bút Tre không nhằm “giễu cợt”, ông sống hồn nhiên, vô tư, tâm thiện , chẳng tranh chấp, trách móc gì ai mà phải...”giễu”, đối lập với cái thứ thơ “đội mũ đi hia” của các “quan thơ” trong Hội nhà văn , thơ Bút Tre cốt...vui là chính. Vui để bà con nhân dân lao động cười...một phát, tạm quên đi cái cơ cực , nhọc nhằn.
      “ Con đò dịch đít sang sông,
       Bên kia có một cái làng...thò ra...”
   hoặc :
        “ Anh đi công tác Buôn Mê...
        Thuột xong một cái lại về với em...”
    hoặc :
         “ Em về công tác bảo tàng
         Cũng là công tác cách màng ( mạng) giao cho...”
    hoặc :
           “ Hôm nay trời nhẹ mây cao
           Anh Ga Gà Rỉn bay vào vũ...tru...”
   hoặc :
           “ Trông xa một đống đen xì
             Lại gần mới biết ấy thì là than...”         
          Đọc những câu thơ ấy, quý vị nào không cười thì hẳn là đang bị nhức răng hay bụng đang táo bón....Thơ vui, ‘vô thưởng vô phạt”, không phạm chỗ “nhạy cảm chính trị” thế mà vẫn bị ông Xích Điểu, nhà thơ chuyên châm chích...đế quốc Mỹ, đánh cho một bài trên báo Cứu Quốc kết tội Bút Tre là...tự nhiên chủ nghĩa, thiếu tính giáo dục, tính Đảng , tính....vân vân. Ông Xích Điểu đã được chôn ở nghĩa trang Mai Dịch cùng với sự nghiệp thơ “châm chích đế quốc Mỹ” từ lâu lắm rồi, còn thư thơ “tự nhiên chủ nghĩa” mà ông lớn tiếng phê phán – thơ bút tre thì vẫn sống nhăn cho tới tận bây giờ và cả mai sau. Đời trớ trêu vậy. Rõ ràng trong lịch sử thơ ca VN hiện đại, cái tên Bút Tre là không thể thiếu được.
         Công bằng mà nói, hai chứ “bút tre” là của ông nhà thơ kiêm lãnh tụ cộng sản Tố Hữu làm từ năm 1946:
       “   Ta nghèo không mực thì son
           Bút tre phấn gạch bà con tạm dùng ...” 
                                                    ( Trường tôi).
   Bút Tre đã mượn hai từ đó làm bút hiệu cho thơ ‘bút tre” của mình. Vậy phải chăng ông xuất thân từ giai cấp bần cố nông, ít học nên thơ mới “nôm na, tự nhiên chủ nghĩa” như lời kết tội của ông Xích Điểu chăng ?
        Thưa không phải,
     Bút Tre tên thật là Đặng văn Đăng, sinh ngày 23 tháng 8 năm 1932, tại xã Đông Lương, huyện Cẩm Khê nay là Sông Thao tỉnh Phú Thọ. Từ trước năm 1945 ông đã tốt nghiệp tú tài “tây”, đọc văn thơ Pháp lầu lầu, sau đó lên Tuyên Quang  dạy học, được gọi là “ông giáo Đặng”, ở đây ông yêu một cô giáo người Tày. Mối tình này được ông viết truyện in nhiều kỳ tại mục “tiểu thuyết thứ bảy” của báo Đông Pháp với bút danh “ Lục y lang” ( Chàng áo tràm). Với máu lãng mạn đầy chất lý tưởng của tuổi trẻ ông đã đi theo Việt Minh, làm tới chức Trưởng ty văn hoá Phú Thọ, nghỉ hưu năm 1971. Oong sống thanh bạch cho tới lúc ông từ trần ngày 18-5-1987 tại quê nhà.
   Nhà thơ Bút Tre- Đặng văn Đăng đã qua đời , nhưng 15 năm sau, cho tới tận ngày nay, hàng ngàn câu thơ “bút tre” vẫn sinh sôi trong dân gian và ngày càng đậm màu  phê phán, tố cáo xã hội hơn. Chẳng hạn :
           “ Mỗi người làm việc bằng hai
          Để cho cán bộ mua đài mua xe...”
  hoặc :
          “ Tôn Đản là chợ vua quan
          Đồng Xuân là chợ nhân dân anh hùng

        Mong sao, một ngày nào đó, các nhà nghiên cứu văn học sẽ sưu tầm được hết các loại thơ “bút tre” như vậy để in thành sách như là ‘chứng tích” của một thời kỳ lịch sử...

           NT

    
      
      
  
                 
         

                    


nhà văn NHẬT TIẾN : THỀM HOANG - KY 9


                                      Chương 6


Huệ nằm liệt trên giường. Giấc ngủ chập chờn như ý nghĩ của nàng. Những buổi trưa, cái nóng hầm hập hắt từ mái tôn xuống khiến người Huệ muốn rộp lên. Từ tấm mền hôi và bẩn đến cái quần, cái áo, tất cả đều toả ra hơi nóng bứt rứt đến khổ sở. Huệ để sẵn chậu nước lạnh ở đầu giường. Chiếc khăn mặt nhầy nhụa dãi và mồ hôi thỉnh thoảng được nhúng cho ướt sũng rồi Huệ đem đắp lên mặt. Dòng nước đen và ngầu bọt chảy vòng vèo ở trên cổ, xuống gáy, gây cho Huệ đôi chút cảm giác mát mẻ dễ chịu. Huệ nằm, hai chân gác lên vách gỗ. Lưng nàng độn cao bằng cái gối cho xương cốt đỡ mỏi. Lồng ngực nàng đưa ra đằng trước, như thế Huệ thấy bớt được sự nặng nề đang đồn nén ở phổi. Mắt Huệ nhắm nghiền, hơi thở ngắn và mệt nhọc. Tiếng muỗi ngày vo vo ở bên tai. Những con ruồi bu đen ở trên miệng bát cháo nguội tanh, thỉnh thoảng táp lại, bò lên môi, lên mắt, gây cho nàng những cảm giác vô cùng khó chịu.
Buổi trưa tuy cực khổ như thế, nhưng đến chiều, Huệ thấy thoải mái hơn. Cơn nóng dịu đi, gió mát lùa qua cửa sổ làm bay rung rinh tấm màn mỏng. Huệ gượng ngồi dậy, lưng dựa lên vách gỗ, mắt nhìn ra phía ngoài. Trên con đường đất nhỏ hẹp, người tấp nập qua lại. Tiếng cười, tiếng nói lao xao vọng lại từ bốn phía. Thỉnh thoảng lại có một cái đầu thò hẳn vào trong nhà hỏi sõng Huệ một câu:
"Đỡ chưa cô Huệ?"
Huệ cười héo hắt, môi nàng se lại và miệng thì thấy đắng nghét. Nàng muốn có một người ngồi bên nói chuyện cho đỡ buồn nhưng chẳng có một ai chịu bước qua khỏi ngưỡng cửa. Đôi khi có một thằng bé ngồi chầu hẫu ở bên thềm, cằm ghếch lên như một con chó, mắt hau háu nhìn vào giường Huệ. Nàng ném cho nó mẩu bánh mì khô cứng như cục gỗ. Nó ngập ngừng cầm lên sờ mó một tí rồi ném trả vào trong gậm. Huệ thấy ân hận với mình nên lục đầu giường tìm ra được đồng hào ván. Nàng liệng về phía nó. Nó vồ lấy như sợ Huệ đổi ý, rồi chạy tuốt ra ngõ. Một lát sau nó trở lại với ba bốn đứa. Chúng nó hy vọng Huệ ném tiền ra cửa một lần nữa, nhưng Huệ chẳng bao giờ làm lại công việc dại dột ấy. Vì thế bọn chúng nó xoay ra bàn tán với nhau về các đồ dùng của Huệ như về cái bô nước tiểu vẫn để ở gậm giường, về bát cháo Huệ ăn dở từ hồi trưa bây giờ khô queo lại và có lúc chúng còn nói đến cả về nghề nghiệp của Huệ nữa. Điều ấy khiến Huệ trở nên khó chịu. Nàng xua cái quạt về phía chúng như xua đuổi những kẻ ăn mày. Bọn trẻ cười với nhau rồi bỏ đi.
Nằm trơ một mình, bao nhiêu ý nghĩ chán nản lại đến xâm chiếm lòng Huệ. Huệ tiếc những buổi chiều, sau bữa cơm được đi tắm bằng hai thùng nước giếng trong và mát. Rồi lúc bắt đầu lên đèn, Huệ trang điểm ở bàn gỗ, mặt thoa phấn trắng, mắt kẻ bút chì than và tô môi hồng đỏ chót. Huệ sẽ ra cửa hàng mụ Bẩy và ở đó đến khuya. Những buổi tối như thế đối với Huệ thật là vui. Căn phòng trong quán thắp đèn nê ông sáng choang, có những chai rượu lấp loáng ở bên cạnh chồng ly pha lê trong suốt. Mùi khói thuốc lá, mùi men rượu, mùi phấn và nước hoa ngào ngạt ở khắp mọi bàn. Tiếng cười đùa, tiếng nhạc xen lẫn với những tiếng chửi thề thô tục liên miên từ chập tối hầu như không dứt. Những người đàn ông hay kéo Huệ vào lòng, nhè vào miệng Huệ từng ngụm bịa hôi và đắng. Huệ cười sặc sụa như quên hẳn mình là mình, quên hẳn bệnh tật và ý nghĩ đen tối thường ám ảnh lúc ban ngày. Huệ thấy hài lòng với cuộc sống như thế, hài lòng đến độ ham mê, hễ thiếu thốn thì nhớ nhung dằn vặt.
Bây giờ nằm ốm ở nhà Huệ không còn được chia tiền vào những lúc nhạc tắt trên chiếc ra đi ô có riềm tua đỏ. Những đồng bạc mới, mùi thơm phưng phức cầm ở tay khiến Huệ quên cả nỗi mệt nhọc. Huệ nghĩ đến món tiêu ngày mai, bữa quà sáng, bữa cơm trưa, cơm chiều và cả những lúc ăn quà vặt. Những ngày ấy thật là đầy đủ sung sướng. Đang nghĩ vẩn vơ, chợt con bé ngoài hiệu chạy vào gõ cửa bảo Huệ:
"Có người tìm cô đấy.”
Huệ bật dậy như một kẻ đi câu thấy cái phao bị cá lôi chìm, nhưng đầu óc Huệ bỗng choáng váng, ánh sáng chung quanh tự nhiên tối sầm lại, có những tia máu chạy rậm rật trong đầu. Huệ thất vọng nằm xuống, nàng giận dữ với mình, với tất cả sự tối tăm bao phủ lấy căn buồng nhỏ hẹp. Rồi tiếc của, Huệ nguyền rủa bệnh tật, nguyền rủa cả kẻ vô danh nào đã nhớ đến nàng:
"Cha tổ bố! Khi người ta khoẻ thì còn cứ õng ẹo..."
Khi con bé đi khỏi, Huệ kéo chăn lên phủ kín đầu một cách giận dữ. Nàng muốn ngủ thật say cho quên hết mọi sự, nhưng mắt nàng ráo hoảnh, đầu óc thì căng đầy những nỗi lo âu, dằn vặt. Toàn thân của nàng đau ê ẩm và nhất là ở ngực, cơn tức ngực cứ kéo dài như lúc nào cũng có vật gì nặng nề ép xuống. Trời bên ngoài đã tối hẳn, căn buồng chật hẹp của Huệ chìm trong yên lặng. Cụ Chín mới đi hàng về đang rửa ráy bì bõm ở ngoài chum nước. Một lát cụ trở vào thắp cho Huệ cây đèn dầu đặt trên mặt bàn. Ánh sáng hiu hắt toả mờ mờ lên vách. Huệ quơ lấy quyển truyện định đọc nhưng xem thấy mỏi mắt nên lại ném xuống. Nàng im lặng nằm nghe tiếng bà cụ dò dẫm một mình trong bóng tối. Có tiếng cụ mở nồi cơm lạch cạch và tiếng bát, thìa va chạm nhau.
Một lát sau có tiếng nhai nhóp nhép, nhỏ nhẹ. Từ lâu Huệ đã quen với sự im lặng của cụ, ngay cả khi Huệ ốm nằm dài trên giường bệnh. Công việc của cụ hằng ngày có thêm việc khép cửa cho Huệ ngủ muộn, hạ bức chắn gỗ xuống cho nắng khỏi chiếu vào đầu giường và buổi tối thắp hộ Huệ cây đèn dầu trên mặt bàn. Rất hoạ hoằn, Huệ nghe thấy cụ hỏi thăm mình. Chỉ có những đêm Huệ ho rũ rượi và nằm rên một mình thì cụ mới trở dậy, dò dẫm đến bên đầu giường, sờ soạng:
"Có dầu đây cô này!"
Mắt Huệ mở to tìm cụ trong bóng tối lờ mờ. Huệ nom thấy khuôn mặt héo hon và cằn cỗi của cụ chập chờn trước mắt như một bóng ma. Nàng nắm lấy bàn tay xương xẩu của cụ. Hai người lần trao cho nhau hộp dầu con hổ, rồi cụ lại lầm lũi trở vào, sau khi khêu cho Huệ ngọn đèn đã lụn bấc.
Có lần Huệ muốn tỏ sự biết ơn của mình, nên hỏi thăm vu vơ:
"Hôm nay hàng bán được không, cụ?"
Bà cụ nhìn Huệ, cái nhìn ngụ ý như trả lời, rồi mỗi người lại theo đuổi một ý nghĩ riêng. Sự cô độc ấy của cụ khiến Huệ ví cuộc đời cụ như cuộc đời của một con chó già bị ruồng bỏ. Đó là số phận những con chó vẫn lang thang ở ngoài bãi hoang, nơi mà dân xóm Cỏ đổ rác và các thứ hôi thối. Chúng nó sống rất dai dẳng, thiếu thốn và đầy chịu đựng. Sự chịu đựng có thể sánh ngang với bà cụ già ở chung nhà với Huệ. Những đêm không ngủ, nghe tiếng cụ đập muỗi liên hồi trong bóng tối, Huệ nghĩ sao bà cụ không chết quách đi cho rảnh. Một kiếp sống như thế mà kéo dài thì có vui sướng gì. Ý nghĩ ấy làm Huệ liên tưởng đến chính mình. Thật ra thì cuộc sống của Huệ cũng chẳng vẻ vang gì hơn. Bệnh tật khiến nhan sắc của Huệ phai tàn một cách mau chóng. Hai gò má nhô cao lên, cặp mắt trũng sâu xuống. Hơn nữa, điều đáng lo nhất của Huệ là bộ ngực cứ teo lại, dúm dó như một mớ da vô tri giác. Nhiều hôm Huệ khóc thút thít một mình. Nàng coi tất cả những chuyện ấy như là một tai hoạ lớn lao đang đe doạ miếng cơm, manh áo của mình.
°
Bác Tốn biết tin Huệ ốm vào lúc ngồi ăn cơm ở nhà bác Nhan. Cái Hòn nói:
"Cô Huệ thuê con hai đồng để giặt hộ cho cô ấy bộ quần áo.”
Bác Nhan gái buông ngay đôi đũa của mình xuống mâm, chửi đổng một câu:
"Tiên nhân cha con bỏ mẹ, lăn vào chỗ ấy để vi trùng nó ăn luỗng phổi mày ra à?"
Cái Hòn tưởng sẽ được khen vì số tiền nó kiếm ra lần đầu tiên trong đời nó, không ngờ bị chửi nên mặt sưng lên. Một lát nó buông bát giằn dỗi đứng dậy. Mâm cơm đang vui vẻ đột nhiên yên lặng đến khó chịu. Mọi người chỉ nghe thấy tiếng nhai ở trong mồm nhau. Mặt bác Tốn trở nên trầm ngâm và buồn bã. Mắt bác nhắm nghiền hẳn lại, bờ môi hơi trễ xuống, vừng trán thấp thoáng mấy nếp nhăn.
Bác hình dung thấy Huệ nằm mệt mỏi sau lần chăn trắng, cặp mắt đen và sâu, hơi thở nhẹ nhàng, yếu ớt. Bác thấy tình yêu bừng lên như men rượu. Nếu Huệ có bác thì bác sẽ thức đêm để ngồi bên Huệ, rót nước cho Huệ uống, bón cháo cho Huệ ăn và bác vuốt ve trìu mến từng sợi tóc óng ả của Huệ. Quần áo của Huệ thay ra, bác sẽ mang đi giặt. Bác xôn xao trong lòng: "Giặt cho vợ chứ cho ai!.” Những ý nghĩ ấy cứ ám ảnh trong đầu bác gây cho niềm yêu của bác càng thêm nung nấu.
Buổi tối, khi ôm đàn đi theo Ích ra ngoài phố, bác gợi chuyện:
"Cô Huệ thế mà ốm nhỉ..."
Ích nói:
"Ốm từ lâu rồi ấy chứ..."
Bác Tốn đáp giọng thản nhiên:
"Thế mà tao không biết đấy. Còn mày, sao biết?"
"Trưa nào gánh nước cháu chả đi qua.”
"Dòm vào à?"
"Dòm chơi!"
"Thấy cô ấy không?"
"Thấy chứ!"
"Nằm ở đâu?"
"Ở giường chớ còn ở đâu!"
Bác Tốn cười hề hề:
"Ừ nhỉ!"
Một lát thấy nó im lặng, bác lại nói:
"Mày thích ốm không?"
"Thích chứ! Ốm được nằm một chỗ, chẳng phải làm gì.”
"Lại có cả cam ăn nữa. Ngon phải biết!"
"Gớm! Bác làm như triệu phú không bằng. Ốm lại còn đòi ăn cam!"
"Chắc cô Huệ thì có!"
"Cháu không biết!"
"Mày dòm mà lại không biết!"
"Thật mà! Chỉ thấy cháo thôi?"
"Cháo gì?"
"Chắc cháo thịt!"
Tự nhiên bác Tốn thấy vui. Bác hài lòng vì sự ăn uống của Huệ. Điều ấy khiến bác trở nên mạnh bạo hơn, bác hỏi thằng ích:
"Mày trông cô ấy có xanh lắm không?"
Ích nhìn vào mặt bác. Nó hơi ngạc nhiên thấy câu chuyện của bác chỉ xoay quanh có mỗi cô Huệ. Nhưng nó không nghĩ gì hơn cả. Nó đáp:
"Xanh đứt đuôi đi ấy chứ! Nhất là cái mặt, ối dà, nom cứ như người chết trôi.”
Bác Tốn thấy đau lòng quá. Câu nói ngắn ngủi của Ích thừa đủ để bác hình dung ra Huệ bây giờ ra sao rồi. Bác định hỏi thăm nữa nhưng sợ nói nhiều thằng Ích sẽ bép xép nên chỉ im lặng đi bên cạnh nó. Ngón tay bác bật mấy dây đàn. Lòng bác buồn thấm thía. Nhưng càng buồn bác càng thương Huệ, càng muốn lấy Huệ làm vợ. Bác mơ màng nghĩ đến một căn nhà nhỏ, mái ngói, vách tường xây, ở đấy bác sống êm đềm bên cạnh Huệ. Sau những bữa cơm, Huệ quấn thuốc sâu kèn cho bác hút, hai người nói chuyện tương lai, chuyện thằng nhỏ xinh xinh mà Huệ sắp cho chào đời. Bác sẽ sờ tay lên bụng Huệ, hỏi thăm sự cựa quậy của nó, chắc Huệ sẽ nũng nịu mà trách bác:
"Nó cứ đạp em..."
Gớm! Tiếng "em" mà Huệ xưng với bác sao mà êm đềm và thân yêu như thế. Bác chợt muốn hôn Huệ, muốn ôm Huệ vào lòng, nhưng bên cạnh bác vẫn chỉ là thằng Ích chập choạng bước đi ở trong bóng tối. Những ý nghĩ về Huệ làm bác thấy gần nàng hơn. Bác chợt nẩy ra ý định mua cho Huệ một món quà. Cái sáng kiến ấy vụt bừng lên như ánh chớp của một vì sao đổi ngôi. Bác thấy thật là hay ho và ý nhị mà chưa bao giờ bác nghĩ tới. Lòng bác vụt xao xuyến như chính Huệ giơ tay cảm động nhận quà của bác, Huệ đang nhìn bác với lòng mến yêu, và bác cũng cảm động lây ngay từ phút ấy. Bác Tốn thấy lòng vui trở lại, tay bác sờ soạng lên mái tóc trơ trụi của thằng Ích. Bác khẽ lắc cái đầu nó rồi nói:
"Ích ơi, mày có biết ở đâu bán bánh không?"
Ích ngạc nhiên hỏi:
"Bác hỏi bánh làm gì?"
"Tao làm cái này!"
"Cái này là cái gì?"
"Cho! Mua cho..."
"Cho ai?"
"Cái thằng lạ nhỉ! Cho ai chẳng được.”
Ích toét ra cười:
"Thôi, cháu biết rồi. Bác cho cô Huệ chứ gì..."
Mặt bác Tốn chợt nóng lên, bác bối rối tưởng chừng như mọi người ai cũng đều rõ mối tình thầm kín của mình. Cho nên bác vội lấp liếm:
"Ừ thì cho cô Huệ đã sao?"
"Bác lại muốn bắt nhân tình hả?"
"Thằng ranh! Chỉ nói bậy!"
"Nếu không thì tự dưng ai lại mất tiền toi như thế. Đúng tổ con chuồn chuồn rồi.”
Bác Tốn cười hềnh hệch, tiếng cười như thú nhận với nó, rồi làm như nó là đồng minh với mình, bác co một cánh tay nó về phía sau, nói nhỏ:
"Tao mê thật đấy. Nhưng cấm mày bép xép nghe không.”
"Ai rỗi hơi đi nói làm gì!"
"Thì tao cứ dặn thế, chứ còn mày thì tao biết.”
Ích hỏi:
"Thế bác mê nhau lâu chưa?"
Bác Tốn đưa cái cằm của mình về phía trước, hai hàm răng ngựa nhe ra dưới ánh đèn:
"Cũng lâu lâu..."
"Thế mà cứ tẩm ngẩm tầm ngầm. Thảo nào bác có vẻ khoái cô ấy dữ.”
"Còn mày thì nghĩ sao? Bộ tao có ăn thua gì không?"
"Đứt đuôi đi rồi!"
"Sao lại đứt đuôi đi rồi!"
"Ờ! Có tiền thì muốn gì cô ấy chẳng được.”
Mặt bác Tốn hơi sạm đi nhưng thằng Ích chẳng thể hiểu được cái tâm tình ấy của bác. Ngừng lại giây lâu, bác cố lấy giọng vui vẻ:
"Nhưng mày nghĩ có xứng không ấy chứ.”
"Xứng đứt đuôi đi ấy chứ còn nói gì nữa.”
Thế là lòng bác Tốn dạt dào vui sướng. Lúc này bác thật dễ dãi và thấy cần một niềm tin. Nên dù niềm tin ấy do thằng Ích mang lại cũng đủ cho bác sướng mê tơi đi rồi. Bác ôm chặt cây đàn vào ngực, ngón tay của bác sờ soạng lên từng cung bậc, rồi bác vừa gẩy, vừa hát sẽ:
"Trên trời xanh bóng trăng
Dưới bến con thuyền lội nước tung tăng..."
Hai bác cháu đi lên chỗ có ánh đèn rực rỡ. Tiếng người qua lại vang ồn ào ở bên tai. Bác mở to mắt nhìn ngang ngửa. Một màng sáng đục thấp thoáng có những bóng đen mơ hồ đi qua mặt. Cái rộn rã của một buổi chiều trong thành phố làm tăng thêm niềm vui trong lòng bác. Tình yêu dâng lên dào dạt, bác Tốn cảm thấy lòng ngây ngất. Chợt Ích nắm tay bác dừng lại:
"Bánh đây này? Bác định mua thứ nào?"
"Thế à! Có những bánh gì?"
Ích đảo mắt ở trước tủ kính sáng choang đầy chai lọ:
"Nhiều ối ra! Bánh ga tô, bánh đậu xanh, bánh khảo, bánh cốm, bánh sâm banh, gì cũng có.”
Bác Tốn phân vân:
"Gì được nhỉ... mày thì mày mua cái gì?"
"Cháu thì cháu khoái ga tô!"
"Ga tô! Ốm ai mà lại đi ăn bánh ga tô! Thôi mày mua bánh bích qui đi.”
"Mua bao nhiêu?"
"Cầm lấy hai chục.”
"Hai chục cơ? Sang thế! Hai ngày hát đấy.”
"Thì mặc kệ tao!"
Thằng Ích cầm tiền đi vào trong hiệu. Lần đầu tiên trong đời, nó được bước vào một hiệu sang như thế. Tay nó xòe sẵn tờ giấy bạc cho người bán hàng trông thấy, miệng nó nói:
"Bán cho hai chục bánh bích qui!"
Cô hàng nhìn nó chăm chú, rồi cô cầm tiền và lấy cho nó một hộp bánh, thứ hộp sắt tây có bọc giấy bóng kính hẳn hoi. Ích vui mừng giơ cái hộp ra ngắm nghía. Nó nghĩ hai chục bạc có khác, cái hộp còn quí hơn cả những chiếc bánh ở trong. Nó chạy ra khoe rối rít:
"Hai chục đây này! Oai không chê được!"
Bác Tốn cảm động giơ tay đón lấy. Năm ngón xương xẩu của bác quệt mãi lên nếp giấy phẳng và mịn. Đoạn bác đưa lên mũi ngửi. Bác cảm thấy ở đấy toát ra một mùi đặc biệt, vừa thơm, vừa mát mẻ, vừa sang trọng, phú quí. Lòng bác rộn ràng nghĩ đến lúc Huệ cầm hộp bánh ở trong tay. Huệ sẽ biết rằng bác nghĩ đến Huệ, mà chỉ cần Huệ biết cho như thế là bác đã thấy tim mình đập mạnh lên rồi. Sờ mó một hồi, bác trao cho thằng Ích rồi nói:
"Hôm nay về sớm một tí, mày chịu khó mang sang hộ tao nhé.”
"Làm gì mà vội thế. Mình về thì cô ấy đã ngủ mất rồi còn đâu.”
"Nhưng để ban ngày không tiện. Hàng xóm người ta biết.”
"Biết thì làm sao?"
"Xấu hổ bỏ bố đi!"
Hai bác cháu cùng mỉm cười. Ích thu cái hộp vào trong bụng áo rồi nói:
"Cô Huệ được cái này thì sướng mê cu tơi đi rồi.”
"Bánh bích qui thì cô ấy thiếu gì. Còn sợ cô ấy chê nữa ấy chứ. Mày nghĩ có chê không?"
Ích đáp:
"Chả chê đâu!"
"Ngộ cứ chê thì sao?"
"Thì chúng mình ăn.”
"Mày nói như bố chó xồm ấy.”
"Thế chả ăn thì vứt đi à?"
"Ừ nhỉ! Nhưng chả chê đâu.”
Ích gắt lên:
"Rõ ấm ớ! Bảo chê rồi lại không chê, rồi lại chê.”
Bác Tốn cười hềnh hệch:
"Ừ nhỉ! Thôi đến tối rồi biết.”
Ích nói:
"Tối thì cháu nói làm sao?"
"Mày nói thế nào tuỳ ý mày.”
"Nói toạc ra rằng bác phải lòng cô ấy nhé.”
Bác Tốn giẫy nẩy lên:
"Ấy chớ, mày nói thế thì chết tao rồi!"
"Sao chết?"
"Chết chứ! Đã yêu thì cũng phải từ từ thôi chứ ai lại thế.”
"Vậy cháu cứ đút hộp bánh vào cửa sổ nhé.”
"Ấy đừng! Làm gì thì cũng phải nói chứ!"
"Sao bảo nói thì chết?"
"Nói nhưng là nói khéo cơ chứ. Mày bảo tao phải lòng cô ấy thì bỏ bố tao rồi.”
"Bác rõ thật rắc rối.
"Mày ngu như bò ấy. Tâm lý phải thế chứ.”
"Ừ, thì bác bảo phải nói cái gì nào?"
Bác Tốn gật gù:
"Mày phải nói rằng tao quí cô ấy..."
"Sao quí?"
"Hỏi thế thì đếch ai trả lời được.”
"Nhỡ cô ấy hỏi thì cháu tịt mít à?"
"Mày đừng lo, quí là quí chứ chả có ai đi hỏi ngớ ngẩn như thế bao giờ.”
Ích gật đầu:
"Sao nữa?"
"Rồi mày nói là tao vừa nghe nói cô ấy mệt nặng..."
"Ai nói?"
"Cái thằng, ngang như đấm vào tai ấy. Ai mà chả được, nghe phong phanh mà..."
"Ừ, thế rồi sao nữa?"
"Rồi mày bảo tao vì tình hàng xóm, mua tặng cô ấy cái này..."
"Sao nữa?"
"Rồi mày phải nghe cô ấy cảm ơn, cảm iếc gì thì về kể cho tao nghe.”
"Như thế thì ngon ơ! Đâu có phải làm tâm lý tâm liếc gì!"
"Thì tao đã bảo mà? Mày làm xong việc thì tao cho một chầu ga tô thật no.”
"Ái chà sang nhỉ! No là mấy cái?"
"Độ vài ba cái chứ gì!"
"Vài ba cái thì chả bỏ dính răng.”
"Thế mấy?"
"Mấy mà chả hết.”
"Thôi, bốn đi! Bốn là hết bố nó tám đồng với nhà ông rồi.”
Ích cười hề hề. Nước dãi nó ứa ra. Nó nghĩ đến những miếng bánh ngọt lịm phết kem xanh đỏ mà nó sẽ được nhai ngấu nghiến một mình.
Lát sau, hai bác cháu dừng lại ở mộtt cửa hiệu ăn. Mùi phở thơm lừng bốc lên ngào ngạt. Thằng Ích quên ngay hương vị bánh ngọt nó vừa tưởng tượng và nó vụt thấy đói cồn cào. Mắt nó đưa vào phía trong hiệu, lơ đãng ngắm một cách thèm thuồng mọi người ăn uống. Trong khi ấy, bác Tốn sửa lại dây đàn. Một ngón tay bác bật lên những nốt dạo nhạc, một tay bác khẽ dúi vào đầu thằng Ích. Như cái máy, Ích gân cao cổ lên, giọng làm ra điệu rung rung như một tài tử chính hiệu. Nó bắt đầu hát:
"Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn gieo muôn tiếng tơ.
Không gian trầm lặng như âu yếm ru ai trong giấc mơ.
Muốn nói cùng em... ơ... ơ..."
Lòng bác Tốn bỗng thấy rạo rực, một niềm vui khó tả dâng lên theo lời nhạc làm bác xao xuyến. Hình ảnh Huệ, đánh môi đỏ, mặc áo hồng, phấn thơm sực nức hiện ra như một bà hoàng trong trí tưởng tượng của bác. Tay bác bật mạnh dây đàn, âm thanh rung lên trong bầu gỗ làm chói tai thằng Ích. Nó quay lại nhìn bác. Nó chợt mỉm cười, vì lúc ấy, bác Tốn cũng đang mỉm cười vu vơ. Ích thấy hàm răng ngựa của bác trắng bóng ở dưới ánh đèn...


                                                 (còn tiếp)

Thứ Tư, 1 tháng 10, 2014

CHUYỆN XƯA-NAY MỚI NÓI - KỲ 92 - Chuyện buồn thời có đảng !!!!



               
       Số tháng 8 – 2003 , báo Sông Hương đã in xong, sắp sửa đưa đi phát hành  cả nước thì đột nhiên có lệnh ngưng . “Cấp trên” yêu cầu lột bỏ  một bài , trước khi báo tới được tay bạn đọc. “Bóc bài” là chuyện thường ngày ở…các báo, nhưng lần này lại rơi đúng vào nhà thơ Hoàng Cầm, vốn ngày xưa bị “xử trí” trong vụ Nhân Văn- Giai Phẩm , nay được “ân xá” và được đăng thơ thoải mái trên các báo.
        Nhà thơ Hoàng Cầm đã viết gì để đến nỗi “đứa con tinh thần” bị đá đít vào sọt rác  ? Bêu xấu lãnh đạo văn hoá văn nghệ chăng ?  Dạ không, nhà thơ Hoàng Cầm sau lần ra tù năm 1986 đã trở nên như hiền khô như ngô khoai sắn .Chống Đảng, đòi đa nguyên đa đảng chăng ?  Ấy chết, tuyệt đối không.
        Chẳng qua sau khi nhà văn Nguyễn Đình Thi đi gặp đồng chí Tố Hữu trên thiên đường cộng sản, thi sĩ Hoàng Cầm nổi máu cảm hoài viết một  bài “ Nguyễn Đình Thi trong tôi – Nguyễn Đình Thi ngoài tôi…”  để “ Hương hồn anh Nguyễn Đình Thi linh giám”.
       Có lẽ sợ mang tiếng “ thấy sang bắt quàng làm họ”, thi sĩ họ Hoàng xác định ngay với văn sĩ họ Nguyễn “sự cách biệt” không phải “kẻ dương gian người âm phủ” mà là “ chiếu ngồi” trên văn đàn : ”hai người mang hai bản chất ngược chiều nên suốt 60 năm, mặc dầu có nhiều lúc rất gần nhau mà không hiểu sao, anh và tôi vẫn cứ vượt ra khỏi cái đáng lẽ ra phải có .
         Chắc vì vậy một người đi về nơi “quan trường”, một người ngược lại.
       “Thế là ... Cách mạng tháng Tám đã thành công, lần đầu tôi gặp Nguyễn Đình Thi.”, Hoàng thi sĩ nhớ lại  :
Trước mặt tôi, sừng sững một anh chàng cao lớn, da ngăm ngăm đen, đôi mắt tinh anh, giọng nói uyển chuyển ấm áp. Đặc biệt là bộ âu phục sang trọng đắt tiền, màu đen óng chuốt, cái ca vát đỏ tươi màu mào gà, khiến tôi cảm thấy anh đúng là hình ảnh tiêu biểu cho khí thế cách mạng lúc mới giành được chính quyền. Đôi giày da đen đánh bóng càng làm tăng cái uy phong của một nhà cách mạng trẻ tuổi. Còn tôi chỉ như cậu bé ngu ngơ lẽo đẽo đi theo ở đằng đuôi.”  
 Cái cậu bé lẽo đẽo đằng đuôi ấy rồi cũng viết được một vở kịch thơ có tựa Kiều Loan để mang tới nộp cho anh Nguyễn Đình Thi xin duyệt :
 ”Ngồi trước mặt anh, bên cái bàn giấy lộng lẫy có đủ cả máy điện thoại và hai chồng sách dày, bìa cứng in nổi chữ vàng chữ bạc: Các Mác với vấn đề văn hoá, Tư bản luận, Chống Du-ring... Tôi hoa cả mắt và cảm thấy mình là con chim chích vào rừng...”  .
Những tưởng thi sĩ họ Hoàng được lãnh đạo kiêm nhà văn họ Nguyễn tay bắt mặt mừng, ngờ đâu :
 “  Không khí cuộc gặp mặt bỗng trở nên nghiêm trang và lời mở đầu câu chuyện của anh Thi lại càng làm cho nó thêm lạnh nhạt, căng thẳng.”.
Nhà văn Nguyễn Đình Thi  lên giọng quan cách :
“ Tôi đã nhận được vở kịch của anh. Cả lá đơn nữa. Anh Nguyễn Huy Tưởng và anh Nguyên Hồng đã giới thiệu Kiều Loan với tôi. Tôi cũng đã đọc qua ...
Vừa nói, anh Thi vừa rút ở cái cặp da đen bóng tập bản thảo vở kịch đánh máy của tôi. Anh trao nó cho tôi với một nhếch mép cười mà cho đến nay tôi vẫn không sao hiểu được, nhất là câu nói ngay sau cái cười nửa miệng ấy:
- Rằng hay thì thật là hay!
Hai tiếng cuối câu đay xuống, tôi nghe như có vẻ vừa giễu cợt vừa hững hờ. Và anh Thi cũng chỉ nói có thế. Không hơn nửa lời. Rồi anh thu dọn sổ sách, như có ý bảo tôi “Về đi!”.
 Như vậy đó, vừa mới chập chững đi theo cách mạng, giữa các văn nghệ sĩ trí thức đã sinh ngay ra cái thói đố kỵ tài năng của nhau ,đã lập tức tạo ra mối quan hệ “thủ trưởng và nhân viên” – một bên là lãnh đạo và một bên là “bị lãnh đạo”. Hơn 10 năm sau, khi văn nghệ sĩ trí thức đi theo Đảng,Chính phủ về “tiếp quản thủ đô”, mối quan hệ đó lại bộc lộ trong một bi hài kịch cười ra nước…mắt :
Một sáng đầu năm 1956, anh Thi đến nhà xuất bản Văn nghệ đưa cho tôi đọc tập thơ Người chiến sĩ tập hợp những bài anh sáng tác từ những ngày tháng đầu tiên của cuộc kháng chiến, và anh Thi yêu cầu tôi cho ấn hành ngay, càng sớm càng tốt. “.
 Vậy là lúc này thi sĩ họ Hoàng cũng đã lên quan – quan Giám đốc NXB Văn Nghệ cho dù ghế thấp hơn Bí thư Đảng đoàn văn học nghệ thuật Nguyễn Đình Thi nhiều  lắm. “Quan trên” đã “yêu cầu , mặc nhiên “quan dưới “ phải thi hành ngay. Lập tức, Giám đốc Hoàng Cầm phải tổ chức biên tập, lập kế hoạch in tới…20.000 bản. Than ôi, mưu sự tại “cấp trên” thành sự tại “cấp trên nữa” – cấp trên nữa của nhà văn họ Nguyễn còn có “ông kễnh” Tố Hữu. Thế là vào một buổi sáng, thi sĩ, Giám đốc Hoàng Cầm nhận điện thoại :
   “ Chuông máy điện thoại reo, giọng nói Huế rất êm ái, rất tình cảm của ông Lành (Tố Hữu) đầu dây bên kia. Tôi tiếp chuyện:
- Vâng, nhà xuất bản Văn nghệ đây . Tôi là Hoàng Cầm, thưa anh, có chuyện gì thế ạ?
- Nghe nói, Nhà xuất bản Văn nghệ sắp cho in tập thơ gì đó của anh Nguyễn Đình Thi hỉ?
- Thưa anh, đúng thế ạ. Tôi đã ký phiếu in và gửi cả bản thảo xuống nhà in Tiến Bộ rồi ạ.
- Anh Hoàng Cầm hỉ! Tôi đề nghị anh hoãn lại đừng cho in vội.
Tôi hơi sửng sốt, tuy cũng cảm thấy vấn đề này có trục trặc gì đó.
- Thưa anh, vì sao thế ạ? Toàn thể anh em biên tập đã đọc và thấy tập thơ không có vấn đề gì sai trái với đường lối chính trị đâu ạ. Đó là một tập thơ tốt.
- Tốt thì có tốt, nhưng bây giờ in ngay rồi phát hành đến các tầng lớp quần chúng, nhất là công, nông, binh thì có khi lại hoá ra không tốt…”
“ Động chạm tới công nông binh ?”, ối mẹ ôi, cố nội thi sĩ Giám đốc Hoàng Cầm cũng chẳng dám trái lệnh Ban bí thư. Thế là “đứa con tinh thần” của nhà văn Nguyễn Đình Thi bị bóp mũi chết ngay tại nhà hộ sinh có tên là “Nhà in Tiến Bộ”. Và ngay hôm sau NĐT đã phóng tới Nhà Xuất bản đòi lại bản thảo :
Anh Thi nài nỉ : - Để mình sửa chữa lại. Thú thật, anh Lành đã có đọc tập thơ này. Trong khi anh Lành chưa có ý kiến gì, mình muốn đưa cho Cầm để xuất bản thật nhanh. Nhưng gần đây, khi nghe nói mình đã đưa bản thảo xuống nhà xuất bản thì anh ấy gọi mình lên và khuyên mình nên sửa một số bài mà anh ấy cho là lủng củng. Mình đã tranh luận với anh ấy. Cuối cùng anh Lành vẫn bảo mình nên chữa lại cho độc giả công nông dễ hiểu, dễ thuộc. Thôi thì... người ta là lãnh đạo mà. “
   Khổ thân nhà văn Nguyễn Đình Thi ,“ người ta là lãnh đạo” thì mình cũng “lãnh đạo”, chết cái “người ta” ngồi chiếu trên, còn mình chiếu dưới, có nhét cứt vào mồm  cũng phải chịu, huống hồ sửa dăm ba câu thơ “phục vụ công nông binh”. Thế là :
  “ Hơn một tháng sau, khoảng 5.1956, anh Thi lại cầm bản thảo Người chiến sĩ đến nhà xuất bản gặp tôi.” Anh nói:” Dẫu sao tôi cũng phải nhân nhượng ông Lành. Cũng không theo ý ông ấy hoàn toàn, nhưng vì tôi đã là đảng viên từ lâu, cũng không muốn tỏ ra điều gì khiến người ta có thể kết tội mình là bất tuân thương lệnh hoặc như bây giờ người ta bảo mình là cố ý không chịu sự lãnh đạo của Đảng. Vậy mong Hoàng Cầm cho in thơ của mình theo bản thảo này.”Trong khi đưa tay vào cái túi vải đựng khá nhiều tài liệu để lấy ra cái bản thảo tập thơ mới sửa chữa, anh Thi còn nói thêm một câu khiến tôi cũng đâm ra hoang mang:”- Trí thức văn nghệ sĩ chúng mình đã đi với cách mạng vô sản thì ít nhiều cũng phải hy sinh cái bản ngã của mình dẫu là bản ngã tốt đẹp! “Thế là trong phút giây, tôi chợt nghĩ, Thi nói vậy có lẽ đúng chăng? Mà nói đến tinh thần cách mạng thì mình phải kém Thi rất nhiều chứ!
Anh Thi trao cho tôi tập bản thảo mới, giấy trắng, đánh máy đẹp, đóng bìa khá dày. Tôi cầm tập thơ, chỉ mới giở vài trang đầu, đã thấy có gì gờn gợn trong người. Hoá ra anh chữa khá nhiều. Có bài đã rất vững vàng về ý tứ, âm điệu, anh đã chữa toàn bộ thành ra đủ vần điệu cũ khiến tôi đã như bực bội. Chắc là lúc ấy, mặt tôi đỏ gay gắt và ngấm ngầm có một cái gì cứ trào lên nghén nghẹn ở cổ họng. Tôi đã muốn nói thật to một câu gì đó cho đỡ bực, nhưng may quá, tôi nén lại được. …”
  Cái câu thi sĩ, Giám đốc Hoàng Cầm “nén lại được đó”, tuy không nói ra nhưng ai cũng hiểu là : “ĐM thằng hèn…”. Bởi lẽ vốn mang dòng máu Chí Phèo, cái kiểu “ dạ thưa trước mặt, văng c…sau lưng” là thói bẩm sinh của trí thức văn nghệ sĩ chúng ta. Cái chân lý “ trí thức đi theo cách mạng vô sản phải hy sinh bản ngã tốt đẹp” cũng chỉ được thì thào qua miệng anh Thi tới tai anh Cầm thôi, bố bảo không dám phát biểu trước mặt anh Lành. Nó còng tay là cái chắc.
 Đọc tới đây người ta hiểu ngay vì sao bài báo của Hoàng Cầm bị “lột bỏ”. Nó không chỉ đụng tới những tượng đài của nền văn học cách mạng như Nguyễn Đình Thi, Tố Hữu …mà còn cạnh khoé tới cả rường mối của cả một toà lâu đài văn hoá văn nghệ có đích ngắm là …phuc vụ công nông binh.
 “ Tôi rất thương anh và thật tiếc cho anh. Bởi lẽ, vào những ngày cuối cùng trên thế gian này, trong cõi người này, chắc hẳn anh đã tự biết rằng anh không đạt được ước vọng lớn lao của mình đâu, bất kỳ ước vọng ấy nhằm về hướng nào trong tâm thức sâu kín của một con người.”
   Lời sau chót này thi sĩ Hoàng Cầm gửi văn sĩ Nguyễn Đình Thi cũng là gửi cho toàn thể văn nghệ sĩ tiền chiến đi theo cách mạng. Ở bên kia thế giới, họ có nghe thấy không ?
  Nhưng mà thôi, nghĩa tử là nghĩa tận, bới ra làm gì cho lời điếu thêm buồn…


          7-9-03





HẺM BUÔN CHUYỆN KỲ 179 - Mừng quốc khánh các đồng chí…răng !!!!

                                     
     
                                
Mấy hôm nay loạn âm loạn dương sao đó, chiều nào Sàigòn cũng mưa ngập . Báo hại thằng Hùng nóng con ông đại tá hưu đi coi DJ Hardwell quậy tưng bừng ở sân vận động Quân Khu 7 về, rủ một lũ bạn treo đèn kết hoa ngoài sân làm tăng 2 với  dàn nhạc , sàn nhảy, bia rượu, bánh kẹo , ngờ đâu mưa như đổ nước làm các cô các cậu  toàn con đại gia ướt như chuột lột, bỏ của chạy hết vào nhà .
Lúc đó ông đại tá hưu đang ngồi quán nhâm nhi ly cà phê, thằng Hùng nóng sầm sầm chạy vào, miệng chửi tía lia :
“ ĐM...trời với đất...tự dưng lại mưa mới đểu ?”
Chị Gái hủ tíu rền rĩ :
“ Ối chết chết...sao cậu lại chưởi cả trời vậy ? Phải tội chết ...”
Thằng Hùng “nóng” vênh mặt :
“ Ai bảo đang tạnh ráo lại mưa ào ào làm hỏng cả cuộc vui của người ta...”
Cô Phượng cave cất tiếng an ủi :
“ Sao mấy em không vào nhà mà nhảy ? Phòng khách nhà em rộng mà...”
Thằng Hùng nóng bĩu môi :
“ Nhảy hip-hop trong phòng đâu có được . Phải nhảy ngoài vườn chớ ?”
Vừa lúc đó con bồ thằng Hùng nóng ló cái đầu tóc nhuộm vàng, rối bù theo “mốt” tổ quạ, mắt môi xanh lè, miệng liến thoắng :
Héo lô...Đít u get mân ni...? Quých...quých...Năm chục chai OK...”
Chị Gái hủ tíu kêu lớn :
“ Chèn đéc ôi ...con nhỏ nó nói gì vậy cà ?”
Cô Phượng cave cười hắc hắc :
“ Nó hỏi lấy được tiền chưa . Lẹ lên....Năm chục triệu được rồi.”
Thằng Hùng nóng quay sang ông đại tá hưu, vê vê mấy ngón tay :
“ Ba đưa đây ...lẹ lẹ lên còn lượn ra sân bay ...”
Ông đại tá hưu trợn mắt :
“ Không ở nhà mai đi học còn đi đâu ?”
Thằng Hùng nóng cười cười :
“ Học hành gì bay ra Phú Quốc chơi cái đã...”
Ông đại tá hưu đành móc túi đưa tiền cho nó. Nhìn theo hai đứa dắt díu nhau ra khỏi quán, chị Gái hủ tíu lè lưỡi :
“ Ôi chết chết...nó cầm cả năm chục triệu mà cứ như mình tờ năm chục vậy...Tiêu pha vậy may ra chỉ có cán bộ như chú Ba mới dám tiêu. Hèn chi sang tháng Nhà nước tăng giá điện tới 20 phần trăm mà mấy cha cán bộ cứ êm ru...chỉ có dân nghèo  lo méo cả mặt...”
Ông đại tá hưu càm ràm :
“ Chị nói gì kỳ vậy ? Cán bộ từ nhân dân mà ra ...lo trước thiên hạ...hưởng sau thiên hạ... làm gì có chuyện dân lo mà cán bộ không lo ?”
Thằng Bảy xe ôm nghe ngứa tai, chen ngang :
“ Xưa rồi...xưa rồi chú Ba...ngày xưa may ra ...còn bây giờ hả ? Dân chết mặc dân , cán bộ cứ đút tiền vào túi cái đã ..”
Ông đại tá hưu nóng mắt :
“ Mày không được ăn nói hồ đồ nha...làm gì có chuyện dân chết mặc dân, tiền cán bộ cứ đút túi ..”
Gã Ký Quèn lên tiếng :
“Thì mấy trận bão lũ năm ngoái dân quyên góp tiền tỷ mà có tới được vùng lụt đâu …”
Bà tổ trưởng biện bạch :
“ Đó là tiền hỗ trợ của các Mạnh Thường Quân thôi, còn Nhà nước lúc nào chẳng lo cho dân...”
Thằng Bảy gân cổ cãi :
“ Còn lâu ạ...công nhân thất nghiệp đầy ra kìa...tiền trọ không có phải ra ngủ vỉa hè, tiền ăn cũng không, hai người ăn chung một gói mì...vậy mà cán bộ đâu nghĩ tới việc hỗ trơ, chỉ nhăm nhăm móc túi dân thôi...”
Ông đại tá hưu nổi cáu :
“ Mày nói phải có sách, mách phải có chứng nha...nói bậy nói bạ vu cáo cán bộ là không có được ?”
Thằng Bảy xe ôm cười hề hề :
“ Thì chẳng phải hỏi đâu xa...hỏi ngay chú Ba nè...chú về hưu rồi...cô Ba cũng nội trợ ở nhà...vậy chú lấy tiền đâu xây cái biệt thự to tổ chảng 4, 5 tầng lầu vậy , tiền đâu mà giở tay lên cái đã có năm chục triệu đưa thằng Hùng nóng đi chơi rồi kìa... .”
Ông đại tá hưu lắp bắp :
“ Bộ mày là cán bộ kiểm tra trung ương sao dám hỏi tao vậy ?”
Cô Phượng cave mau miệng :
“ Thằng Bảy xe ôm nó hỏi đúng đó. Chẳng cứ gì chú Ba...ngay như ông Chủ tịch Phường này...mới lên chức chưa được một năm đã sắm ngay cái ô tô mới cứng...rồi mấy ông trên Quận, trên thành phố...có ông nào là không có biệt thự, xe hơi, nhà vườn, với tài khoản dăm bảy chục tỷ không ? Cái đó ở đâu ra. Ăn cắp công quỹ, móc túi dân đen chứ đâu ?”
Gã Ký Quèn nãy giờ im lặng, giờ mới tham gia :
“ Cô Phượng nói đúng đó... Bởi vậy thằng Cục trưởng CSGT mới nói bướng :” Một ngày cầm vài trăm ngàn chưa phải là tham ô “…Thời nay có đốt đuốc giữa ban ngày cũng không tìm được ông cán bộ đảng viên nào không moi tiền Nhà nước, không nặn tiền của dân. Cứ thử công khai tài sản  coi, biết liền …”.
Ông đại tá hưu quát to :
“ Công khai tài sản là vi hiến đó nha…Thanh tra chính phủ đã nói rồi…”
Ông Tư Gà nướng than vãn :
“ Cộng sản mất  chất hết rồi…”
Ông đại tá hưu kêu to :
“ Còn chớ sao không ? Đảng viên cộng sản phải mang trong người tính cộng sản chớ ? Không thì còn đâu là đảng viên .”
Cô Phượng cave cười hắc hắc :
“ Vậy con xin hỏi chú Ba các đồng chí đảng viên ăn chặn tiền  dân có còn tính cộng sản không ?”
Ông đại tá hưu tức quá đáp bừa :
“ Chuyện đó...chuyện đó chắc do cán bộ ngoài đảng làm thôi... đảng viên của Đảng mang trong người tính cộng sản đâu có làm chuyện đó ?”
Gã Ký Quèn cười ha hả:
“ Vậy xin hỏi chú Ba tính cộng sản là cái tính gì vậy ?”
Ông đại tá hưu ưỡn ngực dõng dạc :
“ Tính cộng sản trước hết là thương dân và yêu nước ?”
Gã Ký Quèn lên giọng :
“Yêu nước à ? Nếu vậy xin hỏi chú Ba hôm nay là ngày gì ?”
Ông đại tá hưu đắc ý :
“ Hôm nay là ngày 1 tháng Mười … chứ còn ngày gì ?”
Gã Ký Quèn hỏi tiếp :
“ Vậy xin hỏi ngày đó là ngày gì  mà dân Hànội  buộc phải treo cờ mừng …”
Ông đại tá hưu vui vẻ :
“Kỷ niệm 60 năm giải phóng Thủ đô  chứ ngày gì ?”
Cô Phượng cave cười rinh rích :
“ Ngày đó là mồng 10 tháng 10 cơ…Còn ngày mồng 1 tháng 10 là Quốc Khánh Trung Quốc…”
Bà tổ trưởng reo lên :
”Í trời…tưởng chuyện gì…thì mình cứ treo cờ sớm mừng quốc khánh Trung Quốc luôn thể…”
Thằng Bảy xe ôm văng tục :
“ĐM…sao lại mừng quốc khánh thằng kẻ cướp, cướp đất, cướp biển, giết hại ngư dân…ĐM thằng nào bắt dân treo cờ  ngày đó…”
Ông đại tá hưu đập bàn quát :
“ Sao mày dám gọi các đồng chí Trung Quốc là bọn kẻ cướp hả ?”
Ông Tư Gà nước ràm ràm :
“ Không gọi thằng kẻ cướp thì gọi bằng gì ?”
Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :
“ Gọi bằng các đồng chí … răng lúc nào cũng nhăm nhe cắn vào môi…”

Cả quán cười ầm ầm. Ông đại tá hưu và bà Tổ trưởng im thít



1-10-2014