Tổng số lượt xem trang

Thứ Sáu, 8 tháng 6, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN ( KỲ 45)


                                         
                                        (tiếp theo)
Sau  vố bị cha Hoè truy vấn và mạt sát , cha Thư rút ẩn vào chính mình , “ đã hoá ra con người trầm lặng và buồn bã”. Trong số người giúp việc , cha chỉ quý mến có mỗi  mình một cậu bé giúp lễ tên Tú với một tình cảm đặc biệt :
“ Cậu bé chỉ đứng nhìn ông cha trẻ bằng cặp mắt trong suốt, nghiêm nghị và miệng hơi mỉm cười là bao nhiêu bực giận đã lập tức tiêu tan , là đã muốn mỉm cười  đáp lại và thăm hỏi một câu thật dịu dàng”
Tình cảm giữa ông cha trẻ và cậu bé giúp lễ được đẩy xa tới mức như tình cảm …cha con , anh em lại phảng phất mầu “đồng tính” :
“ Vả lại cậu ta còn biết cách săn sóc người chủ vừa tỉ mỉ vừa âu yếm, đem lại cái vị mặn của trần tục vào cuộc sống nhạt nhẽo thiêng liêng. Chính là cái vị muối của thế gian đã gắn bó họ lại như anh em, như cha con, và nếu họ phải  xa nhau thì nỗi đau đớn chia ly cũng sẽ rất xác thịt…”
Mê mẩn cậu phụ lễ , đức cha lên giọng :
“ Người lớn hay nghi ngờ, hay cứng cỏi, còn trẻ con thì tin tưởng và phó thác. Người lớn thì kiêu ngạo, tham lam, còn trẻ nhỏ thì hiền hoà , nhường nhịn. Người lớn  gian xảo, dối trá, còn trẻ nhỏ chỉ nói có nếu là có , nói không nếu là không. Người lớn là con rắn, trẻ nhỏ là bồ câu. Chúa đã từng vẫy gọi :” Hãy để trẻ thơ đến cùng ta, đừng có cản chúng. Bởi chưng nước Trời  thuộc về những kẻ giống như chúng…”
Cha có thể ca ngợi trẻ con , nhưng sao lại gây cho chúng thù ghét, ngờ vực người lớn đến thế này :
“ Con ơi ! Thầy ghê sợ mọi người, trừ trẻ nhỏ. Ai ai cũng có thể hãm hại được thày , trừ những kẻ trong trắng, ngây thơ như các con. Thầy nói bằng thật vì thầy đã từng  biết. Lời nói ngọt ngào  nhưng lại đọng vị đắng cay ; mời chào và cởi mở là bẫy vô hình : gương mặt thánh thiện che đậy những mưu mô hiểm độc. Thầy đã bị khốn mấy lần rồi. Con nên tin lời thầy dặn…”
Xa hơn nữa, cha còn xúi bậy :
“ …phải biết ngờ vực những cảm tưởng tốt đẹp ban đầu, phải biết tránh xa những cám dỗ có tính xác thịt. Mắt thấy đẹp tức là không đẹp, tai nghe hay tức là không hay, lưỡi nếm ngon tức là không ngon…”
Linh mục là đấng chăn dắt linh hồn cho con chiên. Con chiên gần gũi linh mục ắt phải được học hỏi, trau dồi tâm hồn trong sáng và cao thượng. Vậy mà cậu bé phụ lễ  gần gũi cha Thư, suốt ngày bị cha nhồi nhét tư tưởng thù hằn và mất lòng tin vào người, nhà thờ đã biến thành nơi đầu độc con người nguy hiểm như vậy, liệu có  đáng tồn tại ? Phải chăng đó là “triết luận “ về đạo Thiên chúa và “chủ nghĩa xã hội” của Nguyễn Khải ?
Cậu Tú phụ lễ sống trong nhà đạo vẫn phải đi lao động công ích với thanh niên trong xóm. Ra tiếp xúc với đời, cậu lại nghe lời khích bác rủ rê :
“ Giả sử chúng tôi lại có một người con trai như cậu, nói cậu bỏ lỗi nhá, thì tôi chẳng còn ước ao cái nước thiên đàng nào khác. Cậu đưa bàn tay tôi xem, bàn tay đẹp quá, vừa mỏng vừa mềm, tay này có học nghề gì cũng mau giỏi, mau khéo…”
Ra ngoài đời được tâng bốc rủ rê, trở về nhà đạo, cậu Tú lại  ngập tai những chuyện bê bối xấu xa trong các thầy dòng, các cha cố. Nào chuyện khai gian tiền chợ , nào chuyên trai gái của các cha …Cứ một đằng “đời” thì kéo, một đằng “đạo” thì đẩy như vậy, trước sau cậu Tú phụ lễ cũng phải bỏ đạo mà về với đời. Cậu phàn nàn với ca xứ :
“ Thưa thầy, ngày hôm nay con được nghe nhiều chuyện đến nhơ nhớp , chưa bao giờ con được nghe người ta nói với con, nói với nhau những chuyện lạ lùng đến thế …”
Lẽ ra cha xứ là linh hồn của nhà thờ, phải bảo vệ uy tín cho đạo, phải tìm cho ra thực hư trong “những câu chuyện nhơ nhớp” mà cậu phụ lễ “buôn chuyện’ ở đâu , đằng này cha lại phụ hoạ , bôi thêm tiếng xấu , kể tội nhà thờ mà chính cha  là đại diện:
“ Một cặp kết bạn đến đưa cho đấng chăn chiên tám chục đồng, đấy là tiền biếu riêng , còn phí tổn dầu nến người ta đã chi một món khác rồi. Đấng chăn chiên đưa trả lại năm đồng, chỉ cầm có bảy mươi nhăm đồng, rồi bảo :” Cha chỉ lấy một nửa , còn cha cho con một nửa. Vậy là cha đã nâng giá lễ xin phép cưới từ tám chục lên trăm rưởi…”
Vào những năm thập kỷ 60, chuyện cha bỏ túi tiền “làm lễ cưới” là “tội lỗi xấu xa” . Cha lại tố cáo tiếp  :
“ Có bảy cặp làm lễ vào tối thứ bảy . Sáng chúa nhật linh mục rao ở nhà thờ chỉ hoan hô có ba đôi sáu anh chị em đã có tinh thần ngoan đạo. Đấy là ba đôi có tiền xin lễ cưới, còn bốn cặp kia chỉ làm phép cưới suông thì coi như không có. Có tin được không ? Không thể tin được ! Không thể tin như vậy được ! Lạy Chúa…”
Cha kêu lên vì phẫn nộ, cha không còn biết chia sẻ với ai cái nỗi ghê tởm đó ngoài cậu phụ lễ .Vậy là hai người đã ngầm  họp thành một khối tách khỏi sự dơ bẩn của nhà thờ. Ông nhà văn không dừng ở đó, ông còn đẩy cha cố và thầy phụ lễ đi xa hơn nữa về phía…cách mạng để trong cuộc đối đầu giữa “ton giáo “ và “chủ nghĩa xã hội”, phần thắng phải thuộc về ‘sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân”, minh hoạ cho “luận thuyết “ “ai thắng ai” một thời bao trùm lên đời sống tinh thần dân miền Bắc.
Thế rồi một ngày nọ, ông chánh trương trố mắt nhìn cha linh mục ăn mặc lạ đời :
” cha mặc chiếc quần xanh đã cũ, một cái áo cộc tay nhuộm nâu, chân đi dép cao su, đầu đội mũ lá như …một anh cán bộ”, khiến ông chánh trương phải kêu lên :
“ Lạy Chúa ! cha đi đâu sớm vậy , mà lại ăn mặc như vầy ?”
Hoá ra cha đi thăm…bà con đang lao động sản xuất, hơn thế nữa, cha muốn cùng lao động với bà con :
“Ông chánh giới thiệu tôi với ông phụ trách tổ làm màu nhá. Tôi muốn hàng ngày tới đó làm một buổi. Còn việc nhà Chúa chỉ cần làm một buổi là đủ…”
Ông nhà văn thật  “to gan”, ông gán ghép cho cả cha cố “giác ngộ ý thức lao động”, coi “lao động là vinh quang” , từ bỏ vị trí “đạo cao đức trọng” để đòi “ba cùng” với nông dân không khác gì cán bộ cải cách ruộng đất. Tất nhiên ông chánh trương không đời nào để cha  phá vỡ lề luật của nhà thờ như vậy . Ông nhắc nhở cha :
“ Chúa đã phân mỗi  người một việc. Việc của cha trọng hơn việc chúng con, sao lại bỏ việc trọng để làm những việc khác…”
Cha chẳng những không nghe theo ông chánh trương mà còn tỏ vẻ thích thú được  thoát cái vỏ làm cha :
Tôi ra cùng làm với bà con chứ thăm thú gì ….
Ra đến đường , cha Thư lấy kính râm đeo rồi hỏi nhỏ :
“ Nom tôi đã ra anh cán bộ chưa ?”
Ối Giêsuma lậy Chúa tôi,  làm cha cố mà lại muốn..giống anh cán bộ, muốn học theo bác Hồ ‘đi sâu đi sát” , cùng lao động với nhân dân . Ông “cha cố” của Nguyễn Khải đúng là cha dở người, sắp bỏ áo choàng thâm để xin vào Đảng thật rồi. Quả nhiên ông chánh trương nghĩ thầm về cha :
” Ông này đã ra dở thật . Mặt mũi thì võ vàng , quầng mắt thì thâm đen, ăn nói lúc khôn lúc dại. Đến tội nghiệp!”
và cố khuyên giải cha :
“ Cán bộ họ không vận áo thâm chùng, thì người mặc áo thâm chùng không nên vận quần áo của cán bộ,  ăn mặc phải cho nó phân minh…”
Tất nhiên, cha Thư không hề có ý định bỏ đạo, ông chỉ muốn làm một thứ “linh mục đời mới” một chân trong nhà thờ, một chân thò ra ngoài xã hội , thực hiện đúng phương châm Nhà nước đề ra cho các nhà tu hành sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa :” tốt đời đẹp đạo”. Bởi thế, cha Thư mới tuyên  bố :
“ Tôi vẫn dâng trọn đời tôi để rao giảng Tin Mừng, nhưng không ở nhà tu, không mặc áo chức. Tôi sẽ sống như mọi người…”
Đó chính là cái hình mẫu “ linh mục” “tốt đời đẹp đạo” mà Đảng và Nhà nước bấy lâu nay vẫn đưa ra làm mẫu mực trong Hội những “người công giáo yêu nước”. Hóa ra cái gọi là “triết luận về thiên chúa giáo và chủ nghĩa xã hội” mà phê bình gia Vương Trí Nhàn gán cho “ Cha và con” của Nguyễn Khải chẳng có gì ghê gớm mà chỉ “minh hoạ” chủ trương “tôn giáo vận” của Đảng và Nhà nước với hình mẫu quái thai “ cha cố tốt đời đẹp đạo’ mà thôi. Cái hình mẫu “quái gở “ ấy nhất định vấp phải sự phản đối của con chiên. Bởi thế khi cha Thư xin một chân “lao động sản xuất” ở trại rau để “tự nuôi mình” lập tức bị ông Tài – con chiên, phản đối :
“ .Lạy cha, cha mà làm thế bằng trát bùn vào mặt chúng con còn gì. Xứ đạo này đâu đã đến nỗi túng thiếu ?”
Cha xứ vẫn khăng khăng đòi đi “lao động sản xuất “ :
“ Họ  nghĩ sao mặc họ, miễn là mình làm không sai…”
Quả thực nhà văn viết về linh mục hay về thanh niên “tích cực lao động xã hội chủ nghĩa” đây ? Chẳng thế mà ông cho  linh mục hăng máu lên, mạt sát nhà thờ :
Tôi không muốn sống như các linh mục khác, sống như thế nhơ nhớp lắm , mỗi người nhơ nhớp mỗi cách. Tôi còn trẻ, tôi còn đủ thời giờ để lại chút ít tiếng tốt cho xứ đạo. Bằng không làm được gì hơn thì trả lại áo chức mà về. Sống như kẻ có tội đã đau đớn, lại không được phép cứu chuộc mới thật là đau đớn hoàn toàn …”
Trải qua mấy thập kỷ, Nguyễn Khải liệu đã thấy rõ, ai là người sống nhơ nhớp ? Các linh mục trong nhà thờ hay các quan chức ngoài đời ? Bàn tay dàn xếp của ông nhà văn quá lộ liễu làm mất đi phần chân thực là cái cốt lõi, không thể thiếu  cho một tác phẩm văn chương.
                           
                     (còn tiếp)

Thứ Tư, 6 tháng 6, 2012

MIỀN..."CỤP LẠC" (KỲ 1)


                                 
                                       
                                               (kỳ 1)

Một .

Chuyện tệ hại nhất trong năm thực chẳng ngờ xảy tới đúng vào đêm cuối cùng.
“Vâng, thưa ông cảnh sát, lúc gần sáng , tôi quả có nghe tiếng động nhà dưới nhưng tôi thấy chẳng có lý do gì  phải dậy nên lại ngủ tiếp cho tới lúc các ông đập cửa, dựng tôi dậy,đẩy lên xe, đưa về đây .”
Tiếng còi xe cảnh sát bất chợt rúc lên chói óc trong khi gã cố moi xem tiếng động nhà dưới “ là tiếng gì ?
“Đúng , vấn đề là ở chỗ đó, anh đã nghe thấy ,vậy nhất định phải là một âm thanh nào đó chớ.Tiếng kéo cửa sắt ? Tiếng một vật rơi ?Hoặc là tiếng một người kêu ? “
Chịu, không tài nào nhớ được cho dù ông cảnh sát đã trợn cả đôi mắt quá cỡ, xoáy vào mặt, làm gã lúng túng quay đi,đăm đăm nhìn lên tấm bản đồ treo tường vô vàn chấm nhỏ địa danh mà dù mắt gã mở hết lớn sau cặp kính cũng không sao đọc nổi lấy một chữ .
Ong cảnh sát chừng đã sốt ruột, nhưng vẫn nén, không đập tay lên bàn nữa, ngược lại, nhoài người rót chén nước đưa gã.
“Chuyện này rất quan trọng. Anh phải cố nhớ lại cho bằng được …”
Gã cầm chén nước, lắp bắp cảm ơn, rồi như e thẹn về sự bất lực của trí nhớ, gã lại cúi mặt, khe khẽ gõ ngón tay lên bàn.
Ông cảnh sát chừng không chờ được, đành quay sang những câu hỏi khác về việc dùng thời giờ của gã ngày hôm qua, đã gặp những ai, ăn những món gì ? May quá, gã nhớ được hết và vui sướng thấy ông ta hài lòng ngoáy lia lịa cây bút trên xấp giấy từ nãy vẫn nằm chờ trí nhớ của gã hoạt động. Gã rất muốn biết ông ta hỏi và ghi cặn kẽ thế làm gì nhưng lại nhớ ông đã dặn từ đầu buổi hỏi cung gã chỉ được phép trả lời chứ không được đặt câu hỏi nên gã lại im lặng.
“Vậy tiếng động nhà dưới anh nghe thấy là cái tiếng gì?”
Bất chợt ông ta trở lại câu hỏi tưởng đã được bỏ qua làm gã nhắm nghiền mắt, bóp chặt thái dương, cố hình dung cái phút thức giấc lúc gần sáng. Không, gã chẳng thấy được tiếng động nào ngoài ánh mắt soi mói,đầy giận dữ của ông cảnh sát.
“Tôi sợ! ...
Gã buột miệng, mở choàng mắt thấy ngay ông cảnh sát tóm lấy câu nói nhanh như mèo vồ chuột để xổ ra cả loạt câu hỏi khác. Quả thực, gã sợ một cái gì đó không sao cắt nghĩa nổi cho ông cảnh sát ghi vào xấp giấy. Tình thế gã lại càng phức tạp hơn khi ông cảnh sát lập luận rằng nếu không có tội thì chẳng việc gì phải sợ và khi đã sợ thì tức đã phạm tội .
“ Anh nên thành thực khai báo.Đó là lối thoát duy nhất cho anh sau này.”
Ông nói chắc như đinh đóng cột khi đưa gã ra khỏi phòng không hề chìa tay cho bắt. Ra khỏi sở cảnh sát , gã luôn luôn ngoái nhìn xem có ai theo dõi nên đâm sầm vào tủ thuốc bên hè phố. Để cô hàng nguôi giận, gã hào phóng mua hẳn nửa gói thuốc thơm đắt tiền rồi vừa gõ gót mặt đường ,vừa phì phèo điếu thuốc trên môi. Gã bỗng nhận ra vẻ quen thuộc của phố phường khi chiều xuống .Gã sung sướng hít thở và ngắm nhìn như một người đi xa lâu ngày trở về cho dù gã mới chỉ bị giữ trong Sở cảnh sát chưa quá một ngày .
Thôi quên chuyện đó, không lẽ cuộc sống cứ thẳng đuột và liền mạch đường ray, đôi khi cũng phải trục trặc chứ? Gã triết lý vậy trong lúc ngồi chờ bát phở bò tái ở quán bình dân. Mọi ngày vào lúc này hẳn gã đang loay hoay nấu cơm chiều trong căn phòng tám mét vuông khu nhà tập thể để rồi ngồi xệp giữa nhà, một mình nhấm nháp những món ăn mà đôi khi mải đọc sách, gã bỏ quên cháy khét trên bếp điện .Bát phở được bưng tới, khói thơm ngào ngạt đánh thức cái đói réo ùng ục trong bụng khiến gã ăn hộc tốc, quên nhâm nhi thưởng thức vị ngọt của thịt bò nhúng tái và mùi béo ngậy của nước dùng.
“ Thế nhưng ta phạm tội gì kia chứ ?”.
Câu hỏi bất chợt thúc nhói khi gã đặt chiếc bát không lên bàn . Không , chắc nhầm lẫn gì đây bên phía mấy ông cảnh sát và chỉ nay mai họ sẽ phải tới xin lỗi . Gã nghĩ vậy và bất giác cười to, khoái chí châm điếu thuốc thơm .Thế rồi qua làn khói lơ lửng gã chợt nhận thấy đôi mắt người đàn ông phía bên kia có vẻ đang chăm chú nhìn gã. Đúng hắn rồi - cái đuôicảnh sát gài theo bám  gã. Gã vội vàng rút ví trả tiền và hấp tấp bước khỏi hiệu phở. Không, không nên ngoái lại chỉ tổ thêm nghi ngờ, gã tự nhủ rồi cuống lên vẫy xích lô,vội vã nhảy lên.Khi chiếc xe lao vun vút qua buổi tối còn mới nguyên trên phố phường, lòng gã bỗng run lên mừng rỡ. A ha , đừng hòng theo tớ nhá.Cứ về trình thủ trưởng rằng thằng cha ấy,tên tội phạm đã xơi một bát tái nạm thật là to. Rồi thì khi đẫy tễ, hắn nhảy lên một chiếc xích lô và … bay mất lên trời .
Trong cơn cao hứng gã bảo gã xích lô cứ đạp thẳng, muốn đi đâu đi, muốn tới đâu tới . Gã này khạc ra một tiếng cười tinh quái sau khi quanh co mấy dãy phố tối, gã trỏ mấy cô gái đứng rải rác gốc cây :
- Cậu ưng cô nào cứ chỉ, thích thì ‘’đi đêm ‘’, nếu phải về trình diện  bà xã thì ‘’dù ‘’một cái .
Khi chiếc xích lô thong thả diễu sát vỉa hè, các cô gái lần lượt nhô hết người khỏi bóng tối nhìn gã với cái nhìn ứng viên hoa hậu trước ông Chủ tịch hội đồng giám khảo .Dẫu trong đầu có chứa gần chục cuốn sách về thẩm mỹ học, gã vẫn bối rối  trước kích thước và sắc màu rất khác nhau khiến mọi chuẩn tắc gã đã đọc biến đâu mất trước thế giới vô cùng sống động của cái đẹp .
-         Em đây, em đây  này, anh hai …
Cuối cùng, chẳng cần chờ những ngẫm nghĩ chậm chạp của gã, một cô đã nhảy bổ lên xe, ôm gọn lấy gã với cái nháy mắt đồng loã của gã xích lô . Không được làm đau người phụ nữ dù chỉ bằng một cành hoa - ý tưởng từ cuốn sách xưa  cũ ngăn không cho gã gỡ đôi cánh tay tròn mềm, thoang thoảng mùi Camay cuộn tròn quanh cổ gã .Vả chăng cái triết lý nếp sống ‘’trật đường rầy’’ gã nghiền ngẫm trong hiệu phở càng làm gã yên tâm phó mặc gã xích lô lôi tuột theo cô gái tới căn phòng hẹp sau một hồi quanh co mấy con hẻm tối .
Gã còn ngơ ngẩn ngắm nghía ngọn đèn toả mờ xuống chiếc giường đôi có phủ vải trắng, thoắt cái đã thấy cô gái bước ra từ phòng tắm, trên người không mảnh vải, ngoại trừ chiếc khăn mặt vắt vai.
-Anh cởi quần áo ra chứ? Sao đứng ngó hoài vậy?
Và rồi không kịp để gã phản đối, cô sấn tới giúp gã cũng trần truồng như cô .
-Tên em hả ?Tên là Tình.Nhiêu tuổi hả ?Hai mươi hai.Tại sao làm nghề này? Thôi cha, lẹ lẹ đi, hỏi ẩm ương .
Cô kéo gã ngã xuống giường, đốt lên ngọn lửa dục trên từng phân vuông da thịt ,vờ vĩnh rên rỉ và thở hổn hển.Sau một lúc hăm hở không đạt kết quả , cô kêu lên:
“Sao thế? Anh sao thế ? Phải chú ý vào chứ. Anh cứ nghĩ đâu đâu thế?
Gã vội vàng phân bua rằng ngoài cái thân thể tuyệt đẹp của cô, gã chẳng còn nghĩ đi đâu. Cô cười khúc khích  và lại đẩy gã vào đợt tấn công mới dữ dội hơn khiến cả cái giường chao đảo chẳng khác gì chiếc bè Méduse giữa cơn hồng thuỷ . Nhưng hỡi ôi, cái của ta nhưng không hề vâng theo ý ta, cô gái vỗ đánh đét vào mông gã, kêu to:
“ Chết mẹ, bố”bịnh” phải không? “
Để mặc bàn tay cô gái chà xát một cách căm tức phần kín đáo nhất của cơ thể, gã cãi lại một cách hùng hồn :
“Bệnh gì đâu? Anh khoẻ như voi ấy mà… “
Cô gái đẩy bật anh ra, cười nhạt :
“Voi… thiến hả? Mất bao công sức của người ta mà vẫn “mít ướt” thế này ! Giờ “bố” tính sao đây?”
“Mình cứ  nằm  ôm  nhau …nói chuyện tâm tình lại chẳng hơn ư ? “
Cô gái ngẩn ra, bật cười :
“Càng tốt. Nhưng sáng mai anh vẫn…trả tiền em chứ? “
“ Đương nhiên, anh còn “bo” em một chầu ăn sáng nữa chớ.”
 Cô gác cả đôi chân  trần lên người gã, hút điếu thuốc thơm gã mời, thở khói khoan  khoái:
“Từ bé tới giờ em mới gặp “sự lạ” như anh. Chắc có chuyện lo buồn phải không?”
Gã giật nảy người :
“Sao em biết?”
“Thì đấy, căng thẳng thần kinh lắm nó mới… buồn thiu vậy chứ? “
Gã không trả lời,lẳng lặng gục đầu vào khuôn ngực trắng ngần của cô gái với cảm  giác con đà điểu rúc đầu vào bụi rậm khi bão cát .

                 (còn tiếp)


Thứ Ba, 5 tháng 6, 2012

THỜI "GIẢI PHÓNG" : TRẢ LẠI TIỀN


                                                           CAO XUÂN HUY

                                     Cao Xuân Huy chụp tại nhà Nhật Tuấn

Cao Xuân Huy sinh năm 1947 tại Bắc Ninh. Ông đi lính Thủy quân lục chiến năm 1968,  bị bắt làm tù binh tháng 3, 1975 , tù 5 năm. Năm 1982 vượt biên và đến Mỹ năm sau đó. Năm 1985,  in hồi ký “Tháng Ba Gãy Súng.” Truyện ngắn này rút trong “Vài mẩu chuyện,” do tạp chí Văn Học xuất bản, ra mắt 4 tháng trước khi ông qua đời.

Cơn thèm đàn bà bắt gã đạp xe loanh quanh trong thành phố.
Đường Hồng Thập Tự lác đác chị em ta đứng thập thò dưới các gốc cây.
“Xe qua lại nhiều quá, không được.”
Gã đảo một vòng công viên trước cổng Dinh Độc Lập. Tối. Mỗi gốc cây đều thấp thoáng bóng người. Vài tay cũng đạp xe rảo rảo giống gã.
“Được rồi.”
Gã tấp vào một gốc cây. Một ả ló ra kéo tay gã:
“Dzô sát trong đây.”
“Nhiêu?”
“Hai chục.”
“Không có đủ.”
“Dzậy có nhiêu?”
“Thổi không thì nhiêu?”
“Mười.”
“Vẫn không đủ.”
“Dzậy chớ muốn nhiêu?”
“Có năm thôi.”
“Hổng được. Đụ má… Chưa mở hàng.”
“Nguyên một ngày lương! Không được hả? Thì thôi.”
Gã quay đi. Ả kéo lại.
“Thôi, có nhiêu lấy nhiêu!”
Gã đứng tựa lưng vào gốc cây. Tụt quần.
Ả ngồi xổm xuống. Làm việc.
Ánh đèn pin bất ngờ chiếu thẳng vào mặt gã đàn ông, kèm theo tiếng quát:
“Đứng yên!”
Gã mở choàng mắt, kéo vội quần lên.
Ả bật dậy, co chân định chạy.
Tiếng lên đạn lách cách. Tiếng quát của tên dân phòng:
“Đưa giấy tờ coi.”
Gã lúng túng moi ra tờ giấy: “Ra Lệnh Tha” với tội danh: “Can tội sĩ quan ngụy”.
Ánh đèn pin dừng lại trên những hàng chữ, ngập ngừng.
Tiếng gã phân bua:
“Tôi mới được thả. Lâu ngày… Thèm quá…”
Tên dân phòng nhỏ giọng:
“Anh tui cũng bị mấy năm như cha, mà đâu có tầm bậy tầm bạ như dzầy. Phải kiếm chỗ kín kín một chút chớ.”
“Tôi cũng muốn vậy, nhưng tiền đâu mà mướn phòng.”
“Nó lấy cha nhiêu?”
“Năm đồng.”
“Năm đồng?” Tên dân phòng bật tiếng cười.
Quay sang phía ả đàn bà, hắn ra lệnh:
“Trả lại tiền cho người ta!”
Không hiểu, ả hỏi lại:
“Tiền? Trả lại…”
Hắn quát:
“Trả lại cho người ta. Rồi đi đi.”
Ả ngập ngừng định lên tiếng, nhưng đành im lặng trả lại tiền.
Gã đàn ông lên xe, đạp đi. Đợi tên dân phòng đi khuất, hắn vòng lại, đến gần ả.
“Này, tôi trả lại năm đồng.”
Ả quay lại. Cái nhìn đậu trên mặt gã vài giây, rồi nói:
“Thôi, giữ lấy xài đi.”

C.X.H.

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ 44)


                                 
                                                 (tiếp theo)

Sau cha già ,cha trẻ, Nguyễn Khải cho cha thứ ba ‘ra sân khấu”. Đó là cha Hoè người “đi làm phúc, đi thăm kẻ liệt”  bằng xe máy. Một lần chẳng may cha đâm phải một bà lão, cha phải chở bà vào bệnh viện , phải trả “mười đồng năm hào”  tiền thuốc tiền ăn, lại biếu cụ năm chục để cụ bồi dưỡng, ấy thế mà con gái cụ vẫn  mò đến tận nhà xứ  - mà theo lời cha  -cái con quỷ cái ấy nó vừa khóc lóc vòi tiền , lại vừa hăm doạ xa xôi, rút lại cha đành phải đưa thêm cho nó năm chục nữa. Vị chi là một trăm mười đồng năm hào.Ấy là chưa kể tiền xăng đi đi về về thăm nom bà lão suốt mười ngày điều trị…”
Diễn tả vậy, giống thằng chạy mánh đâm phải bà cụ rồi xuýt xoa tính toán chi li số tiền phải móc ra đền, chứ chẳng phải một cha xứ gây tai nạn sau đó săn sóc họ với tình thương bao dong. 
Một hôm cha Hoè tới thăm cha Thư, dùng cơm trưa xong,khách quý hớp một ngụm nước to, súc nhổ ầm ầm , lấy tăm gẩy giòn giã cả hai hàm răng vừa to vừa khoẻ rồi lại tiếp tục nói ào ào…”
Đúng một anh lái trâu chứ không hề là một linh mục chăm sóc phần hồn con chiên. Tuy nhiên đọc tiếp , người ta lại thấy cái ông linh mục Hoè này ngoài hình hài lái trâu , bên trong lại đúng là một ông cha cố “quốc doanh” được cài vào giáo hội khủng bố tinh thần  linh mục .
Cơm nước xong, cha Hoè doạ cha Thư :
“ Chắc là cha biết chuyện Uỷ ban xã Lạc Hồng mời cụ Vịnh ( linh mục) lên chất vấn chứ ?”
Rồi cha Hoè kể tội :
“ Thật không ai dại như cụ Vịnh. Người ta vừa bế mạc hội nghị Thiên Chúa Giáo chiều thứ bảy, sáng chúa nhật là ngày lễ Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống, cụ dám lên Toà giảng nói xưng xưng :” Chúa Thánh thần lấy hình lưỡi lửa hiện xuống, cho nên người bổn đạo phải chú ý sửa lưỡi , phải nói ngay nói thật kẻo lỗi giới răn thứ tám…”. Nói thế bằng tuyên  chiến công khai với mặt trận còn gì…”
Và cha rủa cha Vịnh :
“Mà ông ta đâu đã trọn, cũng gian dối, cũng mưu mẹo còn hơn kẻ khác…”
Nghe cha Thư nói cha không làm gì cha đâu có sợ , cha Hoè lại doạ :
Cha không làm gì  nhưng kẻ khác làm  người ta vẫn cứ lôi cha vào. Một thằng áo chùng làm láo  thì cả bọn áo chùng phải mang tội mang vạ. Biết để còn kịp ngăn nhau chứ …”
Rồi cha giở trò “tâm lý chiến :
“ ……chỉ những tội trọng mà cụ Vịnh đã chủ mưu , đã nhúng tay trong thời kỳ sửa sai cải cách ruộng đất cũng đủ để chính phủ họ xử bắn rồi, không phải chỉ bắn một lần mà phải bắn  đủ mười lần . mấy năm nay con đi hầu cụ Vĩnh tại xứ Nhất này , nên con biết…”
Khủng bố tinh thần cha Thư chán chê, cha Hoè mới lộ ý đồ bêu xấu, báng bổ  Chúa :
Con được cử ra coi sóc xứ đạo trước cha vài năm, con xin thưa với cha một sự thật đau đớn . Nơi nào phần đời thịnh thì giáo hữu còn làm được việc này việc khác, yên ấm nhiều bề. Nơi  nào phần đạo thịnh thì cờ bạc , rượu chè, kiện cáo, đôi khi còn đánh chém nhau ngay cả trong nhà xứ. Mắt con nhìn thấy, tự con là người trong cuộc, bảo rằng không nên tin thì chỉ còn cách đâm thủng cả hai tai, chọc mù hai mắt…”
Sau khi mượn mồm giáo dân, chánh trương, trùm họ với cả cán bộ Đảng và Nhà nước bôi bác đạo chưa thoả , Nguyễn Khải chui cả vào mồm linh mục chửi cho bõ tức.
Cứ theo đúng lời cha Hoè thì giải tán nhà thờ, bỏ mọi việc đạo xã hội sẽ “yên ấm” nhiều bề, còn không sẽ biến hết thành ma quỷ, xúm vào đâm chém nhau. Vốn là linh mục mới ra trường, đức tin còn nặng, cha Thư không sao lọt tai những lời phản Chúa, ông “cười nhợt nhạt” :
“ Nếu tôi hiểu được  lời cha nói thì cha đang làm lại giáo lý ?”
Đây thật là một lời kết tội nặng nề với một đấng “chăn chiên”, nhưng với cha Hoè, chẳng là cái gì , cha vẫn thở ra cái “triết lý sống” vô thần sặc mùi chính trị thực dụng :
“ nếu con làm theo ý  muốn của đức Giám mục thì thân con phải ngồi tù, xứ đạo sẽ khô héo.Con làm  theo cách hiểu của con thì việc đời sẽ vui vẻ mà sự đạo cũng trọn lành.”
Cái cách của cha là cam chịu trở thành cái đuôi cho chính quyền tha hồ vẫy ngược vẫy xuôi, nhà thờ và giáo hội chỉ còn là một tổ chức quần chúng của Đảng, “ kính Chúa và yêu nước tức là yêu chủ nghĩa xã hội…” – chính là cái cách Đảng đưa tôn giáo theo con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội..
Vài ngày sau, trên đường “kiệu mình Thánh” ở các xã, cha Hoè lại ghé vào thăm cha Thư. Lần này cha Thư còn kinh ngạc hơn nữa vì cha Hoèkhông mặc áo nhà tu mà vận sơ mi ngắn tay màu vàng nhạt, quần mầu sẫm, đi giày da nâu , đầu trần , lại cả kính râm nữa. Với bộ quần áo ấy nom cha trẻ đẹp hẳn , mà tự nhiên, thoải mái hết sức…”
Đúng là một gã làng chơi chứ chẳng ai ngờ đó lại là cha xứ. Đã vậy ông  còn chọc tức người đồng đạo :
“ Con mang cái vỏ của thế gian nom có nghịch mắt quá không ?”
Cha Thư kêu lên :
“ Đi kiệu Mình Thánh mà mặc xống áo này ?”
Rồi cha giảng giải :
“ Tôi đi kiệu Mình Thánh phải đi từ sớm mai, túi Mình Thánh đeo trước ngực , áo phép phủ ngoài , dọc đường chỉ nghĩ tới những sự khốn khó Chúa phải chịu, ai hỏi không nói, ai gọi không thưa, mà còn hãi chưa được sùng kính…”
Cha Hoè không những phớt lờ cả luật lệ nhà thờ mà còn trâng tráo, báng bổ :
“Con thì khác. Đã hỏi là con phải thưa, phải chào. Còn nghiêm mặt đi thẳng họ lại nghĩ mình hờn giận việc gì, bực tức gì sinh hiểu nhầm nhau rồi khổ…”
Thế rồi ông cha Hoè chở cha Thư đi tham dự “tuần chầu lượt thay địa phận”. lúc xe máy chạy qua chợ, các cô bỡn cợt , “hét lanh lảnh” :
“Anh ơi…anh cho em đi cùng với…”
Cha Hoè ngồi nhún nhảy, miệng trả lời, đầu vẫn không ngoảnh lại :
“ lần sau, lần sau tôi sẽ cho ngồi cùng…”
Cái cảnh “cha và con” chim chuột, bỡn cợt nhau giữa ban ngày ban mặt ngay giữa chợ liệu có thể có ở một xứ công giáo toàn tòng như Bùi Chu- Phát Diệm ? Thời bấy giờ, cả nước đang đói, nông dân vắt mình trên đồng ruộng hợp  tác mỗi công tính ra cũng chỉ được vài lạng thóc, ngày hai bữa ngô sắn, rau muối là chính, vậy mà ông nhà  văn tả bữa ăn của các cha xứ thật không thua gì mấy ông Uỷ viên Bộ chính trị :
Thịt gà rán, miến xáo lòng, lại thêm bát riêu cá thật cay, ăn với rau ghém …”. Hai cha lại còn có cả rượu thuốc đưa cay. Cha xứ sống “sướng” như vậy, ai chẳng muốn đi tu.
Sau bữa cơm có một cặp trai gái đến xin làm phép cưới. Khác với cái lần “anh bộ đội và chị cán bộ” bị cha Thư từ chối vì không thuộc kinh; lần này cha Hoè khôn hơn, gà cho hai con chiên :
“ Thế nào, không thuộc được một câu nào hả ? Chỉ cần thuộc một câu là tôi làm tờ chứng cho ngay. Vậy kinh Tạ ơn Đức bà có thuộc không ? “ Kính mừng Maria đầy ơn phúc. Đức Chúa Lời  ở cùng bà…”
Vậy là xong, “thủ tục” lễ cưới tại nhà thờ được giản hoá tới mức độ hài hước làm cha Thư thắc mắc :
“Họ làm những công việc thiêng liêng ấy một cách trần tục vậy sao ?”
Khi còn lại hai cha với nhau, cha Hoè mới “truy vấn” cha Thư , dồn cha vào cái bẫy kết tội cha “lẹo tẹo” với con chiên :
“ Con lạy cha, cha đừng diễn trò cả với con nữa. Cô ấy đã thú nhận với cả con rồi…cha đã lợi dụng lòng sùng kính thiêng liêng của những cô gái thơ ngây để mưu lợi lộc cho riêng mình….”
Cha Thư choáng váng trước đòn vu cáo trắng trợn. Cha nhưngười bị bóng đè, muốn kêu cứu thật to nhưng tiếng kêu không lọt qua được kẽ răng, muốn vùng  chạy ra ngoài nhưng chân tay đã bị trói chặt . Còn cái mặt quỷ thì cứ sát gần lại mãi, đã nhìn rõ cả vè mắt của nó, chóp mũi của nó, chân răng của nó. Và cả cái giọng nói của quỷ, nhẽo nhợt, tanh tưởi, cứù bò bám lần lần lên khắp da thịt…”.
Người đọc cảm giác hai linh mục giống y  hai cán bộ . Họ cũng moi móc, sát phạt , nhìn nhau như quỷ dữ chẳng khác gì trong “đấu tố” . Cái lối trắng trợn lột trần nhau không phải của các nhà tu hành mà chính là của cán bộ Đảng:
Cha phàn nàn kêu ca rằng diềm ren áo lễ của cha rách, rằng giây thắt lưng của cha ngắn , rằng vải may áo chùng thâm vừa thô vừa dày. Cha đã kêu than thì bọn họ phải góp sức mà lo liệu…Đến khi việc vỡ lở, chính quyền can thiệp, lập tức cha nhắm mắt, sõng tay, coi như kẻ đứng ngoài . “ Nào tôi được  biết gì đâu. Họ đã lợi dụng danh nghĩa tôi để làm bậy đấy chứ.!”
Cha Hòe chẳng những không còn “đức tin nơi đức chúa Giê xu”  mà đối với đức cha bề trên cũng đầy tức tối :
Quay mặt về toà giám thì đấng bề trên chỉ một mực hò hét chống cộng, bất hợp tác với chính quyền. Ấy là ngài xui bề tôi làm, còn chính ngài lại nhỏn nhẻn, nhũn nhẽo như kẻ biết vâng phục nhất. Rủi khi mình bị tóm gáy, còng tay thì ngài mới sửng sốt kêu lên : “ ơ, cái thằng ngu thế, Chúa nào bảo nó chống lại người cầm quyền. Nó có ngồi rục xương trong tù cũng là phải…”
Cha bề trên đã vậy, đến các linh mục chăn chiên ở bên dưới cũng ma lanh không kém :
“ Nhưng, thưa cha kính mến, chúng con cũng khôn lắm , chúng con đã liếc mắt, cười duyên với nhà cầm quyền từ lâu rồi. Hẳn là họ phải tin chúng con hơn, dẫu sao chúng con cũng được lớn khôn dưới chế độ mới. Còn cha quản hạt , người coi sóc giáo lý và tu đức của chúng ta ? Ông ấy mặc kệ, ai muốn làm gì thì làm miễn là đừng có lôi ông ta vào cùng một rọ…”
Cứ thế, nhà văn tưởng tượng ra những “con ngựa thành Troie”, những cha cố phản Chúa “đi đêm với cộng sản”. Phải chăng đây là khía cạnh “triết luận “ giữa “công giáo” và “chủ nghĩa xã hội "mà phê bình gia Vương Trí Nhàn đã tâng bốc ngay khi tác phẩm  Nguyễn Khải mới xuất bản ?

                           (còn tiếp)

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012

VỀ MỘT THỜI HÀ NỘI (KỲ 43 )


                                      
                                     (tiếp theo và hết)

 Tôi kín đáo bịt tai , cố không cho câu chuyện rôm rả lọt vào đầu. Tuy nhiên, nó vẫn gợi nhớ tới buổi tối cuối cùng Bình chở tôi đi sắm đồ trước ngày anh đi, chiếc xe cấp cứu hai lần chạy qua mặt và tôi đã lầm lẫn khi tưởng cô gái nằm trên xe ấy là tôi, không phải, hóa ra chính là anh, chính anh. Nước mắt chợt giàn giụa, tôi phải cố kìm những tiếng nức nở, rất may, trời tối mịt trong xe không ai nhận ra. Phía trước, Điền bật lửa châm thuốc, rít đỏ lên, đưa cho anh lái:
      - Sắp tới cầu Cheo Leo chưa?
      - Sắp rồi, chục kilômét nữa thôi.
      - Tới đó, cậu dừng lại một lát.
      Tôi sắp ngủ ngon theo bà hành chính lúc này đã ngáy ngon lành, câu chuyện hai người nói phía trước trở nên xa lắc lơ. Tôi thấy như đang trong căn phòng chật hẹp con tàu vũ trụ đang lao vun vút trong không gian xa xôi. Khuôn mặt như nặn bằng sáp của nhà thơ X. đang hé mắt nhìn tôi thều thào: “bon voyage...bon voyage...”. Tôi định thần, hóa ra không phải ông cụ X. mà chính chồng tôi đấy, anh sắp đi rất xa. Và rồi tôi lại nhận ra chẳng phải trong con tàu vũ trụ nào mà trong buồng tắm quen thuộc của tôi, gương mặt Bình biến đâu mất, chỉ còn lại đôi mắt anh nhìn trộm qua khe cửa. “Thôi bố...” tôi quát lên, đầu đập vào thành xe đau điếng, tỉnh cả ngủ khi xe hãm đột ngột.
      Điền mở cửa, nhảy xuống bảo tôi:
      - Cầu Cheo Leo đây rồi, ta xuống  coi chút đi, Bình bị ngã ở đây đấy.
      Tôi co người lại, có cần phải đến tận nơi thảm kịch đã xảy ra ? Tuy vậy, tôi chẳng còn biết làm gì hơn là lẳng lặng bước xuống đất, giấc mơ ban nãy vẫn còn  ám ảnh, tôi bàng hoàng theo Điền trên con đường xám mờ trong ánh trăng. Không bao lâu sau, tôi đã đứng trên mặt cầu, chiều sâu chóng mặt, tôi thấy con sông bên dưới quặn mình như một con trăn khổng lồ.
      Gió từ bên dưới thổi lộng làm tôi xây xẩm, liệu ngã xuống đó như Bình được không? Tại sao anh bỏ tôi và căn phòng ấm cúng để tới đây, đâm đầu xuống vực thẳm kia? Từ nay, chẳng bao giờ tôi giám tự nhận đã hiểu hết một con người, cho dù người đó là chồng tôi .
      - Chiếc cầu này bị sức ép của bom trong chiến tranh nên yếu lắm rồi. Anh Bình nhận nhiệm vụ thiết kế sửa chữa lại...
      Điền giảng giải và chỉ cho tôi những chỗ Bình đã leo trèo, những thanh sắt nhô ra mà anh va phải trước khi rơi xuống nước. Tôi rùng mình như nhìn thấy anh đứng dưới đó, đang ngước lên nhìn tôi, mỉm cười. “Nhớ giữ gìn sức khỏe, nếu có tin mừng, điện ngay cho anh. Anh linh cảm, sau đêm qua, mình sẽ... có con”. Lời anh nói cuối cùng không hiểu sao lại vang lên trong tôi. Anh linh cảm về sự sống chính xác thế, riêng cái chết của chính mình anh lại hoàn toàn không cảm thấy. Tôi xóa ngay ý nghĩ đó để còn bám được vào đôi chút hy vọng.
      - Tại sao anh Bình không đeo dây phòng hộ?
      Điền trả lời:
      - Trong trường hợp này không ai đeo cả, trừ những người thợ hàn, thợ sắt làm việc trên đỉnh dầm cầu.
      Bình vốn là người cẩn thận, tự tin và sáng suốt, vậy vì sao rủi ro lại xảy ra, anh trượt chân có phải do một “cái hích” vô tình của định mệnh không? Tôi lại nhìn xuống phía dưới, không còn hình ảnh anh ngước lên cười nữa, cứ như là nó đã nuốt đi bởi chiều sâu chóng mặt kia.
       Điền nói tiềp:
      - Bình ngã vào cuối giờ chiều, cũng may biết bơi, lại rất khỏe nên thoát được vào bờ. Chỉ tiếc mãi tối xe cấp cứu bệnh viện tỉnh mới xuống tới nơi. Người bị toác mấy chỗ ở phần mềm, chỉ có trên đầu ...
      Tôi lùi xa lại sau Điền để khỏi phải nghe nốt những lời anh diễn tả khiến tôi kinh sợ như bao lần trên tivi người ta chiếu những cảnh dao súng hãi hùng. Không, tôi còn hy vọng cho dù linh cảm báo rất gở, bởi vậy tôi không muốn nghe Điền nói nữa, cũng không muốn lao tới chỗ Bình chứng kiến  kết cục tuyệt vọng.  
      Tôi lê bước khỏi “chiếc cầu thực” của anh. Chao ôi, để được sống cho đúng với thôi thúc bên trong, cái giá phải trả cho ngọn lửa ấy thật thảm khốc.
      Chiếc xe tiếp tục chạy, rọi hai luồng sáng vào bóng đêm phía trước. Điều gì chờ tôi ở đó tôi đã lờ mờ cảm thấy tuy tôi vẫn gan lì không chịu đón nhận . Hy vọng được cố nuôi trong tôi cũng mờ nhạt chẳng kém gì một ngôi sao thoi thóp trên nền trời tối kia. Có điều chắc chắn: chưa bao giờ tôi yêu anh như bây giờ, người chồng mà tôi vẫn rẻ rúng, bởn cợt, hành hạ. Anh giống như cuộc “đời thường”, sáng, trưa, chiều, tối chẳng có gì mới lạ. Thế rồi bỗng dưng một đứt gãy xảy ra, trong cái “đời thường” ấy, tôi nhận ra những vỉa quặng quý ẩn sâu trong tâm hồn con người. Nếu có một phép màu nào làm anh sống lại , tôi sẽ yêu anh như yêu người đàn ông duy nhất, không ai thay thế , kể cả Biên Cương, cả Hoàng Minh, cả bất kỳ ai.
      Điền lại đốt một điếu thuốc và căng mắt nhìn con đường phía trước. Những giây phút cuối cùng kéo căng thần kinh làm tôi đau tức ở ngực. Chiếc xe đã đi vào thị trấn thưa thớt những ngọn đèn ngái ngủ đứng bên dãy phố vắng người.
      Điền chỉ tay ra trước, reo lên:
      - Bệnh viện tỉnh đấy.
      Bà hành chính đã tỉnh ngủ, líu ríu sửa soạn gói bọc khi xe chạy vào sân rải sỏi và đỗ ngay trước Phòng cấp cứu. Bà nhảy xuống trước, chạy vào hỏi han một người mặc áo trắng rồi lại trở ra lôi tay tôi đi. Tôi lập cập theo bà và đến giữa hành lang, một chiếc xe băng ca đang đẩy tới, trên đó, một người đàn ông nằm đắp mảnh vải trắng loang lổ máu làm tôi dừng lại, bủn rủn.
      - Không phải, nhầm rồi, quẹo lối này.
      Bà hành chính hỏi thăm cô đẩy xe, kêu to lên rồi lại lôi tay tôi đi. Dường như tôi không còn nhìn, nghe thấy gì cho tới khi bị đẩy vào căn phòng mờ mờ ánh sáng, xung quanh chất đầy máy móc. Tôi rụt rè đi tới chiếc giường kê trong góc, trên đó một người nằm, đầu cuốn băng, xung quanh cắm kim nối với các ống cao su, thân thể chìm khuất dưới chăn vải trắng. Tôi sợ hãi nhìn gương mặt chỉ lộ ra một nửa với đôi mắt nhắm nghiền, trời ơi, Bình đấy ư? Tôi lùi trở lại, nhưng một người mặc đồ trắng đã ấn tôi xuống cái ghế đầu giường, thì thào vào tai những điều cấm kỵ: không được nói to, không được động vào người nạn nhân, không được...Tai ù lên như có cơn lốc khoan xoáy, tôi cứ gật đầu chẳng hiểu người đó còn nói những gì và khi nhận ra chỉ còn lại một mình tôi kêu lên thảng thốt:
      - Anh Bình, anh Bình ...
      Tiếng của tôi rơi mất vào đâu đó, mi mắt của anh không mảy may động đậy, tôi tự nhủ phải kiên nhẫn chờ đợi, thế nào rồi nó cũng mở ra nhìn tôi. Từng giọt, từng giọt một, chất lỏng trong chiếc chai treo đầu giường vẫn thong thả rơi vào cơ thể anh làm tăng thêm hy vọng của tôi. Chừng nào nó rơi đủ để anh tỉnh dậy?
      Tôi nhìn bàn tay anh nằm duỗi trên nền vải trắng. Nó gầy guộc, bất động, xa lạ như của một người đàn ông khác chứ không phải bàn tay chồng đã từng âu yếm, vuốt ve. Tôi cúi xuống gần anh và chợt hoảng sợ khi một mùi gì đó vừa thoảng qua mũi, tôi rất biết cái mùi đó, mùi nhà thơ X. khi sắp chết, mùi đám tang, mùi tử khí.
      Tuy nhiên tôi vẫn nhẫn nại chờ đợi. Ngoài cửa sổ bóng đêm đã nhạt hẳn, chuyển sang màu trắng nhờ. Bất chợt, tôi thấy những ngón tay anh hình như động đậy, đúng như vậy, chúng đang từ từ co lại rồi lại thong thả ruỗi ra. Chiếc chai treo đầu giường đã cạn đi một nửa, lần đầu tiên trong đời, tôi thầm khấn trời phật, phù hộ độ trì cho anh vượt qua được cơn hiểm nghèo.
      - Anh Bình, anh Bình ...
      Tôi gọi khe khẽ và run bắn lên khi mí mắt anh hơi rung rồi lại bất động như cũ. Hình như có tiếng chân người bước nhẹ sau lưng tôi.
      - Chưa chảy hết kia à?
      Tôi hiểu cô y tá đã vào, nhìn chiếc chai treo đầu giường rồi lại trở ra. Tuy nhiên lúc này, toàn bộ sự chú ý của tôi đặt hết lên gương mặt anh, chờ đợi. Sự bất động kéo dài của anh làm tôi bỗng nghi hoặc, có thể tôi đã hoa mắt nhìn nhầm, phải chăng anh chưa hề động đậy chút nào?
      Thế rồi, vào lúc mờ sáng, ngoài sự chờ đợi của tôi, bất chợt đôi mắt anh mở ra nhìn tôi với vẻ xa vắng.
      Tôi gọi cuống quýt:
      - Anh Bình, anh Bình, anh có nhận ra em không? Vân đây...
      Hình như khóe miệng anh có chuyển động cơ giới nào đó như là nụ cười, nó tạo ra một vẻ thơ dại thoáng qua trên gương mặt đã xám lại. Đôi mắt anh trợn lên và dừng sững. Nó không còn khép vào được nữa. Tôi xô tới ôm cứng lấy thân thể anh, òa khóc. Loáng thoáng có tiếng người lao xao, tiếng chân chạy vội vã và rồi có rất nhiều bàn tay nắm lấy tôi gỡ ra khỏi anh. Khi chiếc xe cáng người ta khiêng anh lên đó được đẩy đi, tôi rơi xuống một chiều sâu hun hút, ở dưới đó, một con trăn khổng lồ đang vặn mình.
      Trời ơi, chẳng  phải người con gái nào khác, chính anh, chính anh đã ra đi vào lúc mờ sáng...
                                              
                                              HẾT

      NT   

Thứ Bảy, 2 tháng 6, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ 43)


                                 
                                     (tiếp theo)

Ông chánh trương chẳng những không bênh vực , bảo vệ lại còn tố cáo cha :
Cái ông ấy ( tức cha Thư) đến là dại. Lại còn không biết nó ( thị Thảo) là ai mà dính vào…Lần đầu nó xin gặp cha còn nài tôi cùng ngồi. Mấy lần sau chả thấy ông ấy lý gì tới mình nữa. Không biết đâm mù con mắt xác thịt thì có ngày hỏng…”
Chủ tịch Mặt trận nhân đó riễu  cha :
“ Da thịt nó như thế, môi mắt nó như thế, thánh năng ngồi gần còn có khi cháy huống hồ là cha…”  
Cứ như thế kẻ tung người hứng, một bên là đại diện nhà thờ, một bên là đại diện chính quyền ra sức bôi bác cha. Tất nhiên việc mấy cô hội hát quyên góp may áo cho cha như vậy là tan , “ thị Thảo phải hoàn lại đôi hoa cho mẹ con  bà Tộ. Các nhà góp tiền mua áo  lễ cũng lần lượt kéo tới đòi tiền về…”. Mọi lời đàm tiếu tất nhiên chĩa cả vào cha xứ làm “ cha Thư khi được  hay mọi chuyện liền đóng cửa buồng ở lì trong đó cả tuần lấy cớ cảm cúm.”. Từ đó,  mỗi lần làm việc với chánh trương , cha xứ gọi thêm người trong ban hành giáo dự ” khỏi mặt đối mặt với ông già nham hiểm quỷ quái…”  .
Cái “sự khó” dường như luôn luôn đuổi theo cha Thư . Cơn ông chưa qua cơn bà đã tới. Một hôm cha Thư nhận được  thông tư của Toà Giám mục chỉ thị các xứ đạo tổ chức “ bách chu niên đức cha Phước  dâng địa phận Tây đàng ngoài trong tay Đức Mẹ ”. Cha Thư tìm tới cha già quản hạt bàn việc tổ chức  không ngờ ông này …bàn lùi  :
Đức cha Phước  là tên gọi Việt Nam , còn tên chính của ngài là Puginier …năm ấy, đức cha lại nhận lời ông Ngạc Nhi * đi làm thông ngôn trong cuộc đàm phán giữa người Pháp với các quan giữ thành. …”
Hoá ra cha già quản hạt lại là “người yêu nước” , ông kết tội cha làm ‘thông ngôn” cho Pháp chiếm thành Hà Nội . Bởi vậy thật bất ngờ, cha già thở ra giọng “địch vận” lôi kéo cha trẻ về “tình yêu  nước” :
“ Mình là người có đạo thì phải nghĩ theo cách nghĩ của hội thánh. Nhưng mình còn là người Việt Nam nữa nên khó…”
Nghe vậy, lẽ ra cha trẻ phải phản ứng, bảo vệ đức tin , không ngờ chỉ “cúi đầu, thầm nghĩ đau đớn :” Vâng, đúng thế, đúng là thế. Người có đạo là người có tội, tội truyền kiếp, tội của tổ tiên…”
Thái độ khiếp nhược  của cha trẻ làm cha già dấn tới :
Đạo của Chúa đến cùng một lúc với giặc giã kéo đến . Các cố đứng trong đám giặc mà truyền đạo . Người theo đạo thì không thể nghĩ đến nước. Đã nghĩ đến nước thì rất khó theo được đạo…”
Nói năng sặc  mùi “ khinh chúa  yêu nước” vậy , ai dám tin là lời lẽ  linh mục già  quản hạt. Choáng váng vì những lời lẽ “báng bổ” phát ra từ miệng cha quản hạt, ông cha trẻ phải thốt lên :
Lậy Chúa, vậy chúng con phải làm gì ? Bất tuân toà giám cũng  có tội như bất tuân chính quyền…”
Cha già quản hạt không những không động viên cha trẻ giữ lấy đức tin mà còn cả gan “chửi xéo” đức Thánh Cha :
Đức Thánh Cha ở chỗ cao xa , Ngài không thể biết hết được  những khổ đau của người dân ở xứ này. Ngài chưa thể biết hết lịch sử truyền giáo ở xứ này …”
Những lễ nghi của nhà thờ thường được quy định chi tiết và thực hiện  tôn nghiêm. Ấy thế mà ông nhà văn cũng biến chuyện đó thành…trò hề. Nguyên cha tổng quản địa phận gửi giấy về các xứ nhắc lại lễ nghi chầu phép lành quy định :” ra đền thờ bái một lần, lên trải khăn thánh, mở cửa nhà chầu bái lần nữa. …”. Cha trẻ hỏi cha già đã đọc giấy quy định chưa, cha lắc đầu  bảo chưa rồi lên giọng khinh khỉnh, coi như chuyện tào lao :” Bái bốn lần hả ? Ừ thì là bốn lần . Chắc là mọi khi cũng bái đủ cả bốn lần…”
Thái độ vừa báng bổ vừa coi thường phép tắc nhà Chúa của cha già làm cha trẻ phải coi ông ta là “ Một ông già đã quá tuổi làm lễ, đã rất hay quên, đã chẳng còn hiểu mình nói gì và sẽ nói những gì…”. Tuy nhiên cha trẻ nhận ngay ra nhận xét thế là sai “ Nhưng…hình như không phải là thế, hoàn toàn không phải là như thế…”
Không phải thế thì hẳn là một lão già quỷ quyệt, nham hiểm khoác áo linh mục phá nhà thờ.Dưới ngòi bút Nguyễn Khải, hai linh mục -  cha già và cha trẻ hiện ra như  hai địch thủ luôn rình rập triệt nhau chứ chẳng phải cùng  “con cái Chúa” hoặc cùng  đấng chăn chiên. Sự thực có thế không ?
Quả đắng tiếp theo cha trẻ phải nhận là ông trùm đạo An Thuận nhân việc toà Giám mục cấp sắc cho lập xứ đạo riêng đã tổ chức quyên góp chè chén linh đình và đổ hết trách nhiệm cho cha trẻ. Rất may được ông chánh trương mật báo, ông cha trẻ đã kịp thời ngăn được việc đầy tai tiếng đó và than trời :”  Ai cũng xấu cả thì tôi biết  san sẻ công việc với ai ? …Cái miệng lưỡi con người ta gian ngoan thật…”
Tuy nhiên bản lĩnh linh mục của cha trẻ thực sự bị thử thách là trong việc thay mặt nhà thờ làm chứng cho một cặp vợ chồng trẻ. Anh chồng là bộ đội  ở mãi “vùng ngoại  vi Saigòn. Bị thương rồi mới chuyển ra đây…”, chị vợ cũng là cán bộ. Anh bộ đội được nghỉ phép 15 ngày để lấy vợ, khi tới xin cha làm chứng thì đã qua mất 5 ngày, bởi vậy anh rất muốn cha viết giấy “làm chứng “ ngay để hôm sau tổ chức lễ cưới tại nhà thờ. Tuy nhiên, theo luật của hội  thánh , cha vẫn phải hỏi :
“ Hai người đã chịu phép rửa tội tại xứ họ nào ?”
“ Gia đình con vốn ở Lạc Hải , mới về xã được có mươi năm…”
Cha Thư hắng giọng :
“ Vậy chị phải xin với cha chánh xứ ở bên đó tờ chứng đã làm phép rửa tội…Phải đã chịu đủ các phép bí tích từ khi lọt lòng tới tuổi lớn không mới có thể cho chịu phép cưới. Luật lệ của Hội Thánh đã định thế …”
Vậy vẫn còn chưa xong, sau khi đã có hai cái giấy chứng đó rồi thì còn phải dự…khảo kinh nữa. Lúc này “anh bộ đội” mới lên tiếng :
Xin thú thật với cha, cả hai chúng tôi  đều đi công tác đã lâu, kinh bổn chắc là không còn thuộc…”
Cha xứ điềm nhiên :
“ Nên học lại , vốn đã thuộc thì học lại cũng mau chứ ?”
“ Chúng tôi chỉ còn ít ngày phép. Một trăm thứ việc đồn lại trong mấy ngày, xin cha thông cảm cho…” 
Cha xứ vẫn quyết liệt :
Nếu không theo đúng những luật Hội Thánh đã buộc, dẫu làm phép cũng không thành…”
“ Anh bộ đội đưa cặp mắt nhọn nhìn soi mói ông cha đạo từ đầu tới chân như nhìn một giống người xa lạ, trong giọng nói đã có sự thách đố ngấm ngầm . Anh lên giọng :“ Chúng tôi đi chiến đấu không dám kể công với những người ở hậu phương, nhưng ở nơi sống chết mới biết bỏ qua những chuyện vặt vãnh…”
Cha xứ cũng giương mắt nhìn lại :
“ Đối với người có đạo thì hàng ngày xin ơn Chúa, tỏ lòng tin, cậy, mến Chúa là việc hệ trọng nhất…”
Hai người nhìn nhau gằm ghè…
Thật không ở đâu, ngày giữa nhà thờ , lại có thứ con chiên hỗn hào với cha xứ đến vậy . Hơn nữa, anh bộ đội lên giọng riễu cợt :
“ Giả thử chúng tôi đều trúng tuyển qua kỳ khảo thi của cha thì điều kiện tiếp theo có phải là bỏ quân ngũ không ?”
Vậy là anh con chiên mặc áo bộ đội đã không ngần ngại úp lên đầu cha xứ một cái nón cối tổ bố : ép tín đồ đào ngũ, bỏ bộ đội. Và sau cùng, “ anh ta vẫn không rời mắt nhìn ông thầy tu, vành môi trên hơi nhếch lên, cái nhếch môi mới kiêu hãnh làm sao :
“ Chúng tôi vẫn tự hỏi : Sự có mặt của các cha có cho thêm chúng tôi được  cái gì không ? Một câu hỏi đứng đắn đấy. Cha còn trẻ, tôi tin rằng cha có đủ thời gian trả lời…”
Đúng là khiêu khích, phá hoại “chính sách  tín ngưỡng của Đảng, Chính phủ” , vậy mà ông nhà văn lại hạ bút khen :” cái nhếch môi mới kiêu hãnh làm sao…”.
Tuy nhiên, mải mê bôi bác, trách móc nhà  thờ, ông nhà văn quên béng một điều là bất kỳ ‘cuộc chơi” nào cũng có luật của nó. Nếu bài xích nhà thờ dữ dội vậy, thì anh bộ đội với chị cán bộ cứ ra Uỷ ban mà tổ chức đám cưới theo đời sống mới, hà cớ gì phải vào nhà thờ khẩn khoản cha cố “linh động giải quyết” và khi không được thì lập tức giở mặt buông lời riễu cợt mang đầy tính đe doạ, khi muốn nên vợ nên chồng trước mặt đức Chúa Giêsu.

                        (còn tiếp)

Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2012

CÁI CHẾT CỦA NHÀ VĂN


Sau tháng 5-1975, nhiều nhà văn Sàigòn túa xuống đường, không phải “ký giả đi hành khất “ phản đối chính phủ mấy năm trước, mà là…kiếm sống. Các nhà văn Nhật Tiến, Nguyễn Đình Toàn, Lê Tất Điều, Nguyễn Thụy Long, Trần thị Nguyệt Hồng….người bán chuối chiên, người bán bánh mì, người khắc guốc gỗ…Truyện in vào số 5 Văn học & Dư luận tháng 5-1992  nhưng vừa ra sạp  đã bị thu hồi.
Nhà văn Trần thị Ngh. rất nổi tiếng trước 1975 bởi các truyện ngắn “ Nhà có cửa khóa trái”, “Những ngày rât thong thả”,”Trưa mát mẻ” với lối viết rất mới mẻ.

                                                         Truyện ngắn Trần thị Ngh.

              Nhà văn Trần thị Ngh. và con gái Tường an (1992)

Thụ dẫn tôi đi loanh quanh qua mấy con đường chính của thị xã cùng  với túi xách lỉnh kỉnh. Không khí Tết tối mồng bốn một thành phố miền  biển, xem nào, tôi cố ý soi mói cái nơi tôi có thể sẽ định cư  lâu dài với người bạn đời là Thụ.
Đ­ường phố, nhà cửa, ngân hàng, khách sạn, hiệu ăn, rạp hát và những đám đông còn vui Tết – chưa thấy biển . Hai người tìm chỗ ăn tối. Thụ có những cố gắng còn dài hơi. Tôi đang bị thuyết phục và quan sát một cách hấp tấp.
- Em thấy sao ? Thành phố đẹp chớ ? Mỳ thánh  hiệu này thuộc loại khá. Rồi em sẽ biết cà-phê Tư­ Râu, phở Hiệp Lợi , bún bò xe lửa và bánh mì cà ri với giá lý t­ưởng .
- Ngoài các món ăn ra ?  Khí hậu, nhịp sống ?
Dĩ nhiên Thụ đã nói rất nhiều và nhiều lần về những thứ này . Khí hậu miền biển rất tốt cho sức khỏe của em và con, nhịp  sống thong thả làm em bớt nóng tính vả lại anh thấy em cũng nên tập xa dần cái thành phố ồn ào của em - trong đó có một đám bạn bè lúc nào cũng rủ em vượt biên. Vậy còn môi tr­ường văn minh, văn hóa ? Vấn đề giáo dục con cái ? Gia đình em ? Và ngay cả chính em với những tiện lợi tối đa thuộc khả năng chuyên môn, chưa kể những thói quen khó thay đổi ? Thụ khẳng định, em phải hy sinh. Tôi bắt đầu la lối, tại sao em, tại sao phải là em ?  Cuối cùng mọi chuyện lại đâu vào đấy, và chúng tôi tiếp tục giữ vững lập trường  riêng cho đến khi “ đứa con của chúng ta" đã được ba tuổi rư­ỡi. Thụ đề nghị một lần tham quan miền biển, tôi đồng ý trong tinh thần dân chủ.
 Đêm đầu tiên thành phố lạ tôi khó ngủ vì nhớ con.Trời lạnh nhưng tôi thấy ớn  cái chăn đắp  ở khách sạn. Một ngày đường hơn 400 cây số trên cái xe lửa loại 'tàu thườ­ng” ,ghế cứng : giá 3 đ 55 xu, cái bụng lơ lửng vì tô mì thánh 2đ ở hiệu Chú Xín, không khí khách sạn ban đêm... những cái này làm tôi đuối.
Cũng hai cái giưng phủ drap phẳng phiu, bàn viết, tủ đứng, nhà tắm chung với nhà cầu, bàn rửa mặt , vòi nước…Chỉ thiếu máy lạnh, giấy vệ sinh. xà bông, đồ gạt tàn thuốc , nước uống đựng trong chai . Như tất cả những khách sạn khác của  những thành phố khác tôi đã từng biết qua (cố ý hoặc không xếp trước)- cái mà Thụ gọi là một nét trong quá trình bản thân của tôi những ngày chưa  gặp Thụ, rõ ràng lần này tôi đã b­ước vào khách sạn với rất nhiều tình cảm đặc biệt . Tôi đã qua một đêm  khách sạn quốc doanh với người bạn đời. Quá trình bản thân bước qua một khúc quanh. Dù sao, sau đêm khó ngủ ở khách sạn, tôi đề nghị về nhà tập thể của Thụ, nơi cơ quan Thụ làm việc. Tôi sợ những cố gắng quá sức.

  
Bắt đầu cuộc tham quan ngay buổi sáng đã ổn định chỗ ăn ở. Trước mắt, anh sẽ đưa em đến thăm ngay một nhà văn lớn của chế độ cũ. Hoàn toàn không có ý định gì, ngoại trừ  giúp em an tâm, nếu em tự cho rằng em cũng là một người viết trong làng văn Sài Gòn ngày trước.
Ngôi nhà nhỏ, cũ, thấp, tối, nằm trong con hẻm ngắn đâm ngang một đường lớn của thị xã. Tr­ước sân có một ít cây lá. Bình hoa glaieul đỏ trên cái bàn thấp trong phòng khách. Một người đàn bà thò đầu ra từ cửa sau của  nhà bếp,l­ưỡng lự, cuối cùng bư­ớc ra với một vẻ mặt cố ý nghiêm trang. Tôi nhận ra ngay khuôn mặt đã được nghe mô tả, hoặc nhìn thấy  đâu đó trong một tạp chí, một bìa báo - Mái tóc dày, dài, phủ trước ngực , đôi mắt kẻ chì đen kéo dài hai bên đuôi , mí tô xanh. Rõ ràng là đôi mắt đã được khai thác trong rất nhiều tác phẩm của chính tác giả. Tôi cố tìm một cách tự giới thiệu giản dị :
- Tôi ở Sàigòn ra đây chơi, sẵn ghé thăm chị. Tôi chỉ Thụ, đây là nhà tôi, anh ấy công tác tại dây.
Nhà văn lớn nhìn tôi bằng đôi mắt đẹp của bà, lạnh lùng :
- Ở  Sài Gòn ai đã cho chị biết chỗ ở của tôi ? Không, không còn nhà văn nào cả, tôi đã khai tử tôi rồi.
 Giọng nói kịch, bóng bẩy. Thấy gay cấn, tôi khuyến khích :
- Chị sợ không ? Tự nhiên có người lạ mặt đến thăm, chị sợ không ?
-Sợ ? Tại sao lại sợ ? Tôi chỉ sợ tôi thôi.
 Đúng nhãn hiệu cầu chứng, không còn nghi ngờ gì nữa. Thái độ siêu hình, tự chối bỏ ,đồng thời tư duy về cái tôi. Thụ ngồi đối diện hai nhà văn  cười mỉm. Tôi định bỏ cuộc , dù đã đến đây với lòng thành.
-  Tôi ghé thăm chị, đơn giản vậy thôi. Nếu chị không thích, chúng tôi xin phép chào chị về.
Nhà văn lớn vẫn ngồi yên, không có  dấu hiệu tiễn đưa, tiếp tục :
- Từ hơn ba năm nay tôi không tiếp bất cứ một người  quen nào cả . Kể cả những lần về Sài Gòn. Ai đã chỉ cho chị chỗ  ở của tôi ? Anh đây làm việc ở cơ quan nào vậy ?
  Thụ làm bộ nghiêm trang : .
- Tôi công tác  ở Ủy Ban Thanh tra.
Tôi ngạc nhiên nhìnThụ, chưa hiểu. Nhà văn lớn mở to đôi mắt đẹp  .
- Ở Ủy  ban thanh tra à ? Sao tôi không được biết  anh nhỉ ?
Tôi không nhịn được cười , ngó Thụ.
 - Thụ, tại sao lại Ủy ban thanh tra ?
  Thụ châm chọc :
- Thấy câu chuyện giữa chị và nhà tôi trầm trọng, có chất trinh thám nên tôi nghĩ tốt hơn tôi nên...
Không nên đùa dai. Câu chuyện có thể còn tiếp tục với nhiều chi tiết hào hứng, với sự sẵn lòng ngấm ngầm của nhà văn lớn .Tôi đột ngột đứng dậy, bóng bẩy và kịch:
- Xin phép chị chúng tôi về - Nếu chị đã tự khai tử, cứ coi lần viếng thăm của chúng tôi như  một cuộc tảo mộ.
-  Phí lắm, tôi thấy rằng phí lắm. Thành thật tiếc cho anh chị.
  Thụ dẫn xe đạp ra cổng ngoài.Tôi t­ưởng mình dằn được một tràng cười  dòn sau lư­ng Thụ, khi nhà văn lớn chưa kịp khuất sau cánh cửa khép.
Vòng trở  lại biển, chiều đã sẫm. Tôi tự nhiên buồn rũ, hết muốn cựa quậy, Thụ đánh hơi thấy dấu hiệu không tốt, ngoái nhìn ra yên sau :
- Sao vậy ? Sao bỗng d­ưng tắt máy vậy ? Nói gì đi chứ , nhà văn?
- Một ngày quá sức. .
- Bị ám vì cuộc gặp gỡ vừa rồi chăng ?
  Thụ đ­ưa tay chỉ mấy chiếc ghế bố kê dư­ới gốc dừa ngoài bãi cát.
- Nhà văn lớn chắc chắn đã có ngồi đây tìm nguồn cảm hứng - Thụ nhẹ giọng -  em đang trầm trọng phải không ?
- Không, em nghĩ sống như bà cực quá. Lúc nào cũng phải tìm eho mình một thái độ.
- Không - có - thái – độ - nào - cả như  thái độ của anh, em cũng không chịu. Giới nhà văn  của em phức tạp lắm. Anh cưới em có lẽ là vì em đơn giản nhất trong số những người  anh biết.
Mấy ngày phép đã tiêu quá nửa.Thụ thực hiện đúng chương trình tham quan, đầy đủ như những bài thuyết trình của Thụ mà tôi nghe nhiều  lần.Nghĩa là một cuộc tham quan dồi dào về lư­ơng thực, thực phẩm (với giá  lý tưở­ng), những buổi gặp mặt (vừa phải) với những người bạn (có trình độ) của Thụ, nhà trẻ, mẫu giáo, trườ­ng học, nhà th­ương, đài truyền hình, Đại học Hải sản, Hòn Chồng…Mọi thứ, Thụ đã dồn cứng tôi trong ao ư­ớc của anh. Câu chuyện với nhà văn lớn dè nặng tôi nhưng đồng thời cũng mở ra eho tôi nhiều ngóc ngách mới lạ. Bắt đầu. Buổi sáng thức dậy chuẩn bị phần ăn trưa  trong lon guigoz, đưa con vào trường theo lộ trình có gánh xôi  góc đường  Huỳnh Văn Bảnh dù  con rất ớn xôi thiếu đườ­ng cát trắng. Phòng làm việc  dài thòn với 17 khuôn mặt quen thuộc, những con số thống kê tổng hợp . Bắt  đầu - Dư­ới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban Giám Đốc, có sự quan tâm của Thành ủy và Ủy ban. Bắt đầu – Dựa trên năm mục tiêu cơ bản của ngành, triển khai phong trào năm dứt điểm... nào, bắt đầu...
Chiều đón con về nhà (mặt mũi lem luốc, chai nư­ớc không nắp,kẹp tóc mất). Tắm con, tắm mẹ, ăn cơm - Lãnh guốc về vẽ . Vẽ, vẽ, vẽ  . Con khóc, mẹ ngó con nè, mẹ đừng ngó chiếc guốc. Mẹ vẽ guốc kiếm tiền cho con ăn xôi. Không, con không ăn xôi. Vẽ, vẽ, vẽ - khói bay mịt. Trông em giống thợ điện không Thụ ? Cây bút nóng đỏ, dí liên tục trên guốc gỗ..
Và bắt đầu lại, một ngày nữa. Thỉnh thoảng một buổi họp mặt có nhạc nhẹ, đậu phong da cá, trà quốc doanh giữa các nhà trí thức yêu nước. Lại đánh giá tình hình chung, thông báo một vài trườ­ng hợp vượt biên tới nơi tới chốn, học hỏi kinh nghiệm những trường hợp thất bại... vân... vân... Đại khái một loại sinh hoạt có cá tính và chủ đề hẳn hoi. Một anh sẽ độc tấu Tây-ban-cầm, một chị sẽ hát nhạc Liên xô lời Việt với phần đệm dư­ơng cầm của một tay ngang nào đó (có thể là em, nghe Thụ). Vậy đó, có ồn ào lắm không ? Một sự hòa hợp không lấy gì làm nhịp nhàng giữa phòng Thống kê kế hoạch, những đôi guốc vẽ mù mịt khói  gỗ cháy và nhạc nhẹ của những nhà trí thức  yêu nước. Mệt thiệt.  Sắp hết những ngày nghỉ phép. Bắt đầu lại. Sự làm dáng trong văn chư­ơng giống như một sự nhăn mặt. Còn làm dáng trong đời sống ? Một sự dẫy chết.
Hai người đi bộ ra nhà ga lúc 3 giò sáng.Thụ  kéo tôi ra giữa đường  nhựa.Tiếng giày khua lớn qua những con phố còn im ngủ, tiếng chó sủa rộ, hơi thở mát tận trong ngực.
 - Về Sài Gòn ráng may cho anh vài cái quần xà-lỏn. Kẹt quá, em.
 - Nhà văn không có chức năng may quần xà-lỏn.
- Em vẫn tưởng em là cây bút trẻ đang lên và gặp anh trên đườ­ng đi xuống ?
Tôi giả giọng thảm thiết :
-  Không ! Không còn cây bút  nào  trong em nữa - Có chăng chỉ là  cây bút điện dí trên guốc gỗ.

 T.T.NGH.