Tổng số lượt xem trang

Thứ Bảy, 9 tháng 8, 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 51 - NHÂN RẰM THÁNG BẢY CÚNG CÔ HỒN :

          

Năm 1884, Pháp đã chiếm trọn hai miền Nam Bắc. Huế, trái tim của đất nước, trong cơn nguy biến mà mọi người dân Việt Nam đang lâm vòng nô lệ nhìn về. Ngày 02.7.1885 De Courcy đưa quân vào cửa Thuận An, hống hách đòi hỏi triều đình Huế: “Nếu muốn được yên ổn thì phải nộp cho chúng tôi hai vạn thoi vàng, hai vạn thoi bạc và hai vạn quan tiền...”.  De Courcy tiến vào Hoàng Thành và đòi vua Hàm Nghi phải bước xuống ngai vàng, đích thân ra đón. Roussel còn đòi tất cả phái đoàn của Pháp từ quan đến lính quèn phải được đi vào Đại Nội bằng cửa chính Ngọ Môn, trong khi cửa này chỉ để dành riêng cho Đại Nam Hoàng Đế. Sự ngạo mạn và lăng nhục của quân xâm lăng thiêu đốt hết mọi thiện chí ngoại giao. Sự bức xúc của vua quan và dân dã Việt Nam đã ngùn ngụt cháy thành lửa đỏ.
Tối 22 qua rạng ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu tức là đêm mồng 4 rạng ngày mồng 5 tháng 7 năm 1885, Thượng Thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết và Đề Đốc Trần Xuân Soạn đã chỉ huy 20.000 binh lính mở cuộc tổng tấn công vào thành lũy của quân Pháp ở Toà Khâm và Mang Cá, sào huyệt giặc bên sông Hương. Quân ta chiến đấu rất gan dạ. Tôn Thất Thuyết bố trí cuộc tấn công rất chu đáo nhưng vũ khí giới kém nên bị thua trận. Rạng sáng, quân Pháp bắt đầu phản công dưới sự chỉ huy của Pernot.
…Quân triều đình không giữ nổi thành phải tháo chạy về phía Lục Bộ và tràn ra cửa Đông Ba đã bị toán quân Pháp từ phía Cửa Trài tiến lên chiếm ngự. Cuộc chém giết trời sầu đất thảm đã xảy ra nơi mà trăm năm sau vẫn còn ghi dấu: Miễu Âm Hồn. Địch chiếm thành và đốt phá, hãm hiếp, giết chóc cướp bóc không từ một ai.
Một cuộc chạy loạn hết sức đau thương và bi thảm xảy ra. Hầu như không có gia đình nào lại không có người bỏ mạng trong cuộc binh biến này. Chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là số dân chúng ở trong thành. Ngày 23 tháng 5 âm lịch (05.7.1885) từ đó về sau đã biến thành ngày giỗ lớn, ngày "quầy cơm chung" hàng năm của cả thành phố Huế. Họ cúng cho tất cả những người tử nạn: quân sĩ, dân chúng, quan lại, thợ thầy, do nhiều nguyên do: hoặc dày đạp, chen lấn nhau mà chết, hoặc bị đạn Pháp hoặc bị ngã xuống thành khi tìm cách leo ra khỏi thành, hoặc sẩy chân rơi xuống hồ ao dày đặc  trong thành, nhất là hồ Tịnh Tâm… trong khoảng từ 02g đến 04g sáng 23.5 năm Ất Dậu.

“Văn tế cô hồn ngày 23 tháng Năm ở Kinh thành Huế” là một trong hai mươi sáu (1 trong 26) bài văn tế của Phan Bội Châu viết trong thời kỳ bị giặc Pháp giam lỏng ở Bến Ngự (1926-1940).

 

                (trích PHẠM HOÀNG NAM)

 

Văn tế cô  hồn Thất thủ kinh đô (23.5. Ất dậu)


                                          PHAN BỘI CHÂU 

Than ôi! 
Tim óc bùi ngùi,
Ruột gan tê tái.

Hơn thế kỷ trôi qua trước mắt, anh linh thiên cổ còn đây, 
Mấy bi thương chất kín trong lòng, hương hoả tứ thời ngát mãi. 
Nhớ Ất Dậu Kinh thành thất thủ, đám sanh linh phải bao nỗi thương vong,
Nay Mậu Tý Thuận Hoá thanh bình, phường tử đệ vẫn một niềm ái ngại.
Dẫu biết lẽ tử qui sinh ký, đời ngắn tấc gang,
Nhưng xét hồi quốc phá thân vong, nghĩa dài sông núi.
Phận cháu chắt tháng ngày nhớ tưởng, lòng kính yêu dễ mấy nguôi khuây,
Tình bà con hôm sớm quẩn quanh, bụng nuối tiếc khó mà bỏ trái.
Trước thưa sau gởi, đỉnh kỳ trầm hương khói vọng tiền nhân,
Xưa bày nay làm, lễ truy điệu cỗ bàn hầu trưởng bối.

Nhớ linh xưa:
Năng nỗ tháng ngày; Dịu dàng sớm tối
Ham việc ham công, ham đồng ham ruộng, trai cuốc cày gắng sức chăm lo,
Vui vườn vui tược, vui cửa vui nhà, gái bếp núc hết lòng vun xới.
Có đâu biết nước nhà cơn hoạn nạn, lũ Tây dương qua lấn chiếm giang sơn,
Không may thay làng xóm trận can qua, đất Nam quốc hẹp thu dần biên giới.
Ách thực dân đè cổ, ngẩng cổ lên nào thấy trời mây,
Xiềng đô hộ tróng đầu, cúi đầu xuống chỉ là đá sỏi.

Thân mấy mà cam, 
Lòng đâu chịu nỗi.
Từ nam chí bắc, mấy lớp nghĩa binh thua trận, quân Văn thân vẫn quyết chí chẳng lùi,
Trong phủ ngoài triều, bao viên mãnh tướng bỏ mình, lính Phấn nghĩa chẳng nề tâm xông tới.
Rựa sắt kiếm cùn, hoả mai con cúi, giết được thù cho thoả dạ hiếu trung,
Dao tu mã tấu, gậy gỗ tầm vông, phá tan giặc là mát lòng địch khái.
Vua nước mất phẫn uất đời nô lệ, họp mưu thần lập kế phản công,
Dân nhà tan thù hận kiếp tôi đòi, kết nghịch đảng hợp đoàn quật khởi.
Đêm Hăm hai súng thần công nã Chánh toà Khâm sứ, bẽ bàng thay thuốc yếu rơi ngang,
Rạng Hai ba quân hoả dược đốt Tiểu trấn Bình Đài, oái ăm thật lửa tàn tắt vội.
Lang sa lê dương2 tiên phong vô Thượng Tứ, săng-đá giày dẫm nát mù u,
Mã tà ma ní hậu tập vượt Lương Y6, bụp-xoà súng bắn tiêu cai đội.
Hoảng hốt quá, vua xuất cung tị loạn, đa đoan thê tử quân thần, 
Bàng hoàng thay, dân tẩu lộ cầu sinh, lộn xộn lão nhi phường hội.

Thảm ơi hỡi thảm!
Thành cửa nhỏ đâu dễ lòn,
Hào đáy sâu sao khó lội.
Dân tan tác như ong vỡ tổ, đạp lên nhau già trẻ chết chùm,
Binh tán loạn tựa rắn mất đầu, dìu với chắc thấp cao bước mỏi.
Ơi ới, mẹ hú con chồng kêu vợ, thảm thiết sao tiếng khóc bi ai,
Hù hu, em dắt chị cháu níu ông, bi thương thật lời than khắc khoải.
Sáng đã chết, mù càng mau chết, đâm bổ xuống ao, 
Nghèo thiệt thân, giàu cũng thiệt thân, té nhào mép hói.
Tên bay đạn lạc, súng thằng Tây tìm kẻ ngây thơ,
Lê thọc kiếm đâm, thịt dân Việt làm mồi lang sói.
Thây nghĩa sĩ ngổn ngang đường Thành Nội, dồn đống xóm Âm hồn,
Máu lương dân vung vải cửa Đông Ba, xông tanh cầu Gia Hội. 

Ngao ngán thay!
Tay cung kiếm mà đền nợ nước, đành ngàn sau công trạng lừng vang,
Phận rác rơm lại bỏ thân tàn, khổ một kiếp tử thi rửa thối.
Nào gái nào trai, nào già nào trẻ, xác chất chồng xóm vắng làng thưa,
Ấy non ấy khoẻ, ấy mẻ ấy lành, xương vất vưởng nắng phơi mưa gội.
Thôi thôi chi nhiều kể lể, chốn tuyền đài linh hãy đến mau mau, 
Thảm thảm ôi mấy oán than, cuộc siêu thoát hồn trông sao hối hối.
Man mác đám mây chiều phiêu dạt, người dương gian thêm chạnh nỗi hàn ôn,
Lạnh lành cơn gió chướng hắt hiu, khách âm cảnh còn vương tình trần giới.

Nay kính dâng,
Bát cháo thánh hầu ấm thân cô độc, trên đường xa mù mịt bốn phương,
Tấm áo binh đỡ lạnh gót lạc loài, giữa lối thẳm âm u chín suối.
Nước chè nhạt cũng tình quyến luyến, khát vơi dần miệng kẻ thác oan,
Củ khoai cằn ấy nghĩa thân quen, no đôi chút bụng người chết mới.
Bông chuối cau trầu đủ thứ, lỡ khi cùng không thiếu vật tuỳ thân,
Giấy tiền vàng bạc sót chi, gặp lúc ngặt có thừa đồ trao đổi.
Tội sớm tha, công thưởng lớn, nguyện cầu vía yên hàn vượt thoát, đêm âm ty ám ám lưới sương giăng,
Oan thì giải, nghiệp trả dần, cầu khấn hồn thanh thản ra đi, chiều dương thế mù mù luồng khói nổi. 
Đốt nén nhang ngan ngát, mặc ngậm ngùi xin chớ ngó lui,
Vẫy chén rượu thơm tho, dù ấm ức hãy mau bước tới.
Tâm thành lễ bạc, bàn phẩm vật trên dưới sơ sài, 
Ngôn thiểu ý đa, câu ai điếu ngắn dài vụng dại.

Ai tai!
Hồn hãy hiển linh;
Niệm tình thụ bái.
                              
                                                    P.B.C
                                                    









           

Thứ Sáu, 8 tháng 8, 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 50 - Anh không về đại lễ.




                           

 “Đại lễ ngàn năm Thăng Long – Hà Nội” mang nhiều ý nghĩa cao đẹp, tiếc thay lại là tiêu điểm tập trung những xấu xa thối nát cuả bộ máy Nhà nước  : tham ô chia chác công quỹ, khiếp nhược bán nước cho Tàu , ngu si, dốt nát về văn hoá…. Mời đọc lại một số bài thơ “chào mừng đại lễ” của một số nhà thơ trong nước.


ANH KHÔNG VỀ ĐẠI LỄ
                                                                  
                                                  Lê Phú Khải

TRỜI NAM THƯƠNG NHỚ ĐẤT THĂNG LONG
ANH KHÔNG VỀ ĐẠI LỄ


Anh không về đại lễ đâu em
Dù Hà Nội ngàn năm hay vạn năm cũng thế
Khi vua Lý lại mang mão áo vua Tần!
Khi trong phim Việt Nam chỉ thấy sắc màu Trung Quốc!
Thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc
Ông bà ta là thế!
Nên mới còn non nước Việt hôm nay
Hãy gửi cho anh một gói cốm màu xanh
Để anh nuốt vào lòng cả mùa thu Hà Nội
Gửi cho anh một cành liễu Hồ Tây
Để hồn anh mênh mang cùng sương khói . . .
Tưởng nhớ Người xưa đốt hương trầm là đủ
Hãy để những tỉ đô la xây bệnh viện, công viên
Để ngàn năm Thăng Long không thành ngàn mụn ghẻ
Để không còn những bộ phim
Ngộ độc cả ca dao, băng huyết cả tâm hồn
                    
                           




                             GỬI NHÀ THƠ LÊ PHÚ KHẢI


                                                                         Người buôn gió.

   Anh cứ về Hà Nội đi anh
 Nghe câu ca dao xưa còn chưa cũ
Vạn niên là vạn niên nào
Thành xây xương lính hào đào máu dân

  Anh cứ về Hà Nội đi anh
 Chèo Vinashin diễn đến hồi gay cấn
 Vé bổ đầu một triệu một thằng dân
 Dù lớn bé, trẻ già đều đổ đồng cùng hạng

 Anh hãy về Hà Nội đi anh
Hát câu hát của kiếp đời nô lệ
‘’ chung một biển Đông, thắm tình hữu nghị’’
Mừng quốc khánhTầu
 Nhân đại lễ Thăng Long.

 Tôi không tìm được cốm gửi cho anh
 Bởi tất cả đã nhuộm phẩm mầu Trung Quốc
 Từ áo vua quan Nam đến món đồ chơi trẻ nhỏ
 Còn thứ gì nguyên thủy của nước ta

Xin gửi anh
Câu quan họ vang trong ngày đại lễ
Méo mó lời liền chị xứ Bắc Giang
Con Vua thì lại làm Vua
 Con tổng bí gì lại bí xứ kia

Đất ta chẳng đến thời, dân mình chưa đến vận
Con sãi ở chùa kẽo kẹt quét lá đa
Rồi mấy chốc sân chùa cũng sẽ thành dự án
Lá đa không còn, con sãi quét gì đây ?

VỀ HÀ NÔI.

Anh muốn về Hà Nội ? Tùy anh !
Về nghe câu ca dao bất hạnh đọan trường
Mấy đời bánh đúc có xương
Mấy đời Việt cộng mà thương dân mình

Anh muốn về Hà Nội ? Tùy anh !
Về mà xem một nghìn năm nô lệ
Chèo “Vinashin” ? Nhớ vào xem anh nhé !
Chuyện “trai cò” nước đục béo “ngư ông” !

Anh muốn về Hà Nội ? Còn không ?
Hay chỉ là “An nam thuộc địa phủ” ?
Về vuốt ve “16 chữ vàng” thần chú ?
Về mà mơ những kỉ niệm biển Đông !

Cốm lá sen ? Phẩm đỏ với phẩm hồng ?
Để tôi gửi anh một phong cốm dẹp
Cốm dẹp miền Tây thơm mùi hoa nếp
Anh cẩn thận đừng dùng những cốm của họ Lông

Tôi dặn anh:

Về Hà Nội có tạt vào “lăng Bác”

Chuyển hộ tôi tám mươi sáu triệu lời nguyền
Bác ơi bác cứ ngủ yên
Việt nam đẹp nhất có tên Cẩm Đào !

Anh muốn về Hà Nội ? Vì sao !
Về tìm lại chút nào tia hy vọng
Ngày cả Việt Nam đất bằng dậy sóng !
Lá đa phủ đầy trước cổng Hữu Nghị Quan !


         

                             HÀ NỘI – THU NÀY

                                      Trần Mạnh Hảo

cây bàng lề trái
trút linh hồn
dâng máu trải đường thu
cây hoa sữa lề phải
giọt giọt hoa
nhỏ lệ khóc sương mù
bổ đề em Hà Nội
mùa thu
nhà toán học Ngô Bảo Châu
thấy toàn cừu đi lề phải
cấm lề trái
gió heo may không dám ra đường
gió heo may mang hồn Lý Công Uẩn
gió heo may mồ côi ông cha
Hà Nội vào đại lễ
hồn cha ông không dám về nhà
giặc đang chiếm bờ cõi
sao cháu con mở lễ hội ăn mừng ?
hàng cây cơm nguội rưng rưng
đám mây màu cháo loãng
cấm ăn mày vào phố
Hà Nội buồn
biết bố thí cho ai ?
bố thí Hồ Gươm lưỡi kiếm
bố thí Hồ Tây chim sâm cầm
bố thí cốm cho sen
bố thí sự tử tế cho người ?
Hà Nội giàu hơn Mỹ
chi bốn tỷ đô la ăn chơi
gió cồn cào thương bụng đói
nước sông Hồng nhoi nhói bỏ đi
Hà Nội
nghìn năm Thăng Long
gió thu nghèn nghẹn nấc
đêm của những vì sao mù
những hàng bàng chết giấc
những vỉa hè đỡ lấy cả mùa thu…

Hà Nội – Sài Gòn mùa thu 2010



BÁC BA PHI ĐI THĂM MỸ - KỲ 122


                                   (tiếp theo)



Bác Ba Phi lắc quày quạy :
“ Thôi thôi…đi mấy nơi đó làm gì tốn tiền…vả lại vợ chồng cô Ut bận bịu vậy thời gian đâu đưa tôi đi ?”
“Lão già” cướp lời :
“ Í không được ….bác sang đây cả hai tháng trời mà chưa tới New York chiêm ngưỡng tượng nữ thần tự do thì uổng quá…Rồi  còn phải tham quan đài kỷ niệm Tổng thống Washington giống như một cái tháp bút khổng lồ…mà ngộ lắm nha, bác tới đó chụp hình, họ bố trí chụp sao giống như chiếc tháp dựng trên bàn tay của bác mới hay…”
Chị Kelly Thi tiếp lời :
“Cây tháp bút này khổng lồ lắm, cao 170 mét, nặng 90 ngàn tấn , có đáy hình vuông mỗi cạnh 17 mét , tháp nhọn dần lên trên tới chỗ cao nhất có cạnh 10 mét và phần chóp là một kim tự tháp bằng nhôm. Bên trong đài kỷ niệm được lát bằng đá hoa . Khi từ bên ngoài bước vào phòng đợi của Đài Kỷ Niệm, bác sẽ gặp bức tượng sao chép bằng đồng từ tác phẩm của nhà điêu khắc người Pháp Antoine Houdon. Tới đó bác có thể dùng thang máy đi lên đỉnh tháp trong 70 giây, hoặc đi bằng cầu thang 897 bậc, nếu trèo bộ bác sẽ nhìn thấy 192 tảng đá kỷ niệm quà tặng từ các quốc gia, tiểu bang, các tổ chức và tư nhân. Qua các cửa sổ mở ra trên ngọn tháp, bác sẽ thấy Đài Tưởng Niệm Tổng Thống Lincoln, Toà Bạch ốc , Đài Tưởng Niệm Tổng Thống Jefferson và Điện Capitol. Sau khi thăm Đài Kỷ Niệm Tổng Thống Washington bác còn phải tham quan bức tượng Tổng Thống Lincoln ngồi, cao 6  mét, nhìn ra bên ngoài, được tạc từ 28 khối đá hoa trắng ghép lại thật sát khiến người xem không thể nhận ra chỗ nối mới giỏi.”
Bác Ba Phi thắc mắc :
“ Tôi cứ tưởng là tượng người ta thì phải đứng chớ , sao lại ngồi ? Kỳ vậy ? Tôi thấy ở Việt Nam tượng bác Hồ đều đứng cả , rồi coi hình công viên ngoài Hà Nội, thấy tượng ông Lênin cũng đứng…”
Chị Kelly Thi bật cười :
“Có phải tượng ông Lênin một tay giữ ví, một tay chỉ vào mặt người coi quát “đồ ăn cắp” phải không ? Nghe nói dân gian đã có câu :” Ong Lênin ở nước Nga…cớ sao ông tới vườn hoa nước này  …” đúng không ?”
“ Lão già” đế thêm :
“ Đó … ông thấy tượng lãnh tụ cộng sản xấc xược vậy đó, lúc nào cũng muốn hô hào con người ta chém giết nhau…”
Bác Ba Phi thắc mắc :
“ Vậy hai cái tay ông Tổng thống Lanh côn người ta tạc ra sao ?”
“ Lão già” vui vẻ :
“Hai cái tay tượng ông Lincoln  không giữ ví , cũng không chỉ chỏ vào đâu. Một bàn tay nắm lại, biểu tượng cho sức mạnh và quyết tâm của Tổng Thống Lincoln trong các công việc điều khiển đất nước vào thời gian tại chức. Bàn tay thứ nhì xoè ra với tư thế an nhàn, thanh thản, biểu tượng cho lòng vị tha và sự kính trọng đối với toàn thể quốc dân. Tại đây hồi năm 1963, mục sư Luther King đã đọc diễn văn đòi dân quyền ở đây với câu nói nổi tiếng “ Tôi có một ước mơ”  đó…”
Bác Ba Phi cười cười :
“ Vậy ông ấy mơ cái gì ?”
Chị Kelly Thi cười theo :
“ Không phải mơ thấy mình trúng xổ số như nguời Việt Nam đâu, ông mục sư này mơ ước , rồi có một ngày con của nô lệ và con của chủ nô sẽ ngồi lại cùng nhau bên bàn ăn của tình huynh đệ….”
Bác Ba Phi kinh ngạc :
“ Giống như ở ta mơ ước nông dân và địa chủ ngồi với nhau trong tình huynh đệ ấy ư ? Cái đó khó lắm đó…”
Chị Kelly Thi  bật cười :
“ Ở Việt Nam địa chủ đã bị cộng sản tru di tam tộc, đào tận gốc, trốc tận rễ rồi  còn đâu mà ngồi với nông dân ?”
“ Lão già” la toáng :
“ Nhầm chết. Đó là địa chủ thời xưa kìa, bây giờ có hẳn một tầng lớp địa chủ mới, sở hữu cả trăm cả ngàn héc ta ruộng, cướp nhà, cướp đất, bóc lột nông dân tàn tệ, làm gì có chuyện bọn “địa chủ đỏ” này ngồi lại với nông dân trong tình huynh đệ mà mơ…”
Bác Ba Phi bật cười :
“ Đang nói chuyện bên Mỹ , quay tới quay lui lại trở về chuyện Việt Nam là sao ? Vậy cái ông mục sư gì Kinh ấy còn mơ gì nữa không ?”
Chị Kelly Thi cũng cười :
“ Ong ấy mơ cụ thể, thiết thực lắm chứ chẳng có mơ viển vông lên thiên đường cộng sản như ông Hồ Chí Minh đâu. Ong Luther King mớ rồi có một ngày bốn con nhỏ của ông  sẽ sống trong một đất nước mà chúng không còn bị đánh giá bằng màu da, mà bằng tính cách của chúng…”
“Lão già” chen ngang :
“ Thì ước mơ của ông mục sư đã thành hiện thực rồi đó. Ngày nay người da đen như ông Obama đã trở thành Tổng Thống Mỹ, còn thiên đàng cộng sản của bác Hồ đã trở thành chuyện tiếu lâm, hài hước…
Bác Ba Phi thắc mắc :
”Thiên đàng cộng sản trở thành chuyện tiếu lâm , hài hước là sao ?”
“Lão già” cười khà khà :
“ Vậy bác không biết chuyên các nhà báo ở Việt nam đều bị Đảng khâu miệng để không còn tự do phát biểu ý kiến nữa à ?”
Bác Ba Phi cười cười :
“ Thì giống như hình cha Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng tại Toà, bên này mang phóng lớn đặt tại các ngã ba đường phố chứ gì ?”
“Lão già” vui vẻ :
“ Đó đó…nhà báo trong nước cũng bị đảng bịt miệng vậy đó. Chẳng may có ông nhà báo bị xưng amidal , nhiễm trùng cấp tính phải đến bác sĩ nhưng mồm đã bị khâu, bác sĩ không biết làm cách nào cắt bỏ nó đi, mới phát huy sáng kiến là giải phẫu theo đường …hậu môn…”
Bác Ba Ph bật cười :
“ Đúng là chuyện tiếu lầm…”
“ Lão già” kể tiếp :
“ Ca phẫu thuật bằng đường hậu môn thành công mỹ mãn làm cho Đảng lo rằng bọn bác sĩ sẽ lợi dụng đường hậu môn mà cắt cái lưỡi trong mồm đem cấy xuống…hậu môn thì tụi ký giả sẽ…nói được qua đường đó. Thế là Đảng ra lệnh bịt luôn đường hậu môn lại khỏi lo hậu hoạ…”
 Bác Ba Phi  lắc đầu :
“ Chuyện tầm bậy…nhưng chuyện đó có liên quan gì tới chuyện thiên đàng cộng sản chớ ?”
“Lão già” lại cười :
“ Có chớ…từ ngày Đảng bịt cả hậu môn thì dân chúng khỏi phải đi vệ sinh nữa, bởi thế trong thiên đàng cộng sản, tất cả các loại chung cư, biệt thự đều không có…toa lét…đó là đặc điểm cơ bản của thiên đàng cộng sản…”
Chị Kelly Thi cười giòn :
“ Tưởng thiên đàng cộng sản là thế nào chớ như vậy thì ngay đến bác Hồ cũng không muốn lên đó…”
Bác Ba Phi xua xua tay :
“ Khoan đã…khoan đã…có điều tôi chưa rõ…”
“Lão già” tròn mắt :
“ Bác chưa rõ chuyện gì vậy ?”
Bác Ba Phi chậm rãi :
“ Nếu đúng như lời ông nói thì chỉ các ký giả với dân chúng bị bịt miệng, bịt hậu môn thôi chớ ? Mấy ông cán bộ Đảng, Nhà nước đâu có bị?”
“Lão già” cưới lớn :
“ Đúng như vậy…mấy ông đó phải giữ nguyên mồm miệng để tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng và giữ cả hậu môn nữa chớ bởi có sợ mấy chả phát ngôn lung tung gì đâu ?”
Chị Kelly Thi chen ngang :
“ Nếu vậy thì sao ?”
Bác Ba Phi nhẹ nhàng :
“ Nếu đúng vậy thì nhà ở trên thiên đàng cộng sản vẫn phải có toa lét cho các cán bộ đảng viên chớ ?”
“Lão già” cười lớn :
“ Khỏi khỏi…khỏi cần toa lét…họ …ị vào mồm nhau được rồi…”
Bác Ba Phi trợn tròn cả mắt :
“ Í trời ơi…sao các bác nói xấu cộng sản dữ vậy ? Trong khi đó ở trong nước tôi thấy chỗ nào cũng thấy cờ búa liềm, nhất những ngày lễ, ngày tết, ngày hội, cứ là đỏ loè đỏ loẹt đâu đâu cũng đầy khẩu hiệu mừng Đảng trước tiên rồi mới đến mừng Xuân, mừng Tổ Quốc…”
Chị Kelly Thi chen ngang :
“ Chẳng phải chỉ cờ khẩu hiệu thôi đâu, khắp chợ cùng quê, khắp thành phố tới vùng sâu, vùng xa,  khắp sông, khắp núi, chỗ nào cũng thấy người của Đảng chiếm hết cả quyền lực lẫn của cải, vật chất của toàn dân tộc…trong khi đó thì trên thế giới người ta đã vứt cái chủ nghĩa cộng sản này vào sọt rác từ lâu rồi…”
Bác Ba Phi lắc đầu :
“ Sao vứt được ? Tôi thấy mấy ông lãnh tụ cộng sản Việt Nam đi ra nước ngoài vẫn được chính phủ các nước tiếp đón long trọng lắm kia mà ? Ngay tại nước Mỹ này cũng vậy , ba ông Chủ tịch nước, Thủ tướng Việt Nam sang đây chẳng được ông Tổng Thống tiếp đón là gì ?”
Chị Kelly Thi cãi :
“ Họ tiếp đón với danh nghĩa mấy ông đó là nguyên thủ quốc gia thôi, chứ không phải đảng cộng sản…”
“ Lão già” cười hề hề :
“ Cô cãi vậy cũng chưa hẳn đúng, thế ông mấy cha Tổng bí thơ cộng sản Việt Nam cũng đi thăm Pháp, thăm Ý , Hàn Quốc, Nhật Bản mà vẫn được đón tiếp long trọng đấy thôi. ?”
Bác Ba Phi gật gật :
“ Bởi vậy…thế giới người ta đã vứt chủ nghĩa cộng sản vào sọt rác đâu, ông nói vậy là sai rồi…”
“ Lão già” lắc đầu :
“ Bác không biết đó thôi. Thế giới người ta đã lên án cái chủ nghĩa này từ lâu rồi. Ngay từ năm 2006 các nước châu Au gồm 46 quốc gia đã thông qua Nghị quyết 1481 lên án chủ nghĩa cộng sản đã phạm tội ác chống lại loài người.”
Bác Ba Phi tròn mắt :
“ Thiệt không ? Sao báo đài trong nước có thấy nói gì đến chuyện này đâu ?”
Chị Kelly Thi lên tiếng :
“ Sức mấy…chuyện  tày trời vậy tụi nó phải ếm nhẹm đi chớ. Báo đài nào lộ ra, cộng sản nó cắt cổ liền. Cái Nghị quyết 1481 này nói rõ lắm, trong đó có điều 2 khẳng định dứt khoát các chế độ độc tài toàn trị cộng sản gồm khối Liên xô, Đông Âu trong thế kỷ 20 và một số chế độ cộng sản hiện vẫn còn cầm quyền ở 4 nước trên thế giới, đều là những quốc gia vi phạm nhân quyền. …”
“ Lão già” tiếp lời :
“ Nghị quyết này không chỉ lên án các quốc gia cộng sản vi phạm nhân quyền một cách chung chung đâu. Mà ghi thành giấy trắng mực đen tội trạng rành rành của các chế độ cộng sản trên thế giới là đều có chung những cuộc giết người tập thể, ám sát, thủ tiêu cá nhân không cần xét xử, biến đất nước thành trại tập trung với sự đầy đoạ con người về thể xác cũng như tinh thần: tra tấn, nô lệ hoá, lao động khổ sai, tù đầy, khủng bố tập thể, ngược đãi, ám sát vì lý do chủng tộc, tôn giáo, chính kiến; vi phạm quyền tự do tư tưởng, xúc phạm lương tâm con người, cấm tự do báo chí, tự do chính trị, độc tôn, độc quyền, độc đảng…"
Bác Ba Phi lè lưỡi :
“ Í trời ơi…nó mà ghi rõ vậy thì còn gì là uy tín của Đảng nữa, hèn chi dân trong nước có mấy người biết tới cái nghị quyết này đâu ?”
Chị Kelly Thi gật đầu :
“ Phải nói cộng sản Việt Nam bịt mồm, bịt tai người dân giỏi thật đấy, chứ ở các nước khác ấy à, cái nghị quyết 1481 này được phổ biến rộng rãi trên các báo chí, truyền hình, phát thanh để người dân ai cũng được biết. Riêng ở Mỹ này người ta còn dựng tượng Tưởng niệm Nạn nhân của Chủ nghĩa Cộng sản tại một công viên ở thủ đô  Washington, D.C.ngay trong khu vực  Toà nhà Quốc hội Hoa Kỳ nữa kìa…”
Bác Ba Phi trợn mắt :
“ Họ làm vậy mà không sợ chính phủ Việt Nam với Trung Quốc phản đối à ?”
“ Lão già” lớn tiếng :
“ Sợ gì mà sợ ? Đích thân Tổng Thống Bush tới dự lễ khánh thành và đọc diễn văn tưởng nhớ 100 triệu nạn nhân đã chết vì cộng sản…”
Bác Ba Phi kêu lên :
“ 100 triệu người lận ? Ba láp…làm gì tới con số đó ?”
“Lão già” lớn tiếng :
“ Ba láp sao được. Quốc tế người ta có những tổ chức thống kê tội ác cộng sản. Chỉ riêng những năm đầu của chính quyền cộng sản, Liên xô đã giết và thủ tiêu cả chục triệu người rồi. Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2, nó lại giết thêm bao nhiêu triệu người nữa. Riêng năm 1940 , tại khu rừng Katyn , Stalin và an ninh Liên Xô đã thảm sát tới 22 ngàn sĩ quan Ba Lan mà lại đổ tội cho phát xít Đức. Mãi gần đây Tổng Thống Nga mới thừa nhận đó là tội ác của Liên xô và hứa sẽ xem xét trách nhiệm của những kẻ gây nên vụ thảm sát này…”
Bác Ba Phi :
“ Từ năm 1940 tới nay đã 70 năm rồi còn xem xét gì nữa ?
Chị Kelly Thi chen ngang :
“ Có chớ, chính ông Tổng Thống Nga tuyên bố đại ý là những tội ác như vậy là không bao giờ hết thời hiệu. Những kẻ gây ra sẽ phải chịu trách nhiệm, bất kể đã xảy ra cách đây bao nhiêu năm. Chính vì vậy những tội ác cộng sản Việt Nam gây ra cho dân ta như cải cách ruộng đất, rồi bắn giết đồng bào hồi Mậu Thân … hay của cộng sản Trung Quốc như mang xe tăng chẹt cả lên thanh niên sinh viên chết hàng  chục ngàn người đều sẽ được ghi lại và tính sổ sau này đúng như ông Tổng Thống Nga tuyên bố ““Nếu ngày hôm nay, nhắm mắt trước các tội ác này, thì trong tương lai những tội ác như vậy có thể lặp lại – muốn hay không, ở dạng này hay dạng khác, ở các nước khác nhau …“
 Lão già” lên tiếng :
“ Bởi vậy bác có biết đài “Tưởng niệm Nạn nhân của Chủ nghĩa Cộng sản” dựng tượng gì không ?”
Bác Ba Phi lắc đầu :
“ Làm sao tôi biết được ? Chắc lại giống tượng bà mẹ ôm xác con như khu tưởng niệm tội ác chiến tranh ở Sơn Mỹ chứ gì ?”
“ Lão già “ lắc đầu :
“ Hoàn toàn không . theo yêu cầu của những người góp Quỹ Đài Tưởng niệm Nạn nhân của Chủ nghĩa Cộng sản thì mục đích của tượng đài là: "để lịch sử về sự tàn bạo của cộng sản sẽ được dạy cho các thế hệ tương lai" và được ghi nhận là "để tưởng nhớ hơn 100 triệu nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản" nên tượng đài muốn nhắc tới sự kiện Thiên An Môn vào ngày 4 tháng 6 năm 1989 trong đó sự tàn ác của cộng sản lên tới cùng cực khi cho xe tăng nghiến nát con em mình. Bới vậy họ dựng lại bức tượng "Nữ thần Dân chủ" bằng đồng cao 3 mét với hình người phụ nữ cầm ngọn đuốc tự do - hình ảnh mà các sinh viên Trung Quốc đã dựng lên trong cuộc biểu tình ở Thiên An Môn năm 1989. Tất nhiên cộng sản Trung Quốc phản đối kịch liệt ,đại sứ quán gọi việc xây dựng tượng đài này như "một mưu toan phỉ báng Trung Hoa" , nhưng cũng chẳng ngăn được việc xây tượng với dòng chữ :” Để tưởng niệm hàng trăm triệu nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản và những ai yêu tự do…”
Bác Ba Phi ngẫm nghĩ rồi ngập ngừng :
“ Tôi muốn đi thăm tượng đó, được không ?”
Cô Ut vội vàng :
“ Xa lắm tía  ạ…mãi ở giao điểm giữa hai con đường New Jersey và Massachusetts, thủ đô Washington, cách điện Capitol, trụ sở quốc hội liên bang Hoa Kỳ khoảng hai kí lô mét kìa….”

                                (còn tiếp)




Thứ Năm, 7 tháng 8, 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 49 - Hội nhà văn của nước ta - KỲ 12


       Xuất khẩu văn học .
                                                           
Sáng ngày 15/12/2009 Hội Nhà văn VN đã tổ chức họp báo giới thiệu Hội nghị Quốc tế giới thiệu Văn học Việt Nam. Đông đảo các nhà báo trong nước, các tùy viên văn hóa đại sứ quán các nước tại Hà Nội đã đến dự. Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội, Trưởng ban Tổ chức; nhà thơ Trần Đăng Khoa, Ủy viên chấp hành, Trưởng ban Tuyên truyền đã chủ tọa cuộc họp báo. 
Theo nhà thơ Hữu Thỉnh thì giao lưu văn học là một bộ phận quan trọng trong xu thế hội nhập quốc tế. Tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại để làm giàu chủ thể dân tộc là truyền thống quý báu của Việt Nam. Quá trình này được bắt đầu rất sớm với vai trò của chữ Hán, của các đoàn đi xứ phương Bắc. Từ Phương Đông mở sang Phương Tây, từ các lĩnh vực chính trị, tôn giáo mở sang văn học, nghệ thuật, phạm vi ngày càng được mở rộng, nhịp điệu ngày càng cập nhật. Ngày nay, với quan điểm đổi mới và những tiến bộ của văn minh, quá trình hội nhập đang diễn ra rất sống động ghi đậm dấu ấn Việt Nam đang đồng hành với thế giới. 
Thế giới đến Việt Nam được mô tả là tấp nập và đa dạng nhưng Việt Nam ra thế giới còn ít ỏi và chậm chạp. Ngoài những khó khăn về địa lý và ngôn ngữ còn có khó khăn về tổ chức và kinh nghiệm. 
Đã đến lúc phải đặt vấn đề giới thiệu văn học Việt Nam với bạn bè quốc tế một cách có hệ thống, trên một tầm nhìn mới, với tư thế chủ động và tích cực. Cần phải tập hợp được hai nguồn lực lớn từ trong nước và bạn bè quốc tế. Quan trọng hàng đầu là cung cấp thông tin. Giới thiệu văn học Việt Nam với thế giới không chỉ là lợi ích riêng của Việt Nam mà chính là đáp ứng nguyện vọng của bạn đọc thế giới muốn tìm hiểu Việt Nam; góp phần hoàn thiện bức tranh văn học rộng lớn và đa dạng của nhân loại.
Hội nghị sẽ tiến hành trong 6 ngày. Khai mạc vào ngày 5 tháng 1 năm 2010. Kết thúc vào ngày 10/1/2010. Địa điểm: Khai mạc tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội. Hội thảo diễn ra tại Khu biệt thự Hồ Tây và khách sạn Tây Hồ. Tham quan và du lịch văn hoá tại Quảng Ninh. 
Thành phần chính: Là những dịch giả trong và ngoài nước đã có công lao, thành tựu góp phần giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài. Với khách nước ngoài, ngoài các dịch giả, Ban Tổ chức còn mời những nhà văn đã có nhiều năm gắn bó với Việt Nam, sáng tác về Việt Nam trong các giai đoạn lịch sử. Một số nhà xuất bản trong và ngoài nước đã có công giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài. Một số nghiên cứu sinh, thực tập sinh và sinh viên nước ngoài đang học tập, nghiên cứu tại Việt Nam. 
Số lượng: 300 đại biểu (trong đó có 150 đại biểu nước ngoài, đến từ 32 nước.
Nhà thơ TRẦN ĐĂNG KHOA hân hoan :
“Từ trước đến giờ, ta hoàn toàn thụ động chờ phía bạn chuyển ngữ và giới thiệu văn học của ta. Hội nghị dịch thuật lần này là bước khởi đầu cho việc giới thiệu tốt nhất văn học Việt ra thế giới”
. Chúng tôi đã chuẩn bị rất kỹ, mời những nhà thơ, nhà văn, các dịch giả nổi tiếng trong và ngoài nước. Đặc biệt là những dịch giả ở những nền văn học lớn, gần gũi và gắn bó lâu đời với chúng ta như Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, gần đây là Pháp, Mỹ và rất nhiều các nước khác. Dự kiến sẽ có những cuộc hội thảo khoa học về dịch thuật và các hoạt động văn hoá khác tại Văn Miếu, Hạ Long và Phủ Thành Chương… Tôi nghĩ đây là một sáng kiến hay, một việc làm rất cần thiết của Hội Nhà văn Việt Nam. Bởi dịch văn chương là một việc rất khó.”
Đúng là dịch văn chương rất khó, dịch thơ lại càng khó. Bởi thế cho dù Việt Nam là một “cường quốc thơ” theo lời thi sĩ kiêm Phó Chủ tịch Hội nhà Văn Nguyễn Quang Thiều thơ Việt Nam xuất cảng ra ngoài vẫn thuộc loại …xưa nay hiếm.
Hóa nên Hội nhà văn làm Gửi phản hồi ”dự án” dịch văn học Việt Nam mang sang Mỹ bán là …rất hay …nhưng … cẩn thận không mất cả vốn lẫn lãi. Bởi lẽ các môn nghệ thuật trong một nền văn hoá bao giờ cũng có tính đồng đẳng.
 Chẳng hạn văn học nào thì điện ảnh nấy. Thơ nào thì nhạc nấy. Vậy thì xuất cảng văn học sang Mỹ có khác gì đưa điện ảnh Việt Nam sang kinh đô Hollywood.
Cứ thử đưa “Bao giờ cho đến tháng mười”, “ Chim vành khuyên” …hay là “Đẹp từng centimét”, “ Bỗng dưng muốn khóc”…  cho phát hành phim Mỹ coi họ có mua không  ?
Văn học cũng thế mà thôi. Tôi e  bác Hữu Thỉnh nhà ta có sang đốt đuốc ở Huê Kỳ cũng khó tìm ra một anh Mẽo nào có gan đọc “ Hòn đất”, “Xung đột”, “ Vỡ bờ”…
Tôi không nói tới “cộng đồng Việt kiều” nơi bà con đa số đọc sách báo trong nước bằng tiếng Việt, khỏi dịch. Ở thị trường nước ngoài , quả thực, tôi chỉ chứng kiến duy nhất một tác giả người Việt “vào “ được thị trường sách Mỹ. Đó là Kiên Nguyễn, nhà văn Việt kiều, tác giả “The Unwanted”. Sách in ra được cả một hệ thống PR quảng cáo rầm rộ,  in ra tới hơn chục thứ tiếng, được một Hội đồng thành phố ở Ý tặng danh hiệu hiệp sĩ, nhuận bút thu về cả triệu  đôla.”. Những cuốn tiếp theo, “The Tapestries”. “ Colonial” …cũng đều “bán cái” cho nhà xuất bản đã đỡ đầu mình.
Đó là trường hợp thành công, thế còn thất bại ?
Tiểu thuyết “Đi về nơi hoang dã “ của Nhật Tuấn được dịch giả Phan Huy Đương chuyển ngữ tiếng Pháp và nhà xuất bản Picquiet ở Pháp ấn hành.
Cũng quảng cáo rầm rộ, cũng đưa lên mạng amazon.com với những lời lẽ thật giật gân
:”đây là một kiệt tác…”. Vậy mà than ôi mỗi năm hình như chỉ bán được…vài chục cuốn.
Tất nhiên hai trường hợp nêu trên là “đi cửa chính”, là “hữu xạ tự nhiên hương” không quen biết, không nhờ cậy, không “phong bì”. Và tất nhiên còn những trường hợp khác nữa…
Bởi vậy cách tốt nhất để xuất khẩu tác phẩm văn học Việt Nam sang Mỹ theo tôi là cứ dịch ở Hà Nội, cứ in ở Hà Nội, đóng nhãn Nhà xuất bản tên tiếng Anh rồi chở tàu thuỷ sang Mỹ biếu không các thư viện các trường đại học, các viện dưỡng lão, các hiệu sách, các quán phở …Có như vậy văn học Việt Nam mới có cơ may tới tay độc giả Mỹ . Thế còn họ có đọc hay không thì chỉ có … Chúa biết.
Nhưng mà chuyện đó có hề chi, tiền của dân ta cứ xài thoải mái. Có thấm tháp gì so với các  “đại dự án “ VINASHIN, VINALINE,  tiền Polymer…
Bởi vậy đề nghị Hội nhà văn cứ hăng hái xốc tới
, cứ thả sức coi tiền dân là tiền của …địch mà ra sức tiêu xài .


NT


PHẠM THẮNG VŨ : Con sóng dữ - KỲ 23




                                        (tiếp theo)

Chạy trên dòng sông lớn chưa lâu, ba người khách chúng tôi một phen hốt hoảng khi bị một ghe gắn máy chận lại. Hai người phu chèo xuồng vội cập sát vào chiếc ghe máy đó và giúp cả ba trèo qua. Bóng điện nhỏ xíu gắn bên vách mái ghe soi sáng một dãy hơn mười người ngồi bó gối trong khoang che kín mít. Tiếng máy ghe nổ đều nhẹ, không ai nói với ai một lời, cứ im lặng tuân theo sắp xếp của người tổ chức. Ba chúng tôi chui vào ngồi yên xong xuôi, ghe máy tách khỏi xuồng ba lá rồi tăng tốc chạy tiếp. Đây mới ghe taxi, xuồng chèo tay vừa rồi chỉ chuyển tiếp vì nó không thể chở khách đến thẳng cá lớn đang chờ đâu đó trên mặt sông rộng. Ghe taxi có lúc giảm tốc độ rồi lại chạy thật nhanh hoặc đảo hướng chạy ngược về đoạn sông cũ. Khách ngồi trong khoang ai cũng lo sợ, căng thẳng. Sát bên tôi, cô Đào thở hắt từng hơi hồi hộp.

Quần tới quần lui cả hơn nửa giờ đồng hồ trên sông, ghe taxi mới gặp được cá lớn. Ghe chậm dần và cập lại bên hông cá lớn trong sự vui mừng của khách vượt biên. Lần lượt từng người chui ra khỏi ghe taxi và nhanh chóng trèo sang cá lớn. Tôi chui ra sau cùng, trèo qua đứng loay hoay trên mặt sàn cá lớn. Gió trên sông thổi mạnh hơn cùng tiếng nước vỗ vào thân ghe làm tôi có cảm giác sờ sợ. Một người đứng gần liền cầm tay tôi, ấn tôi chui tọt ngay xuống khoang hầm. Trong khoang hầm, mùi dầu máy, hơi người quyện cùng mùi dầu gió xanh con ó nồng nặc. Cái mùi quen thuộc trong các chuyến vượt biên khi trước. Cá lớn chạy chầm chậm nhận thêm khách chuyển tiếp ở các ghe taxi khác. Khoang hầm càng lúc càng đông người cho đến khi có tiếng phản đối: " Chỗ đâu nữa mà nhét hả các cha nội ". Nói thì nói, khách vẫn được chuyển tiếp lên cá lớn và nhồi xuống luôn khoang hầm. Thật lạ lùng, đông người vậy mà vẫn đủ chỗ. Nam hay nữ gì bất kể, mặt kề sát vào lưng hoặc đè lên chân lên thân của nhau.Tôi thấy khó chịu, phải ngửa mặt lên ô trống cửa khoang hầm mong tìm chút không khí để thở. Chắc chắn sẽ có người xỉu nếu cứ ở lâu trong khoang hầm tối đen nóng nực, ngột ngạt và chật chội. Chợt tiếng người trên mặt sàn ghe nói vọng xuống:

- Cá lớn bắt đầu chạy, tụi tui phải đậy kín nắp hầm đó. Ráng chịu đựng một chút nghe bà con.

Tiếng máy nổ to hơn, cá lớn rùng mình và từ từ tăng tốc độ. Tiếng nước vuốt sát vào ván thân ghe kêu rào rạo. Cá lớn chạy rồi, ai nấy thở phào mừng rỡ. Nắp khoang hầm nói đậy kín nhưng chỉ che hờ, nhờ vậy gió bên ngoài thổi tốc xuống dưới làm không khí bớt ngộp bớt nóng. Tôi mỏi mệt khắp cả người, cảm giác tê dại lan dần xuống hai đùi rồi hai chân nhưng vẫn không cách nào nhúc nhích thân mình được. Cá lớn chạy được một lúc khá lâu thì người ngồi ngay trước mặt giơ hai tay choàng vào cổ tôi và sau đó gục hẳn đầu xuống. Từ từ người đó chúi đầu vào ngực tôi, xòa những lọn tóc dài phủ trên hai cánh tay. Một cô gái và không phải Đào hay Bẩy vì mầu áo trắng nhờ nhờ. Cô gái này chúi đầu mãi thì làm sao có thể thở được và sẽ càng say sóng hơn. Nghĩ vậy, dùng hai tay tôi nâng người cô ngồi thẳng dậy rồi nói:

- Cô ráng ngửa mặt lên mà thở, sẽ thấy dễ chịu. Đừng cúi đầu xuống mãi, chóng mặt lắm.

Làm theo lời vừa nghe nhưng chỉ được chốc lát, cô ta lại chúi đầu tiếp vào ngực tôi. Mỗi lần như vậy tôi phải nâng người cô ngồi thẳng lên. Tôi cũng quá sức mệt mỏi rồi thiếp đi cho đến khi cửa hầm được mở hẳn ra, kéo theo luồng không khí mát lạnh vào khoang kèm cùng lời báo. 

- Mình ra biển lớn rồi bà con ơi. Ra biển lớn rồi!

Không một tiếng người trong khoang hầm đáp lại. Ai nấy đều mệt nhoài vì say sóng vì ngồi mãi một thế trong chỗ ngột ngạt. Ra tới biển lớn, không khí trong khoang ghe bớt ngộp thì một cảm giác khó chịu khác xuất hiện. Sóng biển vỗ mạnh vào thân ghe làm mọi người nôn nao, bần thần say sẩm. Tôi bắt đầu chóng mặt và buồn ói dù trong bụng lép xẹp. Lúc chiều khi ở nhà ông bà Ba, tôi chỉ ăn uống qua loa nên giờ thức ăn trong bụng đã tiêu hết. Buồn ói nhưng chỉ ợ toàn hơi nhưng nhờ ợ được mới thấy dễ chịu trong người. Chung quanh tôi, tiếng người rên vì mệt vì kiệt sức hoặc vì nôn ọe. Một dòng âm ấm chảy từ từ xuống ngực rồi lan xuống bụng tôi, cô gái ngồi trước mặt đã ói. Cô ta tiếp tục ợ rồi ói luôn vào người tôi. Được một lúc, cô thì thào:

- Em mệt lắm anh ơi. Em xin lỗi anh... Khó chịu quá, chắc em chết.

Nghe giọng cô, tôi biết là người miền Bắc và còn trẻ. Ngửa mặt lên, cô ta rùng mình nhiều lần rồi lại ói nữa. Mùi chua nước chanh pha lẫn mùi béo hủ tiếu mì cùng mùi thịt nướng bốc lên từ bệt ói trên người, tôi ghê quá, rồi nghĩ mình mặc duy nhất bộ quần áo lấy đâu ra bộ khác để thay. Ói đầy người tôi, cô gái này làm phiền quá nhưng cũng không trách được. Khoang hầm tối hù không ai biết mặt ai, người nằm rũ đè lên người khác. Chỗ nào cũng bê bết những vệt nước bẩn, đồ ói của nhau. Có người càu nhàu, than vãn vì bị nước đái thấm ướt người. 

Cá lớn cứ chạy cho đến khi trời sáng dần. Ánh sáng chiếu vào mới thấy có quá đông người trong khoang hầm. Người lớn, trẻ em, nam và nữ... san sát bên nhau trong một không gian nhỏ xíu. Người người bó gối, cong lưng, nằm ngang, dựa ngửa, nửa đứng nửa ngồi lom khom sát vách hầm hoặc đè lên nhau chịu đựng. Ai nấy nhắm mắt như ngủ, gục đầu gật gù hoặc ngửa mặt lên phía cửa khoang. Trước chuyến đi nhiều người đã uống thuốc chống ói nhưng cũng chẳng ăn thua. Ói vẫn cứ ói. Cô gái ói vào người tôi mặc chiếc áo có mầu hồng nhạt, ngồi gục đầu bất động rũ rượi. Tai tôi nghe có tiếng con nít kêu khóc đâu đó trong ghe rồi tiếng phụ nữ dỗ nhè nhẹ. Trẻ em đi cùng cha mẹ trên cá lớn và chúng đang ở đâu? Trong khoang hầm bên cạnh hay ở trên buồng máy? Được một lát tôi lại ngủ thiếp đi, ngủ rồi thức sau đó lại ngủ tiếp cho đến lúc có tiếng người vọng xuống báo tin cá lớn đã ra khỏi vùng biển Việt Nam.

Cá lớn đã ra khỏi vùng biển Việt Nam, chúng tôi đã thoát tay công an biên phòng. Tài công cho phép ai muốn lên trên mặt ghe thì lên nhưng phải cẩn thận khi đi lại. Rủi bị rớt xuống biển không ai biết thì ráng chịu mà ngay cả có người trông thấy cũng chưa chắc ghe sẽ quay lại vớt. Các tài công nói thêm nếu ai cảm thấy ở dưới khoang ghe được thì cứ ở dưới, đông người trên mặt sàn ghe cũng không tốt. Nghe xong, vài người ngồi gần cửa hầm đã lấy sức đu thân trèo hẳn lên trên rồi lại có thêm một số người khác leo ra tiếp. Không khí ở khoang hầm bớt nóng nhưng mùi đồ ói, mùi nước tiểu, mùi dầu máy ghe hoà với mùi dầu gió xanh vẫn nồng nặc khiến tôi nghĩ mình phải ra khỏi đây. Liền đó, tôi lách người kéo cô gái ngồi dậy và nhẹ nhàng dời cô dựa lưng vào sát vách ghe. Cô ta ngửa mặt lên hé mắt nhìn tôi, miệng thều thào: " Em cám ơn anh ". Đúng như tôi nghĩ lúc khuya, cô gái này còn rất trẻ, chắc trên dưới 20 tuổi. Nét mặt cô mệt mỏi, tiều tụy nhưng trông rất xinh. Bước tới chỗ nắp cửa hầm, lấy sức tôi đã chồm tới được và một người ngồi ngay cạnh liền nắm tay giúp leo hẳn lên. Trên mặt sàn ghe đầy nhóc người ngồi nằm la liệt bên nhau. Nhìn đồng hồ đeo tay đã 6:25 chiều, tôi cúi người lết lại một chỗ trống gần phía mũi ghe và nằm ngửa vật ra đó. Cá lớn vẫn chạy băng băng có lúc cỡi sóng làm văng nước tung toé vào mặt vào người bọn chúng tôi nhưng vẫn thật dễ chịu so với lúc chen nhau chật cứng dưới khoang hầm. Trời xâm xẩm tối dần rồi đêm hẳn. Bầu trời trong vắt đầy sao lấp lánh, cá lớn chạy hết tốc lực mà tôi cảm giác mình vẫn đang nằm yên tại chỗ. Tôi luồn tay nắm chặt đoạn dây thừng nối từ mũi ghe cho an toàn và cứ nằm yên cho đến lúc lại ngủ thiếp nữa. Rồi thức rồi ngủ trong đêm dần dần qua cho đến khi trời bình minh. Một tròng đỏ trứng gà từ từ nhô lên trên mặt biển xanh ở phía đông xiên xiên cạnh bên thân cá lớn. Bóng tròn đỏ mặt trời lơ lửng trên bầu trời buổi sớm mai và in hình phản chiếu trong làn sương mờ của mặt nước xanh dương không một gợn mây. Cảnh bình minh trên biển trông thật đẹp. Đã qua cơn say sóng, tôi ngồi nhổm thẳng dậy nhìn xuống quần áo mình. Những bệt loang lổ đã khô của thức ăn ói hồi khuya giờ dính cứng trên mặt vải. Thầm nghĩ mình bẩn quá nhưng lấy đâu ra quần áo sạch để thay! Không thấy Đào và Bẩy trong số người ngồi trên mặt sàn ghe, tài công đã ém hai cô gái vào chỗ nào trong đêm tối khi từ ghe taxi chuyển sang? Bây giờ, tình trạng hai cô ra sao.

Không còn say sóng, tôi đi lần ra đằng sau cá lớn, nhìn vào buồng lái thấy khá đông phụ nữ cùng trẻ em chen chúc sát bên nhau trên cái sập gỗ. Phần đuôi ghe sau buồng lái cũng đầy người đang ngồi hoặc nằm la liệt ở mặt sàn hầm máy tàu. Hai phụ nữ đang lui cui nhóm lửa bếp dầu hôi để chuẩn bị nấu bữa ăn. Một cái nồi khá lớn đầy mì gói bẻ vụn, cơm nguội và thịt băm nhỏ để trong dĩa ngay bên cạnh. Gần đó, một phi nhựa lớn nước lã được người đàn ông trộng tuổi ngồi kế bên canh giữ. Tôi lại gần xin ông ta chút nước uống. Ông liền mở nắp phi nhựa, múc ít nước bằng cái ca mủ nhỏ xíu đưa cho tôi rồi nói:

- Uống vậy thôi nha cậu, còn phải để dành cho người khác nữa.

Mì nấu chín, hai phụ nữ múc lần lượt cho từng người một bát nhỏ. Nhận bát mì, có người cố nuốt lấy sức nhưng vài người lắc đầu từ chối. Từ lúc xuống cá lớn tới giờ không một chút gì bỏ bụng nên khi bát cháo chuyền đến, tôi cầm lấy và húp liền từng ngụm. Cháo nấu lạt nhách. Hai người phụ nữ đã cố ý nấu cháo lạt vì những gói bột nêm còn nguyên nằm cạnh bếp lò. Cho bột nêm vào nồi cháo, người trên cá lớn khi ăn xong sẽ phải uống thêm nước mà nước rất giới hạn cho từng người. 

Cá lớn vẫn chạy êm ả suốt trọn buổi sáng trên mặt biển bao la, vắng lặng không một bóng tầu. Những người ngồi nằm gần bên tôi vẫn lừ đừ cơn say sóng. Cả bọn chúng tôi mệt mỏi, áo quần bẩn thỉu nhìn nhau không ai buồn nói chuyện với ai. Có anh thanh niên nằm như đang ngủ chợt ngồi nhổm dậy, lết đến sát mép ghe và ói ra chút nước đặc quánh mầu vàng. Anh ta đã ói ra mật? Nhìn đồng hồ trên tay đã 2: 45 chiều, chợt tai tôi nghe tiếng nói lớn:

- Ê! Hình như có tàu lạ đuổi theo ghe mình bà con ơi.

                                  (còn tiếp)

Thứ Tư, 6 tháng 8, 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - Hội nhà văn của nước ta - KỲ 11





                  Báo Văn Nghệ làm nhục Hội nhà văn

    


                         Lã Thanh Tùng - tác giả bài viết nhục nhã 

Bauxite Tây Nguyên là vết thương nhức nhối trong lòng đân tộc. Trừ một số nhà văn dũng cảm lên tiếng phản đối trên các trang WEB trong nước và ngoài nước, tuyệt đại đa số các nhà văn hội viên Hội nhà văn đều im thít, đặc biệt là báo Văn Nghệ của Hội nhà văn không có lấy một dòng một chữ trước thảm hoạ huỷ diệt môi trường đất nước đang phải gánh chịu. Ngược lại, ngày 31 tháng 10 năm 2009 vừa rồi, báo Văn Nghệ đã thách thức dư luận, cho in bài “Bauxit và nhưng điều khác” của Lã Thanh Tùng lớn tiếng ca ngợi việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên, ca ngợi Trung Quốc trong việc hợp tác khiến dư luận trên các mạng nổi lên xỉ vả tên bồi bút đê tiện. 
Việc xuất hiện ngày càng nhiều những tên bồi bút “Phò Tàu diệt Việt” thực ra không có gì lạ. Càng gần tới ngày đại hội Đảng, giới quan chức, kể cả quan chức trong Hội nhà văn, đều phải ra sức bày tỏ lòng trung thành với…thiên triều để còn kiếm chút ân sủng trong khoá tới. Bởi vậy việc cho in bài báo sặc mùi Việt gian này chắc chắn phải có sự khuyên khích của Chủ tịch Hội nhà văn Hữu Thỉnh.
Trong bài báo, Lã Thanh Tùng dẫu có loanh quanh thì cốt lõi cũng chỉ có mấy vấn đề :
- Chửi bới những người phản biện bauxite : “ Họ cũng vì quá hăng hái, thừa sốt sắng, mà dẫn đến thái độ nóng vội, chủ quan, chẳng những rất dễ tự mắc vào cái bẫy ngụy biện của chính mình, theo kiểu “lộng giả thành chân”, mà còn khiến công chúng bình dân cảm thấy khó xử, e ngại, không muốn “dây vào”?
- dùng những cứ liệu giả mạo để chứng minh bauxite Tây Nguyên cần phải khai thác và có thể khai thác tốt không ảnh hưởng gì tới môi trường.
- bênh vực sự có mặt của người Trung Quốc trên Tây Nguyên :” Vậy những cán bộ, công nhân Trung Quốc ở Tây Nguyên hiện ăn ở, sinh hoạt ra sao? Chúng tôi đã tận mắt chứng kiến, tất cả họ đều ở tập trung trong những dãy nhà mái tôn kiểu công trường (nghĩa là khá “mùa vụ”). Bữa ăn của họ do đầu bếp Trung Quốc đảm nhận, nguồn lương thực thực phẩm khai thác ngay tại địa bàn. Nói chung họ ít ra ngoài, ngoại trừ một số có nhu cầu đặc biệt, hoặc tò mò muốn tìm hiểu cuộc sống Việt Nam, kiểu mấy ông Tây ba lô chỗ nào cũng nghiêng ngó. Theo Giám đốc Lợi, an ninh trật tự trên địa bàn Tân Rai hiện nay khá tốt, chứ không phức tạp như bên Na Dương, Sơn Động. Số công nhân Trung Quốc ở công đoạn đóng cọc đã hoàn thành nhiệm vụ và đã về nước, lực lượng đang làm sắp tới bàn giao công trình xong họ cũng sẽ về.
Bài ký của tên bồi bút Lã Văn Tùng lập tức bị phản đối dữ dội trên các trang web.
 Đầu tiên là bài “ Bauxite Tây Nguyên..đôi lời nói lại”  của nhà văn Vũ Ngọc Tiến. Ông vạch rõ động cơ viết bài của LTT chính là “chuyến đi được TKV ( Tổng công ty Than và khoáng sản VN) bao lót vé máy bay, cơm gà cá gỡ và chắc hẳn có cả chút lộc rơi lộc vãi mà tác giả LTT rề rà kể lại trong “chuyến bay dông bão”, vô cảm trước cơn bão số 9 vừa qua, chỉ toàn lời xu nịnh ông chủ TKV đặt hàng cho bài viết “Bauxit… và những điều khác”!…
Vũ Ngọc Tiến vạch mặt tính cách “ xu nịnh ông chủ TKV đặt bài: “Phải chăng TKV đang rất an nhiên, tự tại?” Chao ôi cái nhân cách của người cầm bút viết văn!… Ông LTT làm sao che giấu nổi sự thật, khi trong bài viết ông khẳng định rằng khu vực khai thác không chiếm đất thổ cư của đồng bào dân tộc, nhưng ở bức ảnh minh họa số 4 ông lại khoe ra khu tái định cư “bauxit” của người Châu Mạ. Ơ hay, không chiếm đất thổ cư sao phải làm nhà tái định cư cho họ?!…
Về những luận cứ khoa học , Vũ Ngọc Tiến đặt câu hỏi :
“Ông LTT dựa trên tài liệu nào mà dám khẳng định quặng bauxit ở Tây Nguyên tốt hơn ở mỏ Quảng Tây vừa bị đóng cửa? …Cái quy trình trong mơ của ông LTT được người ta mớm cho rằng “phải 1 vạn năm nữa, dung dịch chứa bùn đỏ mới thẩm thấu chất độc hại ra khỏi hồ chứa 3 cm đất” đáng tin cậy đến đâu khi bài học môi trường ở TQ còn đang phơi bày ra trên đất nước họ? Mặt khác, diện tích hồ chứa 52 ha đủ đảm bảo nước và bùn đỏ không tràn ra ngoài khi gặp mưa lớn, được lý giải bằng công nghệ hoàn lưu nước khi tuyển là rất nực cười, ngu dốt, ông có dám cùng tôi tranh luận tới cùng?”
Và ông kết luận :
“Báo VN, tờ báo văn lớn nhất cả nước mà nửa năm qua im lặng trước một vấn đề hệ trọng của đời sống xã hội khiến tôi và mọi người thất vọng. Nay quý báo bất ngờ lên tiếng với bài của tác giả LTT càng khiến tôi không thể hiểu nổi cái Hội nhà văn của chúng ta là thứ Hội gì đây? Mong chờ hồi âm của ông TBT, BTK báo VN và tác giả LTT để dư luận rộng đường tranh luận. Mấy lời mạo muội khó nghe, xin các quý anh, quý chị bình tĩnh đọc qua thì tôi cám ơn lắm lắm!…
Nguyễn Chính trong bài viết với cái tựa mạnh mẽ :”Tà khí từ một bài viết kiểu bồi bút và một lối tư duy bệnh hoạn! đã viết thẳng thừng :
“ với bài viết “Bauxite … và những điều khác” của ông nhà văn Lã Thanh Tùng, thì… thôi rồi (xin lỗi), đọc xong tôi đã phải mấy lần chạy vội vào nhà vệ sinh, để xả cho kỳ hết, cho thật sạch những tà khí bốc ra từ hơi văn của nhà văn họ Lã này. Thảo nào mà mới bảnh mắt, ông bạn vong niên của tôi đã nổi giận đùng đùng, phỉ báng không tiếc lời như vậy. Tôi gọi cho một người bạn cũng trong giới nhà văn ở Sài Gòn, anh ta bảo “mình đọc rồi, chấp gì cái thứ đã ếch ngồi đáy giếng mà còn làm bồi ấy. Có bài của anh Vũ Ngọc Tiến đập lại rồi, cậu vào các trang blog sẽ thấy các comment người ta chửi còn hơn chửi chó, nhục đến nước có lẽ phải độn thổ”. Đúng là, bài “Bauxite… đôi điều thưa lại …” của Nhà văn Vũ Ngọc Tiến tuy ngắn gọn, nhưng đã phân tích khá đầy đủ rồi, tôi chẳng cần phải viết gì thêm nữa. Chỉ dám băn khoăn cùng nhà văn Vũ Ngọc Tiến rằng, trong cái đại dự án khai thác bauxite ấy, ngoài tay nhà văn họ Lã kia, còn bao nhiêu là đám “bồi” các loại, các kiểu từ “thượng tầng kiến trúc, đến hạ tầng cơ sở” đã bao giờ chịu mở mắt ra đâu. Cứ như là nước đổ lá khoai, nước đổ đầu vịt. Khi lá khoai chưa bị bứng đi cái gốc thối, đầu vịt chưa bị nhúng vào nước sôi, thì vẫn hũ nút lắm, đen tối lắm.”
Và ông kết luận :
“Còn với nhà văn họ Lã, khi đã “tháo” ra được hết những tà khí trong bài viết “Bauxit… và những điều khác ” của ông ta, tôi chợt nghĩ rằng, quỹ thời gian của một đời người thật ngắn ngủi. Ai cũng phải có một nghề để sống, để tồn tại. Nếu đã chọn nghề viết văn, thì cây bút chính là sự nghiệp cả đời, nặng lắm, vác cho trọn vẹn suốt hành trình đâu có dễ. Và đây, lời của một lão nông vùng Tiền Hải – Thái Bình, nơi mà đến tận bây giờ vẫn như còn nghe rùng rùng từng hồi trống giục thủa tối đen. Đại ý, lão khuyên những người cầm bút, rằng: Hãy hành nghề một cách trung thực, tử tế, bản lĩnh, có chính kiến, tránh xa sự giả dối và mọi thứ tiền bạc cùng những thứ vật chất bất minh, để trọn đời cầm bút, không bao giờ biến thành bồi bút.
Kỹ sư Lê Quốc Trinh trong bài “Bauxite và… những điều lừa bịp khác” phản bác Lã Thanh Tùng từng điểm một :
“Ông Tùng viết: “Khắp Tây Nguyên gần như chỗ nào cũng có bauxite, nhưng nhiều nhất tập trung ở Lâm Đồng, Đắc Nông… Bauxite của chúng ta khai thác dễ đến nỗi, chỉ cần gạt lớp đất trên bề mặt đi (khoảng 0.9m) là đến ngay vỉa quặng bauxite dày đến 4 mét…
…”Còn đất trồng trọt thì sao? Hoá ra, khi bên dưới là bauxite thì các loại cây mọc ở trên mặt đất đều rất cằn cỗi”…
Lạ nhỉ? Đất đai cao nguyên Lâm Đồng cằn cỗi thật không hở ông Tùng? Đề nghị ông khoanh vùng chỉ rõ cho bà con xem nơi nào trên cao nguyên Lâm Đồng cằn cỗi, cây cỏ không mọc được. Bất cứ ai lên chơi Đà Lạt đi qua vùng đất cao nguyên đều thấy cây cối xanh um, rừng thông bạt ngàn, toàn những thứ gỗ quý hiếm (gõ, sồi, sến, lim, gụ…), đến nỗi bọn lâm tặc còn phải sử dụng đến những thiết bị tối tân như xe chở quặng để tẩu tán gỗ lậu cho nhanh. Những đồi trồng trà, cà phê bạt ngàn, đưa Việt Nam lên vị trí quốc gia sản xuất cà phê đứng hàng thứ hai trên thế giới. Đồng bằng Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh hàng ngày phải tiêu thụ biết bao nhiêu rau quả, hoa lá, trồng trọt từ miền đất cao nguyên này, ông Tùng có biết không? Đây là lần thứ ba tôi nghe đến thứ luận điệu lừa bịp trắng trợn như vậy, phải chăng ông Tùng (và quý vị lãnh đạo) muốn ngụy tạo ra lý do để biện hộ cho công trình khai khoáng Nhân Cơ. Có lẽ tôi nên nhường lời lại cho đông đảo quý vị độc giả từng sống lâu năm trong nước lên tiếng, thì tốt hơn.
b)- Theo lời ông Tùng nói, thì mức giá đền bù cho đồng bào dân tộc thiểu số rất cao, khoảng 105 triệu đồng cho mỗi hecta (10.000 m2), đổ đồng 10.500 đồng mỗi mét vuông! Ông Tùng nghĩ sao mà dám nói rằng đó là giá cao? Có đủ để ông ăn một bát cơm trắng mỗi ngày không? Nhà nước đền bù chỉ hơn 10 ngàn đồng, nhưng khai thác quặng mỏ kiếm lời bạc triệu mỗi mét vuông, ai là kẻ xí phần nhiều nhất trong chiếu bạc này, hở ông Tùng?
c)- Ông Tùng viết tiếp rằng:…”đất đào lên khai khoáng đến đâu thì những hố trống đều lập tức được hoàn thổ ngay… cuối cùng là trồng cây lên trên, mà là cây do bên môi sinh nghiên cứu hẳn hoi để bảo vệ sinh thái”…
Đến đây thì tôi xin phép được làm vài ba con số để lật tẩy luận điều lừa phỉnh một lần nữa. Này nhé, cứ mỗi mét vuông người ta phải đào một cái hố sâu tối thiểu 5 mét, lấy lên 4 mét khối bauxite để đưa vào nhà máy và giữ lại một mét khối đất trồng trọt, như vậy phải cần thêm đến 4 mét khối đất trồng trọt phì nhiêu khác để lấp (hoàn thổ) cái hố đó, nếu không thì toàn bộ vùng cao nguyên sẽ biến thành một cái hồ nước vĩ đại sâu 4m. Nhưng mà tìm đâu ra 4 mét khối đất phì nhiêu cho mỗi mét vuông khai hoang hở ông Tùng? Chắc hẳn phải thuê xe tải xuống đồng bằng sông Đồng Nai đào và chở hàng tỷ tấn đất phù sa lên Tây Nguyên. Nếu thế thì chẳng cần đến môi sinh nghiên cứu làm gì cho mất công, đất phù sa Đồng Nai rất thích hợp với hai loại cây: hạt Tiêu và trái Điều, cùng với hoa Mắc Cỡ (giới văn nghệ sĩ gọi nôm na là Hoa Trinh Nữ). Chỉ cần vài ba năm thôi tôi bảo đảm toàn bộ rừng thông và đồi trà, đồi cà phê sẽ biến thành một cao nguyên Tiêu Điều, hoa Mắc Cỡ mọc đầy, cảnh tượng lãng mạn và nên thơ lạ lùng, mặc sức cho nhàthơ và nhạc sĩ đua nhau tìm cảm hứng. Từ nay chúng ta hết còn nghe những bài ca bất hủ “Ai lên xứ hoa Đào”, “Bài thơ hoa Đào” và “Đà Lạt hoàng hôn”…
e)- Theo ông Tùng, để có 15 triệu mét khối nước rửa quặng hàng năm, nhà máy Nhân Cơ đã phải “đắp đập ngăn hai con suối Đac Cra và Đac Noc, tích trữ nước thiên nhiên trong một cái hồ chứa nhân tạo dung tích khoảng 18-20 triệu mét khối”. Dĩ nhiên làm con tính nhẩm sơ sài thì thấy dân cư trồng trọt sẽ sống nhờ 5 triệu mét khối nước dư thừa do cái hồ này cung cấp, và theo lời tuyên bố của ông Nguyễn Hải Hà: “Ai nói Tây Nguyên bị vắt kiệt nước là nói ngược”. Quý vị độc giả nghĩ sao về cái lập luận kiểu ăn cướp này? Bình thường dân cư trên cao nguyên sống nhờ hai con suối cung cấp 18-20 triệu mét khối nước hàng năm cho trồng trọt, mùa màng, nay vì nhà máy Nhân Cơ mà chỉ nhận được có 5 triệu mét khối thôi, vậy ai là thủ phạm vắt kiệt nước của các trang trại trồng trọt hoa màu? Chứng cớ rành rành nhé, hết đường chối cãi.
f)- Ông Tùng viết tiếp: vì lý do an ninh quốc phòng “không một hồ sơ nào thiếu những góc nhìn, đánh giá toàn diện, không hội thảo nào vắng bóng các chuyên gia quân đội và công an, và hầu như không tuần nào, tháng nào thiếu những buổi làm việc giữa TKV với chính quyền địa phương và các cấp tham mưu vũ trang…”.
Đọc xong tôi phát hãi! Nếu quả thật là thế thì trên công trường Nhân Cơ hiện nay, số lượng công an chìm, công an nổi, dân quân vũ trang chắc hẳn dày đặc, đi đâu cũng đụng đầu mấy chú, súng ống kè kè. Họp hành kỹ thuật thể nào cũng có mấy chú vác súng ngồi bên cạnh. Thế mà chỉ mỗi hình ảnh sờ sờ bọn lâm tặc sử dụng xe chở quặng tối tân hiện đại để tẩu tán gỗ lậu cho nhanh trên cao nguyên Lâm Đồng, mà đến nay chưa thấy chính quyền lên tiếng đính chính hay điều tra. Có lẽ công an không muốn can thiệp vào nội bộ
Các blogger trên mạng còn chửi Lã Thanh Tùng dữ dội hơn. Trong “quêchoa” của nàh văn Nguyễn Quang Lập chỉ trong vòng 3 ngày đã có trên 400 comments đại loại như :
“Tên họ Lã nhà văn nọ, không hiểu vì sao lại viết được cái bài bút ký lạ lùng như thế. Ông ta toàn dùng những thông tin của TKV và nhà thầu Trung Cộng thì làm sao khách quan được, trong lúc về chuyên môn lại thuộc loại “mít “. Ngoài ra ông phải biết TC luôn lăm le chiếm đất của ta, việc TKV làm việc với an ninh, quân đội thế thế ông tưởng rằng là an ninh quốc gia đảm bảo lắm rồi sao? ông thật là ấu trĩ. Với bài báo này không biết ông nhận được bao nhiêu tiền, nhưng có thể nó sẽ góp phần đau khổ cho con cháu ông muôn đời sau đấy.
Tóm lại, cái nhà bác Lã Thanh Tùng này cũng là nhà văn ấy ư ? Theo tôi được biết, từ xưa, muốn vào Hội nhà văn phải có ít nhất một tác phẩm được dư luận đánh giá cao . Bác Lã Thanh Tùng này có tác phẩm gì nhỉ ? Mấy bài bút ký “phò Tàu diệt Việt” ” à ? TRong những cái còm này, có người tố cáo bác đạo văn. Có đúng thế không ? Chẳng lẽ cứ chạy chọt, biếu xén là thành “nhà văn” sao ? Buồn cho cái danh hiệu “nhà văn ” nhỉ ! Cứ cái đà viêt này chẳng mấy chốc bác Lã nhảy tót lên ghế TBT báo Văn Nghệ, Chủ tịch Hội cũng nên…Chúc bác tiến lên, ta quyết liên lên nhé..tiến lên ta gọi “cấp trên” bằng “thằng”..ấy chết bằng “cụ nội” nhé…
Nghe họ Lã nói về lòng yêu nước mà thấy rởn gai ốc, sáo rỗng nhạt nhẽo thế, cung giống như mấy câu nịnh các anh TKV trong bài but ký của hắn vậy. Đúng là thời mạt pháp nên đẻ ra nhưng tên quái chiêu như vậy.

Tất nhiên dù có bị chửi thế hay chửi nữa thì những tên Lã Thanh Tùng trong Hội nhà văn VIỆT NAM sẽ còn xuất hiện nhiều nhiều nữa. Vì đó là con đường bồi bút “phò Tàu diệt Việt” đang được Đảng và Nhà nước khuyến khích nhất trong giai đoạn chạy đua vào “nhà đỏ” hiện nay.



N.T.